1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI

80 566 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Quản Trị Rủi Ro Thanh Khoản Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Chi Nhánh Đồng Nai
Trường học Đại Học Lạc Hồng
Thể loại Báo cáo nghiên cứu khoa học
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 891,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đề tài về quản trị rủi ro thanh khoản tại Việt Nam đa số đều nói chung về quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM mà chưa thể đi sâu nghiên cứu đến từng ngân hàng, nhất là các NHTM

Trang 1

Bên cạnh đó, vào năm 2008 một số ngân hàng đã rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản và biểu hiện của nó là trào lưu “siêu lãi suất” hồi đầu năm Lãi suất tiền gửi đồng Việt Nam liên ngân hàng tăng lên một cách chóng mặt đã đẩy các NHTM vào cuộc chạy đua lãi suất làm mặt bằng lãi suất huy động tăng dần lên từ 12% lên tới 18,6%/năm Sự tăng trưởng tín dụng như trên cùng với khả năng quản lý thanh khoản hạn chế làm cho hoạt động kinh doanh của hầu hết các NHTM bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí một vài ngân hàng nhỏ bị tê liệt Việc cho vay đối với khách hàng tại các ngân hàng hầu như bị đình chỉ, hầu hết các ngân hàng chỉ ưu đãi cấp tín dụng theo hạn mức đối với những khách hàng truyền thống, trong khi đó lãi suất cho vay cũng bị đẩy lên rất cao, ở mức 18%/năm, rồi 21%/năm Kết quả kinh doanh của các ngân hàng giảm sút một cách nghiêm trọng, nhiều ngân hàng bị lỗ hàng trăm tỷ và hầu hết các ngân hàng đều phải điều chỉnh giảm kế hoạch lợi nhuận năm 2008 khoảng 30- 40% Đánh giá ở góc độ vĩ mô của toàn bộ nền kinh tế thì những diễn biến như trên đã gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến mục tiêu giảm lạm phát, tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống xã hội [11]

Từ cuối năm 2008 đến nửa đầu năm 2009, tình hình thế giới rơi vào tình trạng khủng hoảng, hàng loạt các ngân hàng ở các nước trên thế giới tuyên bố phá sản Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến các NHTM Việt Nam và RRTK được đánh giá là rủi

ro nguy hiểm nhất Vì trong hệ thống ngân hàng, nếu một hay hai ngân hàng rủi ro có thể lây sang ngay các ngân hàng khác

Trang 2

Hiệu quả quản trị RRTK không chỉ dừng ở thanh khoản mà có quan hệ mật thiết với tất cả hoạt động của từng NHTM, của hệ thống NHTM, của hệ thống định chế tài chính và liên quan đến cả cơ chế vĩ mô…nhưng trước hết, bản thân mỗi NHTM phải làm tốt [13]

Qua đó, ta có thể thấy được việc nâng cao hiệu quả quản trị RRTK cho NHTM

là một vấn đề cấp thiết được đặt ra Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài

“NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI” làm nội dung báo cáo nghiên cứu khoa học của mình

2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu của đề tài

Quản trị rủi ro thanh khoản là một đề tài không còn mới đối với quốc tế, tuy nhiên đối với Việt Nam thì đây là một đề tài còn khá mới và còn nhiều điều cần phải nghiên cứu

Hiện các đề tài về quản trị rủi ro thanh khoản của nước ngoài rất đa dạng và phong phú như “Liquidity Risk and Competition in Banking” của Yoram Landskroner

và Jacob Paroush, “Banking Liquidity Risk Management Issues” của Rifki Ismal,

“Liquidity risk management” của Richard Barfield và Shyam Venkat Tại Việt Nam, hiện nay các đề tài về RRTK còn khá hiếm, chỉ có một vài đề tài nhưng tính ứng dụng vào thực tiễn chưa cao Các đề tài về quản trị rủi ro thanh khoản tại Việt Nam đa số đều nói chung về quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM mà chưa thể đi sâu nghiên cứu đến từng ngân hàng, nhất là các NHTM nhà nước

Ta có thể thấy sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và thực trạng kém thanh khoản tại các NHTM Việt Nam vào đầu năm 2008 thì vấn đề thanh khoản là một

đề tài nóng bỏng được đặt ra cho các NHTM Việt Nam nhưng vẫn chưa được xem xét, nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết

Trong phạm vi trường Đại Học Lạc Hồng, các năm vừa qua chưa có sinh viên nào thực hiện đề tài về quản trị rủi ro thanh khoản tại NHTM, do đó báo cáo nghiên cứu này sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề cụ thể về quản trị rủi ro thanh khoản tại một NHTM nhà nước tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai

Trang 3

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tại bàn: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích số liệu thống kê , phương pháp mô tả, phương pháp so sánh

4 Mục tiêu nghiên cứu

- Hoàn thiện, củng cố những kiến thức về quản trị RRTK từ việc áp dụng vào thực tiễn tại ngân hàng

- Đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng quản trị RRTK tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Đồng Nai Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị RRTK tại ngân hàng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu:

- Thực trạng quản trị RRTK tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

chi nhánh Đồng Nai

• Phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu: cuối năm 2009 đến nửa đầu năm 2010

- Không gian nghiên cứu: NHTM nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Đồng Nai

6 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài quản trị rủi ro thanh khoản là một đề tài khá mới đối với các nhà nghiên cứu về kinh tế tại Việt Nam, đồng thời Việt Nam đang bước trên con đường hội nhập với nền kinh tế thế giới

Báo cáo nghiên cứu về quản trị rủi ro thanh khoản tại một NHTM nhà nước cụ thể giúp ta có thể hiểu thêm về cơ cấu quản trị rủi ro thanh khoản tại NHTM nhà nước

và tình hình thanh khoản tại ngân hàng, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm giúp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản

Trang 4

7 Kết cấu của đề tài

Báo cáo nghiên cứu khoa học ngoài lời mở đầu và kết luận, bao gồm các nội dung chính như sau:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NHTM

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK (CHI NHÁNH ĐỒNG NAI)

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NH AGRIBANK CHI NHÁNH ĐỒNG NAI

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ QUẢN

TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NHTM

1.1 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG

1.1.1, Tổng quan về rủi ro

1.1.1.1, Khái niệm rủi ro

Rủi ro theo một số tài liệu nghiên cứu là một khái niệm trừu tượng Nhưng nhìn chung rủi ro được định nghĩa theo hai trường phái chính:

Theo trường phái truyền thống, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm

hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn.[10] Theo trường phái trung hòa, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro

vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang tới những tổn thất, mất mát, nguy hiểm,… cho con người nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội [10]

Như vậy, rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những tác hại mà chúng gây nên.[6] Nếu có những biện pháp thích hợp để khắc phục những mặt tiêu cực

và tận dụng những cơ hội thì không những có thể hạn chế được tổn thất mà còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp

1.1.1.2, Phân loại rủi ro

Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận rủi, trong phạm vi đề tài căn cứ vào phạm

vi phát sinh rủi ro và tác động của rủi ro đến đối tượng quan tâm Tác giả chia rủi ro thành rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống

Rủi ro hệ thống (hay còn gọi là rủi ro không phân tán được) là những rủi ro do

các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường Rủi ro hệ thống là những rủi ro từ bên ngoài của một ngành công nghiệp

Trang 6

hay của một doanh nghiệp, chẳng hạn như chiến tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế và chính trị [11]

Rủi ro phi hệ thống (hay còn gọi là rủi ro phân tán được) loại rủi ro này là kết

quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một công ty hoặc một ngành công nghiệp nào đó Các yếu tố này có thể là những biến động

về lực lượng lao động, năng lực quản trị, kiện tụng hay chính sách điều tiết của chính phủ Vì hầu hết các nhà đầu tư có hiểu biết tối thiểu đều có thể loại bỏ rủi ro có thể phân tán được bằng cách nắm giữ một danh mục đầu tư đủ lớn từ vài chục đến vài trăm [11]

