Chính vì vậy biến KNTT4 đã đổi thành “Mức độ quan hệ với nhà phân phối” và tiến hành kiểm định đều đạt yêu cầu, đồng thời góp giá trị vào thang đo này Kết quả nghiên cứu cho thấy các v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
HÀ MINH THIỆN HẢO
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CÁC TỈNH
ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đồng Nai – năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
HÀ MINH THIỆN HẢO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CÁC TỈNH
ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9340101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 TS TRẦN ĐĂNG KHOA
2 TS NGUYỄN VĂN TÂN
Đồng Nai – năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Tất cả những nội dung kế thừa, tham khảo từ những tài liệu khác được trích dẫn đầy đủ, chính xác và ghi nguồn cụ thể trong mục tài liệu tham khảo
Nghiên cứu sinh
Hà Minh Thiện Hảo
Trang 4TÓM TẮT
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dùng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp định tính và nghiên cứu định lượng nhằm mục tiêu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mức độ ảnh hưởng, vai trò của từng yếu tố cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố này Trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý quản trị giúp các doanh nghiệp có thể vận dụng trong các kế hoạch kinh doanh cùa mình
Nghiên cứu của tác giả đã góp phần tiếp tục khẳng định các thang đo của các nghiên cứu trước; đồng thời, có thảo luận và điều chỉnh thang đo cho phù hợp với điều kiện thị trường nghiên cứu là các tỉnh Đông Nam bộ Cụ thể, đối với thang đo Quản lý nghiên cứu đã điều chỉnh so với thang đo gốc theo hướng nghiên cứu về quản lý và đào tạo con người, chú trọng quản lý về nguồn nhân lực trong một DN
Đối với thang đo Khả năng tiếp thị KNTT4 (Chúng tôi có kỹ năng bán hàng, hoạt động tiếp thị và quảng bá hiệu quả) được điều chỉnh thang đo cho phù hợp
tại khu vực nghiên cứu Do đa phần DN nằm trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đa phần là các DN sản xuất cho nên việc quan trọng hơn để hàng hóa đến tay người tiêu dùng cần chú trọng là các trung gian thương mại, nhà phân phối Từ đó DNVVN không phải lo bán hàng mà sẽ tập trung nhiều nguồn
lực hơn vào khâu sản xuất Chính vì vậy biến KNTT4 đã đổi thành “Mức độ quan hệ với nhà phân phối” và tiến hành kiểm định đều đạt yêu cầu, đồng thời
góp giá trị vào thang đo này
Kết quả nghiên cứu cho thấy các vấn đề về tài chính, việc tiếp cận đổi mới trong công nghệ, quản lý doanh nghiệp, khả năng tiếp thị, sự hỗ trợ của chính phủ đóng vai trò chính trong việc góp phần tạo STC cho các DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ Đồng thời yếu tố trách nhiệm xã hội (CSR) có tác động trực tiếp đến STC của DNVVN (chấp nhận với mức ý nghĩa 10%) và đồng thời CSR có
tác động gián tiếp thông qua vấn đề về tài chính
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Trần Đăng Khoa, TS.Nguyễn Văn Tân Các Thầy đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận án Luận án này sẽ không được hoàn thành nếu không có hai Thầy Tôi cũng chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Liên Diệp đã định hướng, chỉ dạy và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Thầy Cô và Các Anh/Chị khoa Sau đại học của trường Đại học Lạc Hồng đã tạo điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian vừa qua
Tôi xin cảm ơn bạn bè, quý đồng nghiệp đặc biệt là quý bạn bè, đồng nghiệp
ở Đức Hòa, Sài Gòn, TP.Biên Hòa, Bình dương, TP Tân An đã giúp đỡ và chia sẽ những khó khăn trong quá trình đi học và nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn Anh/Chị quản lý ở các doanh nghiệp đã trả lời bảng khảo sát, góp ý thêm cho tôi trong quá trình khảo sát và thu thập số liệu
Cuối cùng, Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện và chia sẽ những khó khăn để tôi có thể hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH xii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.1.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn 1
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước 5
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 15
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 17
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 17
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 18
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 18
1.4 Phương pháp nghiên cứu 19
1.4.1Nghiên cứu định tính 19
1.4.2 Nghiên cứu định lượng 19
1.5 Tính mới và những đóng góp 20
1.5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết 20
1.5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 21
1.6 Kết cấu của luận án 21
Tóm tắt chương 1 21
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 22
2.1 Sự thành công của DNVVN 22
2.1.1 Khái niệm DNVVN 22
2.1.2 Khái niệm về sự thành công 23
2.1.3 Đo lường sự thành công 24
Trang 72.2 Các lý thuyết có liên quan đến STC của DNVVN 25
2.2.1 Lý thuyết về thẻ điểm cân bằng BSC (Balanced Scorecard ) 25
2.2.2 Lý thuyết về sự tăng trưởng của doanh nghiệp 27
2.2.3 Lý thuyết dựa trên quan điểm nguồn lực 27
2.2.4 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory- RDT) và tích hợp bên ngoài (External integration) 28
2.2.5 Lý thuyết về môi trường của DN 28
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công 29
2.3.1 Quản lý 33
2.3.2 Tiếp cận đổi mới công nghệ 34
2.3.3 Khả năng tiếp thị 34
2.3.4 Hỗ trợ của chính phủ 35
2.3.5 Tài chính 35
2.3.6 Trách nhiệm xã hội 36
2.4 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 37
2.4.1 Giả thuyết nghiên cứu 37
2.4.2 Mô hình lý thuyết và tổng hợp các giả thuyết 43
Tóm tắt chương 2 45
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu 46
3.2 Quy trình nghiên cứu 46
3.2.1 Nghiên cứu định tính 46
3.2.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 49
3.2.3 Nghiên cứu định lượng chính thức 49
3.3 Kết quả nghiên cứu định tính 51
3.4 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 62
3.4.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu định lượng sơ bộ 62
3.4.2 Kiểm định thang đo sơ bộ bằng phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha 63 3.5 Kết luận về kết quả nghiên cứu sơ bộ 69
Tóm tắt chương 3 71
Trang 8CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 72
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 72
4.1.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 72
4.1.2 Đánh giá thang đo 73
4.1.3 Phân tích giá trị ngoại lai 79
4.1.4 Kiểm định phân phối chuẩn của dữ liệu 79
4.1.5 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 81
4.2 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 85
4.2.1 Kết quả CFA thang đo Trách nhiệm xã hội DN (CSR) 85
4.2.2 Kết quả CFA mô hình tới hạn 88
4.3 Kiểm định mô hình lý thuyết bằng SEM 91
4.3.1 Kiểm định mô hình lý thuyết 91
4.3.2 Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng Bootstrap (1000) 95
4.3.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 95
4.4 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm trong mối ảnh hưởng giữa các yếu tố đến sự thành công 98
4.4.1 Kiểm định sự khác biệt giữa loại hình doanh nghiệp 98
4.4.2 Kiểm định sự khác biệt thời gian hoạt động của doanh nghiệp 102
4.4.3 Kiểm định sự khác biệt giữa nhóm các ngành nghề kinh doanh 106
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 109
Tóm tắt chương 4 113
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 114
5.1 Kết luận nghiên cứu 114
5.2 Hàm ý quản trị 115
5.2.1 Hàm ý theo thống kê trung bình các thang đo 116
5.2.2 Dưới góc độ quản trị DN 124
5.2.3 Kiến nghị đối với nhà nước 127
5.3 Ý nghĩa của nghiên cứu 128
5.3.1 Ý nghĩa về mặt lý thuyết 128
5.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 128
5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 129
Trang 9DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA THẢO LUẬN
PHỤ LỤC 2: DÀN BÀI THẢO LUẬN CÁC CHUYÊN GIA HOÀN THIỆN
MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
PHỤ LỤC 3: DÀN BÀI THẢO LUẬN CÁC CHUYÊN GIA HOÀN THIỆN THANG ĐO TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
PHỤ LỤC 4: BẢNG TỔNG HỢP CÁC THANG ĐO
PHỤ LỤC 5: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT SƠ BỘ
PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CRONBACH'S ALPHA
PHỤ LỤC 7: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT CHÍNH THỨC
PHỤ LỤC 8: THỐNG KÊ MÔ TẢ
PHỤ LỤC 9: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CRONBACH'S ALPHA
PHỤ LỤC 10: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA)
PHỤ LỤC 11: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHẲNG ĐỊNH (CFA)
PHỤ LỤC 12: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH (SEM)
