Nghiên cứu về những vấn đề gia đình Nhật Bản hiện đại cũng là tìm hiểu về gia đình, những mối quan hệ trong gia đình Nhật Bản hiện nay với những vấn đề mà xã hội Nhật Bản đang quan tâm..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
[ \
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
BIÊN HÒA, THÁNG 12/2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép chúng em được gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu nhà trường Đại Học Lạc Hồng, cùng ban lãnh đạo khoa Đông Phương Học đã tạo những điều kiện thuận lợi để chúng em có thể hoàn thành bài tốt bài luận văn này Ngoài ra, chúng em cũng xin cám ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn, động viên chúng em trong suốt quá trình học tập, để chúng em ngoài việc nâng cao những hiểu biết của mình về đất nước, con người, ngôn ngữ
và văn hóa Nhật Bản
Đặc biệt chúng em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến giáo viên hướng dẫn Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Lực người đã định hướng và giúp đỡ chúng em thực hiện luận văn này Trong suốt quá trình hoàn thành bài luận văn này, chúng em gặp không ít khó khăn nhưng Thầy luôn nhiệt tình, giúp chúng em tìm kiếm tư liệu, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và sửa chữa để bài luận văn này có thể hoàn thành đúng thời hạn
Đồng thời, chúng em xin chân thành cám ơn quý thầy cô phản biện đã cho chúng em nhiều ý kiến chân thành, quý báu, giúp chúng em hiểu sâu sắc hơn về bài luận văn của mình, và để bài viết ngày càng được hoàn thiện
Chúng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, khích
lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Và chúng tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến những người bạn ở xứ sở hoa anh đào đã cung cấp cho tôi những nguồn tài liệu vô cùng quý giá để hoàn thành tốt bài luận của mình
Do khả năng có hạn, những điều kiện khách quan tác động và nhất là hạn chế về thời gian, luận văn này không tránh khỏi những hạn chế, sai sót Vì thế, chúng em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của quý thầy cô, các bạn sinh viên
Xin chân thành cám ơn
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Những đóng góp của đề tài 3
6 Cấu trúc của đề tài 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT GIA ĐÌNH NHẬT BẢN 5
1.1 Khái niệm chung về gia đình 5
1.1.1 Định nghĩa gia đình 5
1.1.2 Đặc trưng các mối quan hệ cơ bản của gia đình 7
1.2 Các loại hình gia đình Nhật Bản 9
1.2.1 Gia đình hạt nhân 9
1.2.2 Gia đình mở rộng 9
1.3 Gia đình Nhật Bản xưa và nay 10
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA GIA ĐÌNH NHẬT BẢN THỜI HIỆN ĐẠI 13
2.1 Những vấn đề hôn nhân 14
2.1.1 Thực trạng kết hôn muộn và không kết hôn 14
2.1.1.1 Thực Trạng 14
2.1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng kết hôn muộn và độc thân ở Nhật 17
2.1.2 Tình trạng ly hôn tăng cao 24
2.2 Những vấn đề trong mối quan hệ gia đình hiện nay 30
2.2.1 Hiện trạng bạo lực trong gia đình 32
2.2.2 Cuộc sống của người già và trẻ nhỏ trong gia đình 34
2.2.2.1 Căn bệnh khép kín 35
2.2.2.2 Người già neo đơn 36
Trang 4CHƯƠNG III SO SÁNH GIỮA GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ GIA ĐÌNH NHẬT BẢN 39
3.1 Khái quát gia đình Việt Nam 39 3.2 So sánh giữa gia đình Việt Nam và gia đình Nhật Bản về mặt cấu trúc gia đình 43 3.3 Phương hướng khắc phục những mặt hạn chế còn tồn tại trong gia đình hiện nay 48
KẾT LUẬN 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, hay nói cách khác thì xã hội là do nhiều gia đình hợp thành Do vậy, gia đình không tồn tại một cách đơn lẻ mà tồn tại trong những xã hội cụ thể thông qua rất nhiều các mối quan hệ với thế giới bên ngoài Gia đình là đầu mối của các quan hệ xã hội Từ xa xưa vấn đề gia đình vẫn luôn được xem trọng và được đề cập đến qua các câu ca dao tục ngữ “con hơn cha nhà
có phúc” , “con không cha như nhà không nóc”, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”.v.v
Cho đến tận ngày nay, vấn đề gia đình vẫn còn là một đề tài lớn cho các nhà nghiên cứu xã hội học trên thế giới Bởi vì, gia đình không chỉ là một đơn vị tái sản xuất tộc người mà đó còn là một tấm gương phản ánh những nét văn hóa,
xã hội đặc trưng của mỗi dân tộc mỗi tộc người
Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, cùng với tiến trình quốc tế hoá là sự ảnh hưởng lẫn nhau của các nền văn hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vấn
đề xác định bản sắc văn hoá dân tộc của mỗi dân tộc là điều hết sức cần thiết Nghiên cứu về những vấn đề gia đình Nhật Bản hiện đại cũng là tìm hiểu về gia đình, những mối quan hệ trong gia đình Nhật Bản hiện nay với những vấn đề mà
xã hội Nhật Bản đang quan tâm
Từ thập niên 80 nền kinh tế của Nhật Bản đã phát triển vào bậc hàng đầu trên thế giới đã thu được nhiều thành tựu to lớn, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Nhưng mặt khác quá trình đô thị hóa cũng làm nãy sinh những hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng tới gia đình như: ly hôn, trẻ em lang thang
bỏ học, phạm pháp tuổi vị thành niên, tự sát v v…đang có chiều hướng gia tăng
Vì vậy với xu thế phát triển trên việc phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của gia đình trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới hiện nay là vấn đề đang được xã hội chú trọng
Là một sinh viên nghành Nhật Bản học, chúng tôi cũng muốn nghiên cứu
để biết, để hiểu rõ và cũng để có những hình dung cơ bản về đất nước – con người Nhật Bản
Trang 6Mặt khác, khoá luận cũng nhằm vào mục đích cung cấp cái nhìn cận cảnh
về gia đình Nhật bản hiện đại bổ xung vào bức tranh Nhật Bản tại Việt Nam, để hiểu đúng hơn về thực trạng xã hội Nhật Bản hiện nay và những nguyên nhân nào đã dẫn đến sự thay đổi ấy, góp phần giúp cho mối quan hệ giao lưu Việt – Nhật ngày càng tốt đẹp hơn
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về gia đình Nhật Bản hiện đại là một vấn đề lớn, trong khi đó
ở Việt Nam hiện nay lại chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này Những cuốn sách viết về gia đình – xã hội Nhật Bản hay những trang báo, tạp chí mới chỉ mang tính chất khái quát giới thiệu một cách tản mạn chứ chưa đi sâu vào phân tích về những vấn đề gia đình Nhật Bản hiện đại Điều này đã gây ra những khó khăn trong việc tiếp cận xã hội Nhật Bản mà cụ thể là trong lĩnh vực gia đình Nhật Bản
Dựa trên những cơ sở lý luận về hôn nhân gia đình trong cuốn “gia đình Nhật Bản” do Trần Mạnh Cát chủ biên, hay cuốn “Dân tộc học đại cương” do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên và những tác phẩm được dịch sang Tiếng Việt để làm cơ sở hình thành khóa luận Ngoài ra, bằng vốn tiếng Nhật khiêm tốn, chúng tôi cố gắng tham khảo trực tiếp bằng những trang wed cũng như những tạp chí, báo được viết bằng tiếng Nhật được đề cập trong danh mục những tài liệu tham khảo
Nội dung nghiên cứu đề là cập tới vấn đề nổi bật trong đời sống gia đình
và những mối quan hệ gia đình trong gia đình Nhật Bản hiện đại Sự thay đổi về kinh tế đã dẫn đến những thay đổi trong gia đình Nhật Bản, đặc biệt là sự ảnh hưởng từ gia đình – xã hội đến tâm lý và đời sống của thanh thiếu niên Nhật Bản hiện nay
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề về gia đình những mối quan hệ gia đình trong gia đình Nhật Bản hiện đại, khảo sát tổng hợp về số liệu để thấy được
sự thay đổi của gia đình Nhật Bản từ năm 2000 đến nay Đồng thời so sánh với gia đình Việt Nam hiện nay Tìm hướng giải quyết các vấn đề gia đình – xã hội trong giai đoạn hiện nay mà cả hai nước đang quan tâm
Trang 7+ Giới hạn về thời gian: khóa luận nghiên cứu về những sự thay đổi lớn trong gia đình - xã hội Nhật Bản và sự tác động của xã hội đến gia đình Nhật Bản trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay
+ Giới hạn về không gian: khoá luận chỉ nghiên cứu về những vấn đề trong gia đình Nhật Bản hiện đại chứ không đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề hôn nhân
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê - tổng hợp: tổng hợp những tài liệu, thống kê số liệu mà các nhà nghiên cứu xã hội học, những trang báo, tạp chí viết về những vấn đề gia đình – xã hội Nhật Bản hiện đại để có cái nhìn tổng quát về gia đình
và những mối quan hệ gia đình Nhật Bản hiện nay
Phương pháp diễn dịch: dùng trong phần viết về những vấn đề của xã hội Nhật Bản hiện nay, đưa ra những nhận định, tìm dẫn chứng và phân tích những dẫn chứng để làm rõ các vấn đề được đưa ra
Phương pháp so sánh: so sánh về gia đình Nhật Bản hiện đại và gia đình Việt Nam để tìm ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt giữa hai quốc gia
5 Những đóng góp của đề tài
Mặc dù nguồn tư liệu cũng như một số hạn chế trong việc tìm và dịch tài liệu từ tiếng Nhật nhưng tác giả cũng hy vọng đóng góp phần nào vào con đường nghiên cứu Nhật Bản hiện nay
