THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂNNĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH Khái lược về tình hình kinh
Trang 1THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH
Khái lược về tình hình kinh tế, xã hội, giáo dục của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Đặc điểm địa lý của huyện Thanh Oai, thành phố
Hà Nội
Huyện Thanh Oai phía Bắc và phía Tây Bắc giáp huyện Chương Mỹ (với Sông Đáy là ranh giới tự nhiên), phía Tây Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Đông Nam giáp huyện Phú Xuyên và huyện Thường Tín và phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Trì của thủ đô Hà Nội Diện tích tự nhiên của huyện là 129,6 km² Dân số là 175.800 người (theo thống kê năm 2012) Dự kiến dân số năm 2020 sẽ là 215.000 do trên địa bàn huyện đang xây dựng nhiều Khu
Đô thị lớn như Thanh Hà A, Thanh Hà B, Mỹ Hưng
Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Thanh Oai là một vùng quê với rất nhiều làng nghề như nón lá làng Chuông, tương, miến Cự Đà, giò chả Ước
Trang 2lễ, gạo Bồ nâu Thanh Văn, quạt nan, mây tre, giang đan làng Vác, xã Cao Viên, làng Bình Đà xã Bình Minh trước đây rất nổi tiếng với nghề làm pháo, nghề kim khí ở làng Rùa xã Thanh Thùy, nghề mỹ nghệ ở làng Dư Dụ xã Thanh Thùy Gần chục năm trở lại, các khu công nghiệp mở ra thu hút nhiều lao động địa phương Do vị trí chỉ cách trung tâm
Hà Nội không xa nên Thanh Oai sẽ tiếp tục phát triển Hiện nay thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng nhiều dự án trên địa bàn huyện: Trục đường phát triển phía nam với các khu đô thị như Mỹ Hưng, Thanh Hà A, Thanh Hà B; dự án đường vành đai 4, cụm công nghiệp Cao Viên, Bình Đà, Thanh Thùy
Thanh Oai có nét đặc trưng của nền văn hóa đồng bằng Bắc Bộ với rất nhiều đình chùa cổ kính và những làng nghề lâu đời, đặc sắc nhất là làng làm nón lá ở Phương Trung (Làng Chuông), điêu khắc ở Võ Lăng (Dân Hoà), Dư
Dụ (Thanh Thuỳ) cùng với nghề làm pháo tại Cao Viên, Thanh Cao và Bình Đà Ngoài ra rải rác khắp huyện là nghề mây tre đan Làng Chuông đã được công nhận là làng điển hình của văn hóa đồng bằng Bắc Bộ Những đình chùa nổi tiếng là chùa Bối Khê, đình Nội Bình Đà v.v Tôn giáo chủ yếu là đạo Phật và Thiên chúa giáo Hầu như mỗi làng đều
Trang 3có đình, chùa cổ kính Trung tâm của Thiên chúa giáo trong vùng là nhà thờ Thạch Bích tại xã Bích Hòa và nhà thờ Từ Châu tại xã Liên Châu
Về giao thông, Quốc lộ 21B là huyết mạch giao thông của huyện, từ Hà Đông đi chùa Hương và sang Hà Nam, qua thị trấn Kim Bài Quốc lộ 6 qua rìa phía Tây Bắc huyện, dự án đường trục phía nam Hà Nội đi xuyên qua huyện, ngoài ra còn có tỉnh lộ 427 Phía Đông Bắc có tuyến đường sắt vành đai phía Tây Hà Nội chạy qua, để tới ga Văn Điển.