PHỤ LỤC 13: KIỂM ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC NHÓM
PHỤ LỤC 14: THỐNG KÊ MÔ TẢ GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH CÁC KHÁI NIỆM
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANOVA- Analysis of variace Phân tích phương sai
BR Business results Kết quả kinh doanh
CFA Confirmatory Factor Analysis Phân tích nhân tố khẳng định
CFI Comparative fix index - Chỉ số sửa chữa so sánh
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình Doanh nghiệp thành lập mới, tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng chờ
giải thể và doanh nghiệp giải thể năm 2020 khu vực Đông Nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng
so với cả nước 3
Bảng 1.2: Tình hình Doanh nghiệp đang hoạt động, thành lập mới quay trở lại hoạt động các tỉnh so với khu vực Đông Nam bộ 4
Bảng 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công từ nghiên cứu trước đây 32
Bảng 2.2 Tổng hợp các giả thuyết 44
Bảng 3.1 Thang đo lường yếu tố Quản lý 55
Bảng 3.2 Thang đo lường yếu tố Tiếp cận và đổi mới công nghệ 56
Bảng 3.3 Thang đo lường yếu tố Khả năng tiếp thị 57
Bảng 3.4 Thang đo lường yếu tố Hỗ trợ chính phủ 58
Bảng 3.5 Thang đo lường yếu tố Tài chính 58
Bảng 3.6 Thang đo lường yếu tố Trách nhiệm kinh tế 59
Bảng 3.7 Thang đo lường yếu tố Trách nhiệm pháp lý 60
Bảng 3.8 Thang đo lường yếu tố Trách nhiệm đạo đức 60
Bảng 3.9 Thang đo lường yếu tố Trách nhiệm từ thiện 61
Bảng 3.10 Thang đo lường yếu tố Sự thành công 62
Bảng 3.11 Đánh giá độ tin cậy thang đo Quản lý 64
Bảng 3.12 Đánh giá độ tin cậy của thang đo TCĐMCN 64
Bảng 3.13 Đánh giá độ tin cậy của thang đo KNTT 65
Bảng 3.14 Đánh giá độ tin cậy của thang đo HTCP 65
Bảng 3.15 Đánh giá độ tin cậy của thang đo TC 66
Bảng 3.16 Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm Kinh tế 66
Bảng 3.17 Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm Pháp lý 67
Bảng 3.18 Bảng Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm đạo đức 68
Bảng 3.19 Bảng Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm từ thiện 68
Bảng 3.20 Đánh giá độ tin cậy thang đo Sự thành công 69
Bảng 3.21 Tổng hợp thang đo được sau khi nghiên cứu sơ bộ 69
Bảng 4.1 Cơ cấu mẫu trong nghiên cứu chính thức 73
Bảng 4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo Quản lý 74
Bảng 4.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo TCĐMCN 74
Trang 12Bảng 4.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo KNTT 75
Bảng 4.5 Đánh giá độ tin cậy của thang đo HTCP 76
Bảng 4.6 Đánh giá độ tin cậy của thang đo TC 76
Bảng 4.7 Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm Kinh tế 77
Bảng 4.8 Bảng Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm Pháp lý 77
Bảng 4.9 Bảng Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm đạo đức 78
Bảng 4.10 Bảng Đánh giá độ tin cậy thang đo Trách nhiệm từ thiện 78
Bảng 4.11 Đánh giá độ tin cậy thang đo Sự thành công 79
Bảng 4.12 Hệ số Skewness và Kurtosis của các biến 80
Bảng 4.13 Kiểm định KMO 82
Bảng 4.14 Tổng phương sai trích 83
Bảng 4.15 Trọng số nhân tố của thang đo 84
Bảng 4.16 Giá trị hội tụ của các thang đo đa hướng 87
Bảng 4.17 Giá trị phân biệt 87
Bảng 4.18 Kiểm định sự phân biệt giữa các khái niệm trong mô hình tới hạn 90
Bảng 4.19 Giá trị phân biệt 91
Bảng 4.20: Kết quả ước lượng mối quan hệ nhân quả của mô hình 93
Bảng 4.21 Tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp (chuẩn hóa) 94
Bảng 4.22 Kết quả ước lượng (chuẩn hóa) bằng Bootstrap 95
Bảng 4.23 Kiểm định giá trị phân biệt giữa các yếu tố trong mô hình tới hạn 96
Bảng 4.24 Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 98
Bảng 4.25 : So sánh mức độ tương thích giữa 2 mô hình bất biến, khả biến theo loại hình doanh nghiệp 102
Bảng 4.26 : So sánh mức độ tương thích giữa 2 mô hình bất biến và khả biến theo thời gian hoạt động 104
Bảng 4.27: Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự thành công của nhóm doanh nghiệp có thời gian hoạt động dưới 5 năm 105
Bảng 4.28: Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự thành công của nhóm doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 5 năm trở lên 105
Bảng 4.29 : So sánh mức độ tương thích giữa 2 mô hình bất biến và khả biến theo loại hình doanh nghiệp 109
Trang 13Bảng 5.1 Hệ số β 114
Bảng 5.2 Thống kê mô tả khái niệm “Tài chính” 116
Bảng 5.3 Thống kê mô tả khái niệm “sự hỗ trợ chính phủ” 117
Bảng 5.4 Thống kê mô tả khái niệm “quản lý” 118
Bảng 5.5 Thống kê mô tả khái niệm “Trách nhiệm xã hội_trách nhiệm kinh tế” 119
Bảng 5.6 Thống kê mô tả khái niệm “Trách nhiệm xã hội_trách nhiệm pháp lý” 119 Bảng 5.7 Thống kê mô tả khái niệm “Trách nhiệm xã hội_trách nhiệm đạo đức” 120
Bảng 5.8 Thống kê mô tả khái niệm “Trách nhiệm xã hội_trách nhiệm từ thiện” 121
Bảng 5.9 Thống kê mô tả khái niệm “Tiếp cận đổi mới công nghệ” 122
Bảng 5.10 Thống kê mô tả khái niệm “Khả năng tiếp thị” 123
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Thẻ điểm cân bằng BSC 26
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết các mối quan hệ 43
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 48
Hình 4.1 Phân tích CFA cho thang đo CSR 86
Hình 4.2 Kết quả CFA (chuẩn hóa) mô hình tới hạn 89
Hình 4.3 Kết quả SEM của mô hình lý thuyết 92
Hình 4.4 : Mô hình khả biến nhóm DN CTY TNHH 99
Hình 4.5 : Mô hình khả biến nhóm DN CTY CP 99
Hình 4.6 : Mô hình khả biến nhóm DN DNTN và DN khác 100
Hình 4.7 : Mô hình bất biến nhóm DN CTY TNHH 100
Hình 4.8 : Mô hình bất biến nhóm DN CTY CP 101
Hình 4.9 : Mô hình bất biến nhóm DN DNTN và DN khác 101
Hình 4.10 : Mô hình khả biến nhóm doanh nghiệp hoạt động dưới 5 năm 102
Hình 4.11 : Mô hình khả biến nhóm doanh nghiệp hoạt động từ 5 năm trở lên 103
Hình 4.12 : Mô hình bất biến nhóm doanh nghiệp hoạt động dưới 5 năm 103
Hình 4.13: Mô hình bất biến nhóm doanh nghiệp hoạt động từ 5 năm trở lên 104
Hình 4.14 : Mô hình khả biến nhóm DN Nông-Lâm Nghiệp Thủy sản 106
Hình 4.15 : Mô hình khả biến nhóm DN Công nghiệp-Xây dựng 107
Hình 4.16 : Mô hình khả biến nhóm DN thuộc các ngành Dịch vụ 107
Hình 4.17 : Mô hình bất biến nhóm DN thuộc ngành Nông-Lâm nghiệp Thủy sản 108
Hình 4.18 : Mô hình bất biến nhóm DN thuộc ngành Công nghiệp-Xây dựng 108
Hình 4.19 : Mô hình bất biến nhóm DN thuộc ngành Dịch vụ và ngành khác 109
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
Giới thiệu chương
Trong chương này tác giả cung cấp một cách nhìn tổng quát về “Các yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DN vừa và nhỏ tại các tỉnh Đông Nam bộ” Trước tiên
là nêu sự cần thiết của đề tài, kế đến là lượt khảo các nghiên cứu trước nhằm xác định khoảng trống, trên cơ sở đó xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp
1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
DN vừa và nhỏ (DNVVN) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp không nhỏ vào GDP, tạo công ăn việc làm, ổn định kinh tế Tuy nhiên, DNVVN Việt Nam còn nhiều hạn chế về quy mô, mức độ đóng góp và chưa thực
sự thể hiện hết khả năng của mình so với các nước (Phùng Thế Đông, 2019) Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các DNVVN có xu hướng thất bại cao hơn so với các DN lớn, mặc dù họ thường được coi là nội lực quan trọng nền kinh
tế của một quốc gia (Bloch và Bhattacharya, 2016; Lo và cộng sự, 2016) Còn theo Gnizy và cộng sự (2014) cho rằng các đặc điểm bao gồm: hạn chế tài nguyên, chiến lược không tốt, cấu trúc thiếu linh hoạt và thiếu quy trình hoạch định chiến lược có thể đã góp phần vào thất bại của họ Chính vì thế các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thành công của các DNVVN đã chiếm được sự quan tâm của nhiều tác giả gần đây như (Chittithaworn và cộng sự, 2011; Chowdhury và cộng sự, 2013; Marom và Lussier, 2014; Pletnev và Barkhatov, 2016; Alfoqahaa, 2018)
1.1.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn
Đóng góp của DNVVN là rất lớn do có vai trò năng động và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của DNVVN trong lưu thông hàng hoá và cung cấp hàng hoá, dịch vụ bổ sung cho các DN lớn Những đóng góp tích cực của DNVVN cho sự phát triển kinh tế của đất nước như: về khía cạnh xã hội các DNVVN góp phần tạo việc làm cho người lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xoá đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội Đồng thời DNVVN góp phần giảm bớt sức ép về dân số tại các đô thị lớn Kết quả sản xuất kinh doanh của các DN đang hoạt động giai đoạn 2011-2017, tăng 9,5%/năm, DN thu hút số lao động làm việc trong khu vực tăng
Trang 165%/năm, chỉ số vốn tăng 14,2%/năm, lợi nhuận cũng như doanh thu tăng lần lượt là 12,3%/năm, 17,4%/năm (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019)
