Điều này có nghĩa là trong quá trình sản xuất của một doanh nghiệp hay tổ chức, việc xử lý các số liệu, các quy trình sản xuất bằng những công cụ có hình ảnh minh họa cụ thể sẽ giúp doan
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, chất lượng trở thành một vấn đề quan trọng mang tính cạnh tranh Đối với các sản phẩm của Việt Nam, để có một vị thế trên thị trường thế giới thì các doanh nghiệp cần phải chú trọng đến chất lượng Đặt biệt là các sản phẩm thủ công càng phải được chú trọng nhiều hơn
Napoleon đã từng nói: “Một hình vẽ sẽ có giá trị hơn một nghìn lời nói” [14] Điều này có nghĩa là trong quá trình sản xuất của một doanh nghiệp hay tổ chức, việc xử lý các số liệu, các quy trình sản xuất bằng những công cụ có hình ảnh minh họa cụ thể sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng nhận biết được xu hướng của quá trình, nắm bắt quá trình trọn vẹn hơn Từ đó, doanh nghiệp có thể đưa ra những phương pháp giải quyết vấn đề hiệu quả nhất và ít tốn kém chi phí nhất
Đứng trước những thách thức lớn của hội nhập và việc quản lý chất lượng trong doanh nghiệp thì việc nghiên cứu và ứng dụng các công cụ thống kê là điều kiện cần thiết giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể nâng cao được chất lượng và nhanh chóng hòa nhập vào thị trường thế giới
Trong thời gian lao động thực tế tại DNTN Hưng Phú, tác giả đã nhận thấy tình trạng lỗi ở sản phẩm ngày càng gia tăng Doanh nghiệp phải tốn rất nhiều thời gian, chi phí cho việc kiểm tra và sửa chữa Hầu hết các sản phẩm lỗi chủ yếu gặp phải từ các cơ sở gia công kết cườm Mặc dù Doanh nghiệp cũng nhận thấy vấn đề này, nhưng vẫn chưa tìm ra hướng khắc phục
Với tình hình trên, và được sự hướng dẫn của thầy Th.S Nguyễn Thanh Lâm,
tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Áp dụng một số công cụ thống kê nhằm kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm tại DNTN Hưng Phú” làm đề tài nghiên
cứu khoa học, với mong muốn đóng góp một phần nào giúp Doanh nghiệp giải quyết những khó khăn hiện tại, cũng như ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng quốc tế
Trang 22 Tổng quan lịch sử nghiên cứu của đề tài
Trên thế giới, sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã chọn và ứng dụng các công cụ thống kê trong phương pháp quản lý chất lượng Từ đó, việc áp dụng chúng ngày càng rộng rãi, phổ biến trên khắp thế giới, đặc biệt là các nước Châu
Tại DNTN Hưng Phú, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về vấn đề chất lượng
3 Mục tiêu nghiên cứu
− Xây dựng được cơ sở lý luận để tiến hành nghiên cứu đề tài
− Tìm hiểu thực trạng quản lý chất lượng và chất lượng sản phẩm tại DNTN Hưng Phú
− Đề ra một số giải pháp giúp Doanh nghiệp kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình tạo ra sản phẩm Vải thêu trang trí
và sản phẩm Vải thêu trang trí
Phạm vi nghiên cứu:
− Đề tài nghiên cứu tại DNTN Hưng Phú
− Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2011 đến 30/04/2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp quan sát, phương pháp thống kê và công cụ
xử lý dữ liệu bằng Excel để nghiên cứu
Trang 36 Những đóng góp mới của đề tài và những vấn đề mà đề tài chưa thực hiện được
• Những đóng góp mới của đề tài:
Đề tài đã phân tích thực trạng quản lý chất lượng và áp dụng một số công cụ thống kê để làm rõ vấn đề chất lượng mà Doanh nghiệp đang gặp phải Từ kết quả phân tích, tác giả đã đưa ra một số giải pháp, trong đó có giải pháp giúp Doanh nghiệp áp dụng công cụ thống kê để thực hiện việc quản lý chất lượng có hiệu quả hơn
• Những vấn đề mà đề tài chưa thực hiện được:
Do thời gian thực hiện đề tài ngắn nên tác giả chỉ chú trọng tìm hiểu một công đoạn trong quy trình tạo ra sản phẩm, tác giả chưa nghiên cứu kỹ đến các công đoạn khác Mặt khác, do điều kiện còn hạn chế, tác giả chỉ sử dụng một vài công cụ thống kê để kiểm soát quá trình tại DNTN Hưng Phú
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài những trang giới thiệu, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng
Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng tại DNTN Hưng Phú
Chương 3: Một số giải pháp nhằm kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm tại DNTN Hưng Phú
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG
1.1 Khái niệm chất lượng và quản lý chất lượng
1.1.1 Khái niệm chất lượng
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng lớn và phức tạp, nó phản ánh tổng hợp tất cả các nội dung về kỹ thuật, kinh tế và xã hội Tùy vào những căn cứ khoa học khác nhau mà có những khái niệm về chất lượng khác nhau, nhưng tất cả đều góp phần thúc đẩy sự phát triển không ngừng và hoàn thiện của khoa học về chất lượng
Theo W.E Deming: “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều
và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận” [2 –
Trang 24])
Theo J.M Juran: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng”
[2 – Trang 24])
Philip B.Crosby trong quyển “Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả chất
lượng như sau: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” [2 – Trang 24]
Nhưng tổng quát nhất là chất lượng được hiểu theo ISO 9000:2000: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
“Yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc” Các bên có liên quan bao gồm khách hàng nội bộ – cán bộ nhân viên của
tổ chức, những người thường xuyên cộng tác với tổ chức, những người cung ứng nguyên vật liệu, luật pháp… [2 – Trang 25]
1.1.2 Khái niệm quản lý chất lượng
Chất lượng không tự sinh ra, nó là kết quả tác động hàng loạt của các yếu tố
có liên quan với nhau Muốn đạt được chất lượng như mong muốn các Doanh nghiệp, tổ chức cần phải quản lý một cách đúng đắn tất cả các yếu tố này Hoạt
Trang 5Quản lý chất lượng luôn không ngừng được phát triển và hoàn thiện liên tục, ngày càng đầy đủ về bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng Hiện nay, khái niệm quản lý chất lượng được coi là đầy đủ và phù hợp hơn cả là khái niệm theo tiêu chuẩn ISO:
Theo ISO 8402:1999: “Quản lý chất lượng là những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng và thực hiện thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng
và cải tiến chất lượng trong hệ thống chất lượng” [2 – Trang 60]
Theo ISO 9000:2000: “Quản lý chất lượng là các hoạt động phối hợp với nhau để điều hành và kiểm soát một tổ chức về mặt chất lượng” [2 – Trang 60]
1.2 Kiểm tra chất lượng và kiểm soát chất lượng bằng thống kê
1.2.1 Kiểm tra chất lượng
Kiểm tra chất lượng là kiểm tra sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, nó bao gồm các hoạt động như: đo lường, xem xét, thử nghiệm, định cỡ các đặc tính có liên quan của sản phẩm và so sánh kết quả đó với yêu cầu, nhằm xác định sự phù hợp của sản phẩm Do đó, việc kiểm tra chất lượng chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã qua chế tạo Biện pháp này không thể giải quyết được vấn đề chất lượng, không thể tìm ra nguyên nhân thực sự gây sai lỗi trên sản phẩm Đồng thời việc kiểm tra như vậy đòi hỏi phải có nhiều thời gian và nguồn lực nhưng kết quả lại có độ tin cậy không cao
1.2.2 Kiểm soát chất lượng bằng thống kê
Kiểm soát chất lượng theo định nghĩa của tổ chuẩn tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO
là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng [1 – Trang 27]
Để kiểm soát chất lượng, các doanh nghiệp, tổ chức phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm, từ đó có thể ngăn ngừa sản xuất ra những sản phẩm lỗi Như vậy, kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố về con người, phương pháp làm việc, quy trình công nghệ, yếu tố đầu vào, máy móc thiết bị, môi trường,…
Trang 61.3 Một số công cụ thống kê đơn giản
Phần này tác giả chỉ giới thiệu 5 công cụ thống kê: Phiếu kiểm tra, Biểu đồ Pareto, Biểu đồ kiểm soát, Biểu đồ nhân quả và Biểu đồ tiến trình (Lưu đồ)
1.3.1 Phiếu kiểm tra (Check Sheet)
1.3.1.1 Giới thiệu
Phiếu kiểm tra là một dạng biểu mẫu dùng để thu thập, ghi chép các dữ liệu một cách có hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích các vấn đề chất lượng Có thể sử dụng phiếu kiểm tra để tìm hiểu lý do sản phẩm bị trả lại, kiểm tra
vị trí các dạng lỗi, tìm nguyên nhân gây ra lỗi trên sản phẩm,…
1.3.1.2 Các bước cơ bản sử dụng phiếu kiểm tra [2 – Trang 168] Bước 1: Xác định dạng phiếu kiểm tra và tiến hành xây dựng biểu mẫu để ghi
chép dữ liệu, cần có các thông tin cơ bản về người kiểm tra, địa điểm, thời gian và cách kiểm tra Phiếu phải được thiết kế đơn giản để các nhân viên có thể sử dụng như nhau
Bước 2: Thử nghiệm trước biểu mẫu này bằng việc thu thập và lưu trữ một số
dữ liệu
Bước 3: Xem xét lại và sửa đổi biểu mẫu nếu thấy cần thiết
1.3.2 Biểu đồ Pareto (Pareto Diagram)
1.3.2.1 Giới thiệu
Biểu đồ Pareto là một dạng biểu đồ hình cột, mỗi cột đại diện cho một dạng lỗi (hay một nguyên nhân) được sắp xếp từ cao xuống thấp Chiều cao của mỗi cột thể hiện mức đóng góp tương đối của mỗi dạng lỗi vào kết quả chung Mức đóng góp này dựa trên số lần xảy ra hay chi phí liên quan đến mỗi dạng lỗi Đường tần số tích lũy thể hiện sự đóng góp tích lũy của các dạng lỗi Từ biểu đồ Pareto, chúng ta có thể phát hiện dạng lỗi quan trọng nhất để ưu tiên cải tiến lớn nhất với chi phí thấp nhất
1.3.2.2 Các bước cơ bản để sử dụng biểu đồ Pareto [2 – Trang 174] Bước 1: Xác định cách phân loại và thu thập dữ liệu (Đơn vị đo, thời gian thu thập)
Trang 7Bước 3: Sắp xếp dữ liệu theo số lượng từ lớn nhất đến nhỏ nhất
Bước 4: Tần số tích lũy
Bước 5: Vẽ biểu đồ Pareto
Kẻ hai trục tung, một ở đầu và một ở cuối trục hoành Thanh bên trái được định cỡ theo đơn vị đo, chiều cao của nó phải bằng tổng số độ lớn của tất cả các cá thể Thanh bên phải có cùng chiều cao và được định cỡ từ 0% đến 100% Trên mỗi
cá thể vẽ một cột có chiều cao biểu thị lượng đơn vị đo cho cá thể đó Lập đường tần số tích lũy
Bước 6: Xác định các cá thể quan trọng nhất để cải tiến chất lượng
1.3.3 Biểu đồ kiểm soát (Control Chart)
1.3.3.1 Giới thiệu
Biểu đồ kiểm soát là một công cụ cho thấy sự biến động của quá trình sản xuất trong một chu kỳ thời gian nhất định Từ biểu đồ kiểm soát, chúng ta có thể đánh giá quá trình hoạt động ổn định hay không, xác định được khi nào cần điều chỉnh hay cần cải tiến quá trình
Hình 1.1 Biểu đồ kiểm soát [2 – Trang 176]
1.3.3.2 Phân loại [2 – Trang 177]
Có hai loại biểu đồ kiểm soát, một loại được dùng cho các giá trị liên tục (Biểu
đồ kiểm soát dạng thuộc tính) và loại kia dùng cho các giá trị rời rạc (Biểu đồ kiểm
