1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh thái học các loài thuộc bộ nấm lỗ (polyporales) làm cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học nấm lớn ở vườn quốc gia ba vì

119 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thu thập, chế biến, phân biệt các loài nấm Lớn, nắm vững tập tính sống, nghiên cứu và lợi dụng chúng có tác dụng rất quan trọng trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh học sẽ góp phần

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TRẦN TUẤN KHA

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CÁC LOÀI THUỘC BỘ NẤM LỖ (POLYPORALES) LÀM CƠ SỞ

CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

NẤM LỚN Ở VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ

Chuyên ngành: Lâm sinh

Mã số:62.62.0205

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Phạm Quang Thu GS.TS Nguyễn Thế Nhã

HÀ NỘI 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi

Các số liệu sử dụng trong luận án có nguồn gốc rõ ràng

Kết quả nêu trong luận án là trung thực, khách quan và

chưa có ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 4 năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành được công trình nghiên cứu này tôi đã nhận được sự giúp dỡ tận tình của các thầy cô giáo, các nhà khoa học thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS Phạm Quang Thu

và GS Nguyễn Thế Nhã đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ trong suốt quá trình phấn đấu khoa học thực hiện đề tài

Xin bày tỏ lòng biết ơn các nhà khoa học Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Viện Bảo vệ thực vật, Ban Quản lý vườn Quốc gia

Ba Vì đã tạo mọi điều kiện cho tôi thu thập các thông tin, tài liệu, mẫu vật nghiên cứu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận án

Xin tỏ lòng biết ơn Ban Lãnh đạo, các cán bộ công nhân viên và các bạn đồng nghiệp Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, nơi tôi dang công tác, đặc biệt là Bộ môn Lâm sinh, Khoa Lâm nghiệp và Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường Trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần để hoàn thành luận án

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các em sinh viên và học viên Cao học Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, khoa Lâm nghiệp - Môi trường trường Đại học Thành Tây, cùng nhân dân dịa phương thu thập mẫu nấm và những thông tin cần thiết cho việc thực hiện đề tài

Cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp, thân hữu đã hết lòng giúp đỡ và chia

sẻ những khó khăn trên bước đường đầy gian khổ để có một công trình khoa học như hôm nay

Hà Nội, tháng 4 năm 2015

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC BẢNG VI DANH MỤC CÁC HÌNH VII

MỞ ĐẦU 1

1.Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

2.1 Mục tiêu tổng quát 4

2.2 Mục tiêu cụ thể 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và đóng góp mới của luận án 4

4.1 Ý nghĩa khoa học 4

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

4.3 Những đóng góp mới của luận án 5

Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài thuộc bộ nấm Lỗ 7

1.1.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái nấm Lỗ 12

1.1.1.3 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học nấm Lỗ 17

1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 29 1.2.1 Đặc điểm huyện Ba Vì 29

1.2.2.Đặc điểm Vườn Quốc gia Ba Vì 30

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

Trang 5

2.1 Địa điểm nghiên cứu 37

2.2 Thời gian nghiên cứu 37

2.3 Nội dung nghiên cứu 38

2.4 Phương pháp nghiên cứu 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

3.1.Thành phân loài các loài nấm Lỗ 47

3.1.7.2 Đặc điểm kết cấu hiển vi của nấm Lỗ 65

3.2 Phân tích đặc điểm sinh thái và phân bố bộ nấm Lỗ vườn Quốc gia 67

Ba Vì 67

2) Phân bố nấm Lỗ theo trạng thái rừng 76

3) Phân bố nấm Lỗ trên các loài cây chủ khác nhau 76

3.3 Một số ý kiến đề xuất các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn ở vườn Quốc gia Ba Vì 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

DANH SÁCH CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 94

ĐÃ CÔNG BỐ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Đa dạng sinh học deoxyribonucleic acid

Uỷ ban Bảo tồn nấm Châu Âu Human Immuno-deficiency Virus Khoa học công nghệ

máy so màu National Center of Biotechnical Information Nhiệt đới

Nông nghiệp Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hội Vườn Quốc gia Nhật Bản

Nhà Xuất bản Nhà Xuất bản Khoa học Trung Quốc

Ôn đới

Ô tiêu chuẩn poly-o-chlorinated dibenzodioxin poly-o-chlorinated dibenzofuran ribose nucleic acid

Toxin chlorinated dibenzofuran Toxin chlorinated dibenzofuran Kính hiển vi điện tử

