Không chỉ vậy, biển Đông còn là khu vực giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên như hải sản, dầu mỏ, khí đốt,… Do vậy, với vị trí chiến lượn quan trọng, biển Đông đã và đang góp phần quan trọn
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA PHÁT THANH-TRUYỀN HÌNH
-
-TIỂU LUẬN MÔN: Địa Chính Trị
Đề tài: Vai trò vị trí của Biển Đông đối với quá trình hợp
tác phát triển kinh tế của ASEAN từ 1967 đến nay.
HÀ NỘI – 2020
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do và tính cấp thiết của đề tài.
Biển Đông là một khu vực vô cùng quan trọng không chỉ của các nước ASEAN nói riêng mà còn là của thế giới nói chung Với vị trí địa lí là nơi tiếp giáp với nhiều tuyến tàu Không chỉ vậy, biển Đông còn là khu vực giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên như hải sản, dầu mỏ, khí đốt,…
Do vậy, với vị trí chiến lượn quan trọng, biển Đông đã và đang góp phần quan trọng trong quá trình hợp tác phát triển của các nước ASEAN
2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Làm rõ sự ảnh hưởng của biển Đông đến nền kinh tế khu vực ASEAN
- Làm rõ tầm quan trọng của khu vực biển Đông
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Sáng tỏ được quá trình phát triển của ASEAN
- Làm rõ vị trí chiến lược của khu vực biển Đông
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : Đặc điểm và vị trí chiến lược của Đông Nam Á mang lại thuận lợi và khó khăn gì cho các quốc gia trong khu vực
1 Khái quát về hiệp hội ASEAN:
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tổ chức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines, nhằm biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên Sau Hội nghịBali năm 1976, ASEAN xúc tiến chương trình cộng tác kinh tế, nhưng các
nỗ lực đều đi đến bế tắc vào giữa thập niên 1980 Phải đợi đến năm 1991, khi Thái Lan đề xuất thành lập khu vực thương mại tự do, thì Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN mới hình thành Hàng năm, các nước thành viên đều luân phiên tổ chức các cuộc hội họp chính thức để tăng cường hợp tác Tính đến năm 1999, ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên (trừ Đông Timor và Papua New Guinea chưa kết nạp, hiện đang giữ vai trò quan sát viên)
ASEAN có diện tích đất 4,46 triệu km², chiếm 3% tổng diện tích đất của TráiĐất, và có số dân khoảng 600 triệu người, chiếm 8,8% dân số thế giới Vùng biển của ASEAN có diện tích gấp ba lần so với đất.Năm 2018, tổng GDP ước tính của tất cả các quốc gia ASEAN lên tới xấp xỉ 2,92 nghìn tỷ
USD[3].Nếu ASEAN là một thực thể duy nhất thì quốc gia đó sẽ xếp hạng
10 trong số các nền kinh tế lớn nhất trên thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Nga, Pháp, Canada, Tây Ban Nha, Brazil, Anh, và Ý Dự kiến đến năm 2030, thực thể này sẽ đứng thứ 4 thế giới
Vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community – AEC) được thành lập
2 Vị trí địa lý của Đông Nam Á:
Trang 4Đông Nam Á là một khu vực nằm ở phía Đông Nam châu Á, bao gồm các nước nằm ở phía nam Trung Quốc, phía đông Ấn Độ và phía bắc của Úc, phía
Tây Papua New Guinea Khu vực này rộng 4.494.047 km² (chiếm 10.5% diện tích Châu Á và 3% diện tích đất trên Trái Đất) Phần lớn khu vực nằm ở bán cầuBắc và nằm một chút tại bán cầu Nam Nó bao gồm 11 quốc gia được chia thành 2 nhóm:
Nhóm đất liền (Bán đảo Trung - Ấn): Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái
Lan, Myanmar và phía tây Malaysia
Nhóm hải đảo (Quần đảo Mã Lai): Indonesia, phía đông
Malaysia, Singapore, Philipines, Đông Timor, Brunei
Đông Nam Á là khu vực có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý trong sự phát triển
kinh tế khu vực vì có vùng biển rộng, gấp nhiều lần so với diện tích đất liền, khinguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt thì vùng biển có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bên cạnh đó, vùng biển Đông Nam Á giàu tài nguyên như: Sinh vật, khoáng sản, tạo điều kiện phát triển du lịch và lĩnh vực giao thông vận tải… Ngoài ra, khu vực Đông Nam Á là giao điểm của con đường giao thông quốc tế, từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây Là cầu nối giữa Ấn Độ Dương
và Thái Bình Dương, lục địa Á - Âu và ÚC từ đó tạo thuận lợi cho việc phát triển các mối quan hệ, giao lưu buôn bán quốc tế, Đông Nam Á là khu vực có tầm quan trọng hàng đầu trên thế giới
Mặc dù có nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó khu vực Đông Nam Á cũng có nhiều khó khăn Vì là khu vực có vùng biển lớn và nhiều hải đảo do vậy, địa