+ Ý nghĩa khoa học: vận dụng những kiến thức có được trong những năm học đại học, trực tiếp nghiên cứu từ các tài liệu bằng tiếng Nhật khoá luận phần nào cung cấp một cái nhìn mang tính hệ thống, cập nhật đối với những vấn đề về gia đình Nhật Bản hiện nay Từ đó giúp chúng ta hiểu nguyên nhân và ảnh hưởng của những vấn đề về gia đình Nhật Bản trong xã hội Nhật Bản hiện nay Góp phần vào quá trình nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam
+ Ý nghĩa thực tiễn: Việt Nam và Nhật Bản có nhiều nét văn hóa tương đồng bên cạnh đó Việt Nam cũng đang trên con đường công nghiệp hóa cùng với
đó là quá trình đô thị hóa và những đổi thay về kinh tế văn hóa v v…Những thay đổi trên có những tác động nhất định đến thể chế gia đình: gia tăng ly hôn, gia tăng các gia đình đơn thân, những người già neo đơn…
Trang 8Dường như gia đình Việt Nam cũng đang phát triển theo xu hướng như gia đình Nhật Bản, do đó nghiên cứu của chúng tôi về “Những vấn đề về gia đình Nhật Bản thời hiện đại” sẽ có ích cho Việt Nam trong việc hoạch định những chính sách về dân số và gia đình Mặt khác cũng để tìm ra một hướng đi cho xã hội Việt Nam trong giai đoan sắp tới, phát triển được kinh tế xã hội nhưng vẫn gìn giữ được truyền thống Tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản trên lĩnh vực văn hóa – xã hội Đối với chúng tôi đây là cơ hội
để trau dồi vốn tiếng Nhật và thu thập kiến thức văn hóa – xã hội Nhật Bản, hiểu thêm về con người, đất nước Nhật Bản
Tuy nhiên, do khả năng về chuyên môn còn hạn chế và chỉ mới bước đầu trên con đường nghiên cứu nên khoá luận này chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Kính mong quý thầy cô tận tình chỉ dẫn để cho tác giả có thêm kinh nghiệm cho những bài luận sau được tốt hơn
6 Cấu trúc của đề tài:
Gồm có 3 chương:
- Chương I: Khái quát gia đình Nhật Bản
- Chương II: Thực trạng gia đình Nhật Bản hiện đại
- Chương III: So sánh giữa gia đình Nhật Bản và gia đình Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT GIA ĐÌNH NHẬT BẢN
Từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành môi trường mà chúng ta tiếp xúc
đầu tiên đó chính là gia đình Vì vậy mà gia đình không phải chỉ ảnh hưởng đến
cá nhân mà còn là nền tảng cho cả xã hội nữa
Thực vậy, nhìn vào cách thức tổ chức, chúng ta sẽ nghiệm ra rằng: nhiều gia đình họp lại thành thôn ấp, và cứ thế đi lên tới xã, huyện, tỉnh, quốc gia và cộng đồng quốc tế
Bởi đó, gia đình đã trở nên một yếu tố căn bản để xây dựng xã hội Gia đình tốt làm cho cá nhân tốt đã đành, mà hơn thế nữa gia đình tốt còn làm cho cả xã hội đều được tốt Trái lại gia đình xấu thì chắc hẳn xã hội cũng sẽ bị ung thối Vì vậy gia đình và những vấn đề gia đình luôn là một đề tài xã hội quan tâm
1.1.1 Định nghĩa gia đình
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình của các nhà khoa học nghiên cứu ở từng góc độ khác nhau, với tư cách một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội, gia đình được hình thành từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài
Xuất phát nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải nương tựa vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam giới và nữ giới, những hình thức cộng đồng tổ chức đời sống gia đình đã xuất hiện Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều hình thức gia đình: gia đình đơn thân, gia đình một vợ một chồng, gia đình ba thế hệ… Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội, các kiểu dạng
tổ chức cộng đồng mang tính tự nhiên ngay từ đầu đã chịu sự quy định của những biến đổi trong sản xuất, trong đời sống kinh tế - xã hội Để quan hệ với thiên nhiên, tác động vào thiên nhiên, con người cần phải quần tụ thành các nhóm cộng đồng Ban đầu, các quan hệ chi phối trong những nhóm cộng đồng ấy còn mang sắc thái tự nhiên, sinh học Trước những yêu cầu của sản xuất và sinh hoạt, những đòi hỏi của đời sống kinh tế, các quan hệ ấy dần trở nên chặt chẽ, giữa các
Trang 10thành viên trong cộng đồng ấy xuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn nhau phù hợp và thích ứng với những điều kiện sản xuất, sinh hoạt của mỗi một nền sản xuất
Gia đình dần trở thành một thiết chế xã hội, một hình ảnh xã hội thu nhỏ Như vậy, gia đình được coi là một thiết chế xã hội đặc thù, nhỏ nhất, cơ bản nhất Nếu như văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của chính mình, thì gia đình không chỉ là một hình thức tổ chức cộng đồng, một thiết chế xã hội mà điều quan trọng gia đình còn là một giá trị văn hoá xã hội Tính chất bản sắc của gia đình lại được duy trì, bảo tồn, được sáng tạo và phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu của mỗi thành viên gia đình trong sự tương tác, gắn bó với văn hoá cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp và tầng lớp của mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia, dân tộc xác định
Theo tác giả Levy Strauss1: Gia đình là một nhóm xã hội học được quy định bởi 3 đặc điểm thường thấy
+ Hôn nhân
+ Quan hệ hôn nhân
+ Các ràng buộc và trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình
Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung và có ngân sách chung
Tóm lại gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hoá - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên Từ đó chúng ta tìm hiểu đặc trưng cơ bản của gia đình để xem xét các mối quan hệ của gia đình ở góc độ
là một nhóm xã hội, nhóm tâm lý - tình cảm đặc thù, với các mối quan hệ bên trong, với sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thỏa mãn những nhu cầu của mỗi người, đặc biệt là mối quan hệ giữa vợ và chồng “Nguồn:[34]”
1 Người thầy của trường phái nhân học Pháp, ông sinh năm 1908 trong 1 gia đình Pháp gốc Do Thái
Trang 111.1.2 Đặc trưng các mối quan hệ cơ bản của gia đình
Hôn nhân và quan hệ hôn nhân là một quan hệ cơ bản của sự hình thành,
tồn tại và phát triển gia đình: hôn nhân là một hình thức quan hệ tính giao giữa nam và nữ nhằm thoả mãn các nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm và đảm bảo duy trì, phát triển nòi giống Cùng với sự phát triển của lịch sử, hôn nhân cũng có những biến đổi sâu sắc về hình thức, tính chất, sắc thái của nó Nếu như trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ, hình thức hôn nhân chủ yếu là quần hôn, trong các chế độ
tư hữu hôn nhân được hình thành xây dựng và thực hiện trên cơ sở bảo đảm lợi ích của những người chủ sở hữu (ví dụ: trong chế độ phong kiến hôn nhân một
vợ một chồng nhưng điều đó chỉ ràng buộc đối với người vợ ) Hôn nhân là hình thức quan hệ tính giao của con người và chỉ có ở con người, nên ngay từ đầu hôn nhân đã mang bản chất người, nhân văn và nhân đạo Sự phù hợp về tâm lý, sức khoẻ và nhất là trạng thái tình cảm, ngay từ đầu đã là cơ sở trực tiếp của hôn nhân, mang lại bản sắc đặc thù của quan hệ hôn nhân Tuy nhiên, như mọi quan
hệ xã hội khác hôn nhân luôn chịu sự chi phối của các quan hệ kinh tế và bản chất chế độ xã hội mà trên đó nó được hình thành và phát triển Vì vậy, hôn nhân trong bất cứ thời đại nào cũng có thể và cần phải được xã hội thừa nhận, ở những mức độ, trình độ khác nhau “Nguồn:[3]”
Hiện nay về mặt pháp luật hôn nhân cũng được chấp nhận, bên cạnh sự thừa nhận của cộng đồng, của các chuẩn mực văn hoá và lối sống của truyền thống trong cộng đồng Sự phù hợp về trạng thái tâm lý, tình cảm, lối sống giữa đôi nam nữ trước khi đi đến hôn nhân và là cơ sở trực tiếp cho hôn nhân được gọi
là tình yêu Cũng như hôn nhân tình yêu của mỗi thời đại, mỗi giai cấp và tầng lớp, mỗi dân tộc và cộng đồng thì tâm lý văn hoá cũng có những giá trị và chuẩn mực riêng, với những biểu hiện riêng, cụ thể và sinh động
Huyết thống, quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản đặc trưng của
gia đình: Do nhu cầu hết sức tự nhiên cần duy trì và phát triển nòi giống, con người đã sáng tạo ra gia đình với một thiết chế xã hội Trong gia đình cùng với quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống được coi là một quan hệ cơ bản nhất Tuy nhiên, ngay cả quan niệm về quan hệ này cũng có những thay đổi theo tiến trình
Trang 12lịch sử Những sự thay đổi ấy được quy định, chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế, văn hoá, chính trị của xã hội
Mặt khác, quan hệ huyết thống ấy cũng gia nhập, đan xen vào các quan hệ kinh tế - xã hội và chính trị xã hội của mỗi thời đại Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, huyết thống về đằng mẹ được coi như chuẩn mực để tính quan hệ thân tộc gần xa Khi ấy, gia đình được xây dựng trên cơ sở huyết thống mẫu hệ Gia đình theo huyết thống về đằng cha (gia đình phụ hệ) được coi như một sự phủ định đối với gia đình mẫu hệ được hình thành và phát triển cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu Những biểu hiện của bất bình đẳng trong quan hệ nam nữ dù