Thanh Oai cũng là vùng đất địa linh nhân kiệt, với nhiều danh nhân như Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực, Đệ nhất giáp Tam nguyên Vũ Phạm Hàm, Tiến sĩ Hà Tông Quyền, Giáo sư - Nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận, Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam Nguyễn Đăng Tiến v.v…
Tình hình giáo dục của huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Trong những năm qua, Ngành GD&ĐT huyện Thanh Oai đã nỗ lực không ngừng để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của thủ đô, đã đóng góp những thành tích không nhỏ để
Trang 4dệt lên những thành tích của Thủ đô Hà Nội trong lĩnh vực GD&ĐT
Cụ thể là: Quy mô giáo dục và mạng lưới trường lớp được giữ vững với 69 cơ sở giáo dục 21 xã, thị trấn đều đạt phổ cập cho trẻ Mầm non 5 tuổi, giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS và chống mù chữ Đầu tư cho giáo dục được quan tâm, CSVC, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy
và học được tăng cường theo hướng đồng bộ, chuẩn hoá và từng bước hiện đại Có 33 trường đã đạt Chuẩn Quốc gia, đạt 47,83% Công tác tuyên truyền giáo dục được đẩy mạnh, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật cho cán bộ giáo viên, công nhân viên được coi trọng, nhiều giáo viên tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững, chất lượng giáo dục mũi nhọn có nhiều tiến bộ, số lượng học sinh giỏi ngày càng tăng Công tác bồi dưỡng và thi học sinh giỏi các cấp có tiến bộ rõ rệt so với các năm học trước.
Ngành GD&ĐT Thanh Oai có ba cấp học, mỗi cấp học lại có đặc điểm và thành tích riêng Ở bậc giáo dục Mầm non có 24 trường công lập, 02 trường ngoài công lập,
có 404 nhóm lớp trong đó nhà trẻ 73 nhóm, mẫu giáo 331
Trang 5nhóm 100% nhóm lớp thực hiện chương trình giáo dục Mầm non mới, 100% các lớp 5 tuổi sử dụng Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Mỗi nhà trường đều cố gắng tận dụng diện tích để xây dựng khu vui chơi phát triển vận động với nhiều loại đồ chơi sẵn có và tự tạo, tăng cường nội dung phát triển vận động hàng ngày giúp trẻ nâng cao thể lực, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về chăm sóc giáo dục trẻ cho chủ nhóm lớp.
Bậc giáo dục Tiểu học có 24 trường công lập, 02 trường ngoài công lập, 100% các trường thực hiện nghiêm túc các văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về đổi mới đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 22/2016/TT- BGDĐT sửa đổi Quy định đánh giá học sinh Tiểu học kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày đạt 94% Thực hiện dạy tiếng Anh Tiểu học theo Đề án Victoria ở 24 trường
Bậc giáo dục THCS có 21 trường, 02 trường ngoài công lập, tất cả các trường THCS đều thực hiện nghiêm túc
kế hoạch ôn tập, kiểm tra cuối học kì, cuối năm học cho học sinh Riêng hai môn học Ngữ văn và Toán, học sinh ở các khối lớp cấp THCS trong toàn huyện được kiểm tra học kì chung một đề, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi
Trang 6mới kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng vào 10 THPT của huyện Thanh Oai.
Thực trạng dạy học môn Ngữ Văn ở các trường trung học cơ sở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Thực trạng về chủ thể dạy học môn Ngữ văn
* Về đội ngũ CBQL các trường THCS huyện Thanh Oai Hà Nội
Hiện nay đội ngũ CBQL (ban giám hiệu) các trường THCS đều đảm bảo về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng
100 % CBQL là đảng viên và đạt trình độ Đại học trở lên Đây là lực lượng tương đối ổn định, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong công tác quản lý 100% có trình độ lý luận chính trị sơ cấp, 100% có trình độ lý luận trung cấp Tuổi đời của CBQL nhìn chung là trẻ, hơn phần nửa có tuổi đời dưới 40 tuổi Điều này được xem như là một ưu điểm cho công tác quản lý, vì đội ngũ này sẽ gắn bó với nhà trường lâu dài, ổn định và hứa hẹn có nhiều sự đổi mới trong cách quản lý và điều hành đơn vị để đem lại hiệu quả giáo dục.
Trong cơ cấu đội ngũ CBQL của các trường THCS triển khai nghiên cứu đề tài, tỉ lệ CBQL nữ là 32/61 đạt 52,5% Điều này tạo điều kiện thuận lợi đến hiệu quả quản
Trang 7lý đối với bộ phận cán bộ, GV, nhân viên nữ trong các đơn
vị Nhất là GV Ngữ văn có cơ cấu lớn trong các nhà trường.