Trang 8Bảng 1.1 Bảng phân loại biểu đồ kiểm soát [2 – Trang 177]
Giá trị liên tục (đo được)
Biểu đồ X - R (Giá trị trung bình và khoảng sai biệt)
Biểu đồ X - s (Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn) Biểu đồ X (Giá trị đã đo)
Giá trị rời rạc (đếm được)
Biểu đồ pn (Số sản phẩm sai sót) Sử dụng khi cỡ mẫu cố định
Biểu đồ p (Tỷ lệ sản phẩm sai sót)
Biểu đồ c (Số sai sót) Sử dụng khi vùng cơ hội có kích cỡ cố định
Biểu đồ u (Số sai sót trên một đơn vị)
Công thức tính toán các đường trung bình – CL (Central Line), đường giới hạn trên – UCL (Upper Control Limit), đường giới hạn dưới (Lower Control Limit) cho trong bảng dưới đây.Trong công thức tính toán thường Z = 3 (Biểu đồ có giới hạn
3σ ) tương ứng với xác suất chuẩn bằng 99.74%
Bảng 1.2 Công thức tính toán [2 – Trang 178]
Loại biểu đồ kiểm soát Đường trung bình – CL (Central Line), đường giới hạn trên – UCL (Upper Control Limit), đường giới
hạn dưới (Lower Control Limit)
Trang 9LCL = X - 2.66 R s
pn
CL = pn UCL = pn + Z n( 1 − p) LCL = pn - Z n( 1 − p)
LCLi = u - Z
i n u
1.3.3.3 Các bước cơ bản để sử dụng biểu đồ kiểm soát [2 – Trang 180]
Bước 1: Lựa chọn đặc tính để áp dụng biểu đồ kiểm soát
Bước 2: Lựa chọn loại biểu đồ kiểm soát thích hợp
Bước 3: Quyết định cỡ mẫu và tần số lấy mẫu
Bước 4: Thu thập và ghi chép dữ liệu trên ít nhất là 20 mẫu hoặc sử dụng các dữ
liệu lưu trữ trước đây
Bước 5: Tính các giá trị thống kê đặc trưng cho mỗi mẫu
Bước 6: Tính giá trị đường tâm, các đường giới hạn kiểm tra dựa trên các giá trị
thống kê tính từ các mẫu
Bước 7: Xây dựng biểu đồ và đánh dấu trên biểu đồ các giá trị thống kê mẫu
Bước 8: Kiểm tra trên biểu đồ đối với các điểm ở ngoài giới hạn kiểm soát và đối
với kiểu dáng chỉ ra sự hiện diện của các nguyên nhân có thể nêu tên (cụ thể, đặc biệt)
Trang 10Bước 9: Quyết định về tương lai Cụ thể:
− Nếu không có số liệu nào nằm ngoài giới hạn kiểm soát thì biểu đồ kiểm soát với đường trung tâm và các đường kiểm soát đã xây dựng ở trên sẽ trở thành chuẩn
để kiểm soát quá trình trong tương lai
− Nếu có số liệu nằm ngoài giới hạn kiểm soát ta cần phải tìm ra nguyên nhân đặc biệt gây ra tình trạng này Sau đó các điểm nằm ngoài giới hạn kiểm soát sẽ được loại bỏ Tính lại đường trung tâm, giới hạn trên và dưới từ những điểm nằm trong giới hạn kiểm soát Xây dựng biểu đồ mới Thực hiện lại bước 8, 9 cho đến khi xây dựng được biểu đồ chuẩn
1.3.3.4 Cách đọc biểu đồ kiểm soát
Điều quan trọng nhất khi sử dụng biểu đồ kiểm soát quá trình là nhìn vào biểu
đồ ta có thể đọc được sự biến động của quá trình và có hành động khắc phục kịp thời khi phát hiện điều bất thường trong quá trình đó
Quá trình sản xuất ổn định khi toàn bộ các điểm trên biểu đồ nằm trong đường giới hạn kiểm soát và các điểm liên tiếp trên biểu đồ có biến động nhỏ
Quá trình sản xuất không ổn định khi một số điểm vượt ra ngoài đường giới hạn kiểm soát và các điểm có những dấu hiệu bất thường, mặc dù chúng vẫn nằm trong đường giới hạn kiểm soát
Các dấu hiệu bất thường biểu hiện như sau: [2 – Trang 181]
− Dạng 1 bên đường tâm: Khi trên biểu đồ xuất hiện 7 điểm liên tiếp (hoặc hơn) chỉ ở một bên đường tâm
− Dạng xu thế: Khi 7 điểm liên tiếp (hoặc hơn) trên biểu đồ có xu hướng tăng hoặc giảm liên tục
− Dạng chu kỳ: Khi các điểm trên biểu đồ cho thấy cùng kiểu loại thay đổi qua các khoảng thời gian bằng nhau
− Dạng kề cận với đường kiểm soát: Khi có 2 trong số 3 điểm liên tiếp rơi vào vùng A (cách đường tâm ≥ 2σ) ở cùng một phía của đường tâm 4 trong 5 điểm liên tiếp rơi vào vùng B (1σ ≤ B ≤ 2σ ) ở cùng một phía với đường tâm
Trang 111.3.4.1 Giới thiệu
Biểu đồ nhân quả được sử dụng để trình bày mối quan hệ giữa kết quả với các nguyên nhân có thể ghép lại thành nguyên nhân chính, nguyên nhân phụ và được trình bày giống như một xương cá Đây là một công cụ hữu hiệu giúp liệt kê, phân tích các mối liên hệ nhân quả, đặc biệt là nguyên nhân làm quá trình biến động vượt
ra ngoài giới hạn kiểm soát
Từ biểu đồ nhân quả, chúng ta có thể xác định những nguyên nhân quan trọng cần xử lý trước và tiến hành cải tiến quá trình
1.3.4.2 Cách sử dụng [2 – Trang 192]
Bước 1: Xác định rõ và ngắn gọn chỉ tiêu chất lượng (CTCL) cần phân tích Viết
CTCL đó bên phải và vẽ mũi tên từ trái sang phải
Bước 2: Xác định những nguyên nhân chính (Nguyên nhân cấp 1)
Thông thường, người ta chia thành 4 nguyên nhân chính (con người, thiết bị, nguyên vật liệu, phương pháp), cũng có thể kể thêm những nguyên nhân như sau:
hệ thống thông tin, dữ liệu, môi trường, các phép đo Người ta cũng có thể chọn các bước chính của một quá trình của sản xuất làm các nguyên nhân chính
Biểu diễn những nguyên nhân chính lên biểu đồ
Bước 3: Phát triển biểu đồ bằng cách liệt kê những nguyên nhân ở cấp tiếp theo
(nguyên nhân phụ) xung quanh một nguyên nhân chính và biểu thị chúng bằng
CTCL
Con người Thông tin Phương pháp
Nguyên vật liệu Thiết bị
Môi trường
CTCL cần phân tích
Trang 12những mũi tên (nhánh con) nối liền với nguyên nhân chính Tiếp tục thủ tục này cho các cấp thấp hơn
Bước 4: Sau khi phác thảo xong biểu đồ nhân quả, cần hội thảo với những người có
liên quan, nhất là những người trực tiếp sản xuất để tìm ra một cách đầy đủ nhất các nguyên nhân gây nên những trục trặc, ảnh hưởng đến chỉ tiêu chất lượng cần phân tích