ở mức độ thấp (gia đình mẫu hệ) đến mức độ cao hơn và ngày càng gay gắt hơn (gia đình phụ hệ: gia đình chủ nô, gia đình phong kiến gia trưởng, gia đình tư sản) chỉ có thể được khắc phục trong điều kiện khi mà chế độ tư hữu bị xoá bỏ, chế độ sở hữu công cộng (công hữu) đối với các tư liệu sản xuất được xác lập
“Nguồn:[8]”
Quan hệ quần tụ trong cùng một không gian sinh tồn: Ngay từ đầu,
xuất phát từ yêu cầu được đặt ra trong quan hệ với tự nhiên và giữa con người với nhau, cộng đồng gia đình đã luôn cư trú, quần tụ trong một không gian sinh tồn Lúc đầu là trong một hang đá, hốc cây sau là trong một mái nhà Dù không gian sinh tồn ấy ngày càng mở rộng và chịu sự chi phối của các quan hệ kinh tế - xã hội, nhưng nhu cầu quần tụ vẫn luôn được đặt ra Cho dù ngày nay, khái niệm không gian sinh tồn của gia đình không còn giữ nguyên nghĩa như một giới hạn địa lý thuần tuý Cho dù sự can thiệp, mức độ quan tâm giữa các thành viên gia đình đã được xã hội thay thế, đảm nhận ở mức độ đáng kể, sự quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên, các thế hệ trong mỗi gia đình không vì thế mà mất
đi Trái lại nó được củng cố, được thực hiện nhờ những thiết bị, phương tiện và tiện nghi ngày càng hiện đại, đầy đủ hơn
Quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên và thế hệ thành viên trong gia
đình: Nuôi dưỡng là một nghĩa vụ, một trách nhiệm, đồng thời còn là một quyền
lợi thiêng liêng của gia đình, của các thành viên gia đình đối với nhau Nuôi dưỡng không đơn thuần chỉ là các bậc cha mẹ, ông bà nuôi dưỡng con cháu, mà còn là hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của con cháu đối với cha mẹ, ông bà,
Trang 13giữa các thành viên khoẻ mạnh có thuận lợi trong làm ăn sinh sống đối với các thành viên gặp những khó khăn, những rủi ro về sức khoẻ, về làm ăn sinh sống
1.2 CÁC LOẠI HÌNH GIA ĐÌNH NHẬT BẢN
Hiện nay với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế ngày càng phát triển cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc phân bố các kiểu gia đình Nhật Bản cũng như các quốc gia khác trên thế giới Hiện nay có hai loại hình gia đình cơ bản:
Hay còn được gọi là “tiểu gia đình, gia đình cá thể, gia đình một vợ một chồng, gia đình đơn giản” Đây là kiểu gia đình thường bao gồm một cặp vợ chồng và con cái do họ sinh ra Gia đình hạt nhân rất phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Có thể nói gia đình hạt nhân là thước đo sự phát triển xã hội của một quốc gia Loại gia đình này rất thích hợp với xã hội công nghiệp, vì có nhiều ưu thế về nơi ở cũng như về kinh tế, tự do phát triển nhân cách của các thành viên Do đặc tính gọn, nhẹ nên gia đình hạt nhân cơ động linh hoạt, thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội, do sống độc lập nên gia đình hạt nhân có mối quan hệ gia đình lỏng lẽo, vì vậy sự hổ trợ lẫn nhau về mặt vật chất cũng như tinh thần không cao như kiểu gia đình mở rộng, khả năng tự bảo vệ của gia đình hạt nhân trước những tác động của xã hội cũng như khả năng bảo lưu các giá trị xã hội truyền thống không cao dễ bị phân rã
1.2.2 Gia đình mở rộng
Hay còn được gọi là “đại gia đình, gia đình phức hợp, gia đình không phân đôi” Đây là những gia đình thường có từ ba thế hệ trở lên hoặc tối thiểu là hai cặp vợ chồng Hộ gia đình có những người họ hàng chưa kết hôn không được tính là hộ gia đình mở rộng, ở miền Bắc Việt Nam vẫn thường nghe nói đến gia đình “tam, tứ đại đồng đường” cùng sống chung dưới một mái nhà có từ ba thế
hệ trở lên (ông bà, cha mẹ, con cái)
Loại gia đình này đại diện cho kiểu gia đình truyền thống, khá thịnh hành ở vùng nông thôn cũng như ở thành thị nước ta trước Cách mạng tháng Tám Đặc trưng của kiểu gia đình này là tính cố kết cao theo quan hệ huyết thống, gìn giữ được truyền thống dòng họ, bảo lưu được những tập tục nghi lễ gia phong v.v…,
có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau về vật chất cũng như tinh thần, có điều kiện chăm
Trang 14sóc người già cũng như giáo dục trẻ nhỏ, bảo vệ chống lại những tác động của xã hội Tuy vậy, kiểu gia đình này cũng chứa những nhược điểm nhất định
“Nguồn:[3]”
Tính khép kín trong nội bộ thân tộc, trong khi gìn giữ những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp thì đồng thời cũng bảo lưu luôn cả những tập tục lạc hậu, lỗi thời Do cùng chung sống với các thế hệ khác nhau nên khó tránh khỏi những mâu thuẫn, hạn chế những tự do cá nhân Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kiểu gia đình này tỏ ra không thích hợp và ngày càng teo lại, nhường chỗ cho gia đình hạt nhân
\
“
Biểu đồ: 1.1 Biểu đồ số người trong gia đình Nhật Bản hiện nay
Nguồn: Kazokuninzu no tokei 2008 ja.wikipedia.org/” [34]
1.3 GIA ĐÌNH NHẬT BẢN XƯA VÀ NAY
Ở Nhật Bản, từ xưa gia đình truyền thống là một hình mẫu gia trưởng với nhiều thế hệ cùng chung sống trong một ngôi nhà và mối quan hệ, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng huyết thống rất mật thiết Mỗi thành viên trong gia
Trang 15đình, tuỳ theo tuổi tác và giới tính, có một địa vị nhất định, cũng như trách nhiệm
và nghĩa vụ bảo vệ gia đình
Người con trai trưởng chiếm vị trí đặc biệt để kế vị, đứng đầu hộ gia đình Tài sản của gia đình, nhất là bất động sản như nhà cửa, vườn tược, ruộng đất canh tác thuộc người con trai trưởng, cũng thừa kế luôn cả trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già Hay nói một cách khác, người con trai trưởng sẽ là người tiếp tục điều hành công việc sản xuất, kinh doanh truyền thống của gia đình Còn những người con trai thứ sẽ rời khỏi gia đình, lấy vợ và lập ra các gia đình nhánh với sự giúp đỡ của gia đình gốc Sự giúp đỡ về mặt tài chính cho những người con trai thứ khi ra riêng cũng được xem tương tự như của hồi môn cho những người con gái khi về nhà chồng Theo tập tục kế thừa này (tập tục chônan), tốt nhất hôn nhân ở đây theo sự dàn xếp của mai mối sẽ được bảo vệ được lợi ích của hai dòng họ cũng như hai phía gia đình Còn nếu như người con trai trưởng không đủ phẩm chất đảm nhận chức vụ người đứng đầu gia đình, chủ yếu là không có chức năng điều hành sản xuất kinh doanh của gia đình thì vị trí này sẽ được giao cho người con trai thứ hoặc muko – yooshi người chồng của người con gái thông qua con đường hôn nhân Nếu như gia đình không có con người ta có thể nhận con nuôi, người con này phải đổi họ theo cha mẹ nuôi Nếu con nuôi là con gái, đến khi lấy chồng, người chồng sẽ được cha mẹ nuôi của vợ nhận làm con và tất nhiên cũng phải đổi họ theo cha mẹ nuôi của vợ Như vậy với tập tục chọn người
kế vị như trên, tài sản của gia đình và dòng họ trong bất kỳ trường hợp nào cũng tồn tại mãi Ngoài ra ở Nhật Bản người phụ nữ sau khi lấy chồng thì phải đổi họ theo họ chồng Vì vậy trong gia đình nhất định phải sinh con trai nếu không thì của cải tài sản trong nhà sẽ dần dần trở thành của dòng họ khác “Nguồn: [3]”
Trước đây trong gia đình, thường cả 3 thế hệ ông bà-con-cháu đều sống chung dưới một mái nhà Ngày nay, con cái sau khi lập gia đình thường ra ở riêng Ông bà tránh làm phiền con cháu thường sống riêng một mình hoặc vào viện dưỡng lão Ngoài ra với nền kinh tế cũng như đời sống khoa học phát triển,
để có một tương lai tốt đẹp mà lớp trẻ hiện nay phải rời xa quê hương tập trung sinh sống và làm việc và học tập ở các trung tâm đô thị lớn, bỏ lại những người già ở quê phải sống thui thủi một mình làm tỉ lệ gia đình neo đơn ở Nhật cũng đạt
Trang 16tỉ lệ rất cao trong tổng gia đình, kéo theo sự mất cân bằng lao động giữa nông thôn và đô thị
Trong gia đình có sự phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa chồng và vợ Người chồng có trách nhiệm kiếm tiền nuôi cả gia đình, người vợ lo công việc nội trợ, chăm sóc và giáo dục con cái Trong gia đình Nhật ta sẽ rất ít khi bắt gặp cảnh nguời đàn ông phụ vợ lo chuyện bếp núc hoặc giặt giũ Chồng đi làm về chỉ việc đọc báo, xem TV, mọi chuyện quán xuyến gia đình đều có vợ lo Câu “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật” xem ra không còn đúng lắm với thời đại bây giờ, nhưng ít ra các cô vợ Nhật đương đại trong chừng mực nào đó vẫn còn là người nội trợ lý tưởng
Phụ nữ Nhật Bản sau khi lập gia đình thường có khuynh hướng nghỉ việc, rút lui ra khỏi công việc xã hội để chuyên tâm lo chuyện tề gia nội trợ Ngày nay,
vị trí của nguời phụ nữ trong xã hội ngày càng được coi trọng hơn, được cất nhắc lên những vị trí quan trọng, do đó nhiều phụ nữ sau khi lập gia đình vẫn tiếp tục công việc của mình Ðó là một trong những nguyên nhân khiến phụ nữ Nhật Bản ngày nay lập gia đình trễ (trung bình 26.1 tuổi)