DN tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ với gần 216,2 nghìn DN chiếm tới 41,7% tổng số DN của cả nước, trong đó lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh với 172,6 nghìn DN, chiếm tới 33,3% tổng số DN của cả nước và đây cũng là vùng thu hút nhiều lao động nhất trong cả nước với hơn 5,3 triệu lao động, chiếm 37,7% số lao động trong các DN của cả nước Riêng loại hình DNVVN có khoảng 507,86 nghìn DNVVN, chiếm khoảng 98,1 % tổng số DN đang hoạt động trên cả nước (Tổng Cục thống kê, 2018)
Các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ được chọn để nghiên cứu thực nghiệm
vì đây là vùng đầu tàu kinh tế năng động của cả nước, gồm 6 tỉnh/thành phố: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh là khu vực đầu tàu về kinh tế 4 tỉnh hạt nhân phát triển kinh tế: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu “Với tổng số diện tích tự nhiên là 23.564 km2, chiếm 7,3 % diện tích cả nước, dân số toàn vùng là hơn 17 triệu người, chiếm 18,17% dân
số cả nước Cả vùng chiếm khoảng 45% GDP, 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu cả nước Đồng thời tổng sản phẩm trên địa bàn tính theo đầu người cao gấp 2 lần mức bình quân của cả nước; hơn 1,7 lần so với vùng Đồng bằng sông Hồng; có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn khoảng 1,3 lần đến 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân chung cả nước Vùng tập trung lực lượng lao động đông đảo, có trình độ cao, được chọn để thí điểm nhiều cơ chế, chính sách mới về phát triển kinh tế Với hệ thống cảng, sân bay quốc
tế lớn nhất cả nước, vùng trở thành trung tâm, phát triển các loại hình dịch vụ công nghiệp, công nghệ thông tin, viễn thông, logistics, lớn nhất Việt Nam Vùng có Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, tài chính, ngân hàng, chứng khoán lớn nhất cả nước” (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019) Cũng theo báo cáo này khu vực Đông Nam bộ đóng góp hơn 1/3 số thu ngân sách cả nước, có đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao và lực lượng DN có trình độ và kinh nghiệm quản lý, là thị trường tiêu thụ lớn và là cửa ngõ giao lưu với khu vực và thế giới
Tuy nhiên, sự phát triển của các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ chưa tương xứng với tiềm năng cũng như lợi thế của vùng: thiếu bền vững, chất lượng và tốc độ
Trang 17phát triển chưa cao; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu phát triển,
hạ tầng còn yếu, chưa kịp so với nhu cầu Mặc dù đã được quy hoạch thành vùng kinh tế trọng điểm nhưng thiếu thể chế đặc thù cũng như thiếu thể chế điều phối và liên kết Đặc biệt khu vực các tỉnh Đông Nam bộ đang dẫn đầu về số lượng đăng ký thành lập mới, về quy mô, vốn…kể các DN giải thể và chờ giải thể so với cả nước Bảng 1.1: Tình hình DN thành lập mới, tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng chờ giải thể và DN giải thể năm 2020 các tỉnh Đông Nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng so với
cả nước
DN thành lập mới Số lượng DN đăng
ký tạm ngừng kinh doanh
ngừng hoạt động chờ giải thể
Số lượng DN giải thể trong năm 2020
Số
lượng
So với
cả nước
Số lượng
So với
cả nước
Số lượng
So với năm
2019
Số lượng
So với năm
2019 Đông
Nam
bộ
55.850
41,4% 16.527 35,5% 15.360 40,8% 7.704 20,7% Đồng
bằng
Sông
Hồng
39.724 29,4% 16.062 34,5% 7.976 21,2% 3.836 8,7%
Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư,2020
Trong đó, các địa phương có số lượng DN đang hoạt động tập trung nhiều nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh (236.503 DN); Bình Dương (29.412 DN, Đồng Nai (21.711 DN) Đây cũng là 03 địa phương nằm trong tốp 05 tỉnh có số lượng DN đang hoạt động cao nhất cả nước
Về DN thành lập mới thì số lượng DN thành lập mới trong 07 tháng đầu năm
2019 tập trung nhiều nhất ở các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh (25.175 DN); Bình Dương (3.779 DN), Đồng Nai (2.182 DN)
Trang 18Về DN quay trở lại hoạt động: Số lượng DN quay trở lại hoạt động tại khu vực Đông Nam Bộ tập trung chủ yếu ở: Thành phố Hồ Chí Minh (6.951 DN); Bình Dương (604 DN), Đồng Nai (472 DN)
Bảng 1.2: Tình hình DN đang hoạt động, thành lập mới quay trở lại hoạt động các tỉnh so với khu vực Đông Nam bộ
So với khu vực ĐNB
Số lượng
So với khu vực ĐNB
Số lượng
So với khu vực ĐNB
BÌNH
Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư, 2019
Các địa phương có số DN thành lập mới và số vốn đăng ký mới tăng nhiều so với cùng kỳ năm 2018 là: Tây Ninh (số DN tăng 20,9%, số vốn tăng 179,1%); Bình Dương (số DN tăng 15,71%, số vốn tăng 21,14%); địa phương có số lượng DN mới
và số vốn đăng ký mới trong 07 tháng đầu năm 2019 cùng giảm so với cùng kỳ năm
2018 là Bà Rịa – Vũng Tàu (số DN giảm 8,9%, số vốn giảm 0,4%)
Tỉnh có DN hoạt động trở lại tăng mạnh nhất trong 07 tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ năm 2018 trong khu vực là: Bà Rịa – Vũng Tàu (tăng 40,5%) Về DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn cao nhất trong 07 tháng đầu năm 2019 là: Thành phố Hồ Chí Minh (6.315 DN, chiếm 69,9% khu vực); Bình Dương (439
DN, chiếm 4,9%); Đồng Nai (333 DN, chiếm 3,7%); Bà Rịa – Vũng Tàu (330 DN, chiếm 3,7%)
Về DN giải thể, chờ giải thể và DN không hoạt động tại địa chỉ đăng ký cao nhất trong 07 tháng đầu năm 2019 là: Thành phố Hồ Chí Minh (2781 DN, chiếm 53,1% khu vực)
Trang 19Đứng trước tình hình như vậy, yêu cầu cấp bách là phải định hướng được cho các DNVVN hướng đi phù hợp, từ đó phát triển DNVVN theo xu hướng phát triển bền vững đi đến thành công Từ những vấn đề thực tiễn đó dẫn đến việc nghiên cứu
“Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các DN vừa và nhỏ tại các tỉnh Đông Nam bộ” là rất quan trọng Giúp cho việc hiểu được đặc tính kinh doanh và tăng
trưởng kinh doanh, hỗ trợ phát triển DNVVN cũng như nền kinh tế của một quốc gia
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
(1) Trong nghiên cứu của Storey (1994) “Hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh nhỏ” Storey đã phân tích sự hình thành, phát triển, trong quản lý của các DN nhỏ ở
Vương quốc Anh Nghiên cứu khám phá sự khác biệt mà các DNVVN phải đối mặt trong kinh doanh, đồng thời mức độ thất bại hay thành công của các DN phụ thuộc vào môi trường bao gồm các yếu tố như: chiến lược, quản lý, tài chính…Ưu điểm của nghiên cứu là đo lường được các mục tiêu của DN ở các nước phát triển, đồng thời thảo luận để giảm tỷ lệ thất bại, tăng cường tỷ lệ thành công cho các DN nhỏ,
cụ thể như: sự sẵn có trong việc mở rộng tài chính, sự phát triển về cầu, về sự cạnh tranh hay về các kĩ năng như kĩ năng marketing, bán hàng, kĩ năng quản lí hay thậm chí là kĩ năng của người lao động Tuy nhiên, điểm hạn chế là về tài chính, các chính sách của chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển loại hình DN nhỏ và kinh nghiệm từ các DN thuộc khu vực châu âu-đây là sự khác biệt trong nghiên cứu về DNVVN giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển- với một nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế có sự gia tăng nhưng chưa cao, GDP đầu người vẫn ở mức trung bình (2) Trong nghiên cứu của Indarti và Langenberg (2004) các yếu tố về giáo dục, tiếp cận vốn, tiếp thị và công nghệ là yếu tố quyết định đến STC trong kinh doanh, trong khi tính pháp lý là gánh nặng của thành công trong kinh doanh của DNVVN Điểm nổi bật của nghiên cứu đã chỉ ra rằng nền tảng giáo dục của người chủ DN tỷ lệ thuận với STC, nhất là kỹ năng tự học của hầu hết các doanh nhân (76%) góp phần cho rằng đóng góp cho STC; đồng thời sự kế thừa từ lợi thế nền tảng gia đình cũng góp phần vào STC của DNVVN Điều này cũng đúng khi hầu
Trang 20hết các DNVVN có thể cũng được coi là DN gia đình Theo Duh (2003) thì chủ sở hữu hoặc những người trong gia đình của chủ sở hữu quản lý DN trong tương lai mong muốn rằng DN vẫn là chủ sở hữu và quản lý của gia đình Điểm hạn chế của nghiên cứu nằm ở khả năng giải thích của mô hình (32,5%) chính điều này cần thiết phải có thêm nghiên cứu với các yếu tố kết hợp nhất là các biến nền tảng (giới tính, tuổi, kinh nghiệm làm việc); các biến thuộc môi trường (công nghệ, hỗ trợ của chính phủ, chiến lược kinh doanh) để có được bức tranh đầy đủ hơn về các yếu tố cản trở thành công kinh doanh ở các DNVVN ở Indonesia