Bước 5: Điều chỉnh các yếu tố và thiết lập biểu đồ nhân quả để xử lý
Bước 6: Lựa chọn và xác định một số lượng nhỏ (3 đến 5) nguyên nhân chính có
thể ảnh hưởng lớn nhất đến CTCL cần phân tích Sau đó cần có thêm những hoạt động như: thu thập số liệu, nổ lực kiểm soát,… các nguyên nhân đó
1.3.5 Biểu đồ tiến trình (Lưu đồ)
1.3.5.1 Giới thiệu
Biểu đồ tiến trình là biểu đồ mô tả quá trình bằng cách sử dụng những hình ảnh hoặc ký hiệu kỹ thuật,… nhằm cung cấp đầy đủ về dòng chảy của quá trình Bằng cách xem xét từng bước trong quá trình, người ta có thể khám phá ra nguồn gốc của những trục trặc Biểu đồ tiến trình có thể áp dụng cho tất cả các khía cạnh của quá trình, từ nhập nguyên liệu cho đến việc bán và làm dịch vụ cho sản phẩm Biểu đồ tiến trình giúp người tham gia hiểu rõ quá trình Từ đó xác định được
CTCL
Con người Phương pháp
Thông tin
Nguyên vật liệu Thiết bị
Môi trường
Trang 13Biểu đồ tiến trình được xây dựng với những ký hiệu thường sử dụng như sau: [2 – Trang 199]
Trang 14Đường vẽ mũi tên nối liền các ký hiệu, thể hiện
chiều hướng tiến trình
Các bước quá trình (hình chữ nhật) và quyết định (hình thoi) cần được nối liền bằng những con đường dẫn đến vòng tròn xuất phát hoặc điểm kết thúc
Nhóm 2: Sử dụng những kí hiệu tiêu chuẩn đại diện cho hoạt động hoặc diễn biến khác nhanu trong một quá trình biểu diễn biều đồ tiến trình chi tiết
Nguyên công: Thể hiện những bước chủ yếu trong một quá trình, thao tác
Thanh tra: Thể hiện một sự kiểm tra về chất lượng hoặc số lượng
Vận chuyển: Thể hiện sự chuyển động của người, vật liệu, giấy
tờ, thông tin,…
Chậm trễ, trì hoãn: Thể hiện một sự lưu kho tạm thời do chậm trễ, trì hoãn, sự tạm ngừng giữa các nguyên công nối tiếp nhau Lưu kho: Thể hiện một sự lưu kho có kiểm soát như là xếp hồ
sơ (Điều đó không phải là chậm trễ)
1.3.5.2 Các bước thực hiện biểu đồ tiến trình [2 – Trang 201]
Bước 1: Xác định sự bắt đầu và kết thúc của quá trình
Bước 2: Xác định các bước trong quá trình đó (Hoạt động, quyết định, đầu vào,
đầu ra)
Bước 3: Thiết lập một dự thảo biểu đồ tiến trình để trình bày quá trình đó
Bắt đầu Bước quá trình
Quyết định
Trang 15Bước 4: Xem xét lại dự thảo biểu đồ tiến trình cùng với những người liên quan đến
quá trình đó
Bước 5: Thẩm tra, cải tiến biểu đồ tiến trình dựa trên sự xem xét lại
Bước 6: Đề ngày lập biểu đồ tiến trình để tham khảo và sử dụng trong tương lai
(như một hồ sơ về quá trình hoạt động thực sự như thế nào và cũng có thể sử dụng
để xác định cơ hội cho việc cải tiến)
Trang 16CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI DNTN HƯNG PHÚ
2.1 Tổng quan về DNTN Hưng Phú
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển [10 – Trang 1]
Doanh nghiệp tư nhân Hưng Phú là
doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư, được
cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh
số 4101004961 ngày 12/09/2002 tại Sở Kế
hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh
Trụ sở chính: 60/6B3 Phạm Văn
Chiêu, Phường 12, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08 39960453 Fax: 08 38948495
Vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp là 2,790,000,000 VNĐ
Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất gia công sản phẩm vải, hàng may mặc Doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động vào tháng 03 năm 2003 và hoạt động ổn định với đơn đặt hàng từ các khách hàng trong những năm qua
Mặc dù qui mô nhỏ, sử dụng chỉ hơn 200 lao động, nhưng doanh nghiệp cũng
đã góp một phần giải quyết lao động trong nước, đem lại nguồn tài chính đóng góp cho ngân sách nhà nước và mở rộng thị trường nước ngoài
2.1.2 Hình thức hoạt động, chức năng và nhiệm vụ [10 – Trang 1]
Trang 17− Doanh nghiệp luôn cập nhật những thông tin về khách hàng và lĩnh vực hoạt động một cách nhanh chóng
− Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định và nghĩa vụ đối với Nhà nước
− Hòa nhập với tốc độ phát triển của nền kinh tế, từ đó Doanh nghiệp nâng cao
vị thế cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước
2.1.3 Môi trường bên ngoài
2.1.3.1 Khách hàng
Chính thức đi vào hoạt động từ năm 2003 đến nay, doanh nghiệp đã có những bạn hàng nhất định, đây là những thị trường truyền thống của doanh nghiệp trong những năm qua như: Dubai (Chiếm khoảng 60% giá trị xuất khẩu), Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Saudi, Mỹ, Hàn Quốc, Campuchia và Indonesia
Ngoài ra doanh nghiệp cũng đang cố gắng tìm kiếm những bạn hàng mới và
mở rộng hoạt động hơn nữa ở các thị trường này
2.1.3.2 Đối thủ cạnh tranh
Ngành nghề gia công vải thêu trang trí tuy còn khá mới mẻ nhưng cũng đang dần phát triển mạnh Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều doanh nghiệp đã bắt tay vào kinh doanh và là những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn trong tương lai như: Công ty Mesvina, Công ty Xuân Thanh, DNTN Xuân Quang,…
Trang 182.1.3.3 Các cơ quan hữu quan
Theo quy định của Nhà nước, những mặt hàng gia công không phải chịu thuế xuất khẩu, tuy nhiên những quy định mới ban hành của Nhà nước về thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) cũng đã tạo nên không ít khó khăn khi doanh
nghiệp tiến hành xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ
2.1.4 Môi trường bên trong