Ðiều kiện y tế ngày càng phát triển khiến tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh ngày càng giảm thế nhưng chi phí nuôi duỡng và giáo dục ngày càng tăng và ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội như đã nói ở trên, đó là những nguyên nhân khiến tỉ lệ sinh ở Nhật ngày càng giảm xuống Theo thống kê
tỉ lệ sinh của người Nhật đã thấp hơn 1.28 trong năm 2004 “Nguồn: [8]”
Xã hội Nhật Bản tuy chịu nhiều ảnh huởng của xã hội Âu - Mỹ hiện đại trong nhiều mặt nhưng chuyện ly dị vẫn chưa đuợc xã hội chấp nhận, chưa được quan niệm rộng rãi như trong xã hội Âu Mỹ Người phụ nữ đã trải qua một lần ly
dị phải chịu khá nhiều lời ong tiếng ve của những người chung quanh Tỷ lệ ly dị chiếm khoảng hơn 20% số vụ kết hôn, hay trong 1000 người Nhật, tỷ lệ ly dị là 1.52 thấp nhất trong các nước tiên tiến (Anh: 2.88, Mỹ: 4.73)
Tóm lại, gia đình Nhật Bản vẫn còn mang dáng dấp gia trưởng, nhưng theo khuynh hướng phát triển của kinh tế thì gia đình người Nhật cũng có những thay đổi rõ rệt, các kiểu hình gia đình truyền thống “tam tứ đại đồng đường” đã dần bị thay thế bởi gia đình cá thể
Trang 17số liệu thống kê, tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2000 Nhật Bản có 672 điểm dân
cư trong đó: 11 thành phố có dân số trên 1 trên triệu người, 10 thành phố có dân
số từ 500 ngàn đến 1 triệu người, 4 thành phố từ 300 ngàn đến 499 ngàn người,
38 thành phố từ 100 ngàn đến 299 ngàn người, 123 thành phố từ 50 ngàn đến 99.9 ngàn người, 222 thành phố từ 30 ngàn đến 49.9 ngàn người, 223 thành phố dưới 30 vạn dân và 22.556 thị trấn, điểm cư dân với số dân từ 1 ngàn đến 40 ngàn
Như vậy, hiện nay hầu hết cư dân Nhật Bản sống ở thành phố hoặc các thị trấn và ranh giới giữa thành thị và nông thôn ngày càng mờ nhạt mặc dần vẫn còn 3.691 hộ với 13 triệu 107 ngàn người sống ở “khu vực nông thôn”, canh tác trên diện tích 5 triệu 124 ngàn ha, trung bình 1.4 ha một hộ, chiếm khoảng 10% dân
số
“Nguồn: Trần Mạnh Cát, 2004, gia đình Nhật Bản, 112” [3]
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá suốt vài thập niên qua cũng là quá trình gia tăng gia đình hạt nhân và giảm dần quy mô gia đình tức là giảm số thành viên trung bình trong gia đình Nếu như năm 1960 quy mô hộ gia đình là 4.14 người trong một hộ gia đình, thì đến năm 1970 là 3.14, năm 1980 là 3.22; năm 1985 là 3.14; năm 1990 là 2.99; năm 1995 là 2.82 và năm 2000 là 2.67 người trong một hộ
Trang 18“Trần Mạnh Cát, 2004, gia đình Nhật Bản,113”[3]
Quy mô gia đình có xu hướng giảm thì trái lại tỷ lệ số hộ gia đình độc thân tăng cao do kết quả của nhiều nguyên nhân như: số nam nữ thanh niên không xây dựng gia đình ngày càng nhiều và họ dành thời gian cho học tập cũng như công việc ở các cơ quan xí nghiệp, mặt khác tỷ lệ ly hôn cao cũng phần nào ảnh hưởng đến điều này vì hầu hết những người phụ nữ sau khi ly hôn lại sống với bố mẹ mình mà không đi bước nữa Cuối cùng là tỷ lệ sinh trung bình của người phụ
nữ Nhật Bản ngày càng giảm Ngày nay, gia đình Nhật Bản ngày càng xảy ra nhiều vấn đề gây ảnh hưởng không chỉ bản thân gia đình mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội, khiến xã hội Nhật Bản đang phải đối mặt với những nguy cơ thách thức mới, những văn hóa truyền thống trong gia đình ngày càng mất đi
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ HÔN NHÂN
Như chúng ta đã biết quan hệ hôn nhân là một trong những nền tảng của gia đình Vì thế những vấn đề về hôn nhân cũng ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình Nhật Bản Hiện nay trong hôn nhân Nhật Bản xảy ra những thực trạng như sau
2.1.1 Thực trạng kết hôn muộn và không kết hôn
2.1.1.1 Thực trạng
Dạo gần đây chúng ta thường xuyên nghe nói về những hiện tượng
“mikonka” và “hikonka” Đây là những từ dùng để chỉ những người sống độc thân chưa kết hôn Hiện nay ở Nhật Bản với trào lưu “mikonka” và “hikonka” ngày càng lan rộng Trong đó, tỉ lệ những người không kết hôn quyết tôn thờ chủ nghĩa độc thân ngày một tăng cao
Trước khi trình bày về vấn đề trên chúng tôi xin nêu lên điểm khác nhau của hai từ “mikon” và “hikon” trên đây: Theo như từ điển quốc ngữ “mikon” và
“hikon” được định nghĩa như sau: “mikon” có nghĩa là hiện trạng vẫn chưa kết hôn mặc dù đã đến độ tuổi kết hôn Còn “hikon” tức là trạng thái không kết hôn, những người thuộc trạng thái này họ không hề có ý định kết hôn trong tương lai
và mang tư tưởng tôn thờ chủ nghĩa độc thân Cả hai từ trên đều là từ ngữ được
sử dụng để chỉ những người đang trong tình trạng độc thân thế nhưng điểm khác nhau của chúng là: “mikon” là từ chỉ người đang ở trạng thái độc thân chưa từng kết hôn và họ có khả năng kết hôn trong tương lai Còn “hikon” cũng chỉ những
Trang 19người đang ở trạng thái độc thân nhưng họ là những người mang ý nghĩ tuyệt đối
sẽ không kết hôn trong hiện tại cũng như tương lai Chúng ta có thể hiểu những người thuộc dạng “hikon” tương đương ở Việt Nam là những người ở giá, không lấy chồng hoặc lấy vợ Còn những người thuộc dạng “Mikon” họ là những người độc thân nhưng họ có thể lập gia đình trong tương lai và có thể độ tuổi kết hôn của họ cao hơn mức bình thường
Tỉ lệ người độc thân ở Nhật Bản từ năm 1950 đến 1980 ở nam giới khoảng 50% và nữ giới khoảng 33%, nhưng từ nửa sau những năm 80 có xu hướng tăng nhanh Theo thống kê vào năm 2000 tỉ lệ độc thân ở nam giới đã lên đến 68.2% và nữ là 55.5%, số người không kết hôn có vẻ ngày càng nhiều: và tỉ
lệ này tính đến thời điểm hiện nay thì nam giới tăng thêm 16%, còn nữ là 7%, và những con số này vẫn còn khả năng tăng lên Vào thập niên 70 độ tuổi kết hôn bình quân của nam là 27.2 tuổi và nữ là 24.4 tuổi, nhưng hiện tại độ tuổi kết hôn trung bình của Nhật với nam là 29.8 tuổi và nữ là 28 tuổi Từ đó chúng ta có thể biết rằng độ tuổi kết hôn bình quân của người Nhật đang có khuynh hướng tăng lên Theo dự đoán độ tuổi kết hôn trung bình và tỉ lệ không kết hôn của người Nhật sẽ còn cao hơn nữa
Theo thống kê độ tuổi kết hôn của người Nhật
Nhật Bản là quốc gia có tỉ lệ kết hôn muộn nhất trong các quốc gia phát triển Dưới đây là biểu đồ số người chưa kết hôn vào năm 2000 qua các độ tuổi khác nhau:
Biểu đồ: 2.1: Biểu đồ số người chưa kết hôn vào năm 2000 qua các độ tuổi khác nhau
Ngàn người
Trang 20“Nguồn: theo cục điều tra văn phòng thủ tướng về dân số toàn quốc năm
2000, http://hamamuratakuo.blog61.fc2.com/blog-entry-81.html”[29]
Cũng từ cuộc tổng điều tra dân số của văn phòng thủ tướng chính phủ cho biết vào năm 2000 cho biết tỉ lệ độc thân của những người ở độ tuổi kết hôn đẹp nhất là từ 20 đến 34 tuổi lại chiếm tỉ lệ cao Từ năm 1950 cho đến 1980 tỉ lệ độc thân tăng không đáng kể và chỉ giao động ở mức ở nam khoảng 50% và nữ khoảng 33% Thế nhưng từ sau 1980 tỉ lệ này lại tăng một cách chóng mặt, tỉ lệ độc thân ở nam giới khoảng 68.2% và nữ tăng lên đến mức 55.5% Tính đến năm
2010 con số này đã tăng lên đến 85% và 63% Tỉ lệ độc thân của nam giới tăng cao hơn so với nữ giới, từ đó ta có thể nhận ra rằng ở các quốc gia phát triển nơi
mà người phụ nữ càng có chỗ đứng trong xã hội thì cơ hội kết hôn lập gia đình của nam giới ngày càng trở nên khó khăn Hơn nữa, hầu hết các quốc gia này, đặc biệt là các quốc gia ở Châu Á, vì tập quán sinh con trai để thờ cúng tổ tiên nên tình trạng thừa nam thiếu nữ mất cân bằng về giới tính ngày càng trầm trọng Đây cũng là một trong những lý do khiến tỉ lệ độc thân ở nam giới ngày một cao hơn
Tại Nhật Bản, người ta còn dự đoán thực trạng kết hôn muộn còn lan rộng, phát triển hơn nữa Độ tuổi trung bình khi kết hôn tính đến thời điểm này đã tăng lên hơn 2 tuổi so với 10 năm trước Nhưng ngược lại, độ tuổi chênh lệch giữa vợ
và chồng vào năm 1950 là 2.9 tuổi, nhưng bây giờ lại giảm xuống chỉ còn 1.9 tuổi Trên thực tế, khi đặt câu hỏi về độ tuổi trung bình thích hợp để chọn đối tượng kết hôn thì nữ giới chọn đối tượng cho mình khoảng 29.5 tuổi, còn nam giới chọn những cô vợ lý tưởng ở độ tuổi 26.3 Với sự lựa chọn như trên, độ tuổi kết hôn giữa nam và nữ lại chênh lệch đến 3.2 tuổi Từ khuynh hướng trên cho ta thấy hầu như các chàng trai đều lựa chọn những cô vợ trẻ
Hiện nay, ở Nhật Bản tỉ lệ người sống độc thân ngày một gia tăng và đã trở thành trào lưu của thời đại Theo như chuỗi dữ liệu của cục thống kê văn
phòng thủ tướng chính phủ vào năm 2005 thì nữ giới ở tuổi 20 có tỉ lệ độc thân là
73.9%, và tỉ lệ này vào 15 năm trước năm 1990 chỉ là 62.6% Chỉ trong vòng 15 năm mà tăng đến 11.3%, thì chúng ta có thể nói rằng xu thế độc thân của nữ giới
Trang 21ngày một tăng cao, đặc biệt là ở độ tuổi 20 Hầu như tỉ lệ độc thân của những người phụ nữ hện đại và thành đạt lại chiếm tỉ lệ cao trong thực tế Họ không thích bị ràng buộc bởi gia đình mà chỉ hết lòng dốc sức vào việc khẳng định vai trò của mình trong xã hội Những thời gian rảnh rỗi của họ dành cho những cuộc vui chơi, mua sắm, làm đẹp… Hiện nay quan niệm về hôn nhân của người phụ
nữ đã thay đổi Chuyện “ở vậy” đối với họ không phải là một điều đáng xấu hổ