(3) Nghiên cứu của Chittithaworn và cộng sự (2011) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công kinh doanh của DNVVN tại Thái Lan” đã chọn biến phụ thuộc là yếu tố thành công trong kinh doanh và biến độc lập là: đặc trưng của doanh nhân, quản lý và bí quyết, khách hàng và thị trường, dịch vụ, sản phẩm, cách thức kinh doanh và hợp tác, nguồn lực và tài chính, chiến lược và môi trường bên ngoài Các đặc điểm của DNVVN, quản lý và bí quyết, dịch vụ và sản phẩm, cách thức kinh doanh và hợp tác, nguồn lực và tài chính, thị trường, khách hàng, cách thức kinh doanh và hợp tác, các nguồn lực về tài chính và các yếu tố môi trường bên ngoài là những yếu tố đóng vai trò chủ chốt trong việc đảm bảo cho DNVVN tại Thái Lan thành công Điểm nổi bật của nghiên cứu đã chỉ ra rằng các DNVVN ở Thái Lan có thể tiếp cận thị trường nước ngoài, tăng doanh thu, tiếp cận các nguồn bên ngoài tài trợ, đạt được bí quyết công nghệ và trở nên kiên cường hơn và mạnh mẽ hơn để tăng lại sự cạnh tranh trong và ngoài nước Đồng thời luôn khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu thị trường, R&D và đổi mới để tăng khả năng cạnh tranh Bằng cách tìm hiểu nhu cầu và mong muốn trên thị trường Cách làm như vậy sẽ hỗ trợ trong việc cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng và đối thủ của họ chưa thể bắt kịp
Nghiên cứu chỉ ra rằng bằng cách liên kết tạo mối quan hệ với khách hàng họ
có thể xây dựng hình ảnh trong lòng khách hàng và lần lượt giảm chi phí hoạt động Điều này cũng đồng quan điểm với Reicheld (1993) chỉ ra rằng việc phục vụ một khách hàng hiện tại (trung thành) rẻ hơn nhiều so với thu hút và phục vụ một cái mới Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các yếu tố nội lực bên trong của DN Các giả thuyết nghiên cứu này còn hạn chế, bên cạnh đó kích thước mẫu thu thập còn
Trang 21thấp (200 mẫu thu về 143 mẫu hợp lệ) cũng làm cho kết quả nghiên cứu chưa mang tính đại diện cao
(4) Nghiên cứu của Islam và cộng sự (2011) về “Ảnh hưởng của đặc điểm doanh nhân và DN đến các DN thành công của các DNVVN tại Bangladesh” đã nghiên cứu một mẫu 300 phiếu từ các DNVVN từ các địa phương như Narayangonj, Khulna và Chittagong ở Bangladesh đây là khu vực đại diện cho một số lượng lớn các DNVVN ở Bangladesh Kết quả phân tích cho thấy chỉ một trong các yếu tố nhân khẩu học và thời gian hoạt động của DN có tác động đáng kể hướng tới STC của các DNVVN Các DNVVN hoạt động trong thời gian dài đã thành công hơn Trong nghiên cứu đặc điểm DN được tìm thấy không phải là yếu tố quan trọng Nhân khẩu học và đặc điểm loại hình DN là điều nghiên cứu tập trung nhiều nhất, cho nên việc thiếu sót các yếu tố khác về môi trường bên trong, bên ngoài là điều cần khám phá, nghiên cứu bổ sung Đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nhân và các nhà hoạch định chính sách mà chưa bổ sung các yếu tố như trách nhiệm pháp lý, chính trị, vấn đề đạo đức và các chính sách là điều cần phải bàn thêm
(5) Nghiên cứu của Ng & Kee (2012) về “Sự phát triển của các yếu tố quan trọng cho STC của các DNVVN ở một nước đang phát triển Malaysia” Các yếu tố như lãnh đạo và quản lý, vốn, đổi mới tổ chức, năng lực kinh doanh, đặc điểm kinh doanh, nguồn nhân lực, động lực và định hướng thị trường là những vấn đề cần thiết cho STC của DN bền vững Các yếu tố đến STC của DNVVN được tác động là khá phức tạp vì chúng có liên quan đến nhau và hoàn cảnh khác nhau sẽ cho ra các kết quả nghiên cứu khác nhau, nhưng nghiên cứu này đã cung cấp khá đầy đủ các yếu
tố Tuy nhiên, xét về mặt hạ tầng (vật chất và thể chế) và GDP thì có sự chênh lệch rất lớn giữa hai quốc gia Malaysia và Việt Nam Đây có thể là khoảng trống cần nghiên cứu thêm trong môi trường tại Việt Nam
(6) Khan và cộng sự (2012) trong nghiên cứu “Nhận thức về những hạn chế tăng trưởng của các DNVVN ở Bangladesh: Kiểm tra thực nghiệm từ quan điểm thể chế” nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của DNVVN như: chính sách và thái độ của các quan chức nhà nước ảnh hưởng xấu đến DN của họ, đặc biệt là chính sách kinh
tế khắc nghiệt của các chương trình điều chỉnh cơ cấu được chính phủ thực hiện vào đầu những năm 70 và 80 Chính sách gây ra giá trị của đồng tiền quốc gia suy giảm
Trang 22và sự thất thoát chảy máu chất xám của một số lượng lớn các doanh nhân được đào tạo và có kỹ năng sang các nước láng giềng Pakistan và Ấn Độ
Cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu nước, thiếu điện, khí hậu thất thường và một hệ thống viễn thông kém là trở ngại lớn nhất đối với quốc gia này Ngoài ra, còn có vấn
đề thường xuyên bị quấy rối bởi các quan chức chính phủ nhũng nhiễu về tiền ở các
DN Bên cạnh đó về phương pháp, nghiên cứu này chỉ thu thập số liệu qua phỏng vấn và các nguồn thứ cấp rồi dựa vào khung tham chiếu với các đặc điểm như:DN rất ít hoặc không có chuyên môn; về cơ bản được quản lý bởi một vài người, có lẽ với một vài trợ lý; mối quan hệ cá nhân của người quản lý (thường là chủ sở hữu-người quản lý) với tất cả những người khác trong DN là hạn chế; thiếu vốn; chưa có sản phẩm cốt lõi trên thị trường (Staley và Morse,1965) Hạn chế của nghiên cứu là đối tượng khảo sát chỉ 36 DN trên cả nước chính vì thế nghiên cứu này còn hạn hẹp
về cách tiếp cận, về đối tượng và loại hình DN Chưa mang tính rộng rãi, cung cấp đầy đủ về các chính sách cần thực thi và các vấn đề đào tạo phát triển một cách rõ ràng
(7) Trong “Một nghiên cứu thăm dò: Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của DNVVN tại Malaysia” của Jebna và Baharudin (2013) đã chọn chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính để đo lường STC của các DNVVN Yếu tố đóng góp cho STC gồm: sự hài lòng, kinh nghiệm, mở rộng kinh doanh, dịch vụ, định hướng kinh doanh, đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu nguồn tài chính có thể dẫn đến sự sụp đổ của một DN, bởi vì một DN có thể gặp vấn đề quan trọng trong việc thanh khoản cũng như thanh toán với các đối tác đồng thời là nguyên nhân chính quyết định đến STC của DNVVN
Tuy nhiên, tác giả tiến hành phỏng vấn, điều tra rồi phân tích chuyên gia để xem xét nhận định bản chất của đối tượng, đề xuất giải pháp Đây được xem là “lỗ hổng” của nghiên cứu này vì với cách tiếp cận như trên kết quả sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều vào sự hiểu biết cũng như quan điểm người được phỏng vấn, các chuyên gia nhận định, đôi khi mang tính chủ quan, định hướng của người trong cuộc Nếu kết hợp nghiên cứu định lượng tiếp cận logic, nhấn mạnh vào thống kê mô tả từ đó kiểm tra giả lý thuyết thì nghiên cứu này sẽ hoàn chỉnh và có ý nghĩa thực tiễn hơn
Trang 23(8) Nghiên cứu của Uddin và Bose (2013) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DNVVN ở Bangladesh: nghiên cứu thực nghiệm từ Thành phố Khulna” Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, tổng cộng
200 phiếu thu về 195 phiếu hợp lệ Các yếu tố được chọn để nghiên cứu như: kế hoạch kinh doanh, kênh phân phối, kỹ năng quản lý, công nghệ, Hỗ trợ của chính phủ, tiếp cận vốn, nhân sự, quản lý,…Tác giả dùng phương pháp ma trận xoay, thống
kê hồi quy sau đó để tìm ra số liệu thống kê có ý nghĩa
Kết quả: kế hoạch kinh doanh, kênh phân phối, kỹ năng quản lý và Hỗ trợ của chính phủ được xác định có ý nghĩa thống kê trong việc xác định thành công của các DNVVN tại Thành phố Khulna.Tuy nhiên, một kết quả cần lưu ý trong nghiên cứu này là mối quan hệ giữa yếu tố nhân sự và các yếu tố thành công của DNVVN có mối tương quan nghịch giữa hai biến Điều này cần xem xét lại khi trong điều kiện thực tế là nhân sự rất cần thiết cho hoạt động kinh doanh Nếu cần thiết phải nghiên cứu thực nghiệm, kiểm định lại lý thuyết hoặc ở một môi trường tương tự về không gian và thời gian để khám phá thêm lý do có mối tương quan nghịch giữa hai biến này
(9) Trong mô hình nghiên cứu của Marom và Lussier (2014) về “Mô hình dự đoán STC và thất bại trong kinh doanh của DNVVN ở Israel ” Ba trăm bốn mươi
DN được chọn thông qua lựa chọn ngẫu nhiên trong sáu khu công nghiệp và các trung tâm thương mại ở khu vực phía bắc Israel, trong thời gian ba tháng Có 205 khảo sát hoàn thành trong đó bao gồm: 104 (51%) được xem là DN thành công và
101 (49%) được xem là DN thất bại Có 15 biến được xác định và cho thấy nếu các
DN nhỏ có đầy đủ vốn, duy trì và kiểm soát tài chính tốt, có kinh nghiệm quản lý,
có kế hoạch cụ thể, tận dụng lời khuyên từ chuyên gia, làm tốt công tác nhân sự, có đối tác, có kỹ năng tiếp thị tốt, họ sẽ tăng cơ hội thành công Độ tuổi cũng đã được tìm thấy có ảnh hưởng đáng kể, nhưng ít quan trọng
Nghiên cứu này khá đầy đủ về mặt nội dung cũng như hoàn chỉnh về phương pháp Tuy nhiên, với nghiên cứu này còn vài điểm hạn chế vì các lý đo sau: Thứ nhất, về mô hình nghiên cứu: Israel có mức độ kinh doanh rất cao “Israel được biết đến với tinh thần kinh doanh và đổi mới độc đáo tinh thần, và dẫn đầu thế giới trong
nỗ lực nghiên cứu và phát triển, như được phản ánh trong tỷ lệ chi tiêu quốc gia cho
Trang 24R & D cho GDP, ở mức 4,4 %” (Ngân hàng Thế giới, 2011); lại nằm trong top những quốc gia phát triển lâu năm Thứ hai, một nghiên cứu ở những nơi khác nhau và được tiến hành nhiều lần sẽ cho kết quả khác nhau, chẳng hạn như trong thời kỳ suy thoái hoặc những năm thịnh vượng, kết quả có thể khác nhau Ví dụ, biến thời điểm bắt đầu kinh doanh có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn kinh tế suy thoái Vì vậy,