Thế giới Trung Quốc Thứ tự

Vi sinh vật Vườn Quốc gia Ba Vì Quỹ Động vật hoang dã

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm của các tuyến điều tra và các ô tiêu chuẩn 41

Bảng 3.1 Danh lục các loài nấm Lỗ ở vườn Quốc gia Ba Vì 47

Bảng 3.2 Số loài trong các họ thuộc bộ nấm Lỗ 51

Bảng 3.3 Số chi trong các họ thuộc bộ nấm Lỗ 51

Bảng 3.4 Số chi và số loài trong các họ thuộc bộ nấm Lỗ 52

Bảng 3.5 Số loài trong các chi thuộc bộ nấm Lỗ 53

Bảng 3.6 Số thể quả các loài nấm thuộc bộ nấm Lỗ 56

Bảng 3.7 Một số đặc điểm hình thái của nấm Lỗ 65

Bảng 3.8 Đặc điểm kết cấu hiển vi của nấm Lỗ 66

Bảng 3.9 Sự phân bố chủ yếu của các loài nấm Lỗ ở vườn QGBV 68

Bảng 3.10 Phân bố số loài nấm theo đai dộ cao 69

Bảng 3.11 Phân bố số thể quả nấm Lỗ theo đai độ cao 70

Bảng 3.12 Số loài và số thể quả theo hướng phơi 71

Bảng3.13 Số lần gặp (> 5 lần) các loài nấm Lỗ ở vườn QGBV 72

Bảng 3.14 Phân bố nấm Lỗ theo các tháng 73

Bảng 3.15 Phân bố nấm Lỗ theo các trạng thái rừng 76

Bảng 3.16 Sự phân bố nấm Lỗ trên các loài cây chủ 77

Bảng 3.17 Các kiểu mục của nấm Lỗ 80

Bảng 3.18 Công dụng của các loài nấm Lỗ 87

Bảng 3.19 Những loài nấm Lỗ cần được bảo tồn 88

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Sơ đồ khí hậu Ba Vì theo Gaussen- Walter (1963) 32

Hình 3.1 Vị trí phân loại nấm Lỗ ở vườn QGBV 54

Hình 3-2:Nấm Sáp màu vàng mật (Ceriporia mellea) 58

Hình 3-3:Nấm Sáp tím (Ceriporia purpurea) 59

Hình 3-4: Nấm Tựa sáp khô (Ceriporiopsis aneirina) 59

Hình 3-5 a,b Nấm Tựa sáp mốc (Ceriporiopsis mucida) 60

Hình 3-6:Nấm Trải u hạt (Hyphoderma transiens) 61

Hình 3-7:Nấm Linh chi Quí châu (Ganoderma guizhouense) 62

Hình 3-8:Nấm Linh chi Sanming (Ganoderma sanmingense) 63

Hình 3.9 Nấm Linh chi giả Quảng Tây (Amauroderma guangxiense) 64

Hình 3.10.Phân bố nấm Lỗ theo các tháng 74

Hình 3.11.Gỗ bị rỗng ruột 78

Hình 3.12 Mục trắng tổ ong 78

Hình 3.13 Gỗ bị mục nâu dạng khối 81

Hình 3.14 Gỗ bị mục trắng xốp 81

Hình 3.15 &3.16 Mối hại cây rừng 82

Hình 3.17 & 3,18, Một số loài mọt và ong đục cây 82

Hình 3.19 Nấm biến dạng khi bị thương 83

Hình 3.20 Nấm bao vật cản 83

Hình 3.21.Nấm mọc đổi hướng 83

Hình 3.22 Nấm nhiều tầng biến dạng 83

Trang 9

MỞ ĐẦU 1.Đặt vấn đề

Bảo vệ tính đa dạng sinh vật để bảo đảm sự sinh tồn và phát triển của nhân loại là vấn đề được các nhà khoa học, các cơ quan chính phủ và các giới doanh nghiệp đặc biệt quan tâm