2.1.4.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của Doanh nghiệp
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của DNTN Hưng Phú
Quản
lý Nhân
sự
Quản
lý Hành chính
Quản
lý Tiền lương
Bộ
phận
KCS
Tổ Mẫu
Tổ Thêu
Tổ May
Tổ Kết cườm
Kho Nguyên vật liệu
Kho Thành phẩm
Trang 19Giám đốc: Là người đứng đầu quản lý bộ máy, chỉ huy và chịu trách nhiệm trước cơ quan các cấp và tình hình quản lý sử dụng vốn, tài sản và hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
Phó Giám đốc: Thực hiện các nhiệm vụ được giao về mặt kinh doanh như tìm hiểu, mở rộng quan hệ với khách hàng, xây dựng kế hoạch kinh doanh và biện pháp
mở rộng thị trường Tham mưu cho Giám đốc, đồng thời quản lý các phòng ban trong Doanh nghiệp giúp Giám đốc, điều hành công việc tại Doanh nghiệp khi Giám đốc đi vắng
Phòng Kế toán: Chịu trách nhiệm trước Giám đốc trong công tác thực hiện hạch toán kinh tế và thông tin kinh tế trong Doanh nghiệp Thực hiện công tác kế toán, tài chính và các nhiệm vụ được giao
Phòng Quản lý tổng hợp: Có nhiệm vụ tổ chức các công việc về lao động, nhân sự (Tiếp nhận, tuyển dụng lao động) Quản lý hành chính, văn thư, giấy tờ và thủ tục hành chính, mua sắm trang thiết bị Quản lý bộ phận tiền lương, thống kê, y
tế
Phòng Sản xuất: Lên kế hoạch sản xuất theo các đơn hàng đã nhận và lập định mức sản xuất cho từng mã hàng tiến hành sản xuất theo đúng thời gian và kế hoạch giao hàng
Phòng Xuất nhập khẩu: Thực hiện làm thủ tục nhập khẩu nguyên vật liệu, xuất khẩu hàng Phối hợp với khách hàng thực hiện các lệnh xuất hàng theo đúng chỉ lệnh, kiểm tra về số lượng nguyên vật liệu nhập kho cũng như sản phẩm xuất kho
Bộ phận KCS: Là bộ phận nghiệp vụ giúp Giám đốc quản lý chất lượng sản phẩm, kiểm tra sản phẩm trước khi xuất khẩu
Tổ Mẫu: Có nhiệm vụ thiết kế mẫu mã sản phẩm mới để chào hàng và chịu trách nhiệm triển khai khi sản xuất đại trà
Tổ thêu, tổ may, tổ kết cườm: Có nhiệm vụ thêu, may, kết cườm theo chỉ định tạo ra sản phẩm
Kho nguyên vật liệu: Chịu trách nhiệm nhập và kiểm tra nguyên vật liệu, đồng thời xuất nguyên vật liệu theo định mức phục vụ quá trình sản xuất
Trang 20Kho thành phẩm: Nhập kho các thành phẩm và xuất hàng xuất khẩu
2.1.4.2 Tình hình sử dụng lao động
Do sản xuất với qui mô còn khá nhỏ nên số lượng lao động trong Doanh nghiệp còn khá ít, nhưng Doanh nghiệp luôn xác định con người là yếu tố quyết định đến sự thành đạt của Doanh nghiệp Doanh nghiệp luôn có những chủ trương chính sách quan tâm đến người lao động như chính sách lương, thưởng, chế độ bảo hiểm, nghỉ ốm, lễ tết,… cũng như các chính sách đào tạo và nâng cao tay nghề cho các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và người lao động
Số công nhân nghỉ việc 28 19 87
đề gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của Doanh nghiệp do chi phí đào tạo công nhân tăng
2.1.4.3 Tình hình máy móc thiết bị
Máy móc thiết bị là một phần quan trọng trong quá trình sản xuất của một Doanh nghiệp Đây là tài sản cố định của Doanh nghiệp không những phản ánh năng lực sản xuất hiện có và trình độ kỹ thuật của Doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Máy móc thiết bị càng hiện đại thì sản phẩm làm
Trang 21ra ít bị sai hỏng, giảm hao hụt nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất, từ đó giảm
được chi phí nguyên vật liệu
Nhận thức được tầm quan trọng của máy móc thiết bị, trong những năm qua
Doanh nghiệp đã rất chú trọng vào việc đầu tư trang bị máy móc thiết bị mới, tiên
tiến Tuy nhiên số lượng máy móc thiết bị hiện đại trong Doanh nghiệp vẫn còn khá
ít và máy móc thiết bị cũ, lạc hậu vẫn còn sử dụng, cụ thể như sau:
Bảng 2.2 Tình hình máy móc thiết bị tại DNTN Hưng Phú
Đơn vị tính: máy
Xưởng sản
xuất Máy khắc sử dụng tia laze 15 Hàn Quốc
Nguồn: [7]
Nhận xét: Tình hình máy móc thiết bị tại Doanh nghiệp vẫn còn khá ít do phần
lớn các công đoạn sản xuất Doanh nghiệp đã thuê gia công bên ngoài
2.1.4.4 Tình hình sử dụng nguyên vật liệu
Do Doanh nghiệp nhận đơn đặt hàng gia công từ khách hàng nên nguyên vật
liệu sử dụng được bên khách hàng cung cấp Hiện nay Doanh nghiệp sử dụng các
nguyên liệu chủ yếu như sau:
Vải chính các loại, khổ 58/60”, khổ 68/70”, 100% Polyester
Vải chính đã thêu các loại, khổ 58/60”, khổ 52/54”, 100% Polyester
Vải lót không dệt (dựng), khổ 60/62”, 100% Polyester
Ngoài ra còn các phụ liệu, vật liệu như: Hạt cườm, kim sa; Chỉ may, thêu các
loại; Đá trang trí; Thùng carton; Cây giấy quấn vải; Nắp nhựa; Bông vải các loại
Trang 222.1.5 Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp những năm qua
2.1.5.1 Số lượng sản phẩm
Số lượng sản phẩm qua các năm có xu hướng tăng, cụ thể ở bảng sau:
Bảng 2.3 Bảng thống kê số lượng sản phẩm năm 2007 – 2010
Năm Số lượng (YDS)
Chênh lệch tuyệt đối LH (YDS)
Tốc độ tăng LH (%)
Chênh lệch tuyệt đối
ĐG (YDS)
Tốc độ tăng ĐG (YDS)
Nhận xét: Dựa vào bảng thống kê số lượng sản phẩm từ năm 2007 đến năm
2010 ta thấy số lượng sản phẩm luôn theo xu hướng tăng Theo tốc độ tăng liên hoàn thì năm 2008, lượng sản phẩm tăng 13.89% lên 14,640 yds, năm 2009 lượng sản phẩm tăng nhưng không đáng kể, chỉ tăng 1.84% lên 14,910 yds và đến năm
2010 thì lượng sản phẩm tăng mạnh đến 14.79% đạt số lượng 17,115 yds Xét theo tốc độ tăng định gốc thì số lượng sản phẩm tăng nhanh, năm 2008 tăng 13.89%, năm 2009 số lượng đã tăng lên 15.99% và năm 2010 tăng mạnh đến 33.14% nâng