hình ở đây bị chia cắt mạnh vậy nên không có những đồng bằng lớn, khó khăn cho giao thông đường bộ Ngoài ra, do là trung tâm của đường giao thông quốc
tế khiến cho Đông Nam Á ngay từ rất sớm đã bị các nước bên ngoài nhóm ngó,xâm lược
Đông Nam Á có vị trí địa – chính trị đặc biệt, là điểm xoáy chiến lược, giao thoa quyền lợi của nhiều cường quốc lớn trên thế giới như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ… Mỗi quốc gia có những mục tiêu chiến lược, sách lược vàlợi ích riêng đối với khu vực này
Trang 53 Đông Nam Á biển đảo
Đặc điểm địa hình có ít đồng bằng màu mỡ, chủ yếu là địa hình đồi núi, có nhiều đảo và quần đảo Khí hậu nhiệt đới, gió mùa xích đạo, rừng xích đạo ẩm thấp Hệ thống sông ngòi ngắn và ít, có vùng biển rộng Có đất đai màu mỡ: đất phù sa và Ferait
Thuận lợi:
- Điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp nhiệt đới Đặc biệt có vùng biển rộng, là điều kiện để phát triển kinh tế biển Đông Nam Á là nơi có nguồn khoáng sản nhiều, là cơ
sở để phát triển công nghiệp khai khoáng Bên cạnh đó, đường bờ biển dài, để phát triển du lịch
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa với nguồn nhiệt ẩm dồi dào, lượng mưa lớn thuận lợi cho phát triển trồng trọt (cây lúa nước, các loại cây công nghiệp lâu năm, hằng năm…) Khí hậu có sự phân hóa đa dạng tạo nên cơ cấu cây trồng và vật nuôi đa dạng Lượng bức xạ lớn, nhiệt độ cao quanh năm
độ ẩm dồi dào, lượng mưa phong phú: trồng lúa nước và phát triển nông sản nhiệt đới khác (cây công nghiệp, ăn quả, chăn nuôi, thủy sản)
Khó khăn: Mặc dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhưng khu vực Đông Nam
Á lại thường xuyên chịu thiên tai như bão, động đất, lũ lụt Gây ảnh hưởng đến đời sống người dân và sự phát triển kinh tế Ngoài ra, mưa lũ kéo dài gây lên hiện tượng xói mòn đất, rừng cây suy thoái, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt.Khí hậu nóng ẩm cũng là điều kiện để sâu bệnh phát triển mạnh.Thiên tai bão nhiệt đới, mưa lớn gây sạt lở, ngập lụt vùng đồng bằng và lũ quét, lũ ống vùng núi Khí hậu nóng ẩm cũng là điều kiện để sâu bệnh phát triển mạnh, nónglắm mưa nhiều làm cho một số cây trồng vật nuôi không thích nghi được Nhiềuloại sâu bệnh phát triển mạnh, gia cầm nhiễm bệnh chết hàng loạt
4 Biển
- Ở phía nam: giới hạn phía đông và phía nam của eo biển Singapore và eo biển Malacca, phía tây đến Tanjong Kedabu (1°06′B 102°58′Đ), trải xuống bờ biển phía đông đảo Sumatra tới mũi Lucipara
qua đảo này đến Tanjong Berikat (2°34′N 106°51′Đ) rồi đến Tanjong Djemang (2°36′N 107°37′Đ) trên đảo Billiton, sau đó men theo bờ biển phía bắc đảo này đến Tanjong Boeroeng Mandi (2°46′N 108°16′Đ) rồi từ
đó đến Tanjong Sambar (3°00′N 110°19′Đ) - cực tây nam của
đảo Borneo
Trang 6- Ở phía đông: xuất phát từ Tanjong Sambar, đi qua bờ phía tây đảo
Borneo đến điểm phía bắc Tanjong Sampanmangio, rồi theo một đường thẳng đến các điểm phía tây của đảo Balabac và cụm rạn đá Secam, hướng đến điểm phía tây của đảo Bancalan và đến mũi Buliluyan (điểm tây nam của đảo Palawan), băng qua đảo này đến điểm phía bắc mũi Cabuli, rồi từ đây đến điểm tây bắc của đảo Lubang và đến mũi Fuego (14°08'B) thuộc đảo Luzon, băng qua đảo này đến mũi Engaño (tức điểm đông bắc của đảo Luzon), rồi sau đó đi dọc theo một đường thẳng nối mũi này với điểm phía đông của đảo Balintang (20°B) và điểm phía đông của đảo Y'Ami (21°05'B), rồi từ đây hướng đến Garan Bi (mũi phía nam của đảo Đài Loan (Formosa), băng qua đảo này đến điểm đông bắc của Santyo (25°B)
- Ở phía bắc: từ Fuki Kaku - điểm phía bắc của đảo Đài Loan - đến
đảo Ngưu Sơn, rồi sau đó đến điểm phía nam của đảo Bình
Đàm (25°25'B) rồi hướng về phía tây dọc theo vĩ tuyến 25°24'B tới bờ biển Phúc Kiến
- Ở phía tây: đất liền châu Á, giới hạn phía nam của vịnh Thái Lan và bờ biển phía đông bán đảo Mã Lai
- Biển nằm trên một thềm lục địa ngầm; trong những kỷ băng hà gần đây nước biển đã hạ thấp xuống hàng trăm mét, và Borneo từng là một phần của lục địa châu Á
- Các nước và lãnh thổ có biên giới với vùng biển này (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc) gồm: đại lục Trung Quốc, Ma Cao, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái
Lan, Campuchia và Việt Nam
- Nhiều con sông lớn chảy vào Biển Đông gồm các sông Châu Giang, Mân Giang, sông Cửu Long (Phúc Kiến), sông Hồng, sông Mê Kông, sông Rajang, sông Pahang và sông Pasig
Thuận lợi