Thành phần sinh vật bao gồm thực vật động vật và vi sinh vật Nấm nói chung nấm Lớn nói riêng là thành phần của vi sinh vật cần được bảo tồn Nghiên cứu vi sinh vật nói chung, nấm Lớn nói riêng sẽ góp phần giải quyết 5 nguy cơ của nhân loại hiện nay: nguy cơ về lương thực, nguy cơ về năng lượng, nguy cơ về thiếu nguồn tài nguyên, nguy cơ về thoái hoá hệ sinh thái và nguy cơ về bùng nổ dân số Hiện nay trên thế giới có khoảng 7000 loài nấm Lớn nhưng tồn tại thực tế chỉ gần một nửa những loài đã biết, phần lớn chưa được nghiên cứu lợi dụng Việc thu thập, chế biến, phân biệt các loài nấm Lớn, nắm vững tập tính sống, nghiên cứu

và lợi dụng chúng có tác dụng rất quan trọng trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh học sẽ góp phần giải quyết những nguy cơ trên.(Dai YC,2012) [64]

Nấm Lỗ hay nấm nhiều Lỗ (polypores) có thể bào tầng dạng lỗ, có chất da đến chất gỗ Tuy thể quả có lỗ, nhưng phương thức mọc của thể quả và giá thể (substrate) rất đa dạng như mọc trải, trải uốn ngược, dạng tán, có cuống mọc đơn hoặc mọc cụm, biểu hiện tính đa dạng về hình thái Nấm Lỗ chủ yếu sinh trưởng trong các loại rừng, rừng tự nhiên số lượng loài càng phong phú song cũng có nhiều loài nấm Lỗ mọc trên gỗ xây dựng, các bãi gỗ Có rất nhiều loài nấm Lỗ có giá trị kinh tế bao gồm các loài nấm thực phẩm, nấm dược liệu, nấm dùng trong công trình công nghệ da, giày,giấy, vải, thực phẩm, rất nhiều loài phân giải xenlulose và lignin, có vai trò quan trọng trong xúc tiến tái sinh tự nhiên, nhưng cũng có nhiều loài gây bệnh cây gỗ xâm nhiễm vào cây còn sống gây ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây gỗ Cho nên nghiên cứu tính đa dạng nấm Lỗ không chỉ có ý nghĩa lý luận khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong kinh tế học và sinh thái học

Về mặt phân loại nấm Lỗ trong vòng 30 năm lại đây đã có những thay đổi Theo hệ thống phân loại của Whitaker & Margulis (1978) bộ nấm Lỗ Polyporales

Trang 10

được xếp vào sinh vật nhân thật Eukaryota, được T.L Jahn & F.F Jahn, (1949) ex Moore, (1980) xếp vào giới nấm Fungi, được H.C Bold, (1957) xếp vào ngành nấm Đảm Basidiomycota, được Dowell, (2001) xếp vào ngành phụ nấm Tán Agaricomycotina, lớp nấm Tán Agaricomycetes, lớp phụ nấm Tán Agaricomycetidae.(Zhou,2013)[136]

Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.C Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Paul M Kirk, Paul

F Cannon, J.A Stalpers biên soạn trong cuốn " Từ điển Nấm" (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008 và đã được Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Quốc tế (NCBI, National Center for Biotechnical Information ) công bố năm 2012 [99], trong đó không đề cập đến lớp phụ nấm Tán

Về đặc điểm sinh thái, ngoài các nhân tố phi sinh vật như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng thể hiện ở sự phân bố theo địa lý, địa hình, nấm Lỗ còn liên quan mật thiết với các nhân tố sinh vật như loài cây chủ, tinh hình sinh trưởng phát triển của cây chủ, loại hình rừng, trạng thái rừng, các loài côn trùng và động vật, nhất là mọi tác động của con người Tìm hiểu vấn dề này sẽ có lợi cho việc chọn loài ngoài thực địa để phân lập và bảo tồn giống (He Xinsheng, 2010) [164]

Hiện nay, trên thế giới đã tiến hành nuôi trồng khoảng 100 loài nấm Lớn trong đó 30 loài nấm Lỗ với các mục đich làm thực phẩm, dược liệu và làm nấm cảnh không chỉ mang lại nguồn lợi kinh tế lớn mà còn giải quyết công ăn việc làm trong cộng đồng nâng cao mức sống, bảo đảm an ninh xã hội.( Xu Jingtai, 2010)[183]

Những năm gần đây các nhà nấm học đã nghiên cứu khả năng làm sạch môi trường Một số loài nấm Lỗ mọc hoang dại có tác dụng tích luỹ và hút các chất độc trong không khí và đất như Se, Hg, Cd, As, Ag, Ni, Cr còn mạnh hơn cả thực vật (Zhou Jixing, 2008)[191]