số lượng lên 17,115 yds Qua đó cho thấy việc hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp đang có những thuận lợi và đạt được một số thành quả nhất định trong 8 năm đi vào hoạt động
Do sản phẩm có nhiều mẫu mã khác nhau nên tác giả tiến hành phân nhóm sản phẩm thành 3 nhóm chính Nhóm 1 là những sản phẩm Vải thêu trang trí có thiết kế đơn giản và kết cườm ít, có giá bán khoảng 25USD đến 30USD/YD Nhóm 2 là những sản phẩm phức tạp, chú trọng kết cườm nhiều, có giá khoảng 30USD đến 40USD/YD Nhóm 3 là những sản phẩm chủ yếu đính đá và hoa thêu, có giá khoảng 40USD đến 60USD/YD
Trang 23Bảng 2.4 Bảng thống kê số lượng sản phẩm theo nhóm năm 2007 – 2010
2007 2008 2009 2010
lượng (YDS)
Cơ cấu (%)
Số lượng (YDS)
Cơ cấu (%)
Số lượng (YDS)
Cơ cấu (%)
Số lượng (YDS)
Cơ cấu (%) Nhóm 1 7,950 61.84 8,535 58.30 7,620 51.11 7,800 45.57
xu hướng sử dụng những sản phẩm mẫu mã mới và độ phức tạp cao hơn Đây cũng
là một yếu tố tác động làm gia tăng lỗi trên sản phẩm Sản phẩm có những yêu cầu cao, đòi hỏi lao động phải hết sức tỉ mĩ và khéo léo Số lượng hạt cườm nhiều, dẫn tới các lỗi đi nhầm và thiếu hạt
2.1.5.2 Kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 2.5 Bảng thống kê doanh thu và lợi nhuận năm 2007 – 2010
Năm
Giá trị (Trđ)
Giá trị (Trđ)
Tốc độ tăng LH (%)
Giá trị (Trđ)
Tốc độ tăng LH (%)
Giá trị (Trđ)
Tốc độ tăng LH (%) Doanh thu 5,812 6,819 17.33 7,538 10.54 9,626 27.70
Chi phí 3,162 4,066 28.59 4,723 16.16 6,549 38.66
Nguồn: [6]
Trang 24Biểu đồ 2 1 Biểu đồ doanh thu và lợi nhuận năm 2007 – 2010
[Nguồn: Tác giả xử lý số liệu bằng phần mềm Excel]
Nhận xét: Do số lượng sản phẩm xuất khẩu tăng dần lên nên doanh thu cũng
đã tăng đáng kể Doanh thu năm 2008 tăng 17.33% đạt 6,8 tỷ, doanh thu năm 2009 tăng 10.54% đạt 7,5 tỷ đồng và tiếp tục tăng lên 27.70% đạt 9,6 tỷ đồng vào năm
2010 Điều này cho thấy việc hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp thuận lợi và trên đà phát triển Tuy nhiên, lợi nhuận lại tăng không đáng kể Năm 2008, lợi nhuận trước thuế tăng 3.89%, nhưng năm 2009 lợi nhuận trước thuế chỉ tăng 2.25%
và năm 2010 lợi nhuận tăng 9.31% Như vậy, yếu tố chi phí và các yếu tố khác đã tác động đến doanh thu làm lợi nhuận tăng chậm Để thấy rõ tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Doanh nghiệp trong 4 năm qua (năm 2007 đến năm 2010), tác giả tính các chỉ tiêu sau:
Tốc độ tăng trung bình hàng năm của doanh thu:
Tdoanhthu = 3
812,5
626,9
- 1 = 0.1832 (lần) hay 18.32%
Tốc độ tăng trung bình hàng năm của lợi nhuận:
Tloinhuan = 3
650,2
077,3
- 1 = 0.0511 (lần) hay 5.11%
Trang 25Tchiphi = 3
162,3
549,6
- 1 = 0.2747 (lần) hay 27.47%
Tốc độ tăng trung bình hàng năm của số lượng:
Tsoluong = 3
855,12
115,17
- 1 = 0.1001 (lần) hay 10.01%
Ta thấy tốc độ tăng trung bình của doanh thu là 18.32% trong khi đó tốc độ tăng trung bình hàng năm của lợi nhuận chỉ 5.11% Nhưng tốc độ tăng trung bình hàng năm của chi phí lại lên đến 27.47% Điều này cho thấy tình hình hoạt động kinh của Doanh nghiệp tuy có thuận lợi nhưng không tốt Có thể lý giải điều này do một số nguyên nhân chủ yếu như sau:
Doanh thu tăng là do số lượng sản phẩm tăng, tốc độ tăng trung bình hàng năm của số lượng là 10.01%, trong đó số lượng sản phẩm thuộc nhóm 2, nhóm 3 tăng như tác giả đã trình bày phần trên Ngoài ra, do yếu tố tỷ giá USD/VND biến động mạnh theo chiều hướng tăng trong các năm 2008, 2009 và 2010 nên việc xuất khẩu sản phẩm rất nhiều thuận lợi
Tốc độ tăng trung bình hàng năm của lợi nhuận chỉ đạt 5.11% là do chi phí tăng cao đến 27.47% Năm 2009, do nhu cầu gia công kết cườm nhiều hơn nên Doanh nghiệp thuê thêm 2 cơ sở gia công làm chi phí tăng thêm, một phần cũng do tình hình lạm phát tác động làm chi phí tăng Ngoài ra, Doanh nghiệp còn phải chịu các khoản chi phí khác như chi phí sửa chữa sản phẩm và chi phí vận chuyển do giao hàng gấp
Với những nhận định ban đầu như trên, tác giả tiến hành phân tích thực trạng quản lý chất lượng tại Doanh nghiệp ở phần tiếp theo để làm rõ nguyên nhân
2.2 Thực trạng quản lý chất lượng tại DNTN Hưng Phú
2.2.1 Tình hình quản lý chất lượng và phương thức quản lý chất lượng tại DNTN Hưng Phú
2.2.1.1 Tình hình quản lý chất lượng tại DNTN Hưng Phú
Chính thức đi vào hoạt động cách đây 8 năm, đến nay Doanh nghiệp đã tạo được uy tín đối với khách hàng, có được những khách hàng thân thuộc và cũng là
Trang 26nơi tiêu thụ sản phẩm nhiều nhất Nhìn chung, tình hình quản lý chất lượng của Doanh nghiệp trong những năm gần đây cũng đang được cải thiện Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được bổ sung các kỹ năng làm việc, hướng dẫn chi tiết kỹ thuật thủ công trong công tác may, thêu, kết cườm Bộ phận KCS được đào tạo nghiệp vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm Tổ mẫu được bồi dưỡng các kiến thức thiết kế, tính toán chi phí cho sản phẩm nhằm đa dạng hóa sản phẩm và tối ưu chi phí nguyên vật liệu