1.1.2, Rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

1.1.2.1, Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

a Khái niệm

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoảng chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định [1]

b Phân loại

Phân loại các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng thể hiện tại sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1: Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng[5]

*RR: rủi ro

RR* QUỐC GIA VÀ RR KHÁC

RR CÔNG NGHỆ VÀ HOẠT ĐỘNG

RR HOẠT ĐỘNG NGOẠI BẢNG

RỦI RO THANH KHOẢN

RỦI RO TÍN DỤNG

RỦI RO NGOẠI HỐI

RỦI RO LÃI SUẤT

RR TRONG

KD NGÂN HÀNG

Trang 7

Rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất trên thị trường

hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về mặt tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng [1]

Rủi ro tỷ giá (hay rủi ro ngoại hối) là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay

ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi gây tổn thất cho ngân hàng [1]

Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng,

biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Tất cả các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cho thuê tài chính, chiết khấu các chứng từ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, bao thanh toán và bảo lãnh đều chứa rủi ro tín dụng.[1]

RRTK (mất khả năng thanh toán) là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp

ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền, hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.[1]

Rủi ro hoạt động ngoại bảng là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân

hàng phát triển các hoạt động ngoại bảng Chẳng hạn trong trường hợp bảo lãnh công

ty phát hành trái phiếu, nếu công ty này phá sản thì ngân hàng phải đứng ra thanh toán toàn bộ gốc và lãi chứng khoán do công ty phát hành.[5]

Rủi ro công nghệ và hoạt động [5]

Rủi ro công nghệ là loại rủi ro phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển

công nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở rộng qui mô hoạt động

Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể phát

sinh bất cứ khi nào nếu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi hệ thống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động

Rủi ro quốc gia và rủi ro khác [5]

Trang 8

Rủi ro quốc gia là rủi ro xảy ra trong trường hợp ngân hàng đầu tư bằng bản tệ

cho các công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài Nếu công ty này không có khả năng hoặc không sẵn lòng hoàn trả vốn vay thì rất khó có thể thu hồi lại vốn

Rủi ro khác bao gồm thay đổi thuế đột ngột, chiến tranh, trộm cắp, lừa đảo

1.1.2.2, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng [1]

Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro Quản trị rủi ro bao gồm các bước thể hiện trên sơ

đã xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với ngân hàng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp

Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê các dạng rủi ro đã, đang và có thể xuất hiện đối với ngân hàng bằng phương pháp sau: lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra, phân tích các báo cáo tài chính, phương pháp lưu đồ, thanh tra hiện trường, phân tích các hợp đồng, làm việc với các cơ quan Nhà nước, các ban, ngành có liên quan

KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO

TÀI TRỢ RỦI RO

PHÂN TÍCH RỦI

RO

Trang 9

Phân tích rủi ro là nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro Trên cơ

sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân thay đổi chúng Từ đó sẽ phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu hơn

Đo lường rủi ro

Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích, đánh giá Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro Để đánh giá mức độ quan trọng rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng cả hai tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro – mức độ nghiêm trọng của tổn thất, Trong đó tiêu chí thứ hai đóng vai trò quyết định

Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

Công việc trọng tâm của công tác quản trị là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, các công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra với ngân hàng Có các biện pháp kiểm soát rủi ro như: Các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất, chuyển giao rủi ro,

đa dạng hóa rủi ro, quản trị thông tin

Tài trợ rủi ro

Khi rủi ro xảy ra, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực, giá trị pháp lý Sau đó cần có những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp

1.1.3, Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh ngân hàng [1]

1.1.3.1, Nhóm nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng

Có nhiều nguyên nhân thuộc về năng lực quản lý dẫn đến rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Nhưng việc không quản lý chặt chẽ thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Bênh cạnh

đó, việc cho vay và đầu tư quá liều lĩnh cũng dẫn đến rủi ro, cụ thể trong cho vay ngân hàng tập trung nguồn vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó, trong đầu tư ngân hàng chỉ chú trong đầu tư vào một loại chứng khoán có rủi

ro cao Và do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không

Trang 10

nguyên nhân là do hoạt động kinh doanh trái pháp luật, tham ô, do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ nghiệp vụ, tất cả đều là nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

1.1.3.2, Nhóm nguyên nhân thuộc về phía khách hàng

Những nguyên nhân thuộc về phía khách hàng như do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý, sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả, kênh thu nhập lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được Mặt khác việc khách hàng quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản hay do chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo cũng là nguyên nhân gây rủi ro cho ngân hàng

1.1.3.3, Nhóm nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh

Những nguyên nhân khách quan có khá nhiều như do thiên tai, hỏa hoạn, tình hình an ninh, chính trị trong nước, khu vực không ổn định Hay do khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát, mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động thất thường, môi trường pháp lý không thuận lợi cũng dẫn đến những rủi ro trong hoạt động ngân hàng

1.1.4, Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và kinh tế

xã hội [1]

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro đầu tiên ảnh hưởng là có thể gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng Những tổn thất thường gặp là mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản Bên cạnh

đó rủi ro làm giảm uy tính của ngân hàng, sự tín nhiệm của khách hàng và có thể đánh mất thương hiệu của ngân hàng Một ngân hàng làm ăn thua lỗ liên tục, một ngân hàng thường xuyên không đủ khả năng thanh toán có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng rút tiền hàng loạt của khách hàng, và phá sản là con đường tất yếu Từ đó, ảnh hưởng đến hàng ngàn người gửi tiền vào ngân hàng, hàng ngàn doanh nghiệp không được đáp ứng nhu cầu vốn làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, gây rối loạn trật tự xã hội và hơn nữa sẽ kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng trong nước

Trang 11

Ngoài ra, rủi ro của các ngân hàng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, vì trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay, nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát tiển rất nhanh, nên rủi ro ngân hàng tại một nước luôn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan Thực tế đã chứng minh qua cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997), cuộc khủng hoảng tài chính Nam

Mỹ (2001-2002) và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ (2008)

1.2.TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN NGÂN HÀNG 1.2.1, Bản chất của RRTK (RRTK)

1.2.1.1, Các khái niệm về thanh khoản

a Thanh khoản (Liquidity) là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc

nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh [3]

b RRTK (Liquidity risk)

RRTK là rủi ro khi ngân hàng thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính

khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay (Thomas.P Fitch) [4]

RRTK là sự biến động về thu nhập ròng và thị giá của vốn sở hữu, xuất phát từ

khó khăn của ngân hàng trong việc huy động ngay lập tức các khoản ngân quỹ sẵn bằng hình thức vay mượn hoặc bán tài sản (Timothy W.Koch) [4]

Như vậy, RRTK là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả

năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán [3]

c Quản trị thanh khoản Là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh

khoản (tính lỏng) của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn

[3]

d Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng qũy của ngân hàng, là

nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng [3]

e Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích của ngân hàng làm

Trang 12

Bảng 1.1: Các yếu tố của cung cầu thanh khoản [3]

1 Các khoản tiền gửi đang đến (S1)

1 Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1)

2 Yêu cầu cấp các khoản tín dụng (D2)

3 Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi (D3)

4 Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ (D4)

5 Thanh toán cổ tức cho các cổ đông (D5)

f Trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position) [3]

Căn cứ vào dữ kiện trình bày tại Bảng 1.1 cho ta kết quả sau:

Trạng thái thanh khoản ròng = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản

(NLPt) = (S1+S2+S3+S4+S5) – (D1+D2+D3+D4+D5)

Ba khả năng có thể xảy ra như sau:

NLPt=0: ngân hàng trong trạng thái cân bằng thanh khoản, trường hợp này

rất hiếm có thể xảy ra trong thực tế

NLPt>0: ngân hàng trong tình trạng thặng dư thanh khoản (Liquidity

surplus)

Do nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không cho vay hay đầu tư được Trong phạm vi của một ngân hàng, đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản Có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có khả năng sinh lời (Tồn quỹ tiền mặt quá lớn); hoặc cũng có thể do ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả

Nhà quản trị phải lập kế hoạch đầu tư số vốn thặng dư để mang lại hiệu quả (ví

dụ như mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán ra trước đó, cho vay trên thị trường tiền tệ, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng khác )

Trang 13

NLPt<0: ngân hàng trong tình trạng thiếu hụt thanh khoản (Liquidity deficit )

Khi đó, ngân hàng sẽ mất những cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, mất khách hàng khi họ phải đến ngân hàng khác để vay Từ việc mất khách hàng vay vốn sẽ dẫn đến mất khách hàng tiền gửi, vì giảm lòng tin của người gửi tiền

Nhà quản trị phải quyết định bổ sung nguồn tài trợ và chi phí tài trợ một cách hợp lý (ví dụ như bán dự trữ thứ cấp,vay qua đêm, vay tái chiết khấu NHNN, phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn,huy động từ thị trường tiền tệ )

1.2.1.2, Nguyên nhân RRTK [5]

Những nguyên nhân của RRTK thể hiện trên sơ đồ 1.3

Sơ đồ 1.3: Các nguyên nhân chính của RRTK [5]

a Những nguyên nhân tiền đề: có ba nguyên nhân chính

Nguyên nhân thứ nhất, sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ Nghĩa là ngân hàng huy động và đi vay vốn với thời hạn ngắn, đồng thời tuần

hoàn chúng để sử dụng cho vay với thời hạn dài hơn Do đó nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về thời hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ Hiếm khi luồng tiền ròng bên tài sản có lại vừa khít để trang trãi luồng tiền ròng bên tài sản

nợ Trên thực tế ngân hàng thường có một tỷ lệ đáng kể tài sản nợ có đặc điểm là phải được hoàn trả tức thời nếu người gửi có nhu cầu, như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi

có kỳ hạn có thể rút trước hạn do đó ngân hàng luôn phải đối mặt với RRTK

Nguyên nhân thứ hai là do sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi lãi suất Khi lãi suất ngân hàng giảm (tức là lãi suất đầu tư cao hơn lãi suất ngân

hàng), nhiều khách hàng gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi

NGUYÊN NHÂN RỦI RO THANH KHOẢN

NHỮNG NGUYÊN NHÂN TIỀN ĐỀ

NHỮNG NGUYÊN NHÂN

TỪ HOẠT ĐỘNG

Trang 14

tín dụng vì có lãi suất thấp hơn Như vậy sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản, mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ của ngân hàng

Nguyên nhân thứ ba, đó là ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh

khoản một cách hoàn hảo Những trục trặc về thanh khoản hay tin đồn về mất khả

năng thanh khoản sẽ làm giảm niềm tin của khách hàng vào ngân hàng Một trong những công việc quan trọng đối với nhà quản lý ngân hàng là luôn liên hệ chặt chẽ với những khách hàng có số dư tiền gửi lớn và những khách hàng đang còn hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng để biết được kế hoạch của họ khi nào thì rút tiền và rút bao nhiêu để có phương án thanh khoản thích hợp

b Những nguyên nhân từ hoạt động

Nguyên nhân bên tài sản nợ: RRTK có thể phát sinh bất cứ khi nào khi những

người gửi tiền rút tiền đột ngột, buộc ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc phải bán bớt tài sản để đáp ứng khả năng thanh khoản Trong tất cả các nhóm thuộc tài sản có, thì tiền mặt có mức độ thanh khoản cao nhất, vì vậy ngân hàng sử dụng tiền mặt là phương tiện đầu tiên và trực tiếp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản Nhưng tiền mặt không mang lại thu nhập lãi suất do đó các ngân hàng luôn có xu hướng giảm thiểu tài sản có ở dạng tiền mặt Để thu được lãi suất, các ngân hàng phải đầu tư vào những tài sản ít thanh khoản hơn hoặc vào những tài sản có thời hạn dài Tuy nhiên một số tài sản chỉ có thể chuyển hóa thành tiền ngay lập tức với mức bán rất thấp, do đó có thể đe dọa đến khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng

Nguyên nhân bên tài sản có: RRTK phát sinh liên quan đến các cam kết tín

dụng Một cam kết tín dụng cho phép người vay tiến hành rút tiền vay bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó Một khi cam kết tín dụng được thực hiện thì ngân hàng phải bảo đảm có đủ tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nếu không ngân hàng phải đối mặt với RRTK

Trang 15

1.2.1.3, Sự cần thiết phải quản trị RRTK [2]

Như đã trình bày, hiếm khi nào tại một thời điểm tổng cung bằng với tổng cầu thanh toán Do đó ngân hàng phải thường xuyên đối phó với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản

Bên cạnh đó, thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau: một tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả năng sinh lời của nó lại càng thấp và ngược lại; một nguồn vốn có tính thanh khoản cao thường có chi phí huy động vốn lớn (nên làm giảm khả năng sinh lời khi sử dụng để cho vay)

Những nghiên cứu gần đây chứng tỏ rằng hiện tượng thiếu, thâm hụt thanh khoản, thường là một trong những dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang ở tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới do thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng thì ở trong tình trạng cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng, vì phải huy động vốn lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng Tình trạng thiếu hụt thanh khoản với mức độ lớn tại một số ngân hàng và trở thành một trong những nguyên nhân đưa đến phá sản đã khẳng định rằng không thể bỏ qua vấn

đề thanh khoản Không chỉ có vậy, việc một ngân hàng bị thiếu hụt thanh khoản sẽ gây tổn thất cho toàn bộ hệ thống, chính vì RRTK có tính lan truyền trên toàn hệ thống nên việc nâng cao khả năng quản trị thanh khoản ở từng ngân hàng là một vấn đề rất quan trọng không chỉ đối với từng ngân hàng mà còn là một vấn đề cấp thiết của toàn bộ hệ thống

Do đó ngày nay, công tác quả trị thanh khoản trở nên quan trọng hơn so với trước đây rất nhiều, bởi vì một số ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản, mặc dù về mặt kỹ thuật, nó vẫn còn khả năng trả nợ Hơn nữa, năng lực quản trị thanh khoản là thước đo quan trọng về tính hiệu quả tổng thể để đạt đến các mục tiêu dài hạn của ngân hàng

Trang 16

1.2.2, Nội dung quản trị RRTK

1.2.2.1, Đường lối chung về quản trị thanh khoản [1]

Thứ nhất, nhà quản trị thanh khoản phải thường xuyên bám sát hoạt động của

các bộ phận chịu trách nhiệm huy động vốn và sử dụng vốn trong phạm vi ngân hàng

và điều phối họat động của các bộ phận này sao cho ăn khớp với nhau

Thứ hai, nhà quản trị thanh khoản cần phải biết trước khả năng ở đâu và khi

nào những khách hàng gửi tiền, xin vay dự định rút vốn hoặc bổ sung thêm tiền gửi hoặc trả nợ của họ

Thứ ba, nhu cầu thanh khoản của ngân hàng và các quyết định liên quan đến

vấn đề thanh khoản phải được phân tích trên cơ sở liên tục để tránh kéo dài một trong hai trạng thái thặng dư hoặc thâm hụt

1.2.2.2, Dấu hiệu thị trường nhận biết RRTK [5]

Để nhận biệt rủi ro thanh khoản ta có thể dự trên các dấu hiệu thị trường như sau:

Sơ đồ 1.4: Các dấu hiệu thị trường nhận biết RRTK [5]

a Lòng tin của dân chúng: Ngân hàng sẽ mất dần người gửi tiền, bởi vì

những cá nhân và tổ chức lo ngại rằng ngân hàng không đủ tiền mặt và có thể không có khả năng hoàn trả tiền gửi

VAY NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

KHÔNG ĐÁP ỨNG ĐẦY ĐỦ CÁC CAM KẾT TÍN DỤNG

CHỊU LỖ KHI BÁN TÀI SẢN

LÃI SUẤT HUY ĐỘNG CAO HƠN THỊ TRƯỜNG

SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ GIÁ CỔ PHIẾU

LÒNG TIN CỦA DÂN CHÚNG

DẤU HIỆU THỊ TRƯỜNG

Trang 17

b Sự biến động của thị giá cổ phiếu: Thị giá cổ phiếu của ngân hàng

giảm, bởi vì những nhà đầu tư nhận thấy rằng ngân hàng đang đứng trước một cuộc khủng hoảng thanh khoản

c Áp dụng mức lãi suất huy động cao hơn thị trường: Khi ngân hàng áp

dụng mức lãi suất huy động (tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu) và chấp nhận mức lãi suất đi vay cao hơn mức lãi suất thị trường một cách bất thường, hay nói cách khác ngân hàng chấp nhận rủi ro dưới hình thức áp dụng chi phí vay vốn cao là bởi vì ngân hàng được xem là đang phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng thanh khoản

d Chịu lỗ khi bán tài sản: Ngân hàng chịu sức ép bán tài sản một cách vội

vã và sẵn sàng chịu lỗ lớn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản và việc chuyển hóa tài sản của ngân hàng là thường xuyên thì ngân hàng có thể đang phải chịu khó khăn về thanh khoản

e Không đáp ứng đầy đủ các cam kết tín dụng: Ngân hàng không có khả

năng đáp ứng đúng hẹn và đầy đủ các cam kết tín dụng, thời gian giải ngân bị kéo dài, nhu cầu xin vay của những khách hàng có hệ số tín nhiệm cao không được giải quyết Ta có thể kết luận rằng ngân hàng đang có khó khăn về thanh khoản

f Vay Ngân hàng Trung Ương (NHTW): Khi ngân hàng buộc phải vay

NHTW với khối lượng lớn và thường xuyên hơn, NHTW đã bắt đầu đặt câu hỏi

về những khoản vay của ngân hàng thì chính là ngân hàng đang có khó khăn về

thanh khoản

1.2.2.3, Các phương pháp quản lý RRTK [3]

Có ba phương pháp:

a Phương pháp 1: Duy trì một tỷ lệ hợp lý giữa vốn dùng cho dự trữ

và vốn dùng cho kinh doanh

Phương pháp này phải áp dụng sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng

b Phương pháp 2: Đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả (QĐ457/2005/QĐ

Trang 18

Tỷ lệ khả năng chi trả (%) = tài sản “Có” có thể thanh toán ngay / tài sản “Nợ” phải thanh toán ngay

Tổ chức tín dụng (TCTD) phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ khả năng chi trả đối với từng loại đồng tiền, vàng như sau:

Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “Nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo

Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” có thể thanh toán ngay trong khoản thời gian 7 ngày tiếp theo và tổng tài sản “Nợ” phải thanh toán trong khoảng thời gian

7 ngày làm tiếp theo

c Phương pháp 3: Dự báo nhu cầu thanh khoản

Sử dụng 4 phương pháp dự báo là phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng nguồn, phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn, phương pháp xác định xác suất mỗi tình huống và phương pháp tiếp cận các chỉ số thanh khoản theo sơ đồ 1.5

Sơ đồ 1.5: Các phương pháp dự báo RRTK [3]

*PP: Phương pháp

• Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn

Thực chất của phương pháp này là đo lường cung cầu thanh khoản, trong đó phần chủ yếu của cung cầu thanh khoản là tiền gửi và cho vay nên phương pháp này tập trung vào đo lường những thay đổi dự tính trong tiền gửi và cho vay của ngân hàng

PP tiếp cận nguồn

vốn

sử dụng

vốn

PP tiếp cận cấu trúc vốn

PP xác định xác suất mỗi tình huống

PP*

tiếp cận các chỉ

số thanh khoản

Cá phươn p áp dự báo han k oản

Trang 19

Phương pháp này bắt đầu với hai thực tế đơn giản:

Một là, khả năng thanh khoản của ngân hàng tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm

Hai là, khả năng thanh khoản của ngân hàng giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng

Bước 1: Dự báo nhu cầu vay vốn và tiền gửi kỳ kế hoạch

Từ đầu năm, ngân hàng ước lượng nhu cầu thanh khoản của các tháng, quý trong năm Bất cứ lúc nào khi nguồn tạo ra thanh khoản và nhu cầu sử dụng thanh khoản không cân bằng với nhau, ngân hàng có một độ lệch thanh khoản có thể đựơc xác định như sau:

Xây dựng mô hình:

f (cho vay) = f(tăng trưởng kinh tế, tỷ suất lợi nhuận, lạm phát, lãi suất …)

Trong đó, thay đổi của tiền vay phụ thuộc vào các biến sau:

• Lãi suất cơ bản

• Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP

• Tỷ suất lợi nhuận doanh nghiệp

• Tỷ lệ tăng trưởng của cung tiền

• Tỷ lệ tăng trưởng của tín dụng thương mại

• Tỷ lệ lạm phát

f (Tiền gửi) = f(GDP/người, cung tiền, thu nhập, lạm phát, lãi suất…)

Trong đó, thay đổi của tiền gửi phụ thuộc vào các biến sau:

• Lãi suất cơ bản

• Tăng trưởng thu nhập cá nhân

• Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền của NHTW

• Lãi suất

• Tỷ lệ lạm phát

Trang 20

Bước 2: Xác định khe hở thanh khoản

Khe hở thanh khoản = Tổng cung thanh khoản (1) − Tổng cầu thanh khoản (2) (Liquidity gap)

Khi khe hở thanh khoản > 0 ngân hàng có tổng cung thanh khoản lớn hơn cầu

thanh khoản, và phần thanh khoản thặng dư nhanh chóng phải được đầu tư vào những tài sản sinh lợi cho đến khi chúng được cần đến để trang trải nhu cầu tiền sau này

Ngược lại, khe hở thanh khoản < 0 ngân hàng có tổng cầu thanh khoản lớn hơn

tổng cung thanh khoản, trong trường hợp này, ngân hàng cần phải gia tăng thanh khoản từ nhiều nguồn cung cấp sẵn có khác nhau một cách kịp thời và với chi phí rẻ

nhất

• Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn

Nếu như phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn giúp ngân hàng đo lường cả nguồn cung và nguồn cầu thanh khoản thì phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn chỉ quan tâm đến cầu thanh khoản Phương pháp đo lường RRTK dựa vào việc phân chia cơ cấu nguồn vốn huy động theo khả năng nguồn vốn này bị rút ra khỏi ngân hàng để xác định yêu cầu thanh khoản của ngân hàng

Bước 1: Dự báo các nguồn vốn huy động và nhu cầu tiền vay tiềm năng Ngân hàng ước lượng nhu cầu thanh khoản của các tháng, quý tiếp theo trong năm

bằng các số liệu của các tháng, quý trước đây Ta tiến hành xây dựng mô hình của từng nguồn vốn phụ thuộc vào thời gian, ví dụ như mô hình dự báo tiền gửi không kỳ hạn như sau:

f (tiền gửi không kỳ hạn) = f(t)

Trong đó t là thời điểm cần dự báo

Tương tự như trên đối với các nguồn vốn còn lại và nhu cầu tiền vay tiềm năng

Bước 2: Nguồn vốn được phân chia thành các nhóm

Trang 21

Chia các khoản tiền gửi và các nguồn khác thành các loại trên cơ sở ước lượng xác suất (khả năng) rút tiền của khách hàng Có thể chia tiền gửi và các khoản huy động phi tiền gửi của ngân hàng thành 3 loại:

Loại 1: Ổn định thấp (nguồn vốn nóng) là vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất hoặc được dự tính sẽ bị rút khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch

Loại 2: Ổn định vừa phải là các khoản tiền gửi của khách hàng trong đó một phần đáng kể (25-30%) sẽ có thể bị rút khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó trong kỳ kế hoạch

Loại 3: Ổn định cao là khoản mục vốn mà nhà quản trị ngân hàng tin tưởng chắc chắn rằng ít có khả năng bị rút khỏi ngân hàng (trừ một bộ phận rất nhỏ trong tổng số)

Bước 3: Xác định yêu cầu dự trữ thanh khoản cho nguồn vốn trên

Thông thường tỷ lệ dự trữ thanh khoản được lựa chọn như sau:

- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản lớn nhất cho nguồn vốn nóng, thường là 95%

- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản cho nguồn vốn kém ổn định, thường là 30%

- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản thấp nhất cho nguồn vốn ổn định: <= 15%

Như vậy nhu cầu dự trữ thanh khoản cho các khoản tiền gửi và các khoản huy động phi tiền gửi được xác định như sau:

Dự trữ thanh khoản tài sản nợ huy động = 95% (Nguồn ổn định thấp – Dự trữ

bắt buộc) + 30% (Nguồn ổn định vừa – Dự trữ bắt buộc) + 15% (Nguồn ổn định cao –

Dự trữ bắt buộc)

Đối với các khoản tiền cho vay, ngân hàng phải sẵn sàng mọi lúc một khi khách

hàng nộp đơn xin vay và thoả mãn các tiêu chuẩn tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng (các khoản vay có chất lượng cao) Sau khi được chấp thuận, hạn mức cho vay có thể

ra khỏi ngân hàng chỉ trong phạm vi vài giờ hoặc vài ngày sau đó

Như vậy:

Tổng nhu cầu Dự trữ thanh khoản Nhu cầu tiền vay thanh khoản tài sản nợ huy động tiềm năng = +

Trang 22

• Phương pháp xác định xác suất mỗi tình huống

Phương pháp này được thực hiện theo trình tự hai bước như sau:

¾ Bước 1: Ngân hàng phỏng đoán khả năng xảy ra mỗi trạng thái thanh khoản theo ba cấp độ:

Khả năng xấu nhất khi tiền gửi xuống thấp dưới mức dự kiến hoặc tiền vay

lên cao trên mức dự kiến

Khả năng tốt nhất khi tiền gửi lên cao trên mức dự kiến tiền vay xuống thấp

dưới mức dự kiến

Khả năng thực tế nằm ở cấp độ nào đó giữa hai cấp độ trên

¾ Bước 2: Xác định nhu cầu thanh khoản theo công thức:

Trạng thái thanh khoản dự kiến = ΣPi × SDi

Trong đó: Pi: Xác suất tương ứng với một trong ba khả năng

SDi: Thặng dư hoặc thâm hụt thanh khoản theo mỗi khả năng

• Phương pháp tiếp cận các chỉ số thanh khoản

Phương pháp tính toán nhu cầu thanh khoản này dựa trên cơ sở kinh nghiệm riêng có của ngân hàng và các chỉ số trung bình trong ngành Thông thường các chỉ số thanh khoản sau đây được sử dụng:

Tỷ lệ vốn tự có trên nguồn vốn huy động

H1 = vốn tự có / nguồn vốn huy động Chỉ tiêu trên càng lớn thì ngân hàng càng thanh khoản, việc chi trả nguồn vốn huy động được đảm bảo bởi nguồn vốn tự có chứ không phải nợ phải trả Khi có rủi ro xảy ra ngân hàng lại sử dụng hết hạn mức vay hay không được cho vay thì vốn tự có là

“tấm đệm” ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh, đảm bảo ngân hàng tránh khỏi nguy cơ phá sản

Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có

H2 = vốn tự có / tổng tài sản có

Trang 23

Tỷ lệ này càng lớn thì ngân hàng càng kém thanh khoản, vì ngân hàng đã sử dụng một tỷ lệ nợ phải trả lớn hơn vốn tự có Khi có rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải chi trả cho những khoản phải trả lớn, trong khi đó vốn tự có lại không đủ để bù đắp những thiệt hại phát sinh, dẫn đến nguy cơ phá sản cao

Chỉ tiêu trạng thái tiền mặt

H3 = (Tiền mặt + Tiền gửi đến hạn tại các TCTD khác) / Tổng tài sản có

Nếu chỉ tiêu trên càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời

Chỉ tiêu năng lực sử dụng vốn sinh lời (hay chỉ tiêu năng lực cho vay)

H4 = (Dư nợ tín dụng + dư nợ cho thuê tài chính) / Tổng tài sản có

Vì tín dụng và cho thuê tài chính được xem là những tài sản ít thanh khoản nhất, do đó nếu chỉ tiêu H4 càng lớn thì ngân hàng càng kém thanh khoản

Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản

H5 = Chứng khoán chính phủ / Tổng tài sản có

Nếu chỉ tiêu trên càng lớn thì ngân hàng được xem là càng thanh khoản

Tỷ số thành phần tiền biến động

H6 = tiền gửi thanh toán / tổng tiền gửi

Tỷ số này giảm thể hiện yêu cầu thanh khoản giảm vì tính ổn định của tiền gửi tăng

Tỷ lệ tài sản có sinh lời

H7 = Tài sản có sinh lời / Tổng tài sản

Tài sản Có sinh lời là giá trị những tài sản Có đem lại lợi nhuận trong hoạt động của TCTD, bao gồm: dư nợ cho vay có khả năng thu được lãi, tiền gửi ở TCTD khác,

Trang 24

các khoản hùn vốn, liên doanh, mua cổ phần và các khoản đầu tư khác Tỷ lệ tài sản có sinh lời càng cao thì ngân hàng càng thanh khoản

1.2.2.4, Biện pháp quản trị RRTK [5]

Sơ đồ 1.6: Các biện pháp quản trị RRTK [5]

a Quản trị thanh khoản “Có”

NH tích luỹ thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao: chủ yếu là tiền mặt, trái phiếu kho bạc và các chứng khoán dễ bán

• Ưu điểm: Các tài khoản Có tính thanh khoản có thể chuyển hóa thành tiền

mặt nhanh chóng với chi phí chuyển nhượng thấp

• Nhược điểm: Chịu một chi phí cơ hội lớn do tiền mặt không mang lại thu

nhập lãi suất và trái phiếu kho bạc có mức lãi suất không hấp dẫn Hay nói cách khác, một tài sản là thanh khoản sẽ mang lại thu nhập thấp và ngược lại một tài sản mang lại thu nhập cao sẽ không thanh khoản

b Quản trị thanh khoản nợ

Ngân hàng sẽ thực hiện mua thanh khoản hay vay nợ trên thị trường tiền tệ để đáp ứng các yêu cầu về thanh khoản phát sinh

• Ưu điểm: không làm thay đổi quy mô bảng cân đối tài sản và kết cấu tài sản

có nên nếu ngân hàng quản lý tài sản nợ một cách hiệu quả, thì chiến lược kinh doanh bên tài sản có sẽ không bị ảnh hưởng bởi những sự rút tiền gửi quá mức thông thường

nợ

Quản trị thanh khoản kết hợp

Biện pháp chung Biện pháp cụ thể

Trang 25

• Nhược điểm: biện pháp này tương đối tốn kém vì ngân hàng phải đi vay

vốn bổ sung với lãi suất cao hơn lãi suất chi trả cho những khoản tiền gửi

c Quản trị thanh khoản phối hợp

Ngân hàng sử dụng cả việc tích trữ thanh khoản và đi mua thanh khoản trên thị trường tiền tệ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản

d Biện Pháp chung

Biện pháp chung bao gồm các qui tắc nhằm xây dựng một chương trình quản lý RRTK, đo lường và giám sát trạng thái thanh khoản, quản trị khả năng tiếp cận các nguồn vốn, lập kế hoạch dự phòng, quản trị thanh khoản đối với ngoại tệ, kiểm soát nội bộ trong quản trị RRTK, công bố thông tin ra ngoài, và các nguyên tắc qui định vai trò của Ban kiểm soát