mà ngược lại còn trở thành một điều tận hưởng cuộc sống
Biểu đồ: 2.2 Biểu đồ về tỉ lệ nam nữ độc thân qua các năm
“Nguồn cuộc điều tra tỉ lệ nam nữ độc thân ở lứa tuổi 20 của văn phòng thủ tướng chính phủ năm 2005 http://hamamuratakuo.blog61.fc2.com/blog-entry-81.html”[29]
2.1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng kết hôn muộn và độc thân ở
Nhật
Nếu nói đến nguyên nhân dẫn đến tình trạng không kết hôn hay kết hôn muộn của Nhật Bản thì có vô số nguyên nhân, và sau đây là một vài nguyên nhân chủ yếu:
• Phụ nữ lo xây dựng vị trí của mình trong xã hội
Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xu hướng kết hôn muộn ở Nhật Bản đó chính là việc người phụ nữ tham gia vào những hoạt động xã hội ngày càng nhiều
Trang 22Hiện nay tỉ lệ phụ nữ làm việc ngoài xã hội chiếm đến 41.9%, và tỉ lệ người theo đuổi học vấn là 38.5% trong tổng số phụ nữ Nhật, cả hai con số trên vẫn có xu hướng tăng lên Trong số người theo đuổi con đường học vấn thì tỉ lệ người theo chế độ đại học ngày một nhiều hơn Hơn nữa, so với 20 năm trước đây thì tỉ lệ phụ nữ làm việc ngoài xã hội đã tăng lên gấp đôi, tỉ lệ phụ nữ có thâm niên làm việc trên 15 năm cũng từng bước tăng cao Từ đó, có thể xác định rằng người phụ nữ ngày càng có vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vai trò của họ rất quan trọng không ai có thể phủ nhận được
nữ bằng sự nỗ lực và cố gắng của mình, ngày càng có chỗ đứng hơn trong xã hội,
và nhiều trường hợp tiền lương còn cao hơn cả nam giới cũng không còn là điều đáng ngạc nhiên
Từ đó, chúng ta có thể nói rằng phụ nữ Nhật ngày nay họ ngày càng xem trọng trách nhiệm công việc ngoài xã hội bao nhiêu thì họ lại sợ trách nhiệm làm
vợ, làm mẹ, chăm sóc gia đình bấy nhiêu Nguyên nhân chủ yếu là họ sợ trách nhiệm làm mẹ, làm vợ ảnh hưởng đến công việc Ví dụ như: họ phải nghỉ làm khi sinh con, phải trì hoãn công việc bởi nghĩa vụ chăm sóc con cái, phải bó buộc cuộc đời mình trong nhà bếp… Với những nỗi lo như thế, họ lựa chọn giải pháp không kết hôn, hoặc kết hôn khi tìm được đối tượng thích hợp như có tiềm lực về kinh tế, có khả năng đảm bảo cuộc sống của gia đình Chính vì thế mà xu hướng kết hôn muộn ở Nhật ngày càng lan rộng
Những người phụ nữ của xã hội hiện đại như xã hội Nhật Bản đang rất cần những người đàn ông biết quan tâm biết chia sẻ với họ bằng cách chung tay vào việc chăm sóc và giáo dục con cái Thế nhưng, hầu như những người đàn ông chưa mấy đáp ứng được nhu cầu bức thiết này Họ chỉ biết lao đầu vào kiếm tiền
Trang 23đem về nhà và xem như là hết trách nhiệm làm chồng làm bố của mình Họ chỉ coi gia nhà mình là nơi nghỉ ngơi khi hết giờ làm việc mà không nhận ra vai trò
và trách nhiệm trong công việc gia đình như chăm sóc con cái, bếp núc…Tuy rằng cũng có những người phần nào nhận thấy trách nhiệm của mình, họ cùng vợ làm những công việc nội trợ và giúp đỡ vợ trong công việc dạy dỗ con cái, thế nhưng thời gian của họ dành cho công việc này quá ít, hầu như chỉ vào những ngày nghỉ mà thôi Nếu chỉ với thời gian ít ỏi ấy so với nhu cầu của người phụ nữ thì chưa thấm vào đâu, chỉ đáp ứng khoảng 1% nhu cầu công việc và vai trò người phụ nữ trong gia đình Trách nhiệm công việc ngoài xã hội đã mệt mỏi, lại chồng chất lên đôi vai người phụ nữ trách nhiệm chăm sóc gia đình quả thật là quá sức của một người phụ nữ
Người ta cho rằng nếu như có được một môi trường làm việc mà người phụ nữ cũng như người đàn ông đều có thể chung tay chăm sóc gia đình, con cái
mà vẫn có thể tiếp tục công việc của mình thì chắc hẳn tình trạng kết hôn muộn
và tình trạng không kết hôn sẽ giảm đi Nhưng để xây dựng được một môi trường như thế trong một thời đại nhộn nhịp, mọi người đều chạy theo công việc như hiện nay thì tưởng chừng như không thể
• Nguyên nhân về mặt kinh tế
Nhật Bản được biết đến là đất nước có vật giá đắt đỏ hàng đầu thế giới Vì thế mà khi người phụ nữ dành trọn thời gian và công sức cho những công việc gia đình, thì trong khoảng thời gian ấy chi phí nuôi con, tiền sinh hoạt của cả gia đình lại dồn cả lên đôi vai của người chồng Trong thời buổi kinh tế khó khăn này, cuộc sống của gia đình chỉ trông chờ vào một người lao động thì rất khó khăn, bắt buộc người phụ nữ cũng phải lao thân vào công việc kinh tế để đảm bảo kinh tế cho gia đình Chính vì thế, những người phụ nữ lo xa họ chỉ kết hôn khi có điều kiện kinh tế ổn định Đây chính là nguyên nhân khiến phụ nữ ngày nay chưa vội kết hôn
Ở Nhật Bản chi phí nuôi dạy con cái vẫn ở mức trung bình, chưa cao so với một số nước phát triển trên thế giới Vì vậy, cũng có nhiều trường hợp muốn sinh con nhưng lại không có khả năng sinh sản Vào năm 2006, tỉ lệ sinh của
Trang 24Nhật rớt xuống chỉ còn 1.32 Nếu như tỉ lệ sinh giảm xuống thấp hơn 2.07 thì đồng nghĩa với việc kéo theo tình trạng dân số giảm, tỉ lệ người cao tuổi tăng, dẫn đến khó khăn về nhiều mặt trong tương lai, đặc biệt là kinh tế Nếu như tình trạng dân số giảm xuống, tất nhiên cũng kéo theo tình trạng thiếu nguồn lao động, ngược lại, tỉ lệ người cao tuổi lại tăng so với tổng dân số Vì vậy, giới trẻ hiện nay đang gánh vác những trách nhiệm vô cùng nặng nề Ngoài trách nhiệm trong công việc trong nền kinh tế quốc gia còn phải gánh trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng ông bà cha mẹ và cả gia đình nhỏ của mình Vì thế, mặc dù có rất nhiều người thật sự muốn lập gia đình, lại bị những mối lo về kinh tế trên dập tắt
Hiện nay nền kinh tế thị trường thay đổi theo từng ngày, không chỉ ở Nhật Bản mà diễn ra trên tất cả các quốc gia khắp thế giới Vật giá leo thang kéo theo chi phí nuôi dạy con cái ngày càng tăng, trang thiết bị cũng như dịch vụ chăm sóc trẻ em cũng tăng lên Bên cạnh đó, nhu cầu của con người ngày càng cao, nhưng nguồn tài chính chi cấp cho việc nuôi dạy trẻ nhỏ bị cắt Nhà trẻ, trường mẫu giáo lại không đủ, bác sĩ khoa phụ sản thì thiếu Vấn đề trên cũng ảnh hưởng phần nào đến tình trạng không muốn kết hôn hay sinh con của giới trẻ Việc trở thành một quốc gia mà người người có thể yên tâm nuôi dưỡng trẻ nhỏ đang là một vấn đề hết sức quan trọng, được chú trọng không chỉ ở Nhật mà còn trên khắp thế giới
Hơn nữa, hiện nay trường hợp người đàn ông không có điều kiện kinh tế tốt rất nhiều Nếu như kết hôn cả hai bên chung tay để xây dựng kinh tế gia đình thì ở đây kết hôn được xem là sự lựa chọn tốt nhất Thế nhưng, hầu hết các chàng trai nghèo Nhật Bản lại không chọn cách giải quyết này Ngược lại, chính vì lo lắng vì không có khả năng về kinh tế mà họ lại lựa chọn cách sống độc thân hay tạm gác lại chuyện hôn nhân để lo xây dựng kinh tế Có một số người do mình mải mê làm kinh tế bản thân, họ không có ý định “ở vậy”, nhưng đến một khi nào
đó họ nhận ra bản thân đã quá trễ cho việc lập gia đình, nói cách khác là lỡ thì rồi
họ đã quyết ở vậy Ngoài ra, theo như chúng ta đã biết chi phí cho việc kết hôn ở Nhật rất cao so với các nước trên thế giới, vì vậy mà có rất nhiều bạn trẻ không
có đủ điều kiện để kết hôn
Trang 25Bên cạnh đó, nhìn từ khía cạnh người phụ nữ thì cũng có rất nhiều người
có suy nghĩ rằng nếu như họ có điều kiện kinh tế độc lập, có khả năng sống tự lập thì việc kết hôn không còn quan trọng nữa Không phải họ không cảm thấy cô đơn buồn tẻ khi phải sống cảnh “thui thủi một mình”, nhưng hiện nay người phụ
nữ hiện đại luôn bận rộn với công việc, những thời gian rảnh họ lại đi chơi, mua sắm, chăm sóc sắc đẹp, trò chuyện với bạn bè… Có rất nhiều loại dịch vụ và trò tiêu khiển khiến cho người phụ nữ không còn cảm giác cô đơn khi phải sống độc thân, ngược lại còn làm cho họ vui và thích cuộc sống này
• Thay đổi cách suy nghĩ về vấn đề hôn nhân và tình dục của giới trẻ
ty sau việc kết hôn và sinh con
Thế nhưng dạo gần đây, lại có xu hướng cho rằng “độc thân không phải là một điều đáng xấu hổ”, trong xã hội cũng không ít những điều kiện tuyển dụng cho những đối tượng chưa kết hôn hay không có ràng buộc hôn nhân Cuộc sống độc thân ngày càng được lớp trẻ hưởng ứng, đến độ xuất hiện những câu nói rằng
“dokushinkisoku” tức là người độc thân có thể sống một cuộc sống tự do tự tại theo ý thích của bản thân, có thể sống cho lý tưởng của bản thân mình Ngày nay người có ý nghĩ này ngày một nhiều, thể hiện ở một cuộc trả lời thăm dò ý kiến với câu hỏi về “những lợi thế của cuộc sống độc thân” thì tỉ lệ chọn câu trả lời
“có thể sống một cách tự do thoải mái không ràng buộc” chiếm đến 70% Để có thể thay đổi cải cách tình trạng này thì những chính sách như trợ cấp chi phí nuôi dạy con cái cho hộ gia đình, giảm bớt áp lực về mặt kinh tế gia đình khi sinh con,
Trang 26hay những chính sách giúp người làm công ăn lương xắp xếp thời gian nghỉ ngơi
để chăm sóc gia đình con cái, nhưng không ảnh hưởng đến công việc vô cùng quan trọng