Theo thông báo của Xu Jingtai (2010) ngày nay đã bắt đầu nghiên cứu sử

dụng nấm Lỗ trải bào tử vàng Phanerochaete chrysosporium, nấm mục trắng P sordida và nấm Lưỡi liềm Fusarium solani để phân giải dioxin [183] Một phát hiện mới khác của các nhà khoa học là chế phẩm nấm Lưu huỳnh (Laetiporus

Trang 11

sulphureus) có thể phòng trừ tuyến trùng, một loại bệnh dịch nguy hiểm đối với cây

thông trên thế giới và ở nước ta (He, 2010) [164]

Hầu hết các nhà nấm học đều cho rằng muốn phát hiện các loài mới, muốn tìm các giá trị của nấm Lỗ chỉ có thể nghiên cứu ở các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam ( He, 2010 ) [164]

Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao trên thế giới với khoảng 12000 loài thực vật bậc cao và 3000 loài động vật có xương sống đã được mô tả, trong đó có những loài đặc hữu Cấu trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, những kiểu sinh thái khác nhau… đã góp phần tạo nên sự đa dạng của khu hệ nấm Việt Nam.(Trịnh Tam Kiệt,2001 [15]

Theo tài liệu điều tra các vườn Quốc gia Việt Nam (2001), Vườn Quốc gia

Ba Vì (QGBV) có quy mô diện tích: 21.521ha bao gồm khu bảo vệ nghiêm ngặt và vùng đệm nằm trên địa phận 7 xã miền núi huyện Ba Vì Vườn có 3 kiểu rừng: Rừng kín thường xanh mưa ẩm cận nhiệt đới; rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim cận nhiệt đới và kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi thấp Núi Ba Vì với 2 đai cao, nên hệ thực vật nơi đây khá phong phú

và đa dạng, đã ghi nhận 812 loài thực vật bậc cao thuộc 99 họ, 472 chi Nhiều loài cây quý hiếm như: Bách xanh,Thông tre,Sến mật,Giổi lá bạc,Quyết thân gỗ,Bát giác liên Ở Vườn quốc gia cũng đã thống kê được 250 loài cây thuốc chữa 33 loại bệnh khác nhau.Ngoài ra Vườn QGBV còn có 45 loài thú, 113 loài chim, 15 loài lưỡng cư, 86 loài côn trùng và một số loài sinh vật thuỷ sinh.[5]

Từ những lý do trên, với mục tiêu đi tìm các loài nấm Lỗ, xác lập các giá trị

để bảo vệ, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý báu đó, nhằm đưa ra các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn, được sự hướng dẫn của PGS Phạm Quang Thu ( Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) và GS Nguyễn Thế Nhã (Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam), GS Zhou Tongsen (Trường Đại học Lâm nghiệp Tây Nam, Trung Quốc) trong 10 năm nghiên cứu (từ 2002-2006 và 2009-2012 ) tác giả đã

thực hiện đề tài :" " Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh thái học các loài thuộc bộ nấm Lỗ (Polyporales) làm cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn ở vườn Quốc gia Ba Vì."

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Điều tra và xác định các loài nấm Lỗ hiện có; cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến thành phần loài, đặc điểm sinh thái học nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn tại khu vực nghiên cứu nói riêng và các khu bảo tồn ở Việt Nam nói chung

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định các loài nấm Lỗ tại khu vực nghiên cứu

- Xác định thành phần loài nấm Lỗ theo hệ thống phân loại của Kirk trong "

Từ điển Nấm học" Xuất bản lần thứ 10,2008 (Kirk PM, Cannon PF, Minter DW,Stalpers JA.(2008) Dictionary of the Fungi.10th Wallingford: CABI) và được NCBI ( National Center for Biotechnical Information) công bố năm 2012

- Xác định tính đa dạng loài, đa dạng đặc điểm hình thái, đặc điểm hiển vi các loài nấm Lỗ trong khu vực nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm sinh thái học thể hiện ở sự phân bố sinh thái và mối quan hệ với sinh vật và phi sinh vật của nấm Lỗ tại khu vực nghiên cứu

- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn tại khu vực nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm các loài thuộc bộ nấm Lỗ hiện có tại vườn Quốc gia Ba Vì

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thành phần loài, một số đặc điểm sinh thái của bộ nấm Lỗ và đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn tại địa bàn nghiên cứu

4 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và đóng góp mới của luận án