(các quy tắc xin xem thêm phục lục 1)

1.3 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY VỀ QUẢN TRỊ RRTK [5]

Ngày 19 tháng 4 năm 2005 thống đốc NHNN đã ban hành QĐ457 Trong đó đặc biệt chú ý là về khoản mục tỷ lệ khả năng chi trả phù hợp với yều cầu quản trị

RRTK

Trang 26

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 tập trung nghiên cứu, phân tích và đưa ra cở sở lý luận về vấn đề rủi

ro trong NHTM nói chung và về vấn đề quản trị RRTK trong NHTM Nội dụng trình bày từ các khái niệm, phân loại, các bước quản trị rủi ro nói chung đến các dấu hiệu nhận biết RRTK, phương pháp quản trị RRTK và các văn bản pháp qui về quản trị RRTK tại Việt Nam Đây là cơ sở tiền đề cho nghiên cứu chương 2 về thực trạng quản trị RRTK tại các NHTM Việt Nam nói chung và quản trị RRTK tại ngân hàng Agribank Đồng Nai nói riêng Từ đó đưa ra được những giải pháp góp phân nâng cao hiệu quả quản trị RRTK tại ngân hàng Agribank Đồng Nai trong chương 3

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK (CHI NHÁNH ĐỒNG NAI)

2.1 TỔNG QUAN VỀ NH AGRIBANK CHI NHÁNH ĐỒNG NAI

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp là tên gọi ban đầu khi thành lập theo Nghị định 53/ HĐBT ngày 26/3/1988 Ngày 1/7/1988, Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Đồng Nai chính thức được thành lập trên cơ sở nhận bàn giao từ NHNN tỉnh Đồng Nai

Từ tháng 12/1990 đến tháng 10/1996 chi nhánh Ngân hàng Phát triển Nông

nghiệp Đồng Nai đổi tên thành chi nhánh Ngân hàng Nông nhiệp tỉnh Đồng Nai trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam Sau đó, theo văn bản 972/TCCB-NHNo ngày 16/8/1994 của Ngân hàng Nông nghiệp Việt nam về việc thực hiện mô hình đổi mới hệ thống quản lý Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Đồng Nai là Chi nhánh kinh doanh đa năng loại II theo văn bản 927/TCCB-NHNo ngày 16/8/1994 của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam về việc thực hiện mô hình đổi mới hệ thống quản lý

Từ tháng 10/1996 đến nay chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp tỉnh Đồng Nai được thành lập lại dưới tên gọi là Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai theo quyết định 280/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN Việt Nam, trở thành Chi nhánh cấp I theo mô hình Tổng công ty 90 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Tên giao dịch tiếng Anh là Vietnambank for Agriculture and Rural Development branch Dongnai Province

Hiện nay, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Đồng Nai

là một trong những ngân hàng lớn nhất của tỉnh Với nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay lớn, lên đến hàng nghìn tỷ đồng, ngân hàng có các chi nhánh cấp II và III và phòng giao dịch khắp các xã, huyện trên địa bàn tỉnh

Trang 28

Bảng 2.1: Số liệu về tiền gửi khách hàng và dư nợ của Agribank chi nhánh Đồng Nai cuối năm 2008, 2009

(nguồn: bảng cân đối kế toán chi tiết của Agribank chi nhánh Đồng Nai) [7]

Biểu đồ 2.1: Tiền gửi khách hàng và dư nợ của Agribank chi nhánh Đồng Nai cuối năm 2008, 2009

DƯ NỢ

(nguồn: bảng cân đối kế toán chi tiết của Agribank chi nhánh Đồng Nai) [7]

Qua biểu đồ trên ta có thể thấy Agribank Đồng Nai là một ngân hàng có mức huy động vốn và cho vay lớn, tuy nhiên trong năm 2009 do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên đã làm cho tiền gửi khách hàng giảm hơn 345 tỷ, chỉ đạt 87,66% so với năm 2008 Tuy vậy thì dư nợ năm 2009 vẫn tăng 159 tỷ đạt 107,29% so với năm 2008, cho thấy khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn không có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng của ngân hàng

2.1.2 Phát triển mạng lưới hoạt động

Giai đoạn từ tháng 7/1988 đến 1996: Khi nhận bàn giao từ NHNN tỉnh Đồng

Nai, mạng lưới hoạt động an đầu của chi nhánh Agribank Đồng Nai bao gồm một Hội

Trang 29

sở tại thành phố Biên Hòa và 8 ngân hàng huyện là: Vĩnh An, Thống Nhất, Xuân Lộc, Tân Phú, Long Thành, Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc cùng với 7 phòng giao dịch trực thuộc các ngân hàng huyện Lúc bấy giờ, các ngân hàng huyện chủ yếu là bàn giao nguyên canh nguyên cư

Từ năm 1992, Chi nhánh đã mở rộng dần các ngân hàng liên xã nhằm phát triển hoạt động cho vay hộ sản xuất và huy động vốn trong nông thôn Mỗi ngân hàng phụ trách từ 3 đến 5 xã liền kề, làm rút ngắn khoảng cách giữa ngân hàng và khách hàng, đặc biệt là ở các xã vùng sâu vùng xa, vùng miền núi để tạo thuận lợi và an toàn cho khách hàng giao dịch tiền vay, tiền gửi với ngân hàng Sau nhiều lần chia tách tỉnh và huyện, đến cuối năm 1996, chi nhánh đã có một mạng lưới giao dịch rộng khắp toàn tỉnh gồm 1 Hội sở tỉnh, & Ngân hàng huyện (Vĩnh Cửu, Thống Nhất - hiện nay là Trảng Bom, Long Khánh, Định Quán, Tân Phú, Long Thành, Xuân Lộc) và 23 ngân hàng liên xã

Riêng tại Hội sở tỉnh, trụ sở hoạt động được Trung ương cấp kinh phí xây dựng, hoàn thành vào thánh 8/1995 và chính thức đưa vào sử dụng từ tháng 9/1995

Giai đoạn từ năm 1997 – 6/2008: Trong giai đoạn này, mạng lưới hoạt động

của Agribank Đồng Nai tiếp tục được mở rộng và kiện toàn Trên cơ sở khảo sát đặc điểm, tiềm năng kinh tế của địa bàn, đạc biệt là tại khu vực có các khu công nghiệp, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đồng Nai tổ chức thành lập mới thêm

3 chi nhánh cấp II loại 4: Ngân hàng huyện Nhơn Trạch, Thống Nhất, Cẩm Mỹ; 3 chi nhánh cấp III; 2 chi nhánh cấp II loại 5: Chi nhánh Tân Hiệp, Tam Phước và 1 phòng giao dịch Tân Hòa Do có chủ trương chia tách huyện, nâng cấp thị xã Long Khánh và Chi nhánh Ngân hàng Khu Công Nghiệp Biên Hòa được chuyển thành chi nhánh cấp

I, mạng lưới hoạt động của Agribank Đồng Nai đến cuối năm 2007 gồm:

1 Hội sở tỉnh

10 chi nhánh cấp II

03 chi nhánh cấp II loại 5 và 1 phòng giao dịch trực thuộc Hội sở tỉnh

22 chi nhánh cấp III và 1 quỹ tiết kiệm

Agribank Đồng Nai đã xây dựng hoàn thành trụ sở làm việc Ngân hàng các huyện Long Khánh, Định Quán, Tân Phú, Xuân Lộc, Nhơn Trạch, Long Thành

Trang 30

Các chi nhánh cấp III trên địa bàn cũng được xây dựng mới trụ sở làm việc và

đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo vẻ khang trang, bề thế cho cơ sở giao dịch, tăng uy tín của ngân hàng để dễ dàng thu hút thêm khách hàng đến giao dịch

Như vậy, sau 21 năm gầy dựng, Agribank Đồng Nai hiện đã có một mạng lưới hoạt động hoàn thiện, phủ khắp các địa bàn trên toàn tỉnh với cơ sở vật chất hiện đại Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp ngân hàng đến gần với khách hàng khắp nơi trong tỉnh và thật sự trở thành người bạn đồng hành của các doanh nghiệp cũng như bà con nông dân Đồng Nai

(chi tiết xin xem phụ lục 2)

Trang 31

2.2 QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM NĂM 2007-2008

Trước khi đi vào phân tích tình hình quản trị RRTK tại Agribank chi nhánh Đồng Nai, ta sẽ nhìn lại tình hình thanh khoản của các NHTM Việt Nam trong hai năm

2007, 2008 Trong thời gian này cùng với chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, các NHTM Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đây là khoản thời gian mà hầu hết các NHTM đều gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản Ngoài việc phân tích tình hình thanh khoản của các NHTM Việt Nam, việc nghiên cứu tình hình quản trị RRTK tại một số NHTM Việt Nam cũng là cơ sở để so sánh, phân tích tình hình quản trị RRTK tại hệ thống ngân hàng Agribank nói chung từ đó đi sâu nghiên cứu về quản trị RRTK tại ngân hàng Agribank chi nhánh Đồng Nai

2.2.1 Tình hình thanh khoản tại các NHTM Việt Nam trong năm 2007-2008

Để phân tích tình hình thanh khoản tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2007-2008, nguồn dữ liệu phân tích được thu thập từ báo cáo tài chính của 32 NHTM Việt Nam trong hai năm 2007 và 2008, báo cáo nghiên cứu đã chọn phương pháp đánh giá thông qua các chỉ tiêu thanh khoản như sau:

• Tỷ lệ vốn tự có trên nguồn vốn huy động (H1)

• Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có (H2)

• Chỉ tiêu trạng thái tiền mặt (H3)

• Chỉ tiêu năng lực sử dụng vốn sinh lời (hay chỉ tiêu năng lực cho vay) (H4)

• Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản (H5)

Trang 32

2.2.1.1, Tỷ lệ vốn tự có trên nguồn vốn huy động (H1)

Bảng 2.2: Chỉ số H1 của 32 NHTM Việt Nam

Trang 33

Thống kê các NHTM Việt Nam năm 2007, chỉ số H1 trung bình đạt 17% và năm 2008 là 21% tăng 3% so với năm 2007 Việc chỉ số H1 tăng lên là do tại một số NHTM trong năm 2008 có bổ sung và tăng vốn điều lệ Bên cạnh đó thì khủng hoảng kinh tế thế giới cuối năm 2008 cũng đã tác động đến nguồn vốn huy động của một số ngân hàng, từ đó làm cho chỉ số H1 bình quân của các ngân hàng tăng lên

Biểu đồ 2.2: Đồ thị điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu của NHNN năm 2008 [10]

Bên cạnh đó, năm 2008 NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản khá nhiều lần, lãi suất trên thị trường được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản nên cũng đã có sự thay đổi khá nhiều, điều này cũng làm cho việc huy động vốn của các NHTM Việt Nam gặp khó khăn trong việc điều chỉnh lãi suất sao cho vẫn đảm bảo nguồn vốn huy động, mà vẫn đảm bảo chi phí lãi phải trả hợp lý

Qua bảng số liệu có thể thấy một số NHTM nhà nước như Agribank, BIDV, MHB có chỉ số H1 của cả hai năm 2007 và 2008 đều thấp hơn 6%, chỉ số H1 năm

2008 giảm so với năm 2007 Điều này cho thấy các NHTM nhà nước tại Việt Nam có quy mô hoạt động và thị trường lớn, hiệu quả huy động vốn ngày càng cao, tuy nhiên nguồn vốn tự có của ngân hàng vẫn chưa tương xứng với quy mô hoạt động, chưa thể đảm bảo an toàn thanh khoản cho ngân hàng Vì khi ngân hàng gặp khó khăn trong tài chính hay có nguy cơ phá sản thì vốn tự có là một nguồn hỗ trợ khá lớn nhằm giải

Trang 34

quyết các khoản phải trả Vì vậy việc tăng nguốn vốn tại các NHTM nhà nước là việc đáng quan tâm, hay nói cách khác việc cổ phần hóa các NHTM nhà nước là một vấn

đề cấp thiết hiện nay nhằm tạo điều kiện tăng nguồn vốn tự có cho ngân hàng

Dựa vào bảng thống kê trên ta có thể thấy hai xu hướng, một là các ngân hàng

có chỉ số H1 cao và có xu hướng tăng, hai là các ngân hàng có chỉ số H1 thấp và có xu hướng giảm Điều này chưa thể nói lên được độ an toàn về vốn của các ngân hàng hay hiệu quả hoạt động mà còn phải xét đến các yếu tố khác, một số ngân hàng do gặp khó khăn trên thị trường huy động vốn cũng có thể có chỉ số H1 cao

Trang 35

(nguồn: báo cáo tài chính của các ngân hàng và xử lý số liệu của tác giả) [14]

Thống kê các NHTM Việt Nam năm 2007, 2008 có chỉ số H2 trung bình đạt 13% vào năm 2007 và 15% vào năm 2008, tăng 2% Chỉ số H2 cho thấy vốn tự có của các NHTM Việt Nam nhìn chung chỉ bằng khoản chưa đến 20% tài sản có, hay nói các khác thì nợ phải trả chiếm hơn 80% trên tổng nguồn vốn và do đó các NHTM Việt Nam rất dễ bị RRTK khi không đáp ứng được các khoản phải trả

Tuy nhiên, các NHTM nhà nước như Agribank, BIDV, MHB có tỷ lệ H2 khá thấp, dưới mức 5%, chỉ số H2 năm 2008 giảm so với năm 2007 Các ngân hàng này sẽ rất dễ bị phá sản khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, do tài sản chủ yếu dựa vào nợ phải trả, còn vốn tự có chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Tốc độ tăng của nợ phải trả cao hơn so với tốc độ tăng của vốn tự có, sẽ làm cho chỉ số H2 ngày càng giảm Khi có các yếu tố tác động làm cho ngân hàng mất khả năng thanh khoản, thì các ngân hàng này sẽ không có khả năng vay thêm (do nợ phải trả đã quá cao), đồng thời không có khả năng chỉ trả cho các khoản phải trả đến hạn, từ đó dẫn đến việc ngân hàng phải phá sản Do đó, chỉ số H2 lại một lần nữa khẳng định là việc tăng vốn tự có của các NHTM nhà nước là một vấn đề cấp thiết hiện nay

Trang 36

2.2.1.3, Chỉ tiêu trạng thái tiền mặt (H3)