Hôn nhân, một phương diện nào đó chịu sự tác động của xã hội Trước kia những chuyện về quan hệ xác thịt chỉ được xã hội chấp nhận khi cả hai phía có mối ràng buộc của hôn nhân Đặc biệt là về phía người phụ nữ việc giữ gìn phẩm hạnh của một người con gái đến khi về nhà chồng hết sức quan trọng Thế nhưng, không biết từ khi nào những chuyện “ăn cơm trước kẻng” của những đôi bạn trẻ không còn là một điều lạ lẫm nữa Vì thế mà việc phát sinh ra những quan niệm cho rằng “kết hôn không còn là một nhu cầu bức thiết vì không cần kết hôn thì bản thân con người vẫn có thể thỏa mãn nhu cầu của mình” đã trở nên bình thường trong suy nghĩ của giới trẻ
Hiện nay, ý thức về vấn đề kết hôn của người phụ nữ cũng thay đổi Trên thực tế có khoảng 90% phụ nữ có ý định kết hôn, nhưng ngày nay lại ít những người phụ nữ ý thức được đâu là độ tuổi kết hôn thích hợp bằng việc đưa ra những lí do khá hợp lí xung quanh những vấn đề như “vì không tìm được đối tượng thích hợp” Họ rất thận trọng tìm hiểu và lựa chọn đối tượng để kết hôn Những vấn đề mà phụ nữ coi trọng nhất khi lựa chọn đối tượng kết hôn đó là tiềm lực kinh tế, dáng người, công việc, khả năng chung sức chăm sóc gia đình…
• Nguyên nhân về mặt xã hội
Hiện nay, với tình hình kinh tế xã hội phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao, vì thế mà nhu cầu kết hôn đối với nữ giới trở nên nghèo nàn, điều kiện có thể kết hôn đối với những chàng trai muốn kết hôn ngày một khó khăn Về phía nam giới, kết hôn cũng đồng nghĩa với việc gánh vác trách nhiệm nuôi sống gia đình Họ cần phải làm việc một cách chăm chỉ để hoàn thành nhiệm vụ trên Vì vậy, hiện nay có rất nhiều người cho rằng khi sống một mình họ có thể sống một cách thoải mái và dễ dàng hơn Điều này làm cho nhu cầu kết hôn ngày một giảm xuống
Số gia đình hạt nhân ngày một tăng lên, mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con, con cái từ nhỏ đã được bố mẹ yêu thương chăm sóc chiều chuộng Chính vì
Trang 27lúc nào cũng được người khác bảo vệ và chăm sóc nên khả năng cũng như những
ý muốn che chở cho người khác mất đi, nói cách khác là sự ham muốn muốn trở thành bậc cha mẹ ngày càng mất đi trong bản chất của con người Đấy cũng là lý
do mà giới trẻ hiện nay không muốn kết hôn, không muốn sinh con chỉ muốn sống cho bản thân, không biết cách che chở chăm sóc cho người khác Tính tự kỉ của con người ngày càng cao, vì thế mà giới trẻ hiện nay thích yêu sớm, nhưng lại không thích kết hôn sớm
Từ những nguyên nhân trên mà ngày nay con người mất đi sự khéo léo trong việc đối nhân xử thế, quan hệ giữa người và người ngày càng lạnh nhạt, đây có thể nói là một căn bệnh của đô thị nhà nào lo công việc của nhà đấy, người nào lo công việc của người ấy, sự quan tâm chia sẻ giữa người và người ngày càng ít đi Những câu nói “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” hay “bán anh
em xa mua láng giềng gần” trong thời buổi hiện nay không còn phù hợp nữa
Hơn nữa, ở Nhật Bản điều kiện phúc lợi xã hội, bảo hiểm, phúc lợi chăm sóc người già khá tốt Vì trong quá trình lao động của mình người Nhật đã đóng bảo hiểm và các khoản thuế nhằm đảm bảo điều kiện sống cho mình nên khi về hưu họ không phải lo lắng Có lẽ vì thế mà nhu cầu kết hôn sinh con nhằm an hưởng lúc tuổi già cũng dần mất đi Bên cạnh đó, hiện nay ở Nhật Bản có xu hướng xuất hiện rất nhiều các loại hình kinh tế dịch vụ nhằm phục vụ cho đối tượng người độc thân như “gối bạn trai2”…Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng nếu đời sống con người càng cao, điều kiện sống càng tốt thì tỉ lệ những người không muốn kết hôn càng nhiều Cuộc sống một mình đối với họ không phải một nỗi lo, nỗi buồn, mà ngược lại được xem như là một sự hưởng thụ hơn nữa độc thân hiện nay lại trở thành cái mốt của thời đại, đặc biệt là tầng lớp phụ nữ hiện đại có chỗ đứng trong xã hội, có tiềm lực kinh tế
Những thực trạng trên không chỉ là ở Nhật mà nó còn có xu hướng toàn cầu hóa Tỉ lệ người độc thân trên thế giới ngày một tăng cao, ngày càng đe dọa đến sự phát triển của toàn nhân loại Không những thế, tình trạng sống độc thân còn có khả năng gây một số bệnh thần kinh Theo tổ chức y tế thế giới (WHO)
2 “Gối bạn trai” có hình dáng giống như thân hình vạm vỡ của người đàn ông, với cánh tay cường tráng Loại gối đặc biệt này được bày bán từ tháng 12/2009 Của nhà sản xuất Kameo
Trang 28cho biết: phụ nữ độc thân, nhất là ở những người trên 40 tuổi có nhiều nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, mất ngủ Họ rất dễ cáu gắt, nóng giận với những người xung quanh Họ thường xuyên bị stress, tỉ lệ người mắc bệnh xơ gan và chấn thương tâm thần cao gấp đôi so với những người có gia đình Đây là vấn đề không chỉ Nhật Bản mà còn là vấn đề toàn thế giới quan tâm cần phải giải quyết
“Nguồn: http://www.baomoi.com”[24]
• Sự mâu thuẫn về quan điểm kết hôn
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 tình hình xã hội Nhật Bản có nhiều thay đổi, cách suy nghĩ về chuyện hôn nhân cũng thay đổi Khả năng có thể tìm thấy một đối tượng có cùng suy nghĩ với mình thì rất thấp Có rất nhiều trường hợp sau khi kết hôn nhận ra rằng đôi bên không hợp nhau Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn ngày càng tăng trong giai đoạn hiện nay
Tóm lại, hiện nay trong Nhật Bản việc tồn tại những người độc thân không còn là điều gì mới mẻ Tỉ lệ người độc thân ngày một tăng cao, bên cạnh
đó kéo theo rất nhiều sự thay đổi đến toàn xã hội, đưa Nhật Bản đến những nguy
cơ về kinh tế cũng như dân số trong tương lai, tiêu biểu là tình trạng thiếu nguồn lao động trong tương lai, tỉ lệ trẻ em giảm nhưng người già lại tăng cao, có ảnh hưởng nghiên trọng đến quá trình phát triển kinh tế và duy trì nòi giống
2.1.2 Tình trạng ly hôn tăng cao
Hiện nay, không chỉ Nhật Bản, tình trạng đổ vỡ trong hôn nhân ngày một gia tăng đặc biệt là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển, có trình khoa học
kĩ thuật tiên tiến Theo như cuộc tổng điều tra dân số năm 2005 của bộ phúc lợi
xã hội và nội các chính phủ, tỉ lệ ly hôn của Nhật Bản thì Nhật xếp thứ 22 trên thế giới cứ 1000 người có khoảng 2.4 người ly hôn Đứng đầu là Nga 5.1 người,
Mĩ là 4.8 người và có xu hướng ngày một tăng cao
Tỉ lệ ly hôn hiện nay của Nhật Bản đã chiếm đến 37% trong tổng số người kết hôn, tức là cứ 3 người đã kết hôn ở Nhật sẽ có một người rơi vào tình trạng ly hôn Đây quả là một hiện tượng đáng lo ngại trong xã hội và gia đình Nhật Bản
Từ tháng 4 năm 2007, tỉ lệ ly dị ở Nhật tăng đáng kể, đặc biệt ở những đôi vợ chồng già, do thay đổi về quy định lương hưu bắt đầu có hiệu lực Theo đó, lần
Trang 29đầu tiên phụ nữ Nhật có quyền được hưởng nửa số lương hưu của chồng nếu hôn nhân đến hồi kết Chính do sự thay đổi này càng làm cho tỉ lệ ly hôn ở Nhật còn tăng cao hơn nữa
nhất)
Năm 2002 (số vụ ly hôn cao nhất)
Trang 30Tỉ lệ gia tăng 4.18 lần 3.10 lần
Theo như bảng so sánh thống kê trên, trong vòng 41 năm từ năm 1961 đến
2002 con số ly hôn năm 2002 đã gấp 4.18 lần năm 1961, và tỉ lệ ly hôn đã gấp 3.1 lần
Trang 31Nhìn chung, hôn nhân ngày nay rất dễ bị đổ vỡ, con số tỉ lệ ly hôn ngày càng cao Trong khi đó tỉ lệ kết hôn ngày một giảm, những lý do được đưa ra để
đi đến hôn nhân vô cùng đơn giản hoặc chẳng có chút hợp lý nào như : chia tay
vì không hợp nhau, vì tình yêu không còn nữa, vì có tình yêu mới, hay vì điều kiện kinh tế… Nhưng chính các vợ chồng mới cưới có thời gian chung sống từ 0 đến 4 năm lại chiếm đến hơn 30% trong tổng số cuộc ly hôn
Số vụ ly hôn qua thời gian chung sống năm 2008
“Nguồn: Thống kê dân số năm 2008 của bộ phúc lợi xã hội http://www.before-divorce.com/divorcerate/”[25]
Từ bảng số liệu trên chúng ta nhận thấy rằng đối tượng ly hôn trong xã hội Nhật Bản chiếm tỉ lệ ly hôn cao trong thời kì đầu sau khi kết hôn
Theo như cuộc thống kê của tòa án tối cao, tỉ lệ ly hôn được thành lập do ngoại tình rất nhiều và đứng thứ hai trong tổng số cuộc ly hôn Với 68296 trường hợp ly hôn tham gia vào cuộc điều tra khảo sát lý do dẫn đến ly hôn thì có 32930 trường hợp ly hôn do không hợp nhau chiếm 48.1%, 17118 trường hợp li hôn do ngoại tình chiếm 25%, chia tay do bạo lực là 15684 trường hợp chiếm 22.9% tổng số cuộc ly hôn
Cũng có những trường hợp đầy đau thương và ngang trái như trong phim hay tiểu thuyết, đó mãi là vấn đề muôn thuở xảy ra xung quanh chúng ta Nếu như chúng ta thử đọc những câu chuyện xa xưa, hay xem những bài báo
Trang 32về các quốc gia khác trên thế giới thì bất cứ khi nào bất cứ ở đâu cũng tồn tại
sự phản bội và ngoại tình Về mặt luật pháp của Nhật Bản, hành vi ngoại tình
không chỉ là vi phạm pháp luật mà còn bị coi là một hành vi bất chính về mặt
Đối xử không tốt với cha mẹ 17.60% 11.10%
Không quan tâm gia đình 8.80% 15.70%
Bảng số liệu biểu thị nguyên nhân dẫn đến ly hôn năm 2000
“Nguồn: cuộc điều tra thăm dò ý kiến giới trẻ từ 20 đến 34 tuổi trên toàn