Tuy nhiên, một số đồng chí trong ban giám hiệu của các nhà trường mới được bổ nhiệm nên kinh nghiệm quản
lý còn hạn chế Vấn đề bồi dưỡng năng lực quản lý thông qua việc trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quản lý giữa các trường THCS trong quận, trong tỉnh cũng chưa được quan tâm đúng mức Một số CBQL chậm đổi mới về tư duy, thiếu sáng tạo, nhạy bén, làm việc dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, ít hoặc chưa được qua đào tạo về kỹ năng và nghiệp vụ quản lí; chưa coi trọng công tác giáo dục chính trị
tư tưởng; nội dung, chất lượng hội họp, sinh hoạt còn thấp, việc thực hiện quy chế dân chủ có nơi, có lúc còn hình thức, chiếu lệ.
* Về đội ngũ GV dạy Văn
Thực trạng dạy học văn ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Oai, Hà Nội trong những năm qua có nhiều chuyển biến và đạt được kết quả nhất định, tuy nhiên
để đáp ứng được nhu cầu phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt để đáp ứng được đề án đổi mới nội dung chương trình dạy học Ngữ văn ở các trường phổ thông sau 2015 thì ĐNGV Ngữ văn cần phải
Trang 8tích cực đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục các nhà trường nói chung và chất lượng dạy học nói riêng.
Đội ngũ GV văn các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Oai, Hà Nội có những điểm mạnh và những hạn chế sau:
- Điểm mạnh
+ Nhìn chung ĐNGV văn có phẩm chất tốt, lập trường
tư tưởng vững vàng, nhiệt tình yêu nghề, đoàn kết, có ý thức phấn đấu vươn lên trong công tác giảng dạy cũng như trong các hoạt động khác
+ Có nhiều GV văn là đảng viên, cơ cấu về GV văn chủ yếu là nữ.100% GV đạt chuẩn trình độ đào tạo (trình độ cao đẳng); tỷ lệ GV trên chuẩn đạt 70% Nhiều GV có kiến thức vững chắc, phương pháp giảng dạy tốt; tích cực học tập, bồi dưỡng thường xuyên, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích cực đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo các hoạt động nhận thức của HS Có những sáng kiến kinh nghiệm có giá trị trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường Một số GV văn đạt GV dạy
Trang 9giỏi cấp tỉnh, số GV văn giỏi cấp cơ sở chiếm tỷ lệ cao và được nâng lên hàng năm.
+ ĐNGV dạy văn ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Oai, Hà Nội có tuổi đời và tuổi nghề trung bình đều còn trẻ Kết quả điều tra qua tổng hợp từ các phiếu trưng cầu ý kiến cho thấy cả 3 trường đều có tuổi đời trung bình dưới 40 tuổi, tuổi nghề trung bình dưới 15 năm Tuổi đời và tuổi nghề trẻ nên có ưu điểm là hăng hái, nhiệt tình trong công tác Mặt khác lực lượng GV trẻ hầu hết đều được trang bị vốn kiến thức và kỹ năng về công nghệ thông tin, về ngoại ngữ và cập nhật được tri thức mới mẻ, hiện đại
từ các trường đại học
- Hạn chế
+ Tuổi đời và tuổi nghề trung bình còn trẻ nên kinh nghiệm trong giảng dạy còn hạn chế, việc tìm ra những GV cốt cán để bố trí làm TTCM và các kiêm nhiệm khác gặp nhiều khó khăn.
+ Bên cạnh một số GV văn có tâm huyết, nhiệt tình, tận tuỵ với nghề, gương mẫu trong công tác, còn một bộ phận không nhỏ chưa thực sự tâm huyết với nghề, ngại đổi mới PPDH, không chịu khó tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, ngại đọc tài liệu tham khảo, sách, tạp chí nên chất lượng
Trang 10dạy học chưa cao.
+ Đa số GV dạy học môn Ngữ văn trẻ ham học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để bồi dưỡng nâng cao trình độ Bên cạnh đó còn một số GV trẻ chưa thực sự chịu khó học hỏi, trau dồi tri thức.