4.1 Ý nghĩa khoa học

-Luận án đã tiến hành phân loại các loài nấm Lỗ trên một khu vực rừng thuộc một vườn Quốc gia miền Bắc Việt Nam, đề cập tương đối đầy đủ về thành phần loài, một số đặc điểm sinh thái học của chúng Kết quả nghiên cứu của đề tài

sẽ bổ sung những kiến thức cơ bản về khoa học phân loại nấm, tính đa dạng về

Trang 13

hình thái, đặc điểm hiển vi và mối quan hệ nhiều chiều với các nhân tố sinh vật và phi sinh vật của các loài nấm Lỗ; cung cấp những thông tin quan trọng vào kho tàng nghiên cứu nấm ở Việt Nam

-Thu thập và giám định được 103 loài nấm thuộc 37 chi, 6 họ trong bộ nấm

Lỗ theo hệ thống phân loại mới trong "Từ điển Nấm học" ( XB lần thứ 10, 2008)

và được NCBI công bố năm 2012

-Luận án đã dùng các công thức toán học để tính mức độ sai dị, mức độ phong phú, mức độ đồng đều thông qua các chỉ số phong phú Margalef,chỉ số đồng đều Shannon-Wienner,chỉ số đa dạng Sorensen để chứng minh sự đa dạng các loài nấm Lỗ ở khu vực nghiên cứu

-Thống kê được số hệ sợi nấm thể hiện mức độ tiến hoá của các loài nấm Lỗ trong các lớp, ngành và giới nấm

- Luận án cũng đã thống kê tác dụng đa dạng các loài nấm hiện có tại khu vực nghiên cứu như những loài làm thực phẩm, những loài làm dược liệu, những loài kháng ung thư và những loài phân giải gỗ mạnh Đặc biệt ở khu vực nghiên cứu có những loài nấm diệt tuyến trùng hại thông và phân giải dioxin nhằm cung cấp thông tin cho những nghiên cứu tiếp theo

- Lập được danh sách 29 loài nấm cần được ưu tiên bảo tồn cung cấp thông tin cho các nhà khoa học tiến tới đưa một số loài nấm vào sách đỏ Việt Nam

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận án sẽ cung cấp cho mọi người biết chăm sóc, bảo vệ rừng, tạo môi trường cho nấm có ích phát triển, phát huy được chức năng bảo vệ rừng, làm giàu rừng và phát triển bền vững rừng trên cơ sở sinh thái học nấm Lớn nói chung và nấm Lỗ nói riêng

Giúp người nông dân, các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu bảo tồn, nuôi trồng phát triển các loài nấm có ích làm tăng thu nhập góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao sức khoẻ cộng đồng

4.3 Những đóng góp mới của luận án

-Luận án là công trình đầu tiên được công bố về số loài nấm Lỗ tại một vườn Quốc gia trên miền Bắc Việt Nam Trong đó có 8 loài được công bố đầu tiên ở khu vực nghiên cứu

Trang 14

- Luận án lần đầu tiên xây dựng danh lục theo hệ thống phân loại mới công bố trên thế giới

- Luận án đã lần đầu tiên cung cấp một số dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh thái học của một số loài nấm Lỗ hiện có trên khu vực nghiên cứu

- Luận án đã lần đầu tiên sử dụng các công thức toán học về sai dị, chỉ số phong phú, chỉ số đồng đếu, chỉ số đa dạng để xác định tính đa dạng sinh học nấm

Lỗ

-Luận án đã lần đầu tiên cung cấp thông tin về công dụng một số loài hiện có ở

Ba Vì có thể nuôi trồng để làm thuốc chữa bệnh, kháng ung thư, phân giải chất độc Seleium, chất độc dioxin và phòng trừ bệnh tuyến trùng thông, đồng thời đưa ra danh lục 29 loài nấm ở vườn QGBV cần được bảo tồn

-Luận án đã bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn tính đa dạng sinh học nấm Lớn ở Việt Nam

Trang 15

Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Theo thống kê trên thế giới đến nay đã có trên 500.000 tài liệu nói về nấm, trong đó nhiều tài liệu đề cập đến những lĩnh vực thành phần loài, đặc điểm sinh thái, đa dạng sinh học của nấm Lỗ