- Vùng biển rộng => phát triển kinh tế biển
- Tất cả các nước ĐNÁ đều có biển bao quanh (trừ Lào)
- Điều kiện để phát triển các ngành kinh tế biển như khai thác dầu mỏ, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, giao thong biển và du lịch biển
- Các nước trong khu vực (trừ Lào) đều giáp biển, thuận lợi để phát triển các ngành kinh tê biển cũng như thương mại, hàng hải
Trang 7- Đường bờ biển dài (khoảng 29750km) bị chia cắt bởi nhiều vùng vịnh thuận lợi cho xây dựng hải cảng , tàu bè trú ngụ
- Tại các vùng biển quanh quần đảo Nhật Bản có các dòng biển nóng và lạnh gặp nhau tạo nên nhiều ngư trường lớn, rất thuận lượi cho phát triển tổng hợp kinh tế biển như dịch vụ cảng biển, giao thông , đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản
Khó khăn:
- Vùng biển ASEAN là vùng biển xuất hiện rất nhiều cơn bão, gây khó khăn, nguy hiểm cho giao thông, cho hoạt động sản xuất và đời sống của những người dân ở vùng ven biển
- Thuỷ triều phức tạp (chỗ nhật triều, chỗ bán nhật triều) gây khó khăn cho giao thông
- Đôi khi biển còn gây sóng lớn hoặc nước dâng ảnh hưởng tới đời sống nhân dân ven biển
- Tình trạng sụt lở bờ biển và tình trạng cát bay, cát lấn
- Phải đối mặt với tình trạng nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu
- Là khu vực biển có các vùng biển xảy ra tranh chấp giữa nhiều quốc gia trong khu vực và cả ngoài khu vực điển hình là vùng biển đông của VIệt Nam và sự tranh chấp vô lý của Trung Quốc
Tranh chấp biển
- Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng Biển Đông và các nguồn tài nguyên của nó Bởi Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng 200 hải lý
(370,6 km) từ lãnh hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa
ra tuyên bố chủ quyền với những phần rộng lớn của nó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển Nhữngbáo cáo gần đây cho thấy Trung Quốc đang phát triển một nhóm tàu sân bay để bảo vệ những đường vận chuyển nhiên liệu ở Biển Đông Những vùng có nguy cơ tranh chấp gồm:
- Indonesia và Trung Quốc về vùng biển phía đông bắc quần đảo Natuna
- Philippines và Trung Quốc về những khu khai thác khí
gas Malampaya và Camago; về bãi cát ngầm Scarborough
- Việt Nam và Trung Quốc về vùng biển phía tây Quần đảo Trường Sa Một số hay toàn bộ quần đảo Trường Sa đang bị tranh chấp bởi Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines và một số nước khác
Trang 8- Quần đảo Hoàng Sa đang bị tranh chấp bởi Việt Nam và Trung
Quốc; Trung Quốc quản lý một phần quần đảo từ năm 1956 và toàn bộ quần đảo từ năm 1974 đến nay
- Malaysia, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam về những vùng ở Vịnh TháiLan
- Singapore và Malaysia dọc theo Eo biển Johor và Eo biển Singapore
- Cả Trung Quốc và Việt Nam đều theo đuổi các tuyên bố chủ quyền một cách mạnh mẽ Các nước tranh chấp thường xuyên thông báo về các vụ
va chạm giữa các tàu hải quân
- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nói chung và Trung
Quốc nói riêng luôn muốn đảm bảo rằng những tranh chấp bên trong Biển Đông sẽ không leo thang trở thành xung đột quân sự Vì vậy, các cơ
cấu phát triển chung (Joint Development Authorities) đã được lập ra tại
các vùng tranh chấp chồng lấn để cùng phát triển vùng và phân chia quyền lợi công bằng tuy nhiên không giải quyết vấn đề chủ quyền của vùng đó Điều này đã trở thành sự thực, đặc biệt là ở Vịnh Thái Lan Tuy nhiên, gần đây Trung Quốc đã tuyên bố sẽ không ngại dùng vũ lực để
chiếm đoạt quần đảo Trường Sa
- Trung Quốc tăng cường cải tạo các đảo và bãi đá tự nhiên, xây dựng các khu quân sự Đặc biệt là việc xây dựng các đường băng, càng tăng cường thêm mưu đồ chiếm trọn Biển Đông, thực hiện yêu sách "đường 10 đoạn"(vốn không được quốc gia hay tổ chức nào công nhận) Những tuyên bố lãnh thổ chồng lấn ở Pulau Pedra Branca hay Pulau Batu Putih của
cả Singapore và Malaysia đã được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế Tòa ánphán quyết theo chiều hướng có lợi cho Singapore
5 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên biển:
- Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa lý chính trị vô cùng quan trọng Nó
là đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hóa thương mại chuyển qua hàng năm, hơn 50% đi qua
eo biển Malacca, eo biển Sunda và eo biển Lombok Hơn 1,6 triệu m³ (10triệu thùng) dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng ngày, nơi
Trang 9thường xảy ra các vụ hải tặc, nhưng hiện đã giảm nhiều so với giữa thế kỷXX.