+ Những mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động, làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục; có nơi, có lúc vẫn
có những biểu hiện về thương mại hoá trong giáo dục Việc đánh giá kết quả học tập, rèn luyện môn văn của HS vẫn còn biểu hiện chạy theo thành tích.
+ Đời sống của một phận không ít GV văn còn gặp nhiều khó khăn về vật chất cũng như tinh thần nên chưa thật
sự yên tâm công tác.
* Về thực hiện nội dung, chương trình dạy học môn Ngữ Văn
Kết quả bảng cho thấy mức độ thực hiện nội dung, chương trình dạy học Ngữ Văn của giáo viên, trung bình có 43,9% số học sinh được hỏi và 45% giáo viên, cán bộ quản
lý được hỏi cho rằng mức độ thực hiện nội dung, chương trình dạy học Ngữ Văn của giáo viên ở mức thường xuyên; mức độ thỉnh thoảng chiếm tỷ lệ cao hơn (trung bình của học sinh là 49,04%, của CBQL, GV là 46 %) Những nội
Trang 11dung mà CBQL, GV và học sinh đánh giá thường xuyên hơn cả là phân hóa nội dung phù hợp với các đối tượng học sinh (46 % học sinh và 57% CBQL, GV); tuy nhiên có 15% học sinh đánh giá việc cập nhập thông tin mới về nội dung dạy học Ngữ Văn còn ít được tiến hành Có 14% CBQL,
GV đánh giá việc đảm bảo nội dung tri thức, kỹ năng trọng tâm, cơ bản của bài học còn chưa được tiến hành thường xuyên
Trao đổi với một số giáo viên về những khó khăn trong việc thực hiện nội dung, chương trình dạy học Ngữ Văn của giáo viên ở THCS, được biết so chương cũ, nội dung chương trình Ngữ Văn thuộc chương trình giáo dục phổ thông mới vừa được ban hành đã bám sát mục tiêu giáo dục bậc học, chú ý tới giáo dục toàn diện con người, trong
đó có chú trọng phát triển năng lực học sinh; đồng thời đảm bảo được tính chính xác, khoa học, hiện đại, cập nhật và tiếp cận được trình độ giáo dục ở các nước phát triển trong khu vực Tuy nhiên, môn Ngữ Văn hiện nay còn nặng và khó, sách giáo khoa chưa được viết theo hướng tích hợp, giáo viên chưa được tập huấn dạy học tích hợp, thời lượng cho một tiết dạy đóng khung trong 45 phút nên đôi lúc vì
Trang 12phải chạy theo chương trình nên bài giảng nặng nề, thiên về nhồi nhét kiến thức.
* Về phương pháp dạy học Ngữ Văn của giáo viên
Đánh giá của CBQL, GV về phương pháp dạy học Ngữ Văn của
giáo viên
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
5353,00%
1111,00%
Nhìn vào bảng cho thấy, trong các phương pháp dạy học NgữVăn chủ yếu được sử dụng ở trên thì phương pháp thuyết trình vàphương pháp thảo luận nhóm được đánh giá ở mức độ thườngxuyên nhất với tỷ lệ lần lượt là 46% và 41,33% Phương pháp ítđược giáo viên quan tâm sử dụng là “phương pháp đặt vấn đề, giải
Trang 13quyết vấn đề” (24% CBQL, GV đánh giá); “phương pháp đọc sángtạo” (24% CBQL, GV đánh giá) và phương pháp đóng vai, tìnhhuống (và 21% CBQL, GV đánh giá)
Như vậy, hầu hết các ý kiến đánh giá của CBQL,GV về mức
độ sử dụng phương pháp của giáo viên Ngữ Văn hiện nay chủ yếu
là các phương pháp như: phương pháp thuyết trình, phương phápthảo luận nhóm và phương pháp đàm thoại Còn phương pháp đặtvấn đề và giải quyết vấn đề; phương pháp tình huống thì hiếm khi