Bên cạnh đó, Doanh nghiệp vẫn còn rất nhiều hạn chế trong quản lý chất lượng Sản phẩm được gia công chủ yếu ở bên ngoài nên khó kiểm soát được tay nghề, kỹ thuật của lao động Ngoài ra, Doanh nghiệp cũng không kiểm soát được các yếu tố tác động đến chất lượng sản phẩm như điều kiện môi trường làm việc, ánh sáng kém, sắp xếp vị trí gia công không thuận tiện, lời chỉ dẫn không rõ ràng, việc giám sát công nhân không sát,… tại các cơ sở gia công Doanh nghiệp chỉ được kiểm tra sản phẩm sau khi gia công nên không thể khắc phục được tình trạng gây lỗi trong quá trình sản xuất Vì vậy mà Doanh nghiệp phải chịu những thiệt hại và chi phí cho việc sửa chữa từ sản phẩm lỗi, đồng thời phải chi trả chi phí tăng thêm khi trễ thời gian giao hàng
Bảng 2.6 Bảng số lượng sản phẩm sản xuất tại Doanh nghiệp và các cơ sở gia
công năm 2007 – 2010
2007 2008 2009 2010
lượng (YDS)
Cơ cấu (%)
Số lượng (YDS)
Cơ cấu (%)
Số lượng (YDS)
Cơ cấu (%)
Số lượng (YDS)
Cơ cấu (%) Doanh nghiệp 2,580 20.07 2,640 18.03 1,050 7.04 690 4.03
Gia công 10,275 79.93 12,000 81.97 13,860 92.96 16,425 95.97
Tổng 12,855 100 14,640 100 14,910 100 17,115 100
Nguồn: [11]
Số lượng sản phẩm sản xuất tại Doanh nghiệp giảm dần qua các năm Năm
2007, cơ cấu sản xuất tại Doanh nghiệp chiếm 20.07%, năm 2008 giảm xuống còn
Trang 27và 4.03% vào năm 2010 Từ đó cho thấy Doanh nghiệp đang chuyển hầu hết các công đoạn sản xuất sang gia công bên ngoài Tuy nhiên, sản phẩm bị lỗi hầu hết là
do gia công bên ngoài gây ra Đây là một vấn đề quan trọng và cấp thiết mà Doanh nghiệp cần chú trọng và đưa ra các biện pháp khắc phục
Nhìn chung, tình hình quản lý chất lượng tại Doanh nghiệp vẫn chưa mang lại hiệu quả cao Doanh nghiệp chưa quan tâm và chú trọng đến việc quản lý tại các cơ
sở gia công Mặc dù Doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm nhưng vẫn chưa đưa ra một hướng đi lâu dài và ổn định
2.2.1.2 Phương thức quản lý chất lượng tại DNTN Hưng Phú
Hiện nay Doanh nghiệp chỉ sử dụng phương thức kiểm tra chất lượng để quản
lý chất lượng Bộ phận KCS của doanh nghiệp là bộ phận chịu trách nhiệm kiểm tra, xem xét sản phẩm và so sánh kết quả với yêu cầu quy định từ đó xác định sản phẩm nào là phù hợp và đạt yêu cầu, sản phẩm nào chưa phù hợp cần phải sửa chữa
Căn cứ kiểm tra: [4 – Trang 1]
− Căn cứ vào quy định của từng đơn hàng
− Căn cứ vào mẫu sản phẩm yêu cầu khách hàng
− Căn cứ vào kế hoạch sản xuất
Nguyên tắc kiểm tra: [4 – Trang 1]
− Nhân viên KCS nắm rõ mẫu yêu cầu trong mỗi yard hàng Kiểm tra các chi tiết theo mẫu, các yêu cầu về may, thêu và kết cườm quy định trong từng chi tiết
− Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện sai sót, nhân viên kiểm tra đánh dấu vị trí sai lỗi trên sản phẩm và chuyển các sản phẩm lỗi sang các tổ thêu, may, kết cườm để sửa chữa
− Trong trường hợp lỗi thêu vi tính do lệch khung và căng kim không đủ khổ vải thì sẽ chuyển về nơi gia công sửa chữa, căng kim lại
Yêu cầu kỹ thuật: [4 – Trang 1]
• Công đoạn Thêu vi tính:
Các chi tiết phải được thêu đúng mẫu, không lệch khung quá 3mm, đầy đủ các chi tiết, không bỏ mũi
Trang 28• Công đoạn may trang trí:
+ Tất cả các đường may phải đều, không may bang (lệch đường viền quá 3mm)
và phải may đúng mẫu
+ Đầu và cuối các đường may lại mũi chắc chắn, trùng khít và sạch đẹp
+ Sản phẩm may trang trí xong phải đều đẹp, các chi tiết đối xứng và đầy đủ, không bỏ mũi, nổi chỉ
• Công đoạn kết cườm:
Hạt cườm được kết đủ số lượng, đúng theo mẫu, đi hạt sát chắc chắn, đều và đẹp Không đi chỉ dài, khóa chỉ phải đúng kỹ thuật, cắt sát khóa chỉ
Quy trình sản xuất Vải thêu trang trí:
Dưới đây là khái quát các quy trình thực hiện và kiểm tra sản phẩm của Doanh nghiệp: (Quy trình được thể hiện rõ ở Sơ đồ 2 2 bên dưới)
Khi nhận một đơn đặt hàng, Giám đốc chỉ thị Phòng Sản xuất tiến hành triển khai, xem xét và lên kế hoạch sản xuất Bộ phận sản xuất cắt vải và đưa vải đi nhuộm Vải được nhuộm và căng kim tại Công ty Kumho (Tỉnh Tây Ninh) Sau khi vải đã nhuộm xong, bộ phận KCS tiến hành kiểm tra màu vải và chuyển sang công đoạn thêu vi tính
Công đoạn thêu vi tính được Doanh nghiệp thuê gia công tại 4 cơ sở thêu vi tính (Cơ sở Lưu Quỳnh, Bách Niên, Hồng Hoa và Hoàng Uyên) trong khu vực Tp
Hồ Chí Minh Vải đã thêu được tiến hành may trang trí (Tại Doanh nghiệp và một đơn vị gia công thuộc Tỉnh Gia Lai), sau đó nấu tan dựng
Giai đoạn căng kim được Doanh nghiệp thuê gia công tại Công ty căng kim định hình PTH, và chuyển về bộ phận KCS kiểm tra khổ vải, thêu, may Sau đó, vải
đã thêu trang trí sẽ được phân phối đến các cơ sở gia công để kết cườm Hiện nay, Doanh nghiệp thuê gia công kết cườm tại 7 cơ sở: Tỉnh Thái Bình (3 cơ sở), Tỉnh Vĩnh Phúc, Tỉnh Thanh Hóa, Tỉnh Hải Dương và Tỉnh Long An
Sản phẩm sau khi được gia công kết cườm được chuyển qua bộ phận KCS để tiến hành kiểm tra lỗi và sửa chữa
Trang 29Như vậy, phương thức kiểm tra này chỉ phân loại sản phẩm nào đạt, sản phẩm nào chưa đạt để sửa chữa lại mà không kiểm soát được những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến những lỗi trên sản phẩm trong quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm Các công đoạn như: thêu vi tính, may trang trí và kết cườm hầu hết thuê gia công bên ngoài nên không kiểm soát được trình độ kỹ thuật, tay nghề lao động Phương thức quản lý chất lượng còn bị động, vì vậy không thể ngăn chặn và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra sai sót Có những trường hợp sai mẫu cả lô hàng do bên gia công và Doanh nghiệp không đồng nhất về mẫu và các yêu cầu sản phẩm.