- Vùng này đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1,2 km³ (7,7 tỷ thùng), với ước tính tổng khối lượng là 4.5 km³ (28 tỷ thùng) Trữ lượng khí tự nhiên được ước tính khoảng 7.500 km³
- Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippines, vùng biển này chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái
Thuận lợi: Đông Nam Á nằm trong vành đai sinh khoáng nên có nhiều khoáng
sản, thuận lợi cho phát triển công nghiệp Vùng thềm lục địa có nhiều dầu khí,
là nguồn nguyên, nhiên liệu cho phát triển kinh tế, khoáng sản, phong phú đa dạng Dầu mỏ (Brunay, Việt Nam), sắt, đồng…
- Mặc dù khu vực có nguồn nước ngọt dồi dào, song việc sử dụng lãng phí,khai thác nước mặt và nước ngầm quá mức, quy hoạch hệ thống thủy điệnkhông hợp lý dẫn tới một số khu vực bị hạn hán, xâm nhập mặn , nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng
- Tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, nhất là nguồn nhiên liệu hóa thạch, đá quý, kim loại quý song thời gian qua nhiều nước trong khu vực khai thác triệt để phục vụ phát triển kinh tế trong khi công nghệ chế biến tương đối lạc hậu nên giá trị không cao Mặt khác khai thác khoáng sản tạo nhiều nguy cơ ô nhiễm môi trường sinh thái
- Thứ ba, đó là biến đổi khí hậu Hiện tượng trái đất nóng lên, nước biển dâng có ảnh hưởng nghiêm trọng tới khu vực ASEAN
- Các đợt nắng nóng, hạn hán, lũ lụt, và lốc xoáy nhiệt đới ngày càng khắc nghiệt và thường xuyên hơn, gây thiệt hại nặng nề đối với tài sản, của cải
và sinh mạng con người
- Biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm tất cả các vấn đề môi trường hiện tại ở các nước Đông Nam Á là nơi đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu do tình trạng tập trung dân cư dọc các bờ biển, sinh kế lệ thuộc vào nông nghiệp, khai thác hải sản và tỷ lệ nghèo cao
Trang 10- Nước biển dâng đe dọa nguồn cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt,tưới tiêu.
115 triệu ha đất nông nghiệp của khu vực ASEAN đang bị đe dọa bởi hạnhán, lũ lụt và lốc xoáy nhiệt đới liên quan tới hiện tượng ấm lên toàn cầu
- Gia tăng nhiệt độ và sự căng thẳng về nước, các hiện tượng thời tiết cực đoan, các loài gây hại và bệnh dịch liên quan tới khí hậu, tất cả đều góp phần vào sự suy giảm tiềm năng sản xuất nông nghiệp tại rất nhiều nơi trong khu vực
Trang 11CHƯƠNG 2: Các quốc gia Đông Nam Á phát huy được lợi thế địa - chính trị như thế nào trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
1 Lợi ích các quốc gia Đông Nam Á:
Lợi ích cho các bên hữu quan
Lợi ích chung sẽ phát sinh từ việc tạo ra một thị trường thống nhất và kèm theolợi thế kinh tế theo quy mô, sự sâu sắc của việc ổn định kinh tế vĩ mô, và thànhtựu của “vai trò trung tâm ASEAN”và “tiếng nói chung” Các tác động phúc lợilớn được ước tính của thị trường thống nhất và cơ sở sản xuất đồng nhất nênthúc đẩy tăng trưởng GDP tiềm năng; và cải thiện thể chế, chẳng hạn như trongcác thị trường tài chính và cấu trúc cân đối, nên làm cho các khu vực nhà nướchiệu quả hơn và cung cấp một động lực mạnh mẽ cho các thành phần của tổngcầu (ví dụ, đầu tư, tiêu dùng và mậu dịch), “Mậu dịch bị phân đoạn” thông quamạng lưới sản xuất sẽ cho phép các nước ngay cả với thị trường nhỏ và giớikhông chuyên trong nước được hưởng những tác động giảm thiểu chi phí củaquy mô nền kinh tế Ngoài ra, FDI trong sản xuất có xu hướng chảy vào cácnước ưu tiên kinh tế vĩ mô ổn định và có thể dự đoán được Trong các biện phápkinh tế vĩ mô, khi so sánh với các khu vực đang phát triển khác, AEC được xâydựng trên một nền tảng mạnh mẽ như các nước thành viên ASEAN và đã cónhững chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng
Hội nhập ASEAN trở nên sâu sắc khi một làn sóng của các hiệp định thươngmại khu vực mới đã quét qua khu vực Hầu hết các nước thành viên ASEAN có
ít nhất một FTA (Hiệp định thương mại tự do) với một quốc gia ngoài ASEAN
Kể từ khi các nước thành viên duy trì các chính sách thương mại của riêng của
họ với các nước thứ ba, các thỏa thuận này có thể đưa các tác động ly tâm vàoASEAN Tuy nhiên, ACE sẽ giúp duy trì vai trò trung tâm của ASEAN và tiếntrình cân đối AEC sẽ từ từ nhưng chắc chắn tạo ra lợi ích thương mại liên quanđến các nước thứ ba và các tổ chức hợp nhất ASEAN đã tụt lại liên quan tớitiềm năng của nó trong việc thể hiện các vị thế chung tại WTO, cũng như các tổchức khác ở ngoài khu vực như ASEAN+3, APEC, và ASEM AEC sẽ cho phépASEAN tăng thêm tiềm năng đó Mặc dù khó để định lượng được, nhưng khảnăng đề ra lợi ích kinh tế của ASEAN với tiếng nói chung có thể chứng minh làmột trong những lợi thế quan trọng nhất của ASEAN
Lợi ích của tự do mậu dịch hàng hóa
AFTA là một thành tựu đáng kể, nhưng nó để lại cấu trúc kinh tế của ASEAN sựthiếu hụt trong việc hình thành thị trường hội nhập AEC mở rộng, đào sâu, vàhiện đại hóa tất cả các sang kiến hội nhập của ASEAN, loại bỏ chi phí giao dịchnhân tạo liên kết với các hoạt động kinh tế xuyên biên giới và tiến hành phươngpháp tốt nhất
Trang 12Ví dụ như việc thực hiện kế hoạch AEC, sẽ đảm bảo rằng thuế quan giảm xuốngbằng không trong tất cả các ngành kinh tế liên quan Thuế quan trong nội bộASEAN đã thấp hoặc bằng không trong hầu hết mọi lĩnh vực trong ASEAN-6quốc gia và họ sẽ sớm được loại khỏi CLMV Biện pháp AEC còn nhằm mụcđích loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (NTBs), mà hiện nay mang lại nhiều tốnkém cho doanh nghiệp hơn thuế quan Làm như vậy sẽ giúp thống nhất thịtrường và thúc đẩy mậu dịch trong khu vực Việc loại bỏ hoàn toàn các hàng ràophi thuế quan là việc rất khó khăn, Ví dụ, sau 30 năm thành lập thị trường chungthống nhất, EU mới bắt đầu tiến hành loại bỏ các hàng rào phi thuế quan và phảimất rất lâu để xóa bỏ một số rào cản.