sử dụng Từ những ý kiến đánh giá trên của cán bộ quản lý, giáoviên và học sinh cho thấy giáo viên ở các trường THCS cần phải có
sự đổi mới về PPDH Ngữ Văn cho phù hợp yêu cầu chương trìnhgiáo dục phổ thông mới trong thời gian tới
Tọa đàm trao đổi với học sinh, chúng tôi được biết, học sinhrất thích giáo viên sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trongdạy học Ngữ Văn, vì với phương pháp này học sinh có quyền bày
tỏ cảm xúc, tình cảm của mình về vấn đề mà giáo viên đưa ra đểthảo luận Ngoài các phương pháp phổ biến được sử dụng ở trên,thì giáo viên còn sử dụng phương pháp đọc sáng tạo, phươngpháp xây dựng chủ đề, dự án trong dạy học Do đây là phươngpháp mới đòi hỏi người dạy phải có trình độ tin học, có sự liênkết giữa các giáo viên, phải dành nhiều thời gian tìm tòi sáng tạothiết kế giáo án trình chiếu, biết ứng dụng công nghệ thông tintrong dạy học Ngữ Văn phù hợp với đặc trưng bộ môn
* Về hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ Văn
Đánh giá của CBQL, GV về các hình thức dạy học
Trang 14Thường xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
1 Tổ chức dạy học theo cá
nhân
5050,00%
4747,00%
33,00%
2 Tổ chức dạy học theo
nhóm
4343,00%
4040,00%
1717,00
%
3 Tổ chức dạy học theo lớp 53,00%53 36,00%36
1111,00
thành năng lực văn học và phát triển năng lực ngôn ngữ Qua quan
sát trực tiếp, các hình thức tổ chức dạy học Ngữ Văn ở các trườngTHCS huyên Thanh Oai, thành phố Hà Nội hiện nay cũng ngàymột đa dạng Kết hợp học chính khóa với ngoại khóa, học trong lớp,học ngoài lớp, ngoài học cá nhân còn có học nhóm Tuy nhiên, hìnhthức tổ chức tiết học thông qua hoạt động ngoại khóa, tổ chức trảinghiệm bên ngoài lớp học còn hạn chế Việc tổ chức theo mô hìnhcâu lạc bộ, giao lưu, gần như không được thực hiện Nguyên nhân
do nội dung và thời lượng chương trình cũng như kinh phí hạn hẹpnên khó khăn cho việc tổ chức hoạt động ngoại khóa, trải nghiệmhay mô hình câu lạc bộ, Đây là vấn đề đặt ra cho các nhà quản lýtrong dạy học Ngữ Văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới
Trang 15Thực trạng về khách thể dạy học môn Ngữ văn
* Về mục đích học tập môn Ngữ văn của học sinh hiện nay
Đánh giá của học sinh về mục đích học tập môn Ngữ Văn
T
T Mục đích học tập
Đánh giá
Rấtđúng
Đúngmộtphần
Chưađúng
8053,33
%
6543,33%
53,34%2
Khám phá bản thân, thế giới xung
quanh, thấu hiểu con người có đời
sống tâm hồn phong phú
6946,00
%
7147,33%
106,67%
7650,67
%
6241,33%
128,00%
4 Để có phát triển năng lực ngôn ngữ,năng lực văn học
7348,67
%
6845,33%
96,00%
5 Để được cô giáo khen và các bài kiểmtra định kỳ đạt điểm cao
7348,67
%
6140,67%
1610,66%
6 Để phát huy năng khiếu yêu văn thơcủa bản thân
6946,00
%
6946,00%
128,00%
7 Để thực hiện ước mơ sau này giúp íchcho xã hội
7248,00
%
6342,00%
1510,00%
7147,33
%
5838,67%
2114,00%
Kết quả khảo sát bảng cho thấy ở bảng, phần lớn học sinh xácđịnh mục đích học tập môn Ngữ Văn bắt nguồn từ nhu cầu rất thực tếcủa bản thân để có hiểu biết cơ bản về môn Ngữ Văn (53%), để làmvui lòng cha mẹ (50,67%), để Khám phá bản thân, thế giới xung