Bảng 2.4: Chỉ số H3 của 32 NHTM Việt Nam

Trang 37

Qua bảng số liệu trên chỉ số H3 trung bình của các NHTM khá cao (25% năm

2007 và 23% năm 2008), một số ngân hàng đạt trên 40% như Nam Việt, Quân Đội, SHB cho thấy các NHTM Việt Nam có lượng tiền tồn trữ khá cao, nên có tính thanh khoản cao Tuy nhiên, việc tiền mặt và tiền gửi tại các TCTD (đa phần là tiền gửi thanh toán) có thể làm giảm khả năng sinh lợi của ngân hàng, vì tiền mặt và tiền gửi tại các TCTD khác có tỷ suất sinh lợi thấp hơn so với việc đầu tư vào các lĩnh vực khác có mức độ rủi ro cao hơn Do đó các NHTM Việt Nam cần phải xem xét lại việc cân đối tỷ lệ tiền mặt và tiền gửi tại các TCTD làm sao để vừa tránh được RRTK nhưng lại có thể mang lại khả năng sinh lợi cao cho ngân hàng

Bên cạnh đó, ngân hàng lớn như Agribank lại có chỉ số H3 khá thấp, chưa đến 6% Ngân hàng này sẽ khó có khả năng xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời so với các NHTM khác, từ đó nguy cơ mất khả năng thanh khoản của ngân hàng này cũng sẽ cao hơn

2.2.1.4, Chỉ tiêu năng lực sử dụng vốn sinh lời (hay chỉ tiêu năng lực cho vay) (H 4 )

Bảng 2.5: Chỉ số H4 của 32 NHTM Việt Nam

Trang 38

(nguồn: báo cáo tài chính của các ngân hàng và xử lý số liệu của tác giả) [14]

Qua bảng số liệu trên, ta thấy chỉ tiêu H4 của các NHTM Việt Nam khá cao, năm 2007 là 53% và năm 2008 là 54%, điều này cho thấy các NHTM Việt Nam có mức dư nợ tín dụng chiếm tỷ trong lớn trong tổng tài sản có Mà tín dụng được xem là tài sản ít thanh khoản nhất, do đó các NHTM Việt Nam có tính thanh khoản kém Trong đó, Agribank là ngân hàng có chỉ tiêu H4 khá lớn, dư nợ chiếm trên 70% tổng tài sản, cho thấy Agribank kém về thanh khoản

Nhìn chung thì tín dụng vẫn là hoạt động chính của các NHTM Việt Nam nên

tỷ lệ H4 cao là điều tất yếu, vì vậy các NHTM Việt Nam nên mở rộng, đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh, mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực khác nhằm làm giảm tỷ lệ dư

nợ trên tổng tài sản, từ đó tạo tính thanh khoản cho ngân hàng

Trang 39

2.2.1.5, Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản (H 5 )

Bảng 2.6: Chỉ số H5 của 32 NHTM Việt Nam

Trang 40

Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản trung bình của các NHTM Việt Nam đạt 7% vào năm 2007 và 8% vào năm 2008, chỉ tiêu H5 tương tự như tỷ lệ Marketable Securities / Assets trong thống kê 120 ngân hàng tại Mỹ từ năm 1991 đến năm 2005 là 23% [8]. Cho thấy tỷ lệ chứng khoán thanh khoản trong tổng tài sản của các NHTM Việt nam là rất thấp Chứng khoán thanh khoản là các loại chứng khoán có thể dễ dàng chuyển đổi thanh tiền mặt trong thời gian ngắn, và vì tỷ lệ chứng khoán thanh khoản ít nên các NHTM Việt Nam sẽ có tính thanh khoản kém Bên cạnh đó, một số NHTMCP như ngân hàng TMCP Miền Tây, Techcombank, Saigonbank, Hàng Hải có chỉ số H5

là 0, nghĩa là các ngân hàng này không hề nắm giữ các chứng khoán thanh khoản Khi

có rủi ro xảy ra các ngân hàng này có thể mất khả năng thanh toán do không có nguồn cung thanh toán từ chúng khoán thanh khoản

Vì vậy, việc đầu tư vào các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao cũng sẽ

là một biện pháp tốt để cải thiện tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam

Các NHTM nhà nước có chỉ số H5 tương đối cao hơn so với mức trung bình, và

đa phần các chứng khoán thanh khoản mà các NHTM nhà nước nắm giữ là chứng khoán chính phủ, do đó sẽ có mức sinh lợi thấp hơn các chứng khoán được giao dịch trên thị trường Do đó các NHTM nhà nước nên cân đối các khoản đầu tư vào chứng khoán sao cho tỷ suất sinh lời của các chứng khoán thanh khoản trở nên cao hơn, chấp nhận rủi ro và có biện pháp phòng ngừa rủi ro cụ thể Biến chứng khoán thanh khoản không chỉ là nguồn cung thanh khoản mà còn là những khoản đầu tư sinh lợi cho ngân hàng

Kết luận:

Qua việc phân tích các chỉ tiêu thanh khoản của 32 NHTM Việt Nam đã phản ánh được tình hình thanh khoản của các NHTM Việt Nam còn khá kém, đặc biệt là các NHTM nhà nước tuy có vốn lớn, quy mô thị trường lớn nhưng lại có các chỉ số thanh khoản rất thấp so với các NHTM khác Điều này có thể nói lên rằng do thói quen phụ thuộc vào sự điều tiết của NHNN thông qua các chính sách tiền tệ mà các NHTM nhà nước không chú trọng vấn đề về quản trị RRTK Do đó nguy cơ về thiếu hụt thanh khoản tại các ngân hàng này là rất cao

Ngày đăng: 10/12/2013, 18:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng [5] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Sơ đồ 1.1 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng [5] (Trang 6)
Sơ đồ 1.2: Các bước quản trị  rủi ro trong kinh doanh ngân hàng [1] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Sơ đồ 1.2 Các bước quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng [1] (Trang 8)
Bảng 1.1: Các yếu tố của cung cầu thanh khoản  [3] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Bảng 1.1 Các yếu tố của cung cầu thanh khoản [3] (Trang 12)
Sơ đồ 1.3: Các nguyên nhân chính của RRTK  [5] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Sơ đồ 1.3 Các nguyên nhân chính của RRTK [5] (Trang 13)
Sơ đồ 1.4: Các dấu hiệu thị trường nhận biết RRTK  [5] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Sơ đồ 1.4 Các dấu hiệu thị trường nhận biết RRTK [5] (Trang 16)
Sơ đồ 1.5: Các phương pháp dự báo RRTK  [3] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Sơ đồ 1.5 Các phương pháp dự báo RRTK [3] (Trang 18)
Sơ đồ 1.6: Các biện pháp quản trị RRTK [5] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Sơ đồ 1.6 Các biện pháp quản trị RRTK [5] (Trang 24)
Bảng 2.1: Số liệu về tiền gửi khách hàng và dư  nợ  của Agribank chi nhánh  Đồng Nai cuối năm 2008, 2009 - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Bảng 2.1 Số liệu về tiền gửi khách hàng và dư nợ của Agribank chi nhánh Đồng Nai cuối năm 2008, 2009 (Trang 28)
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của Agribank Đồng Nai - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của Agribank Đồng Nai (Trang 30)
Bảng 2.2: Chỉ số H 1  của 32 NHTM Việt Nam - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Bảng 2.2 Chỉ số H 1 của 32 NHTM Việt Nam (Trang 32)
Biểu  đồ 2.2: Đồ thị điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất  chiết khấu của NHNN năm 2008  [10] - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
i ểu đồ 2.2: Đồ thị điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu của NHNN năm 2008 [10] (Trang 33)
Bảng 2.3: Chỉ số H 2  của 32 NHTM Việt Nam - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Bảng 2.3 Chỉ số H 2 của 32 NHTM Việt Nam (Trang 34)
Bảng 2.7: Mười NHTMViệt Nam có nguồn vốn lớn nhất - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Bảng 2.7 Mười NHTMViệt Nam có nguồn vốn lớn nhất (Trang 41)
Bảng 2.8: Bảng đo lường chỉ tiêu thanh khoản của VPBank - Đề tài NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ rủi RO THANH KHOẢN tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Bảng 2.8 Bảng đo lường chỉ tiêu thanh khoản của VPBank (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w