1.1.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài thuộc bộ nấm Lỗ

Về thành phần loài nấm nói chung nấm Lỗ nói riêng không tách rời việc nghiên cứu phân loại Niên đại phát sinh nấm Lỗ đến nay vẫn chưa rõ ràng, do điều kiện khí hậu đã làm cho nấm thối rữa nhanh chóng, cho nên rất ít loài được phát hiện trong hoá thạch, nói chung các nhà nấm học cho rằng nấm Lỗ phát sinh ở kỷ thạch thán (Carboniferous Age) cách đây khoảng 300 triệu năm ( Gibertson & Rivarden, 1986) Về phân loại nấm Lỗ được bắt đầu từ Linaeus (1753) , ông đưa chi nấm Boletus với các chi nấm có thể quả dạng lỗ, chất thịt, chất gỗ vào cùng một quần thể phân loại Fries (1823) trong trước tác " Systema Mycologicum" cũng phân chia nấm Lỗ thành nhóm loài " Tribus Polypori" Tuy nhiên một số chi nấm, đến nay đã phân vào quần thể nấm khác

Về tên gọi nấm Lỗ đã được Fries (1938) lần đầu tiên đặt ra, nhưng khi đó ông không xếp nấm Lenzites vào nấm Lỗ Về sau khải niệm về nấm Lỗ khá mơ hồ nhất là các tài liệu dùng tên gọi địa phương ở nhiều nước gây ra sự phân loại nấm

Lỗ càng phức tạp Mọi thể quả nấm có lỗ và những loại khác đều được xếp vào nấm Lỗ một số loài có quan hệ thân thuộc với nấm Lỗ cùng với những nấm không

rõ mối quan hệ thân thuộc cũng được xếp chung vào nấm lỗ Chúng gây ra một quan niệm nấm Lỗ là một quần thể hỗn hợp

Trải qua một thế kỷ, nhiều họ nấm Đảm bậc cao,duy chỉ những nấm có lỗ đều xếp vào nấm Lỗ, đó là hệ thống phân loại nhân tạo Patouillard lần đầu tiên sử dụng kính hiển vi để xác định nấm Lỗ và xây dựng hệ thống phân loại tự nhiên với tác phẩm quan trọng là Essai taxonomique sur les families et les genres des Hyménomycétes (1900) Corner (1932) lần đầu tiên phát hiện giá trị ứng dụng các

hệ sợi nấm với nhiều tác phẩm nổi tiếng từ năm 1932 đến năm 1989 về phân loại

Trang 16

nấm Lỗ Hai nhà nấm học trên đã thúc đẩy phân loại nấm Lỗ tiến lên một bước dài

và là một cuộc cách mạng trong phân loại nấm Lỗ

Trong thời kỳ đó các nhà nấm học đã xây dựng rất nhiều hệ thống phân loại theo các quan điểm khác nhau Trong đó có mấy hệ thống phân loại có ảnh hưởng lớn là: Bergey (1950),Whitake (1969), (Ainsworth,1971,1973) Magulis (1974), Alexopoulos (1979) Nguyên nhân sự phân loại khác nhau là khi các tác giả nghiên cứu mối quan hệ thân thuộc tự nhiên và tiến hoá không như nhau Trong thời gian dài cho đến năm 2000, phần lớn trong các hệ thống vẫn chưa có hệ thống phân loại hợp lý được nhiều người công nhận, nhưng phần lớn cho rằng hai hệ thống của Ainsworth và Alexopoulos là khá toàn diện, phản ánh được nội dung tiến triển mới

và được nhiều người tiếp thu.( Zhao, 1998)[186]

Hệ thống phân loại hiện đại mới được hình thành khoảng 30-50 năm nay, chủ yếu là dựa vào đặc điểm hiển vi và phải có các điều kiện sau: (1) Đảm không

có vách ngăn, (2) Bào tử đảm đơn bào, (3) Có hoặc không có khoá và thể dạng túi nhưng không có lông cứng, (4) Các ống nấm liền vách không tách rời, (5) Mép lỗ ống nấm không có bào tầng, (6) Hầu hết ống nấm và mô nấm liền nhau không tách rời, (7) Số hệ sợi là một đặc điểm quan trọng trong phân loại nấm Lỗ

Gần 20 năm nay các nhà nấm học mới bắt đầu quan sát thông qua kính hiển

vi điện tử (TEM) và có những cống hiến lớn cho hệ thống phân loại nấm lớn Gần

10 năm lại đây phương pháp ứng dụng sinh học phân tử đã bắt đầu, nhất là mấy năm nay các nhà khoa học đã sử dụng phân tích thứ tự DNA,RNA và trở thành một lợi khí nghiên cứu mối quan hệ họ hàng các loài nấm Ứng dụng phân tích sinh học phân tử so với sử dụng kính hiển vi là phương pháp chủ yếu nghiên cứu hệ thống phân loại nấm (Zhou, 2006) [192]