Trang 16quanh, thấu hiểu con người có đời sống tâm hồn phong phú(48,67%) Trong đó, số học sinh có tỷ lệ lựa chọn học để có pháttriển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học (dưới 50%) Như vậy, cầnnâng cao nhận thức học sinh để các em xác định đúng đắn hơn mụcđích trong học tập Ngữ Văn, cũng như nhận thức đúng về vai trò, ýnghĩa của môn Ngữ văn đối với sự phát triển của học sinh, đặc biệtnâng cao nhận thức cho học sinh về mục tiêu phát triển năng lựcngôn ngữ và năng lực thẩm mĩ (năng lực văn học) qua dạy học mônNgữ Văn
- Thái độ của học sinh trong giờ học môn Ngữ Văn
Đánh giá của học sinh về thái độ trong giờ học môn Ngữ Văn
Tt Thái độ học tập của học sinh SL Mức độ %
độ bình thường đối với môn Ngữ Văn chiếm tỷ lệ lớn hơn cả(36,7%); học sinh tỏ thái độ chán với môn học này là 20%, Trongkhi đó học sinh tỏ thái độ rất hào hứng chỉ là 23,3 % và tỏ thái độhào hứng trong giờ học là 20% Như vậy, thái độ của học sinh tronggiờ học Ngữ Văn nhìn chung ở mức bình thường, sư hào hứng nhiệttình của học sinh trong giờ học phụ thuộc vào nội dung môn học vàphương pháp dạy học của giáo viên Ngữ Văn Thực tế cho thấy,
Trang 17hoạt động tự học của HS chưa đảm bảo được chất lượng của mônVăn trong trường THCS Số học sinh dành thời gian tự học trên 60phút/ngày cho môn Văn chiếm số lượng rất ít: 16,1%, thậm chí,không ít em có thói quen học tùy hứng mà không có kế hoạch, thiếukhoa học chiếm tới 34,8% Để làm rõ thêm điều này, chúng tôi tiếnhành trao đổi, phỏng vấn sâu với một số học sinh vì sao có nhiềuhọc sinh chưa hào hứng, nhiệt tình tham gia vào giờ học môn NgữVăn, nhiều học sinh cho rằng vì giáo viên chỉ sử dụng phương phápthuyết trình đơn điệu, một số khác lại cho rằng vì giáo viên khôngtạo điều kiện cho học sinh tham gia xây dựng bài Trao đổi vớimột số giáo viên Ngữ Văn, hầu hết giáo viên đều đánh giá tốt về sựchuyên cần trong học tập của học sinh Tuy nhiên nhiều học sinh tỏthái độ xem nhẹ, không thích học môn Ngữ Văn Số liệu trên chothấy so với các môn Khoa học Tự nhiên và Ngoại ngữ thì với mônNgữ Văn đa số các em đầu tư thời gian ít hơn và cũng ít hứng thúhơn, phụ huynh cũng ít quan tâm hơn đến hoạt động học tập cũngnhư kết quả của môn học này.
Tìm hiểu nguyên nhân cơ bản của vấn đề này, chúng tôi nhậnthấy, gần đây, do nhu cầu nhân lực của nền kinh tế đã thay đổi, phụhuynh mong muốn con cái thi đỗ vào các trường khối A, A1, khối B
Do vậy, học sinh đổ xô đi học các môn Toán, Lí, Hóa, tiếng Anh…Các môn khoa học xã hội, trong đó có môn Văn trở nên lép vế Đây lànguyên nhân dẫn đến cả phụ huynh và học sinh không mặn mà vớimôn học này ngay ở bậc học THCS, cho dù đó là môn chính, môn thitốt nghiệp Một nguyên nhân không kém phần quan trọng là nộichương trình, sách giáo khoa còn quá tải, thiếu thực tiễn, chưa phù
Trang 18hợp xu thế phát triển của xã hội, cách ra đề kiểm tra đánh giá nặng vềkiến thức, chưa chú trọng đến nội dung giáo dục các giá trị nhân văn.Việc đổi mới đánh giá học sinh theo Thông tư 30 (bỏ chấm điểm kiểmtra thường xuyên), làm giảm động cơ, hứng thú học tập các môn học.