Loại bỏ các rào cản không cần thiết đối với thương mại, tại biên giới và các nơikhác, sẽ khuyến khích sự tăng trưởng về hệ thống sản xuất khu vực trong AEC.Việc sản xuất của một linh kiện được tạo ra 1 lần tại một nhà máy duy nhất bâygiờ được tổ chức thông qua một hệ thống các nhà máy nhỏ và độc lập hoặc mộtMNC (Công ty đa quốc gia) sử dụng một khu vực như là một cơ sở sản xuấtđồng nhất Sản xuất và mậu dịch bị phân mảnh như vậy liên quan đến việc nólàm tăng năng suất, giảm chi phí, và thậm chí cho phép các nền kinh tế kémphát triển để tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu
Hợp lý hóa các quy tắc về xuất xứ như đã đề ra trong Kế hoạch AEC cũng sẽtạo điều kiện cho việc tạo ra các mạng lưới sản xuất, giảm chi phí liên quan vớichế độ thuế quan độc lập, chống lại sự méo mó phát sinh từ quá nhiều khuônkhổ ASEAN+ và các FTA song phương, và cải thiện triển vọng cho doanhnghiệp vừa và nhỏ trong toàn ASEAN Các quy tắc về xuất xứ theo khuôn khổAFTA thì tương đối đơn giản và không phức tạp, nhưng những doanh nghiệpvừa và nhỏ có thể gặp những bất lợi bởi rất nhiều yêu cầu hành chính từ bất kỳmột quy tắc về xuất nào Kế hoạch AEC nhằm mục đích đảm bảo rằng có càngnhiều mậu dịch trong nội khối ASEAN càng tốt, đủ tiêu chuẩn cho giá trị giatăng và sự thay đổi trong quy tắc phân loại thuế quan và để giữ cho chi phí quản
lý và tuân thủ càng thấp càng tốt Các "Tô phở châu Á" của những quy địnhphức tạp về xuất xứ dưới các khuôn khổ ASEAN + FTAs và các FTA songphương có thể bóp méo các chiến lược nguồn gốc của các công ty đa quốc gia
và hạn chế các dây chuyền sản xuất và phân mảnh mậu dịch toàn cầu
Hoạt động mậu dịch sẽ được dễ dàng hơn khi các biện pháp tạo thuận lợi mậudịch đã đề ra trong Kế hoạch AEC được thực hiện đầy đủ: hiện đại hóa các cơ
sở hải quan; tích hợp và hài hòa hóa các quy trình hải quan thông qua các cơ chếnhư ASEAN Single Windows (Một cửa ASEAN); minh bạch trong thông tinliên lạc và hiệu quả của các quy tắc và thủ tục hải quan; thành lập một ASEANTrade Facilitation Repository (Kho hải quan ASEAN???); và các biện pháp tạothuận lợi cho quá cảnh
Thực hiện phương pháp tốt nhất trong việc đưa ra các quy định và chính sáchkhu vực sẽ giúp hội nhập khu vực có hiệu quả hơn vào nền kinh tế toàn cầu.Giống như các hiệp định hội nhập sâu khác, kế hoạch AEC sử dụng nguyên tắc
Trang 13đối xử quốc gia trong hầu hết các vùng; khác ở chỗ, nó cũng kêu gọi áp dụngcác thông lệ tốt nhất vì mục tiêu là hiệu quả và chống phân biệt đối xử Việc ápdụng các thông lệ tốt nhất rất quan trọng đối với sự cân đối các tiêu chuẩn vàcác rào cản chuyên môn đối với mậu dịch Do tầm quan trọng của mậu dịchngoài khu vực và nguồn FDI vào ASEAN và sự cần thiết của việc hội nhập vớinền kinh tế toàn cầu, các tiêu chuẩn này nên thể hiện là thông lệ tốt nhất trêntoàn cầu hơn là trong khu vực Kế hoạch AEC cũng cung cấp cho các chuyêngia MRA về đánh giá sự phù hợp và tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Lợi ích của hội nhập quốc tế về dịch vụ
Dịch vụ chiếm hơn một phần tư của mậu dịch toàn cầu và 20 - 30 % giá trị giatăng của GDP trong ASEAN Dịch vụ đã trở nên ngày càng quan trọng tronghoạt động kinh tế toàn cầu trong và của chính nó và là người hỗ trợ mậu dịchhàng hoá và nguồn vốn FDI Vai trò của nó được phát triển trên mặt cầu khi thịhiếu của người tiêu dùng trở nên tinh vi hơn, và về phía cung như là hệ thốngsản xuất dựa trên các dịch vụ như tạo điều kiện đầu vào Thực tế, các chuỗi sảnxuất giá trị toàn cầu dựa trên các dịch vụ để khai thác một bộ phận cạnh tranhcủa lao động trong bất kỳ khu vực được giao Một ngành dịch vụ không hiệuquả gây cản trở sự tham gia vào hệ thống sản xuất