quốc về ly hôn http://tantei.web.infoseek.co.jp/rikon/geiin.html”[38]
Theo biểu đồ trên tỉ lệ các ông chồng chọn kết cục ly hôn với do “ không
hợp nhau” chiếm tỉ lệ cao hơn các bà vợ Thế nhưng, với lý do như “ vì bạo lực”
hay “không đưa tiền sinh hoạt” thì tỉ lệ các bà vợ chọn kết cục ly hôn cao hơn
Khi thấy kết quả này chắc hẳn ai cũng phải ngạc nhiên với câu trả lời chia tay vì
không hợp nhau, bởi vì theo thống kê hết 90% các cặp kết hôn dựa trên cơ sở tình
yêu chân chính, tất nhiên họ đã có thời gian yêu đương tìm hiểu nhau đáng lẽ họ
Trang 33phải vô cùng hợp nhau mới đúng Hơn nữa, không chỉ hiểu được tính cách của nhau, họ lấy nhau còn vì muốn gắn bó với nhau trọn đời trọn kiếp Thế nhưng lý
do đưa ra để đi đến ly hôn lại xuất phát từ trong mối liên hệ khắng khít tưởng như
da với thịt Nếu như chúng ta lý luận như thế thì có thể có được những lời giải thích như: tính cách của con người có thể thay đổi sau khi kết hôn hay là sau khi sống với nhau một thời gian mới nhận ra hai trái tim không cùng một nhịp đập…
Cho đến dạo gần đây lý do dẫn đến ly hôn do bạo lực đã trở thành vấn đề thường xuyên được bàn luận trên cả các phương tiện thông tin đại chúng cũng là một sự việc cần phải chú trọng
Những nguyên nhân dẫn đến tan vỡ nhiều khi rất nhỏ nhặt, rất nhiều cặp chia tay chỉ vì cái tôi của riêng mình Giới trẻ chỉ suy nghĩ đơn giản rằng thích thì đến không thích thì chia tay mà không biết cuộc hôn nhân tan vỡ buộc họ phải đối mặt với nhiều hậu quả Căn nguyên sâu xa của vấn đề là người trong cuộc không có quá trình chuẩn bị trước khi tiến tới hôn nhân Họ ngộ nhận về tình yêu
và bước vào đời sống hôn nhân với 3 số không tròn trĩnh: Không có tình yêu đích thực, không biết cách tổ chức cuộc sống và không biết cách giải quyết những vấn
đề nãy sinh
Yêu vội, cưới gấp là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ đối với các cặp vợ chồng trẻ Nhiều đôi không kịp trang bị cho mình những kỹ năng căn bản như sự chia sẻ, nhường nhịn và tự điều chỉnh bản thân để thích nghi với cuộc sống hôn nhân
Trên thực tế, có nhiều người xây dựng đời sống hôn nhân xuất phát từ động cơ kinh tế, chiều theo gia đình, thậm chí lập gia đình chỉ vì muốn trả thù ai đó Đến với nhau từ những lý do như vậy, gia đình tan vỡ là điều khó tránh khỏi Bên cạnh đó, tư tưởng độc chiếm, gia trưởng của người chồng cũng đẩy hôn nhân đến vực thẳm
Hiện nay, trào lưu ly hôn ở Nhật không chỉ xảy ra ở những cặp vợ chồng trẻ mà chính tỉ lệ những cặp vợ chồng già ở độ tuổi về hưu cũng đang diễn ra mạnh mẽ Lý do bởi vì quan hệ vợ chồng có vẻ tẻ nhạt, được biểu lộ ở những cặp
Trang 34vợ chồng đã có tuổi, khi người chồng về hưu Chính vào thời gian này các bà vợ thường chấm dứt sự che giấu những bực dọc, tức giận, không hài lòng xưa kia cứ phải giấu kín trong lòng và bắt đầu công khai phản đối chồng, không còn yêu quý
và kính trọng ông ta như trước nữa Minh chứng cho điều này là các bà thường hay dùng từ sôdaigomi (chỉ những loại rác kềnh càng to lớn), thực ra dùng để chỉ những đồ vật trong nhà đã quá cũ kỹ, đến thời kỳ vứt đi mà lâu nay phải để trong nhà vì không được vứt đi để ám chỉ người chồng Đối với những người phụ nữ thì chồng họ trở nên vô tích sự từ lúc người đó không còn là người kiếm tiền nuôi sống gia đình Chấm dứt cuộc sống lao động, một ngày ở nhà không có việc gì, những người như vậy được các bà gọi bằng từ Sôdaigomi Khi những người chồng đã về hưu đòi hỏi Meshi (cơm) ocha (trà) thì vợ ông ta, dĩ nhiên đáp lại một cách lạnh nhạt và khuyên ông ta hãy tự phục vụ cho mình Từ sôdaigomi còn được sử dụng trong những trường hợp khi người chồng chẳng biết gì ngoài công việc ở công sở, xí nghiệp trước đây, nay về hưu một cách im lặng, trở thành gánh nặng cho gia đình, không biết làm bất cứ việc gì trong gia đình Hiện nay trào lưu
bỏ rơi những ông chồng đã về hưu ở Nhật đang có xu hướng tăng nhanh
Ly hôn vì bất kỳ nguyên nhân gì đi chăng nữa thì nó cũng kéo theo hậu quả đáng buồn mà ngừơi hứng chịu đầu tiên là các thành viên của gia đình đó (vợ, chồng, con cái)…Thường phụ nữ và trẻ em là những người gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề nhất Trẻ nhỏ sau khi ly hôn thường được chăm sóc không tốt (do bố mẹ sau khi ly hôn thường đi bước nữa hoặc một trong hai người ở vậy nuôi con, vấn đề con chung, con riêng v.v.) nên trẻ dễ bị khủng hoảng tâm lý Đây chính là nguyên nhân khiến nhiều trẻ em bỏ nhà đi lang thang và phạm tội
NAY
Trước chiến tranh, người chồng có toàn quyền đối với người vợ quyền hành của người chồng và sự phụ thuộc của người vợ trong gia đình đã được luật pháp cũng như tập quán và đạo đức khẳng định Người chồng có toàn quyền đối với tài sản của mình, vợ con cũng như hoạt động kinh tế, nghỉ ngơi, giải trí của họ… Người vợ chỉ có việc vâng lời tuân theo, không có sự kêu ca, phàn nàn ngay
Trang 35cả khi chồng họ có “quan hệ” công khai với người phụ nữ khác Họ là người phải chịu nhiều bất công, bất bình đẳng thậm chí còn bị xếp vào cùng một hạng với những kẻ tiểu nhân
Tuy nhiên những cải cách sau chiến tranh được tiến hành do áp lực của các lực lượng tiến bộ, các phong trào đòi cải cách dân chủ đã dẫn đến thay đổi những điểm cơ bản trong hiến pháp điều chỉnh các mối quan hệ qua lại giữa các cặp vợ chồng Theo các bộ luật đã được ban hành sau chiến tranh thế giới thứ II, phù hợp với điều 24 của hiến pháp thì quan hệ vợ chồng đều bình đẳng, có quyền như nhau
Những năm sau chiến tranh có nhiều tác động quan hệ vợ chồng, do ngày càng có nhiều phụ nữ lập gia đình bị cuốn hút vào công việc sản xuất, dịch vụ v v… Điều này khách quan mà nói phần phần nào đã làm yếu đi sự phụ thuộc của
họ vào chồng về mặt vật chất và do đó đã làm vị trí của họ trong gia đình bình đẳng hơn
Nếu như năm 1962, cả nước có có 8 triệu phụ nữ làm việc trong tất cả các lĩnh vực sản xuất cũng như dịch vụ, trong đó 32.7% đã có chồng thì năm 1980 số lao động nữ đã tăng lên 13.5 triệu, trong đó 57.4% đã có chồng con Năm 2002
có 27 triệu 330 ngàn phụ nữ làm việc trong tất cả các lĩnh vực sản xuất cũng như dịch vụ, chiếm 40.85% lực lượng lao động trong xã hội, trong đó khoảng 60% đã
có chồng con
Tại Nhật Bản, 60% phụ nữ ở vào khoảng 30 tuổi tham gia thị trường lao động nhưng đây là một con đường đầy gian nan Thông tín viên của báo Les Echos từ Tokyo cho biết, đối với một cô nữ sinh vừa tốt nghiệp tìm được công việc đầu tiên là một kỳ công
“Nguồn: Trần Mạnh Cát, gia đình Nhật Bản, 61”[13]
Bên cạnh đó hiện tượng tanshinfunin hay chế độ làm việc của người làm công ăn lương thời nay của Nhật Bản có ảnh hưởng rất lớn đến các vấn đề nãy sinh trong gia đình hiện nay, như tổn thất về mặt tinh thần của các cặp vợ chồng
là do nhịp độ lao động căng thẳng hàng ngày của các ông chồng Họ thường trở
về nhà rất muộn với thể xác mỏi mệt, họ không muốn trao đổi với vợ về công việc của mình mà chỉ muốn đi ngủ ngay Các ông chồng Nhật Bản ngày càng
Trang 36cảm thấy bị áp lực do nhiều công việc chồng chất lên họ, đặt biệt là những người làm công ăn lương Họ buộc phải làm việc đến khuya, sau giờ làm việc họ đi uống rượu (o-sake) với nhau và chơi madzan với bạn bè hoặc đồng nghiệp cùng
cơ quan để thư giãn và để công việc tiến triển tốt đẹp hơn thông qua củng cố các mối quan hệ Họ thường trở về nhà rất muộn, thương là sau 10,11 giờ đêm, vào lúc đó họ chẳng còn thời gian vui chơi với các con cái hay dạy chúng học vì lúc
đó đã đi ngủ rồi Khi đi làm về, họ cũng chỉ còn đủ thời gian tắm rửa, ăn tối, đọc qua loa tờ báo rồi đi ngủ để ngày hôm sau lại tiếp tục một ngày làm việc mệt nhọc Và như vậy họ cũng chẳng có đủ thời gian hỏi han, tâm sự với vợ nữa Đối với họ trong bối cảnh như vậy, căn nhà dường như chỉ là nơi để họ về ngủ đêm
để lấy lại sức khỏe cho một ngày làm việc mới mà thôi Thiếu sự thông cảm, sự gắn bó vợ chồng được biểu hiện trong rất nhiều gia đình người Nhật Bản, trong mối quan hệ thụ động về mặt thể xác của các ông chồng với vợ Tính thụ động như vậy thường do hậu quả của công việc căng thẳng hàng ngày ở công sở, nhà máy,…làm cho các ông chồng cảm thấy mệt mỏi, không muốn gần vợ
Từ những thay đổi trong đời sống kinh tế cũng như xã hội đã làm cho gia đình Nhật thay đổi về nhiều mặt, và xuất hiện nhiều căn bệnh trong gia đình
2.2.1 Hiện trạng bạo lực trong gia đình
Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của chúng ta có rất nhiều hình thức bạo lực xảy ra Có không ít người đang âm thầm chịu đựng vấn đề này Bạo lực trong gia đình còn được gọi tắt là DV D là chữ viết tắt của “Domestic = trong gia đình”, V là Violence=bạo lực Các hình thức trong bạo lực gia đình như: chồng đánh đập vợ, cha mẹ bạo lực với con cái, con cái đối với cha mẹ, bạo lực giữa anh em … Bạo lực trong gia đình thì không thể nêu lên một cách rõ ràng, nhưng tóm lại là những hành động gây nên tổn thương không chỉ về thể chất mà