mô hình nên được được sử dụng như một tài liệu tham khảo về mặt kỹ thuật để cải thiện việc ra quyết định Thứ ba, nghiên cứu còn nhiều vấn đề về sự khác biệt đa văn hóa, vị trí địa lý, hệ thống pháp luật, nền kinh tế Ví dụ như về tình hình chính trị: Israel là quốc gia nằm ở Trung Đông được bao quanh bởi các quốc gia chủ yếu không tốt về mặt ngoại giao, các DNVVN ở Israel không thể phát triển bằng cách xuất khẩu qua biên giới sang các nước láng giềng Theo mô hình phát triển DNVVN của Johanson và Vahlne (1990), tăng trưởng có thể được thực hiện trước tiên thông qua hoạt động xuyên biên giới lân cận, điều này là rất khó khăn với các DNVVN ở Israel, do đó tăng trưởng của họ thông qua quốc tế hóa phải được hướng ra nước ngoài và có rào cản cao hơn đối với các DNVVN ở quốc gia khác
(10) Nghiên cứu của Zaridis và Mousiolis (2014) về “Doanh nhân và Cơ cấu
tổ chức DNVVN: Các yếu tố của một DN thành công” Nghiên cứu đã nêu bật lên vai trò quan trọng của các yếu tố quan trọng nhất định như quy mô kinh doanh, thị phần, quản lý và sở hữu, tiềm năng gây quỹ, bán hàng, lợi nhuận, thanh khoản… Đây là nghiên cứu phân loại hệ thống hóa lý thuyết Cho nên chưa thật sự đầy đủ về mặt khoa học và thống kê cũng như chưa nghiên cứu sự tác động với nhau
(11) Trong nghiên cứu của Tehseen và Ramayah (2015) “Năng lực kinh doanh
và DNVVN thành công trong kinh doanh: Vai trò của hội nhập bên ngoài” Nghiên cứu dựa trên hai quan điểm lý thuyết đó là lý thuyết về sự phụ thuộc vào nguồn lực (Resource Dependency Theory – RDT) và lý thuyết dựa vào nguồn lực (Resource Based View – RBV) để giải thích mô hình khái niệm, trong đó RDT gợi ý rằng các công ty phải phụ thuộc vào các bên (nhà cung cấp và khách hàng) để có được các nguồn lực quan trọng cho sự sống còn của họ
Nghiên cứu phân tích khách hàng và nhà cung cấp đồng thời chú trọng năng lực của doanh nhân như: gia đình, đạo đức, học tập, cá nhân, khái niệm, cơ hội và năng lực chiến lược và STC của các DNVVN ở Malaysia nhất là các DN hoạt động
Trang 25trong lĩnh vực sản xuất Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dừng ở mức độ lượt khảo lý thuyết, mô tả khung khái niệm do đó trong tương lai bằng cách sử dụng khung khái niệm này để nghiên cứu rõ hơn tác động của yếu tố bên ngoài với tư cách là biến trung gian giữa năng lực kinh doanh và STC trong kinh doanh của DNVVN Malaysia
(12) Trong nghiên cứu của Pletnev và Barkhatov (2016) về “Thành công kinh doanh của các DNVVN ở Nga và CSR của người chủ DN” Hơn 250 nhà quản lý đã tham gia vào cuộc khảo sát này Sau khi phân tích sơ bộ, có 212 người trong số họ
đã được lựa chọn cho nghiên cứu Cùng với các câu hỏi khác, các nhà quản lý đã được hỏi về các rào cản ngăn DN đến STC, về cá nhân của mỗi người cảm thấy việc kinh doanh của mình có thành công hay không, và về mức lương của công nhân trong DN so sánh với thu nhập của người quản lý Dựa trên phân tích các phương pháp tiếp cận hiện có và các chỉ tiêu được thiết lập trong lĩnh vực kinh doanh vừa
và nhỏ ở Nga, thành công kinh doanh được ước tính bằng cách sử dụng giá trị hiệu quả của vốn chủ sở hữu (Table, 2014)
Tác giả sử dụng quan điểm hẹp hơn cho CSR là nghĩa vụ phải hành động vì lợi ích của nhân viên DN Cách tiếp cận này tương tự như của Regil (2003) về CSR Vì
lý do này, CSR của DN được đánh giá bằng hai chỉ số: lương của nhân viên và so sánh họ với thu nhập của người quản lý Để ước tính CSR, các tác giả đã sử dụng các giá trị của mức lương trung bình và tỷ lệ giữa mức lương trung bình của các giám đốc điều hành và những người quản lý của họ Do đó, một mối quan hệ phi tuyến đã được thiết lập giữa thành công kinh doanh của một DNVVN và CSR của người quản lý Kết luận nghiên cứu cho biết, DN có doanh thu càng cao thì có mức chênh lệch thu nhập của thành viên càng thấp Cho thấy rằng CSR của người quản
lý có ảnh hưởng đến STC của DNVVN Nghiên cứu này cần được bổ sung với một
số phân tích về các loại CSR khác và với phương pháp khác để có được ước lượng tốt hơn
(13) Trong nghiên cứu của Saleem (2017) về “Tác động của các yếu tố kinh
tế xã hội đến thành công của DNVVN ” nghiên cứu từ 60 doanh nhân được chọn ngẫu nhiên với các đặc điểm như: tính sáng tạo, kiến thức kinh doanh, làm việc chăm chỉ, nguồn tài chính mạnh, khả năng cạnh tranh sản phẩm và kinh doanh mạng, Hỗ
Trang 26trợ của chính phủ, dịch vụ đào tạo và khuyến nông, tiếp thị, hỗ trợ đạo đức, kỹ thuật
hỗ trợ, cơ sở hạ tầng và các chính sách liên quan đến kinh doanh
Kết quả các biến đều có tác động và mô hình được sử dụng là rất quan trọng cho STC của kinh doanh Tuy nhiên, điểm đặc biệt hạn chế trong nghiên cứu này là khu vực nghiên cứu có tỷ tệ biết chữ chỉ là 31,3% (theo điều tra dân số năm 2007) Ở thành thị tỷ lệ biết chữ là 61% Có 01 (một) bác sĩ cho mỗi 4.736 người và 01 (một)
y tá cho 21.038 người Hoạt động nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính trong khu vực Chính vì thế những người làm kinh doanh đôi khi họ không khéo léo, thiếu kỹ năng quản lý, không có kiến thức về kỹ thuật kinh doanh hiện đại Tình hình chính trị xáo trộn của thành phố cũng là một trở ngại lớn trong cách đầu tư Kèm theo đó
là tại địa phương thị trường có nhu cầu thấp do sức mua của khách hàng thấp Chính những điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
(14) Trong bài viết của Radzi và cộng sự (2017) về “ Tác động của các yếu
tố nội bộ đến STC của DN nhỏ: một trường hợp DN nhỏ trong chương trình FELDA”
Dữ liệu được thu thập từ 199 DN nhỏ hoạt động theo chương trình (FELDA) Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng chỉ có năng lực kinh doanh và tiếp cận công nghệ mới tác động đến thành công của các DN nhỏ Còn lại như tiếp thị, nguồn tài chính, chia
sẻ kiến thức chưa có mối quan hệ rõ ràng với kinh doanh thành công Bên cạnh đó chỉ giới hạn trong các yếu tố thành công bên trong của các DN FELDA cho nên cách tiếp cận các yếu tố chưa rộng rãi, dữ liệu của nghiên cứu chỉ giới hạn cho các DN nhỏ Chính điều này có thể làm hạn chế tính tổng quát của việc nghiên cứu đồng thời chưa mang tính đại diện cao
(15) Nghiên cứu “Các yếu tố thành công quan trọng của DNVVN ở Palestine” của Alfoqahaa (2018), tác giả thu thập mẫu thuận tiện của 370 các DNVVN đang hoạt động ở Bờ Tây, Palestine Kết quả cho thấy uy tín của thương hiệu, dịch vụ và giao hàng đáng tin cậy ảnh hưởng mạnh mẽ đến thành công của DNVVN Một kết quả thú vị có thể được nhận thấy, đó là sự xuất sắc trong dịch vụ khách hàng là đóng góp cao nhất cho STC của các DNVVN, tiếp theo là giao hàng đáng tin cậy và sau đó là uy tín và đổi mới thương hiệu, đổi mới sản phẩm không tác động đến STC Điểm mới trong nghiên cứu này là kết hợp bốn yếu tố chưa được nghiên cứu để tạo thành mô hình tác động đến STC của các DNVVN nói chung và
Trang 27trong bối cảnh Palestine ở cụ thể Nghiên cứu giải thích các cách thức để DNVVN trở nên thành công hơn thông qua việc sử dụng kết quả trên để ra quyết định đồng thời kết hợp với các yếu tố khác góp phần vào STC cho các DNVVN
(16) Trong nghiên cứu của Eltahir (2018) về “ Các nhân tố ảnh hưởng đến STC của DNVVN ở Sudan: Nghiên cứu trường hợp ở Omdurman” Tám giả thuyết được đưa ra ảnh hưởng đến STC DNVVN ở Sudan Biến phụ thuộc trong nghiên cứu này
là STC trong kinh doanh và các biến độc lập là: Đặc trưng của doanh nhân, quản lý
và bí quyết, sản phẩm và dịch vụ, khách hàng và thị trường, cách thức kinh doanh
và hợp tác, tài nguyên và tài chính, chiến lược và môi trường bên ngoài Tổng cộng
có 140 mẫu khảo sát thu về 120 mẫu hoàn chỉnh Nghiên cứu đã sử dụng phân tích tương quan và kết quả cho thấy tất cả các yếu tố tương quan ở mức 5% Nghiên cứu cho rằng bí quyết, dịch vụ, sản phẩm, quản lý, và chiến lược không ảnh hưởng đến STC của các DNVVN ở Omdurman-Sudan
Đặc điểm của các DNVVN như khách hàng và thị trường, tài nguyên, kinh doanh, mối quan hệ và tài chính có ý nghĩa ảnh hưởng tích cực đến thành công kinh doanh của các DNVVN ở Omdurman-Sudan Tuy nhiên, nghiên cứu này còn hạn chế về cạnh tranh yếu tố bên ngoài, đồng thời giải quyết tác động, mối quan hệ đến hiệu suất, đến STC của các DNVVN Bên cạnh đó, nghiên cứu nên chọn người phỏng vấn là các doanh nhân có kinh nghiệm, có kiến thức và quan trọng nhất là về các yếu tố thành công mà DN của họ đã từng trải qua, chia sẻ kinh nghiệm mà họ gặp phải thì kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa thực tiễn hơn