Tự do hóa và thuận lợi hóa mậu dịch dịch vụ trong ASEAN đã được nêu trongHiệp định khung ASEAN về Mậu dịch dịch vụ (AFAS) Kế hoạch AEC thấyrằng mậu dịch dịch vụ là điều cần hiết để tạo ra một thị trường hội nhập, đặcbiệt là tạo ra hiệu ứng lan tỏa Tuy nhiên, mậu dịch dịch vụ vẫn tiếp tục là hạnchế trong ASEAN Nhiều hạn chế trong các hình thức quy chuẩn kỹ thuật, cấpgiấy phép và trình độ yêu cầu Một số có thể được phân biệt đối xử với các nhàcung cấp nước ngoài phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe hơn hay nặng nề hơn sovới các nhà cung cấp địa phương Nguyên tắc đối xử quốc gia trong dịch vụ cónghĩa vụ san lấp mặt bằng sân chơi thông qua các nhà cung cấp; thông lệ quốc
tế tốt nhất đòi hỏi phải áp dụng các quy định hiệu quả nhất Việc tự do hóa vàthuận lợi hóa dịch vụ trong ASEAN là không tiên tiến bằng hàng hóa cho thấyrằng “giá trị gia tăng” của AEC sẽ còn cao hơn
2 ASEAN và các nước thành viên ASEAN
Lợi ích của việc thu hút sản suất - tăng cường FDI
Sự đa dạng cơ cấu kinh tế trong khu vực ASEAN làm cho nó trở thành một ứngviên nặng ký cho hợp tác đầu tư AEC là dành cho việc tạo ra một nguồn vốnFDI miễn phí và mở vào năm 2015 Nó được xây dựng trên AIA, mà bản thân
nó được dựa trên ba nền tảng của tự do hóa, thuận lợi hóa và thúc đẩy FDI AIAhình dung nguyên tắc đối xử quốc gia đối với các nước không phải là đối tác làtốt, dù là với khung thời gian khác nhau, nó thể hiện sự định hướng hướng ngoạicủa hội nhập ASEAN Với hơn ¾ FDI đến từ bên ngoài khu vực, điều này có
Trang 14thể sẽ là một yếu tố cần thiết cho một chiến lược FDI hiệu quả Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng tác động của AIA tạo được thuận lợi cho dòng vốn FDI, nhưngnhiều biện pháp tự do hóa và thuận lợi hơn sẽ cần thiết để thuyết phục ngườidân và không phải cư dân thuộc MNCs mà ASEAN tạo nên một thị trường đầy
đủ hợp nhất Để kết thúc vấn đề này, Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN(ACIA) sẽ hình thành chế độ FDI cho ASEAN Tất cả chỉ số từ thông lệ quốc tếtốt nhất cùng nới nguyên tắc đối xử quốc xuất hiện như là những nguyên tắcvượt ngưỡng của ACIA
Lợi ích của dòng chảy tự do lao động có tay nghề
Lý thuyết kinh tế tạo ra một động lực mạnh mẽ cho dòng chảy các yếu tố tự dohơn, bao gồm cả lao động Các quyết định ủng hộ một dòng chảy tự do của laođộng có tay nghề cao trong AEC là một tiếng nói chung: một dòng chảy tự do sẽlàm cho ASEAN hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài và bắt đầumột quá trình công nhận lẫn nhau về trình độ chuyên môn Điều này sẽ dẫn đến
sự công nhận lẫn nhau về văn bằng, bằng cấp, chứng chỉ đào tạo, và các loạitương tự Quá trình này mang lại sự hợp tác chặt chẽ hơn trong khu vực đối vớicác cơ sở đào tạo, các trường đại học và các viện nghiên cứu Nó cũng sẽ thúcđẩy hội nhập xã hội, tạo ra, ví dụ như các hiệp hội chuyên nghiệp thông quaASEAN Quá trình này sẽ giúp ASEAN xây dựng được hình tượng Như cácnước thành viên ASEAN hội nhập nhiều hơn thông qua AEC và hai trụ cột kháccủa Cộng đồng ASEAN, các dòng lao động có tay nghề cao sẽ tự nhiên tăng lên
Để phù hợp và tạo điều kiện cho những dòng chảy, điều phối tài chính (ví dụ, đểtránh đánh thuế hai lần), được bàn đến trong Kế hoạch AEC, sẽ trở nên quantrọng hơn
Lợi ích của việc thu hẹp khoảng cách phát triển
ASEAN có thể là tổ chức khu vực văn hóa nhất, xã hội nhất, và đa dạng nhấttrên thế giới Nền kinh tế của các thành viên cũng rất đa dạng, từ thu nhập cao,trung bình, và thấp Thu hẹp khoảng cách phát triển sẽ tạo thiện chí và sự gắnkết xã hội trong ASEAN và sẽ giúp duy trì ý chí chính trị cần thiết để đạt đượcAEC
Thu hẹp khoảng cách đòi hỏi sự chú ý ở cấp khu vực và quốc gia Đầu tiên, các