* Về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh
Thống kê hạnh kiểm của học sinh các trường THCS huyện Thanh
Thống kê xếp loại học lực môn Ngữ văn của học sinh các trường
THCS huyện Thanh Oai năm học 2017- 2018
Nền nếp học tập được duy trì khá tốt, các em biết xây dựng kếhoạch học tập môn văn ở nhà, phương pháp tự học đã được hình
Trang 19thành trong một bộ phận HS, tạo ra phong trào tự học, tự rèn Kếtquả là số HS này thường đạt kết quả môn văn khá tốt trong học tậpcũng như trong rèn luyện.
Tuy vậy, kết quả về học tập môn văn của các trường THCStrên địa bàn huyện Thanh Oai, Hà Nội nói chung là còn thấp Bảng
số liệu cho chúng ta thấy tỉ lệ HS giỏi môn văn chỉ đạt 27,58 %; tỉ lệ
HS khá là 46,44% Trong khi đó tỉ lệ HS có học lực trung bình là22,18%; tỉ lệ HS có học lực yếu là 3,72%; tỉ lệ HS có học lực kém
Ít khi
Thườn
g xuyên
Thỉnh thoảng Ít khi
%
21,33
%
5050,00%
4646,00
%
44,00%
5738,00
%
117,33
%
5050,00%
4343,00
%
88,00%
3 Phim
tình
6946,00%
7147,33
106,67
4343,00%
4040,00
1717,00
Trang 20%
53,34
%
4646,00%
4343,00
%
1111,00
6543,33
%
63,99
%
3030,00%
5656,00
%
1414,00
6845,33
%
96,00
%
3333,00%
5353,00
%
1414,00
%
Nhìn vào bảng cho thấy, đánh giá của học sinh và CBQL,GV
là về thực trạng sử dụng phương tiện trong dạy học là khá tươngđồng, trong các các phương tiện chủ yếu được sử dụng ở trên thì cácphương tiện, trang thiết bị dạy học Ngữ Văn được sử dụng thườngxuyên bao gồm: “Máy chiếu, máy tính” (54,67% học sinh và 50%CBQL, GV đánh giá); tiếp đến “Phấn, bảng” (54% học sinh và 50%CBQL, GV đánh giá); “mô hình vật thật” (53,33% học sinh và 46%CBQL, GV đánh giá) Phương tiện ít khi được giáo viên quan tâm
sử dụng là “phim tình huống học tập” (6,67% học sinh và 17%CBQL, GV đánh giá) và “sách, giáo án điện tử”, (6% học sinh và14% CBQL, GV đánh giá) Như vậy, giáo viên Ngữ Văn sử dụng
đa dạng các phương tiện dạy học để phát huy các kênh thu nhận
Trang 21thông tin của người học Trong đó sử dụng máy chiếu, máy tính
và phấn, bảng trong học tập là cao nhất, có thể nói đây là mộtđiều kiện tốt cho đổi mới, vận dụng PPDH tích cực Tuy nhiênviệc đa dạng hóa các loại phương tiện phục vụ cho dạy học NgữVăn còn chưa nhiều Nguyên nhân do thiết bị dạy học còn thiếuthốn, các phòng học chức năng, phòng nghe nhìn cho học sinhchưa được trang bị đầy đủ, trình độ tin học của giáo viên vẫn cònnhiều hạn chế Thời gian để cho giáo viên học tập về kiến thức vềcông nghệ thông tin và kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học hiệnđại không có Các trang thiết bị dạy học mới chỉ đáp ứng yêu cầu
cơ bản nhất của môn học chứ chưa thực sự tạo ra những điều kiệnthuận lợi nhất nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn Điềunày làm hạn chế phần nào hiệu quả bài giảng của GV
Ngoài ra, việc mua sắm các TBDH, tài liệu tham khảo, thiết bịthực hành còn nhiều hạn chế, sách cho thư viện và TBDH được cácnhà trường bổ sung nhưng chưa thật đầy đủ, nghèo nàn về đầu sáchvăn học, chưa đáp ứng nhu cầu dạy học trong nhà trường
Thực trạng về chỉ đạo, điều chỉnh kế hoạch dạy học môn Ngữ văn
Đánh giá của CBQL, GV về chỉ đạo, điều chỉnh kế hoạch dạy học
Bìnhthường
Ítkhi