Trang 30Không đạt
Đạt
KCS kiểm tra sản phẩm kết cườm
Thêu vi tính
Kiểm tra mẫu cần mayMay trang trí
Nấu tan dựng Căng kim Kiểm tra
khổ vải Căng kim lại
KCS kiểm tra mẫu thêu vi tính và may
Tổ may, thêu sửa chữa Kết cườm Đạt
Trang 312.2.2 Thực trạng chất lượng sản phẩm tại DNTN Hưng Phú
2.2.2.1 Tình hình số lượng và chất lượng sản phẩm các quý năm
2007 – 2011
Để đánh giá tình hình chất lượng sản phẩm của Doanh nghiệp, tác giả nên dùng chỉ tiêu chi phí khắc phục lỗi để làm cơ sở phân tích, nhưng do Doanh nghiệp chỉ ghi nhận số lượng sản phẩm lỗi mà không ghi nhận lại số liệu về chi phí khắc phục lỗi nên tác giả chỉ sử dụng chỉ tiêu số lượng lỗi để tiến hành phân tích và đánh
giá
Bảng 2.7 Số lượng, số lượng lỗi và tỷ lệ lỗi trong các quý năm 2007 – 2011
Năm Quý
Số lượng (YDS)
Tốc độ tăng LH (%)
Số lượng lỗi (YDS)
Tốc độ tăng LH (%)
Tỷ lệ lỗi (%)
Tốc độ tăng LH (%)
2010
Quý 4 4,605 10.04 1,031 14.05 22.39 3.65
2011 Quý 1 4,755 3.26 1,184 14.84 24.90 11.22
Nguồn: [5] và [10]
Trang 32Biểu đồ 2.2 Số lượng sản phẩm lỗi các quý năm 2007 – 2011
[Nguồn: Tác giả xử lý số liệu bằng phần mềm Excel]
Nhận xét: Dựa vào Bảng 2.7 và Biểu đồ 2.2, ta thấy tình hình sản phẩm lỗi có chiều hướng gia tăng Chỉ có những biến động giảm nhẹ trong năm 2007 Ở quý 1 năm 2007 số lượng sản phẩm lỗi chỉ 280 yds nhưng đến quý 4 năm 2007 lại tăng đến 338 yds Năm 2008 số lượng lỗi chỉ trong khoảng 332 đến 517 yds nhưng đến năm 2009 và 2010 số lượng lỗi đã lên từ 521 đến 1,031 yds Vào quý 1 năm 2011,
số lượng sản phẩm lỗi đã tăng đến 1,184 yds Đây là một vấn đề cấp thiết và quan trọng ảnh hưởng đến vấn đề sống còn của Doanh nghiệp nếu số lượng sản phẩm lỗi
cứ theo đà gia tăng như vậy Có thể lý giải cho việc gia tăng số lượng sản phẩm lỗi
là do số lượng sản phẩm tăng, làm cho công việc chịu nhiều áp lực ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, nghiêm trọng hơn có thể làm trễ thời gian giao hàng Tác giả tiếp tục phân tích các chỉ tiêu sau để nhìn rõ vấn đề:
Tốc độ tăng trung bình hàng quý của số lượng sản phẩm:
Trang 33Tsoluong = 16
420,3
755,4
1 - 1 = 0.0943 (lần) hay 9.43%
Tốc độ tăng trung bình hàng quý của tỷ lệ lỗi:
Ttyleloi = 16
19 8
9
24 - 1 = 0.0720 (lần) hay 7.20%
Ta thấy tốc độ tăng trung bình hàng quý của số lượng sản phẩm chỉ đạt 2.08% trong khi đó tốc độ tăng trung bình hàng quý của số lượng sản phẩm lỗi tăng đến 9.43% và tốc độ tăng trung bình hàng quý của tỷ lệ lỗi tăng 7.02% Điều này cho thấy việc quản lý chất lượng của Doanh nghiệp hiện đang khó khăn, Doanh nghiệp không thể nhận định các yếu tố gây lỗi cũng như kiểm soát được tình hình lỗi tăng nhanh như vậy Để loại bỏ yếu tố do tỷ giá tác động, tác giả tiến hành phân tích kim
ngạch xuất khẩu ở bảng sau:
Bảng 2.8 Bảng kim ngạch xuất khẩu các quý năm 2007 – 2011
Năm Quý Kim ngạch XK (USD) tuyệt đối LH Chênh lệch
(USD)
Tốc độ tăng LH (%)
Trang 342011 Quý 1 148,275 7,005 4.96
Nguồn: [13]
Ta thấy kim ngạch xuất khẩu có nhiều biến động mạnh nhưng theo chiều hướng gia tăng Ở quý 2 năm 2007 kim ngạch xuất khẩu giảm 13.62% tương ứng giảm 13,485 USD do tồn trước Tết âm lịch, quý 3 cũng bị ảnh hưởng giảm nhưng ít chỉ giảm 6.63%, nhưng đến quý 4 năm 2007 lại tăng đến 33.76% tương ứng tăng 26,970 USD Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh ở quý 3, giảm đến 22.63% do số lượng sản phẩm gia công ít Quý 4 năm 2009 do ảnh hưởng của thời tiết tại các cơ sở gia công khu vực miền Bắc nên lượng hàng ngưng trệ, kim ngạch xuất khẩu giảm 18.17% tương ứng giảm 23,085 USD Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu giảm là do số lượng sản phẩm giảm, và một số nguyên nhân khách quan do thời tiết Để nhận xét chung về tình hình biến động của kim ngạch xuất khẩu trung bình qua các quý tác giả tiến hành tính chỉ tiêu tốc độ tăng trung bình hàng quý của kim ngạch như sau:
T kimngach = 16
041,99
275,148
- 1 = 0.0255 (lần) hay 2.55%
Để đánh giá được tình hình quản lý chất lượng của Doanh nghiệp, tác giả tiến hành so sánh như bảng sau:
Bảng 2.9 Bảng so sánh tốc độ tăng bình quân hàng quý của số lượng sản
phẩm, số lượng sản phẩm lỗi và kim ngạch xuất khẩu
Tốc độ tăng bình quân hàng quý (%) Kim ngạch 2.55