nền kinh tế phát triển hơn sẽ cần phải giúp những nước kém phát triển lên cácnấc thang phát triển, đặc biệt liên quan đến FDI, chuyển giao công nghệ, pháttriển nguồn nhân lực và xây dựng năng lực, cơ cấu quản trị, và chia sẻ kinhnghiệm phát triển và nguyên lý tốt nhất; và kế hoạch AEC nhấn mạnh rằng tăngtrưởng kinh tế cần được hòa nhập và khẳng định lại cam kết của ASEAN để hợptác thông qua các cơ chế như Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) IAI bao gồmmột số lĩnh vực ưu tiên: phát triển nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, xâydựng năng lực hội nhập kinh tế khu vực, năng lượng, môi trường đầu tư, dulịch, xóa đói giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống
Trang 15Thứ hai, sự bất bình đẳng trong thu nhập hiện hữu và tiềm năng trong nước phải
được giải quyết Ngay cả khi khu vực hóa và toàn cầu hóa giúp cải thiện phânphối thu nhập quốc dân, thay đổi công nghệ và tích tụ đầu tư có thể làm trầmtrọng thêm sự bất bình đẳng thu nhập Hợp tác khu vực, ví dụ, có thể khuếch tánxung tăng trưởng của mỗi nước từ trung tâm đến ngoại vi thông qua các hoạtđộng đầu tư và thương mại nối khu vực biên giới của các nước thành viênASEAN Không giải quyết bất bình đẳng thu nhập gia tăng có thể tạo ra các vấn
đề nghiêm trọng Hơn nữa, sự bất bình đẳng thu nhập gia tăng sẽ được đổ lỗicho AEC, dù có hay không có trách nhiệm Một phản ứng như vậy có thể làmgiảm ý chí chính trị để thực hiện các biện pháp và chính sách phức tạp và khókhăn về chính trị vốn có trong AEC Vì vậy, việc giải quyết bất bình đẳng thunhập tạo ra rất nhiều ý nghĩa từ một quan điểm chính trị-kinh tế Nó cũng tạo ra
ý nghĩa kinh tế, sự bất bình đẳng thu nhập thực sự có thể gây bất lợi cho tăngtrưởng kinh tế
Các thành viên kém phát triển hơn cũng có thể hưởng lợi từ tác động của việcđàm phán tốt hơn của ASEAN trong những nhóm đàm phán khác nhau trongkhu vực và quốc tế Sự đa dạng này có những lợi thế quan trọng cho AEC: nhưcác giao dịch xuyên biên giới chi phí đầu tư giảm sẽ có thể sử dụng sự đa dạng
về nguồn lực nhân tố và mức chi phí và cấu trúc để thiết lập các chuỗi giá trị sảnxuất
3 Các nước thành viên ASEAN và các nhà đầu tư
Lợi ích của phát triển tài chính và thị trường vốn
Kể từ khi cuộc khủng hoảng châu Á 1997-1998, các nước thành viên ASEAN
đã tìm cách để cải thiện thị trường vốn trong nước và tăng cường hợp tác ở cấp
độ khu vực và ASEAN+3 Việc quan tâm đến sự hội nhập thị trường chứngkhoán phát sinh chủ yếu là do hợp nhất một thị trường chứng khoán khu vực cóhiệu quả hơn các thị trường vốn quốc gia bị phân đoạn Cụ thể, các nước thànhviên ASEAN muốn giảm sự phụ thuộc truyền thống của khoản vay ngân hàng
và cung cấp nguồn tài chính khác nhau thông qua trái phiếu và cổ phiếu pháthành, đồng thời cũng tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài khu vực Và người tiếtkiệm sẽ chào đón một sự lựa chọn tốt hơn cho các cơ hội đầu tư
Khi thị trường tài chính trở nên hội nhập hơn, các nhà đầu tư từ tất cả các nước thành viên sẽ có thể phân bổ vốn đến nơi sử dụng hiệu quả nhất Điều này sẽđặc biệt có lợi cho các nước đang phát triển, nơi tỷ lệ lợi nhuận trên đầu tư đượccho cao nhất Với nhiều dòng chảy xuyên biên giới của các quỹ, nguồn chứngkhoán kinh doanh cá nhân sẽ cải thiện tính thanh khoản của thị trường chứngkhoán và trái phiếu, do đó sẽ làm giảm chi phí vốn cho các doanh nghiệp tìmkiếm nguồn vốn và chi phí giao dịch thấp Những tác động này đề nghị phân bổhiệu quả hơn nguồn vốn trong khu vực Đối với thị trường có thu nhập cố định,phát triển của thị trường trái phiếu là một ưu tiên tất nhiên trong bối cảnh cần
Trang 16vốn để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng mở rộng kinh doanh, và thâm hụtngân sách ở một số quốc gia thành viên Thị trường trái phiếu cũng rất quantrọng trong việc thiết lập các tiêu chuẩn rủi ro trong nền kinh tế.