(17) Nghiên cứu của Rungani và Potgieter (2018) về “Tác động của hỗ trợ tài chính đến STC của các DN nhỏ, vừa và siêu nhỏ khu vực phía đông tỉnh Cape” Các yếu tố hỗ trợ tài chính cho các DN nhỏ-vừa và siêu nhỏ (DNNVSN) ở cả khu vực tư nhân và nhà nước về STC của các DN được xem xét Những phát hiện chính của nghiên cứu cho thấy thành công của DNVVN là tích cực và có tương quan đáng kể Nghiên cứu nhấn mạnh rằng hỗ trợ tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến thành công DNVVN Những phát hiện này là phù hợp và khá hoàn chỉnh về mặt nội dung.Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự thành công thường không phụ thuộc vào một yếu tố tại một thời điểm
Trang 28(18) Trong nghiên cứu Al-Tit và cộng sự (2019) về “Các yếu tố thành công quan trọng của DNVVN ở Ả Rập Saudi: Góc nhìn từ quan điểm bền vững” Các yếu
tố dựa trên đề xuất của một nhóm các học giả đã tạo ra một danh sách kết hợp một tổng cộng 28 yếu tố Có 349 mẫu hoàn chỉnh trong tổng số 500 mẫu khảo sát Các yếu tố được phân loại thành sáu nhóm
Kết quả chỉ ra rằng hỗ trợ kinh doanh là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đáng kể đến STC của các DNVVN ở Ả Rập Saudi, sau đó các yếu tố cá nhân, nguồn vốn sẵn có và quản lý Bốn trong số sáu yếu tố được nghiên cứu là rất quan trọng đối với STC của các DNVVN (yếu tố cá nhân, yếu tố quản lý, hỗ trợ kinh doanh và vốn khả dụng) Tuy nhiên, bản chất đan xen của các yếu tố này làm cho các yếu tố
đó quan trọng hơn trong từng hoàn cảnh DN
(19) Trong nghiên cứu của Naheed và cộng sự (2019) về “Mô hình dự đoán thành công và thất bại cho các DNVVN: Một nghiên cứu khu vực miền Nam Punjab
và Baluchistan” Nghiên cứu đến thành công hay thất bại của các DNVVN (DNVVN) hoạt động ở miền Nam Punjab và Baluchistan-Pakistan Các tác giả đã
sử dụng phương pháp định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi và được điều chỉnh từ mô hình của Lussier (1995) để đo lường Dữ liệu được phân tích
và cho thấy rằng kế hoạch kinh doanh đúng đắn, nhân viên, dòng vốn đầy đủ và quan hệ đối tác rất quan trọng đối với khả năng tồn tại, kinh nghiệm quản lý và lập
kế hoạch là vấn đề mấu chốt cho STC của các DNVVN Tuy nhiên, do đây là nghiên cứu được kế thừa từ mô hình của Lussier (1995) vào những năm 1995 cho nên các yếu tố để xác định thành công hay thất bại (Ví dụ: DN thất bại được xác định là một
tổ chức thiếu quản lý kinh nghiệm, thiếu kế hoạch, thiếu giáo dục (Lussier, 1995), với môi trường kinh doanh hiện nay là chưa phù hợp, đề xuất điều cần thiết là thực hiện nghiên cứu tương tự như vậy trên các DNVVN ở tỉnh khác, kết hợp thêm các yếu tố như: CSR, môi trường bên ngoài, sự hỗ trợ về thể chế chính sách…
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Về tình hình nghiên cứu trong nước, tuy còn hạn chế các nghiên cứu về STC của DNVVN nhưng trong số các nghiên cứu về DNVVN đã có một số công trình nghiên cứu như: sách chuyên khảo, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các bài
Trang 29tham luận tại các hội thảo, … Đây cũng là nguồn tư liệu phong phú được nghiên cứu sinh tham khảo trong nghiên cứu luận án
(1) Nghiên cứu của Võ Thành Danh và cộng sự (2013) về “các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của DNVVN tại tỉnh Hậu Giang phân tích thực trạng của các DNVVN” Tác giả của nghiên cứu sử dụng mô hình kim cương để thực hiện phân tích năng lực cạnh tranh và đánh giá khu vực kinh tế của loại hình DNVVN Tuy nhiên, một số các yếu tố như: hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập thị trường còn hạn chế mặc dù sự chuẩn bị cho hội nhập là khá tốt Các yếu tố: tổng tài sản, trình độ lao động, nguồn cung cấp đầu vào, tổng số lao động, mức độ cạnh tranh trên thị trường, lĩnh vực hoạt động của DN, và mức độ rủi ro là những nhân tố có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của DNVVN
(2) Nghiên cứu của Vũ Hoàng Nam và Đoàn Quang Hưng (2013) về “nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự phát triển của DNVVN ở Việt nam” Đổi mới có vai trò như thế nào đối với các DNVVN ở Việt Nam vẫn còn là một câu hỏi cần được trả lời Kết quả cho thấy vốn, nhân lực, chất lượng của lực lượng lao động và cơ sở hạ tầng, các hoạt động đổi mới, quy trình sản xuất, và đổi mới hoạt động marketing có vai trò quyết định đối với kết quả sản xuất của các DNVVN Việt Nam Ưu điểm của nghiên cứu này là sử dụng phương pháp hồi quy với số liệu điều tra kích cỡ mẫu DNVVN của Việt Nam lớn trong các năm 2005, 2007, 2009, và 2011 được thực hiện bởi Viện Kinh tế và Quản lý Trung ương và Đại học Copenhegen, Đan Mạnh Bốn cuộc điều tra này là điều tra chọn mẫu với số mẫu trung bình là trên 2500 DNVVN Với kích cỡ mẫu như vậy có thể sẽ cho kết quả tin cậy cao
Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước được trình bày tóm tắt ở trên tác giả có thể kết luận như: các yếu tố: marketing, văn hóa, cơ sở hạ tầng, ứng dụng và đổi mới công nghệ, các chiến lược,…góp phần vào STC của DN DNVVN; các phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật thí nghiệm, tình huống và phỏng vấn sâu được sử dụng nhiều; nghiên cứu định lượng; phương sai, phân tích cụm, phân tích nhân tố…
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến STC từ môi trường bên trong, bên ngoài hoặc thông qua điều tra nhân khẩu học Mà chưa
Trang 30có sự kết hợp các yếu tố đó lại bằng một phương pháp kết hợp định tính và định lượng để đánh giá Bên cạnh đó cần sự đánh giá mối quan hệ tác động giữa các yếu
tố ảnh hưởng đến STC của DNVVN với nhau
- Đa số các nghiên cứu tiếp cận yếu tố STC bằng quan điểm tài chính thông qua các chỉ số lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) Tuy nhiên, những báo cáo kết quả này thường không đúng với thực tế Hơn nữa cùng với suy nghĩ này Wieder và cộng sự (2006) đã lập luận rằng các chỉ số kế toán, tài chính không thể khai thác được bản chất của hoạt động của một DN hoặc các vấn đề khác: dịch vụ khách hàng, chất lượng sản phẩm được sản xuất, đổi mới và hiệu quả hoạt động Dựa vào dữ liệu tài chính cũng hạn chế khả năng giải thích hiệu suất trong tương lai vì chúng được định hướng theo lịch sử, do
đó có thể gây hiểu nhầm (Koufteros và cộng sự, 2014) Bên cạnh đó các mô hình dự đoán thành công so với thất bại (S/F) của Lussier (1995); Marom và Lussier (2014) cũng là một mô hình phi tài chính Trong một nghiên cứu phá sản DN nhỏ gần đây Van Auken và Cộng sự (2009) đã sử dụng một mô hình phi tài chính để đánh giá Chính vì thế nếu đứng ở góc độ này nghiên cứu về STC các DNVVN nên dùng tiêu chí phi tài chính để đánh giá STC cho DNVVN là phù hợp hơn sẽ mang tính tổng quát hơn
- Sự thành công và CSR của DN được chú trọng gần đây, tuy nhiên thực tế vẫn còn khá mới và chưa thống nhất (Golob và cộng sự, 2013) Còn theo Morsing (2006) thì cho rằng một số nghiên cứu có đề cập đến yếu tố CSR tác động đến STC của DN,
đa số đồng quan điểm với ý kiến CSR và thực hiện bởi các DN lớn nhưng lại chưa phân tích rõ CSR được thực hiện với các DNVVN
Còn theo Jenkins (2006), Ciliberti và cộng sự (2008) thì cho rằng khi các DN thực hiện CSR lại gặp hai rào cản lớn nhất đó là thời gian và vấn đề tài chính Tuy nhiên,
ở chiều ngược lại thì DNVVN cũng có thuận lợi là ít khi bị chi phối bởi các cổ đông, điều mà ta thường thấy ở các DN lớn do có xu hướng về quyền lợi và sự kiểm soát rất lớn từ đó có tầm ảnh hưởng rộng, chính điều đó làm cho việc thực thi CSR trở nên khó khăn (Castka và cộng sự, 2004; Gallup, 2005)
Nhiều tác giả cho rằng, CSR trong một DN là điều cần được thực nghiệm lại tại các môi trường kinh doanh khác nhau, vì tốc độ phát triển, thị trường,cách đánh giá
Trang 31ở mỗi nơi mỗi khác (Walsh và Beatty, 2007; Puncheva và Michelotti, 2010) Đặc biệt, theo Fatma và Rahman (2015) việc xem xét nghiên cứu CSR các nước đang phát triển vẫn còn khá mới mẻ
Bên cạnh đó, đối tượng nghiên cứu của tác giả là sự thành công của các DNVVN Việt Nam có đặc trưng là các tỉnh Đông Nam bộ, các DNVVN đang hoạt động trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa có những đặc thù riêng và chắc chắn có sự khác biệt nhất định so với nền kinh tế thị trường ở các nước khác
Do đó tác giả nghiên cứu vấn đề này nhằm giải quyết các khoảng trống nghiên cứu trên
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định, phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến STC của DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ, đề xuất hàm ý quản trị nhằm giúp các DNVVN hoạt động thành công hơn
1.2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ
- Đo lường mức độ tác động của từng yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ
- Khám phá sự khác biệt giữa các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến STC của DNVVN
- Đề xuất một số hàm ý quản trị và kiến nghị đối với Nhà nước nhằm thúc đẩy STC cho các DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ nói riêng và Việt Nam nói chung
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến STC của DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ ?