cả về tinh thần
Nhưng trong giai đoạn hiện nay từ “DV” cũng được sử dụng để gọi tình trạng bạo lực trong những quan hệ thân thiết như người yêu, đây là một hành động xâm phạm nhân quyền không thể tha thứ Hiện nay những hành động bạo lực rất dễ xảy ra phức tạp và dễ dàng để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng,
Trang 37vì vậy việc đưa ra những phương pháp giải quyết và hạn chế bạo lực trong gia đình là vô cùng quan trọng
Theo như báo cáo của cục cảnh sát Tokyo, tại Nhật Bản vào năm 2006, những vụ bạo lực gia đình đã tăng một cách báo động với tổng số là 18236 vụ hơn năm 2005 8% vượt qua cả con số kỷ lục vào năm 2002
Thời gian gần đây Cục cảnh sát Tokyo thường ban hành những báo cáo về tình trạng bạo lực gia đình, đó là những hoạt động nhằm củng cố về mặt luật pháp, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc bình đẳng
về nhân quyền xóa bỏ bạo lực trong gia đình
Trong tổng số nạn nhân bị bạo lực thì nữ giới chiếm đến 98.8% tùy vào từng lứa tuổi khác nhau: độ tuổi 30 chiếm 37.6%, độ tuổi 20 là 21.6%, độ tuổi 40
là 20.1%, độ tuổi 50 là 5.9% Trong đó có 908 vụ có thương tích, và số vụ có án mạng vì bạo lực trong năm đã lên tới 62 vụ
“Nguồn:http://www.afpbb.com/article/lifeculture/life/2192030/1398704” [23]
Theo tờ báo Parisien ngày 2 tháng 10 cho thấy vào năm 2007 có 166 vụ giết người mà thủ phạm và nạn nhân đang hoặc đã từng là vợ chồng Ở Nhật vào năm 2006, con số này cũng lên đến 117 vụ, từ đó cho chúng ta thấy trung bình 2-
3 ngày sẽ có 1 người bị sát hại, con số này hằng năm đều có khoảng hơn 100 vụ Vào năm 2005 con số bạo lực được cơ quan công an can thiệp là 47500 vụ (bằng năm 2004 + 31%) và hầu như đối tượng bị bạo lực đó là phụ nữ Khi họ bị chồng đối sử bằng bạo lực mặc dù họ không phải là những con người yếu đuối nhưng
để tránh lời đàm tiếu bàn tán không hay họ thường im lặng chịu đựng không than vãn Vì thế mà con số bạo lực, trong thực tế có thể nhiều hơn những con số kia, mặc dù cũng có trường hợp sau khi bị đánh đập họ phải tránh sang nhà bạn bè hay có cả trường hợp phải nhập viện nhưng vì yếu lòng khi những ông chồng chạy đến tỏ vẻ hối hận xin tha thứ thì hầu như những người phụ nữ ấy lại bỏ qua
và tiếp tục cuộc sống cam chịu Còn về phía các ông chồng vô tâm kia lại rất giỏi
về mặt thuyết phục này Trung bình mỗi ngày có khoảng 250 cuộc điện thoại đến tổng đài 3919 để tư vấn về vấn đề bạo lực trong gia đình Tại đây mỗi ngày tiếp nhận rất nhiều lá thư vô danh bày tỏ về tình trạng gia đình, đây là tổng đài cho họ những lời khuyên và sự lựa chọn chính xác, bên cạnh đó còn giới thiệu cho
Trang 38những người bị bạo lực luật sư hoặc cả nơi lánh nạn của bà mẹ và trẻ em khi bị bạo lực
“Nguồn:http://www.ilyfunet.com/actualites/a-propos/642_apropos.html” [32]
Theo như báo cáo của liên đoàn bảo vệ trẻ em thế giới Unicef thì bạo lực trong gia đình có thể gây ảnh hưởng nặng nề đến tinh thần trẻ em được công bố ngày 1/8/2006 Theo như báo cáo này, trên thế có khoảng 375 triệu trẻ em hứng chịu bạo lực trong gia đình Đây là số liệu được thống kê trên nhiều quốc gia trên thế giới Nhưng con số thực tế được ước tính vượt qua con số này vì còn có rất nhiều trường hợp chưa được công khai Trong số đó có cả trường hợp trẻ em bị tổn thương nặng nề về thể xác bên cạnh đó cũng có trường hợp không hề bị tổn thương về thể xác, nhưng về mặt tinh thần thì bị tổn thương một cách nghiêm trọng Đối với trẻ em thời kì này là một thời kì vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người, việc chịu ảnh hưởng của bạo lực trong gia đình
có thể gây nên những tác động xấu trong việc học tập của trẻ Khi trưởng thành chính những trẻ em bị ảnh hưởng bởi bạo lực lại dễ trở thành thủ phạm gây nên bạo lực, hoặc dễ mắc một số bệnh tinh thần hơn các trẻ khác được nuôi dưỡng trong một môi trường yên bình Mặt khác, có rất nhiều trẻ bị bạo lực khi trưởng thành góp sức vào công cuộc chống bạo lực gia đình và giúp đỡ những người bị hại hết sức tích cực
“Nguồn:http://www.hurights.or.jp/news/0608/b03.html”[31]
2.2.2 Cuộc sống của người già và trẻ nhỏ trong gia đình
Hiện nay với điều kiện kinh tế thay đổi ai nấy đều chạy theo nhịp sống thời đại thời gian dành cho gia đình bị hạn chế Mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình lỏng lẻo lạnh nhạt Thời gian gặp nhau của các thành viên trong gia đình hầu như rất hiếm Chính vì không có thời gian để vợ chồng quan tâm đến nhau, bố mẹ quan tâm đến con nhỏ, con cái quan tâm chăm sóc bố mẹ già… càng làm cho gia đình Nhật Bản trở nên dễ bị đổ vỡ, các thành viên dễ bị ảnh hưởng bởi những căn bệnh xã hội đặc biệt là trẻ nhỏ
Dạo gần đây xu hướng người mắc những căn bệnh thần kinh như khép kín (Hikikomori) hay trầm cảm (Utsubyou) ngày một tăng cao
Trang 392.2.2.1 Căn bệnh khép kín
Hiện tượng hikikomori là hiện tượng rất thường gặp của trẻ em thời nay
và đặc biệt là trẻ em Nhật Bản Biểu hiện là sau giờ học ở trường chúng luôn kép kín chỉ ở yên trong phòng không hòa đồng không vui chơi cùng bạn bè cùng trang lứa, không gần gũi mà ngày càng xa lánh những người xung quanh ngay cả
bố mẹ chúng Cũng có trường hợp mắc phải các chứng bệnh tâm thần hay tâm thần phân liệt phải nhờ sự giúp đỡ của bác sĩ chuyên môn
Hiện nay, giới nghiên cứu cho rằng khoảng hơn 1 triệu người mắc phải chứng bệnh khép kín, và đối tượng bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đó chính là trẻ nhỏ Bệnh khép kín (Hikikomori) đã trở thành một căn bệnh của xã hội Nhật Bản.Theo như KHJ hội nghiên cứu về tình trạng Hikikomori trên toàn quốc, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là do những sự tác động từ bên ngoài như
bị trêu chọc, căng thẳng trong học tập, gặp khó khăn trong khi giao tiếp với mọi người, bị tổn thương do gia đình (bố mẹ bệnh, gia đình không hạnh phúc…), phần lớn là phát sinh từ bạo lực trong gia đình Cũng có trường hợp không rõ nguyên nhân gây ra Hơn 70% người mắc chứng bệnh này không ra khỏi phòng riêng của mình, hoặc họ chỉ ra ngoài vào ban đêm tránh gặp mặt mọi người, cũng
có trường hợp họ bị căn bệnh này hơn 10 năm Những đứa trẻ là trưởng nam hay trưởng nữ trong gia đình, hay những đứa trẻ có vẻ là hiền lành ngoan ngoãn là niềm tự hào của bố mẹ cũng như bản thân thì có khuynh hướng mắc phải căn bệnh khép kín nhiều hơn Trong đó gần 90% là do bạo lực gia đình gây nên Vì ý thức luôn phủ định tất cả những việc xảy ra trong cuộc sống nên cũng có trường hợp biểu hiện bằng những hành động như tự làm tổn thương bản thân, có ý định
tự sát, bỏ ăn… Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến nguy cơ mắc phải nhiều căn bệnh thần kinh khác
Là bậc phụ huynh của những đứa trẻ mắc phải chứng bệnh trên thì nếu không hiểu rõ được sự bất an của con cái mình, không chia sẻ chăm sóc và dạy
dỗ đúng cách thì một khi nào đó chúng sẽ bị kiệt sức vì mệt mỏi Vì chính cha
mẹ là nguồn động viên và là liều thuốc tốt nhất giúp con trẻ điều chỉnh lại tinh thần mà bản thân chúng không có khả năng điều chỉnh Hơn ai hết những người mắc phải căn bệnh trên chính bản thân họ vô cùng đau khổ Vì thế mà
Trang 40Hikikomori không chỉ là một chứng bệnh về tâm thần của từng cá nhân mà còn là
một nỗi lo của cả xã hội
Trong gia đình những ông bố hiện nay ít có thời gian dành cho việc trò
chuyện gần gũi với con cái Theo một cuộc điều tra của Nhật Bản thì những ông
bố ở Tokyo dành ít thời gian để chơi với con và làm việc nhà hơn các ông bố ở
các thành phố châu Á khác Trong số các ông bố được hỏi ở Tokyo, chỉ có 37%
dành ít nhất 2 tiếng mỗi ngày để chơi với con vào các ngày nghỉ cuối tuần Con
số đó ở Seoul là 50% và ở Bắc Kinh và Thượng Hải là khoảng 70% Cuộc điều
tra này được tiến hành bởi cơ quan cung cấp các dịch vụ giáo dục Benesse Nó
cũng tiết lộ rằng, các ông bố ở Tokyo đi làm về muộn hơn các ông bố ở các nước
châu Á khác, với 40% về nhà sau 9 giờ tối so với 29% ở Seoul và một con số rất
thấp là 3% ở các thành phố của Trung Quốc Việc trò chuyện của các ông bố và
con cái ít dần, trẻ em lớn lên trong môi trường cô đơn buồn tẻ làm cho chúng dễ
rơi vào tình trạng khép kín
“Nguồn: Theo Vietnamnet/China Daily
http://news.giadinhnho.com/lam-cha-me/giao-duc-con-cai/24844-cac-ong-bo-tokyo-danh-it-thoi-gian-voi-con-nhat.html” [36]
2.2.2.2 Người già neo đơn
Người già neo đơn chính là những người già đã hết tuổi lao động đang
phải đối diện cuộc sống cô độc một mình không con cái không người thân thích
Những năm gần đây người già sống cảnh cô độc đã trở thành một trong những
vấn đề nan giải của xã hội Nhật Bản Đây chính là một trong những căn bệnh của
sự già hóa dân số ở các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển trong
đó Nhật Bản là một trong những nước nổi bật về căn bệnh này
Những năm gần đây,
“Nguồn: [35]”
Hình 2.1: Hình ảnh người già Nhật Bản