Kế hoạch AEC nhấn mạnh tầm quan trọng của điều kiện phát triển thị trườngvốn và mậu dịch xuyên biên giới đối với tài sản Khi tiền thu được thuận lợi,hiệu quả sẽ tăng lên và chi phí vốn sẽ giảm Kết quả sẽ mang lại đầu tư mạnh
mẽ hơn nữa, đây là vấn đề hơi khó giải quyết trong những năm gần đây: giảmtốc độ tăng trưởng GDP trong ASEAN từ trước khủng hoảng khoảng 8% xuống5% hậu khủng hoảng chủ yếu có thể được giải thích bởi sự sụt giảm tỷ trọngđầu tư của GDP từ một phần ba xuống một phần năm Khi FDI có xu hướng hútđến những thị trường với các tổ chức tài chính mạnh, tự do hóa phối hợp, pháttriển và hợp tác khu vực trong lĩnh vực này nên có tác dụng phụ đáng kể vào sựphát triển ở hầu hết các lĩnh vực khác
Do tính chất của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, khu vực có thể có xuhướng né tránh phát triển thị trường vốn Đây sẽ là một sai lầm Cuộc khủnghoảng hiện nay, có nguồn gốc ở Hoa Kỳ, bắt nguồn từ một số yếu tố, hầu hếttrong số đó đã không áp dụng trong khu vực ASEAN: sự mất cân bằng kinh tế
vĩ mô bền vững và không bền vững, mở rộng tín dụng quá mức, bong bóng tàisản, thị trường, thiếu sự giám sát tài chính, thiếu sót trong cơ cấu của quy chếtài chính, thiếu hụt mô hình rủi ro giá trị, phi đạo đức và thậm chí gian lận trong
sổ sách kế toán Hợp tác chặt chẽ hơn có thể giảm thiểu những ảnh hưởng của
sự lây lan toàn cầu và, cùng phối hợp với sự phát triển tài chính, giúp tránh cáccuộc khủng hoảng hoặc ít nhất là giảm thiểu tác động của chúng
EU và ASEAN:
Quan hệ thương mại:
Những tác động tích cực từ việc tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện giữa EU
và ASEAN đã tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho sự hội nhập và phát triển kinh tếcủa các thành viên trong cả hai tổ chức Trong thế kỷ mới của quan hệ giữa hai châu lục, các quốc gia tích cực mở rộng hợp tác đầu tư, kinh doanh, phát huy lợithế, bổ xung cho nhau tạo điều kiện thuận lợi để cùng phát triển Qua 4 thời kỳ đại hội của Hội nghị thượng đỉnh á - Âu (Asia - Europe Meeting, ASEM), tiến trình hợp tác á - Âu ngày càng được phát triển, nổi lên trong đó là mối quan hệ EU-ASEAN EU tìm thấy ở ASEAN và châu á một thị trường khổng lồ với hơn
4 tỷ dân, nơi có nguồn lao động dồi dào và tương đối rẻ, một thị trường đầu tư
to lớn với tỷ suất hấp dẫn và một thị trường buôn bán đầy tiềm năng; nơi các quốc gia đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ nhanh cần nhiều công nghệ, kỹ thuật, vốn đầu tư, hàng hoá có chất lượng cao mà EU có thế mạnh Mở rộng buôn bán với một ASAN đang phát triển sôi động, EU có
Trang 17điều kiện mở rộng buôn bán thương mại, phát triển kinh tế, tạo thêm việc làm giúp giải quyết một phần nạn thất nghiệp mang tính cơ cấu đang đè nặng lên cácnước EU.
Lịch sử hợp tác thương mại EU-ASEAN bắt đầu bằng việc các nước ASEAN cung cấp sản phẩm nguyên khai cho EU và nhập khẩu máy móc thiết bị hàng tiêu dùng từ EU Từ sau khi kí Hiệp định khung hợp tác hai bên năm 1980 với việc ASEAN được hưởng qui chế tối huệ quốc, kim ngạch buôn bán hai chiều EU-ASEAN tăng liên tục Năm 1993 kim ngạch buôn bán EU-ASEAN tăng gấp
3 lần so với năm 1980 (từ 20 tỷ USD lên 60 tỷ USD) năm 1995 là 70 tỷ USD Năm 1995 EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của ASEAN và là bạn hàng thương mại lớn thứ ba sau Nhật Bản và Bắc Mỹ Phía EU chiếm 18% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN trong khi đó ASEAN chỉ chiếm 2,6% tổng kim ngạch thương mại của EU trong năm 1995, hiện nay ASEAN chiếm khoảng 5,6% kim ngạch xuất khẩu của EU Đến năm 2001, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của ASEAN và là đối tác thương mại lớn thứ 3 Kim ngạch nhập khẩu của EU và ASEAN năm 1995 là 34.670 triệu Euro, năm 2000 là 69.310 triệu Euro; kim ngạch xuất khẩu EU-ASEAN cũng trong thời gian trên là 37.091 và 40.655 triệu Euro Với EU, ASEAN có tiềm năng to lớn cho việc phát triển hợp tác thương mại hai bên ASEAN vừa là thị trường vừa là cửa ngõ để EU đi vào khu vực châu á - Thái Bình Dương
Kinh tế các nước Đông Nam á đang phát triển mạnh mẽ vì vậy ASEAN đang trởthành một thị trường quan trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ EU Theo mộtnghiên cứu của Hội đồng châu Âu vào năm 1978, EC là nhà đầu tư lớn thứ 3 của ASEAN, phần của EC trong đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN là 13% so với Mỹ là 16% Số liệu gần đây cho thấy EU đầu tư nhiều hơn và là nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn thứ 2 của ASEAN Năm 1991 chiếm 20%tổng số đầu tư nước ngoài vào ASEAN sau Nhật (27%) Giai đoạn 1997-2000 khu vực ASEAN chiếm khoảng 1,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của EU Hiện nay EU đang khuyến khích tăng cường hợp tác và đầu tư của các thành phần kinh tế tư nhân, mở rộng hợp tác trên cơ sở tay đôi và khu vực thông qua các chương trình như: Thuận lợi hoá thương mại (TFAP), Tăng cường đầu tư (IPAP), Diễn đàn doanh nghiệp á - Âu (AEPF), Quỹ bảo lãnh ASEM (ATF), Hệ thống hỗ trợ tài chính của châu Âu (EFEX)
Những số liệu nêu trên cho thấy quan hệ đầu tư giữa EU và ASEAN ngày càng chiếm tỷ trọng cao tuy vậy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai khu vực