- Mức độ tác động các yếu tố đến STC của DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ như thế nào ?
- Có sự khác biệt đáng kể nào trong mối ảnh hưởng giữa các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến STC của DNVVN ?
- Những hàm ý quản trị nào cần được đề xuất để nâng cao STC của DNVVN các tỉnh Đông Nam bộ ?
Trang 321.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là STC của DNVVN (khái niệm DNVVN theo 39/2018/NĐ-CP của Thủ tướng Chính Phủ ký ngày 11 tháng 3 năm 2018), đồng thời thời gian hoạt động ít nhất của các DN phải 3 năm trở lên (chú trọng DNVVN giai đoạn 2011 trở về sau)
Các DNVVN phải có tổ chức phòng, ban thực hiện các chức năng quản trị riêng biệt vì một số DN nhỏ được xem như công ty gia đình, đôi khi chỉ có giám đốc, kế toán và bộ phận sản xuất hoặc thu mua Chính điều này đặt ra một câu hỏi lớn là liệu
DN đó có quản lý tốt không khi một DN ta thấy sự quản lý là hết sức phức tạp bởi vì: tính chất công việc của mỗi bộ phận là khác nhau, quản lý DN là quản lý con người mà con người thì rất phức tạp Đồng thời môi trường DN luôn luôn biến đổi từng ngày, từng giờ Vì vậy nếu không có tổ chức phòng, ban thực hiện các chức năng quản trị riêng biệt thì thì công việc quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung của
DN khó có thể đạt được, từ đó sẽ rất khó đi đến STC Vì vậy, để góp phần cho nghiên cứu về STC của các DNVVN được hoàn chỉnh hơn thì việc nghiên cứu đối tượng là các DNVVN cần phải có tổ chức phòng, ban thực hiện các chức năng quản trị riêng biệt
Hơn nữa trong giai đoạn này, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới tăng cao ảnh hưởng các DN Việt Nam (Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2013) Vì vậy, những DNVVN tồn tại và phát triển được trong giai đoạn này đến nay, có thể xem là những DN đã vượt qua được thử thách, khó khăn bằng chính sức mạnh của mình Và đây chính là đối tượng cần thiết, đã được gạn lọc để tác giả nghiên cứu về sự thành công
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: DNVVN tại các tỉnh Đông Nam bộ là nơi thực hiện nghiên cứu
Vì đây là vùng có đóng góp lớn nhất về GDP, ngân sách nhà nước, việc làm và vùng
đã chứng tỏ tiềm năng - nội lực phát triển với các khu vực khác Theo Bộ Kế hoạch đầu tư năm 2020 mức đóng góp về GDP (50,8%), nằm trong vùng kinh tế trọng
Trang 33điểm phía Nam lớn hơn cả 3 vùng kinh tế trọng điểm còn lại cộng lại Các tỉnh Đông Nam bộ gồm 6 tỉnh/thành phố: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh là khu vực đầu tàu về kinh tế của cả nước với 3 tỉnh hạt nhân phát triển kinh tế: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai cho nên việc nghiên cứu DNVVN tập trung tại các tỉnh này có thể xem là hợp lý
+ Về thời gian: thời gian khảo sát từ tháng 10/2018 đến tháng 10/2019
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Nghiên cứu định tính
Để điều chỉnh thang đo, tác giả đã thực hiện phỏng vấn 10 người là chuyên gia tại các trường Đại học Lạc Hồng, Đại học Thủ Dầu một, Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An, Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM Việc thảo luận với những chuyên gia đồng thời cũng hiện đang làm quản lý tại các DN là để kiểm tra xem có cần bổ sung thêm câu hỏi nào hay không Bên cạnh đó, tác giả thảo luận với những người hiện đang là giám đốc, các quản lý là để xác định xem họ có ý kiến hay cần điều chỉnh câu hỏi hay không
1.4.2 Nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Từ kết quả của nghiên cứu định tính có được mô hình nghiên cứu và xây dựng các thang đo sơ bộ Tiến hành khảo sát các DNVVN tại các tỉnh Đông Nam bộ thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn bằng thang đo Likert từ 1 đến 5, với kích thước mẫu 70, xử lý Cronbach’s Alpha bằng phần mềm SPSS 20.0 nhằm kiểm định độ tin cậy của thang đo, gạn bỏ các biến quan sát, hoàn thiện thang đo cũng như mô hình nghiên cứu chính thức
- Nghiên cứu định lượng chính thức: dữ liệu sơ cấp từ các DNVVN được khảo sát theo mẫu sẵn thu thập với kích thước mẫu là 400 Phần mềm SPSS20.0, AMOS 20.0 được sử dụng nhằm phân tích dữ liệu thống kê thông qua các bước như phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng cấu trúc (SEM), kiểm định Bootstrap với N=1000…
Trang 341.5 Tính mới và những đóng góp
1.5.1 Đóng góp về mặt lý thuyết
Luận án đã đưa ra các khoảng trống trong nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề hiện tại trong các DNVVN Nghiên cứu đề xuất khái niệm về STC đối với các DNVVN mang tính xác thực hơn khi áp dụng chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá, bên cạnh đó nghiên cứu còn làm rõ yếu tố CSR dưới các góc độ khác nhau bao hàm khá đầy đủ các yếu tố thành công quan trọng mà các DNVVN cần phải quan tâm
Xây dựng được mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DNVVN; nghiên cứu thảo luận và điều chỉnh thang đo cho phù hợp với điều kiện thị trường nghiên cứu là các tỉnh Đông Nam bộ Cụ thể, đối với thang đo Quản lý, nghiên cứu
đã điều chỉnh so với thang đo gốc theo hướng nghiên cứu về quản lý và đào tạo con người, chú trọng quản lý về nguồn nhân lực trong một DN vì đây là vấn đề cốt lõi
trong môi trường nội bộ DN Đối với thang đo Khả năng tiếp thị KNTT4 (Chúng tôi
có kỹ năng bán hàng, hoạt động tiếp thị và quảng bá hiệu quả- Radzi và cộng sự
(2017)) được điều chỉnh thang đo cho phù hợp tại khu vực nghiên cứu Do đa phần
DN nằm trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đa phần là các DN sản xuất cho nên việc quan trọng hơn để hàng hóa đến tay người tiêu dùng cần chú trọng là các trung gian thương mại, nhà phân phối Từ đó DNVVN không phải lo bán hàng
mà sẽ tập trung nhiều nguồn lực hơn vào các khâu trong dây chuyền, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm Chính vì vậy sau khi thảo luận chuyên gia biến KNTT4 điều
chỉnh thành “Mức độ quan hệ với nhà phân phối” và kết quả kiểm định các thang
đo đều phù hợp với dữ liệu khảo sát, đáp ứng được giá trị tin cậy, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt và giá trị liên hệ lý thuyết
Do đó, nghiên cứu đóng góp vào hệ thống thang đo cho các khái niệm được
đo lường; Nghiên cứu cũng góp phần kiểm định lại các mối quan hệ mà các nghiên cứu trước đây có sự khác biệt hoặc tác động chưa rõ ràng cũng như kiểm định mối quan hệ giữa CSR và STC Đối sánh kết quả nghiên cứu với các kết quả nghiên cứu trước cũng như thảo luận chuyên gia nhằm tái khẳng định mô hình nghiên cứu và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao STC cho các DNVVN tại các tỉnh Đông Nam bộ
Trang 35án cũng cung cấp cho chủ DN và các cấp quản lý Nhà nước có một cái nhìn tổng quan hơn để từ đó có những cách quản lý, các chính sách phù hợp nhằm giúp cho các DNVVN đi đến thành công
1.6 Kết cấu của luận án
Kết cấu của nghiên cứu bao gồm 05 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Tóm tắt chương 1
Chương 1 tác giả giới thiệu về tổng quan đề tài nghiên cứu, tác giả đã trình bày sự cần thiết của đề tài, kế đến là lược khảo các công trong nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm xác định khoảng trống của các nghiên cứu trước, từ đó tác giả xác định được mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu, tiếp theo tác giả xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu đồng thời xác định phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng Sau đó tác giả nêu những đóng góp của luận án về mặt lý thuyết và thực tiễn
Trang 36
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Giới thiệu chương
Chương 2 sẽ trình bày về các lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu đồng thời dẫn giải các nghiên cứu liên quan nhằm làm cơ sở hình thành giả thuyết Bên cạnh
đó phát thảo mô hình giả thuyết nghiên cứu
2.1 Sự thành công của DNVVN
2.1.1 Khái niệm DNVVN
Theo Bridge và O’Neill (2003) từ DN đã được sử dụng trong rất nhiều bối cảnh
và mang ý nghĩa khác nhau, DN thu nhận các thông tin từ môi trường xung quanh, sau đó được sử dụng làm cơ sở cho việc lựa chọn một phản ứng hành vi đối với môi trường đó Mục tiêu của DN là sản phẩm, dịch vụ, hiệu suất hoạt động và hiệu quả tài chính Còn theo Luật DN Việt Nam thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” DN là một đơn
vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng
Theo Tổ chức Kinh tế hợp tác và phát triển (OECD, 2005), các DNVVN là các
DN độc lập, sử dụng một số lượng nhân viên nhất định Con số này khác nhau giữa các quốc gia Như ở Liên minh châu Âu thông thường một DN vừa khoảng 250 nhân viên Tuy nhiên, một số quốc gia đặt giới hạn ở mức 200 nhân viên, trong khi Hoa
Kỳ coi các DNVVN bao gồm các công ty có ít hơn 500 nhân viên Các DN nhỏ nói chung là những DN có ít hơn 50 nhân viên, trong khi các DN siêu nhỏ có nhiều nhất
là 10, hoặc trong một số trường hợp là 5 công nhân
Tại Liên minh châu Âu, một định nghĩa có hiệu lực vào ngày 01/01/2005 áp dụng cho tất cả các chương trình hành động và tài trợ của cộng đồng cũng như trong lĩnh vực viện trợ nhà nước nơi các DNVVN có thể được cấp viện trợ quốc gia và khu vực với cường độ cao hơn các công ty lớn Định nghĩa mới quy định tăng trần tài chính: doanh thu của các DN cỡ trung bình (50-249 nhân viên) không được vượt quá 50 triệu EUR; của các DN nhỏ (10-49 nhân viên) không được vượt quá 10 triệu EUR trong khi của các DN siêu nhỏ (dưới 10 nhân viên) không được vượt quá 2
Trang 37triệu EUR Còn theo Baenol (1994) DNVVN được xác định khác nhau ở những nơi khác nhau, một DNVVN ở quốc gia này khác DNVVN ở một quốc gia khác, các chỉ được xác định khác nhau bao gồm: tổng tài sản, quy mô lao động, doanh thu hàng năm và đầu tư vốn
Tổ chức lao động quốc tế lập luận rằng không có định nghĩa được chấp nhận phổ biến của các DNVVN DNVVN được cho là có hoạt động hiệu quả nhất cho phúc lợi kinh tế và xã hội Chúng là một phương tiện để đào tạo, phát triển kỹ năng quản lý và kỹ thuật và tuyển dụng người địa phương; hơn nữa, họ cho phép tạo ra một thế hệ nhà phát minh và nhà đầu tư mới và là nguồn sáng tạo và truyền bá ý tưởng mới (ILO, 2015)
“DN là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường” (theo mục 7 điều 1 chương 1 luật DN 2014) DN nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người
và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá
20 tỷ đồng
Sau khi tham khảo khái niệm và cách xác định DNVVN chúng ta nhận thấy rằng việc xác định loại hình DN thường dựa vào hai yếu tố chính đó là số lao động
và vốn
2.1.2 Khái niệm về sự thành công
Việc xác định các tiêu chí thành công có nhiều khác biệt Ví dụ nghiên cứu của Devins (2009); Muhammad và cộng sự (2010) cho rằng không có định nghĩa chung
về STC của các DNVVN, với nhiều tác giả đưa ra các tiêu chí khác nhau bao gồm quy mô, số lượng nhân viên, doanh thu, tài chính Trong các nghiên cứu kinh doanh, khái niệm thành công thường được sử dụng để chỉ khả năng tài chính của DN Tuy nhiên, không có định nghĩa được chấp nhận phổ biến về thành công và thành công kinh doanh đã được diễn giải theo nhiều cách (Foley và Green, 1989)
Thành công trong kinh doanh là khả năng về thành tích đạt được mục tiêu của một DN, mà không được xác định rõ ràng (Ngwangwama và cộng sự, 2013) Nó cũng có thể được diễn đạt như cách của một DN tạo ra các hoa ̣t đô ̣ng có hiê ̣u quả
Trang 38(Van Praag, 2003; Marom và Lussier, 2014) Trong khi đó Auken và Werbel (2006); Reijonen và Komppula (2007) cho rằng không có định nghĩa chung nào về STC trong kinh doanh và đa số các nghiên cứu đo lường thành công kinh doanh từ quan điểm tính hiệu quả Thực tế, khái niê ̣m hiê ̣u quả của DN cũng rất phức tạp và có tính
đa chiều nằm ở các khía cạnh khác nhau
Ngoài ra, theo Islam và cộng sự (2011) cho rằng có ít nhất hai khía cạnh liên quan của STC kinh doanh: tài chính so với phi tài chính và thành công ngắn hạn với dài hạn Dựa trên sự phân chia này, có nhiều cách để đo lường STC trong kinh doanh bao gồm lợi nhuận, lợi tức đầu tư, tăng trưởng doanh thu, số nhân viên làm việc, hạnh phúc, danh tiếng của công ty và những điều khác (Weidinger và cộng sự, 2014) Sau khi lược khảo lý thuyết các khái niệm về STC của các DNVVN tác giả nhận định rằng: STC trong kinh doanh của các DNVVN là đạt được mục tiêu của mình, mục tiêu đó có thể là: lợi nhuận, mối quan hệ, danh tiếng thương hiệu, phúc lợi, trách nhiệm với xã hội …và tùy vào thời điểm khác nhau, vì mỗi thời điểm DNVVN có mục tiêu riêng”
2.1.3 Đo lường sự thành công
Để đo lường STC theo Schmidpeter và Weidinger (2014) cũng có nhiều cách khác nhau như: thời gian tồn tại của DN, lợi nhuận, lợi nhuận đầu tư, tăng trưởng doanh số, số lượng nhân sự làm việc, hạnh phúc, DN danh tiếng
Trong nghiên cứu của Walker và Brown (2004) tác giả cho rằng các tiêu chí tài chính thường được coi là biện pháp phù hợp nhất của STC trong kinh doanh Nhưng, trong một số trường hợp khác, có những mục tiêu phi tài chính có thể dẫn đến sự thay thế việc đánh giá STC thành công toàn diện hơn, đặc biệt là trong khu vực DNVVN Để minh họa hai chiều này, ông phân tích 290 câu hỏi từ những người quản lý DN nhỏ ở Tây Úc Cả hai tiêu chí tài chính và phi tài chính được sử dụng để đánh giá thành công kinh doanh, tuy nhiên với tiêu chí phi tài chính được đánh giá tốt hơn thông qua sự hài lòng và thành tích cá nhân, niềm tự hào trong công việc và lối sống linh hoạt tạo ra STC
Có nhiều nghiên cứu đo lường các DNVVN qua chỉ số tài chính và các biện pháp kế toán (Shailer, 1989) Tuy nhiên, tác giả Riquelme và Watson (2002) đã tranh luận rằng thiếu độ tin cậy với các dữ liệu tài chính và dữ liệu kế toán, đa số các DN
Trang 39nhỏ không có yêu cầu báo cáo chính thức về các dữ liệu tài chính này Do đó, việc
có được thông tin đáng tin cậy về các chỉ số này để đo lường STC của các DN nhỏ một cách chính xác là điều không thể
Hơn nữa với suy nghĩ này Wieder và cộng sự (2006) đã thêm vào lập luận rằng các biện pháp kế toán, tài chính không thể khai thác được bản chất của một DN
ở các khía cạnh khác nhau như: dịch vụ khách hàng, chất lượng, sản xuất, đổi mới
và hiệu quả hoạt động Dựa vào các dữ liệu tài chính cũng hạn chế khả năng giải thích hiệu suất trong tương lai vì chúng được định hướng theo thời gian, do đó có thể gây hiểu nhầm (Koufteros và cộng sự, 2014) Trong hoạt động của DNVVN cần
có nhiều yếu tố phi tài chính khác để làm cho việc đo lường hiệu quả hơn (Abdallah
và Alnamri, 2015)
Từ những lập luận các nghiên cứu trên, tác giả lựa chọn tiêu chí phi tài chính
để đánh giá mức độ thành công cho DNVVN trong nghiên cứu của mình Vì các chỉ tiêu này có thể được nắm bắt thông qua nhận thức của người quản lý, với các thông tin có sẵn về dữ liệu tài chính của các DNVVN, không cần thiết để định lượng bằng các biện pháp kế toán, tài chính
2.2 Các lý thuyết có liên quan đến STC của DNVVN
2.2.1 Lý thuyết về thẻ điểm cân bằng BSC (Balanced Scorecard )
& David Norton, khái niệm này mới được chú ý rộng rãi Thẻ điểm cân bằng là sự kết hợp của các khái niệm đã trở thành một phần của quản lý kinh doanh từ cuối thế
kỷ 19 đã giúp cho các nhà quản lý, các doanh nghiệp tăng tính kết nối giữa chiến lược công ty đến với mục tiêu của mình mà không chỉ đơn thuần là đánh giá nhân viên qua doanh số/lợi nhuận hoặc theo cảm tính BSC là một giải pháp cho những vấn đề trên
Trang 402.2.1.2 Nội dung
Các đặc điểm của thẻ điểm bao gồm sự tập trung vào việc lựa chọn các mục tiêu cần theo đuổi và kết hợp cả dữ liệu tài chính và phi tài chính nhằm nhận xét đánh giá hoàn chỉnh, giúp ban lãnh đạo tập trung vào các chiến lược chính xác để đạt được các mục tiêu hiệu suất cụ thể Bằng cách đo lường hiệu suất nhà quản lý có thể đưa ra các
dự báo giúp điều chỉnh chiến lược để hướng đến mục tiêu của mình Thẻ điểm cân bằng là một tập hợp các biện pháp tài chính và phi tài chính tổng hợp được sử dụng trong quy trình thực thi chiến lược của một công ty nhằm làm nổi bật chiến lược giao tiếp với các thành viên và cung cấp phản hồi để đạt được các mục tiêu của tổ chức (Mendoza & Zrihen, 2001) Thẻ điểm có thể được sử dụng ở các cấp độ khác nhau cho tổ chức hoặc một đơn vị nhỏ hoặc như một “thẻ điểm cá nhân” BSC có thể là công cụ để cạnh tranh trong tương lai và các nhà điều hành khả năng giám sát tính hiệu quả của chiến lược của tổ chức BSC bao gồm các mục tiêu tài chính truyền thống, nhưng cũng bao gồm các mục tiêu thúc đẩy kết quả tài chính
Thẻ điểm đo lường hiệu suất trên bốn khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển Nó cung cấp cho tổ chức khả năng và giám sát các tài sản vô hình mà họ sẽ cần để thành công trong tương lai Kaplan và Norton thừa nhận tất cả các tổ chức đều có các biện pháp tài chính và phi tài chính, nhưng nhiều tổ chức chỉ sử dụng các con số phi tài chính cho các đánh giá cấp thấp
và để làm việc với khách hàng của họ BSC đặc biệt chỉ ra sự cần thiết phải áp dụng
cả các biện pháp tài chính và phi tài chính cho nhân viên ở tất cả các cấp của một tổ chức
Hình 2.1: Thẻ điểm cân bằng BSC-Balanced Scorecard
Nguồn: Kaplan, Norton, 1996
BSC
Tài chính
Quy trình Nội bộ DN
Học hỏi
và phát triển Khách
hàng