Về phân loại nấm Lỗ (Polyporales) các nhà nấm học thường tuân thủ các hệ thống phân loại của Whitaker & Margulis(1978) xếp nấm vào sinh vật nhân thật (Eukaryota); D.S Hibbett et al (2007) xếp vào giới phụ 2 nhân (Dikarya) ;H.C Bold (1957) ex R.T Moore (1980) xếp vào ngành nấm Đảm Basidiomycota; Dowell (2001) xếp vào ngành phụ nấm Tán Agaricomycotina, lớp nấm Tán Agaricomycetes, lớp phụ nấm Tán Agaricomycetidae, Gaum (1926) xếp vào bộ Polyporales.(Dai YC et al, 2010)[ 63]

Trang 17

Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.C Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà P.M Kirk, P F Cannon, J.A Stalpers biên soạn trong cuốn " Từ điển Nấm" (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008, chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidiomycota).[99]

Cuốn " Từ điển Nấm" xuất bản lần thứ 10 vẫn tiếp tục nhận thấy rằng theo nghĩa rộng, sinh vật bao gồm giới Nấm (Fungi), giới Tảo (Chromista) và giới sinh vật nguyên thuỷ ( Protozoa) Điểm khác nhau với lần xuất bản thứ 9 là: dưới giới Nấm có 6 ngành là : nấm Túi (Ascomycota, 64163 loài), nấm Đảm (Basidiomycota ,31515 loài), nấm Ấm (Chytridiomycota, 706 loài), nấm Tiểu cầu (Glomeromycota, 169 loài), nấm Vi bào tử (Microsporida, 1300 loài) và nấm Tiếp hợp ( Zygomycota, 1065 loài), bổ sung thêm 2 ngành nấm Tiểu cầu và nấm Vi bào

tử Nấm Tiểu cầu là nấm cộng sinh với rễ cây trước đây xếp vào nấm Tiếp hợp, hiện nay đã phát hiện được 400 loài Nấm Vi bào tử là sinh vật đơn bào sản sinh trong tế bào động vật, thường ký sinh trên côn trùng bộ cánh cứng và cá; trước đây xếp vào sinh vật nguyên thuỷ, hiện nay phát hiện được 1500 loài Đồng thời tiếp nhận 6 ngành, 36 lớp, 140 bộ, 560 họ, 8283 chi và 97861 loài.Lần xuất bản thứ 9 là

80602 loài, nhiều hơn 17259 loài.Ngoài ra, trong "Từ điển nấm học" xuất bản lần thứ 8 bắt đầu dùng nấm Vi bào tử Microporic fungi và nấm Bất toàn, nhưng lần xuất bản thứ 9 dùng nấm Anamorphic fungi thay tên gọi nấm bất toàn ( Y.J.Park, 2012)[132]

Về thành phần loài nấm Lớn nói chung, nấm Lỗ nói riêng, theo thống kê của Mao Xiaolan (2000) trong cuốn "The Macrofungi in China" cho biết trong tự nhiên, Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài, trong đó nấm mục gỗ có khoảng 500 loài Phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ.Các chi dại

diện là nấm da (Coriolopsis), nấm Ống tầng (Fomes),nấm Linh chi (Ganoderma).Trong 1701 loài nấm được công bố nấm Lỗ chiếm 53,7% Điều

này chứng tỏ nấm Lỗ chiếm một vị trí quan trọng trong kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.[107]

Trang 18

Năm 2008 Trung Quốc cũng bắt đầu phân loại nấm theo hệ thống phân loại của Kirk trong " Từ điển Nấm" ( Dictionary of Fungi,10th., 2008) như ở Khu bảo tồn Feng Lin ( Hắc Long giang) điều tra được 260 loài thuộc 15 bộ, 50 họ, 113 chi; trong đó 14 loài thuộc 9 chi 6 họ 3 bộ của ngành nấm Túi, 246 loài thuộc 104 chi,

42 họ 12 bộ của ngành nấm Đảm.( Jin Yushang ,2011) [163]

Đặc biệt những năm gần đây các tác giả đã điều tra, thu thập mẫu, chụp ảnh, giám định loài, phân lập loài trên diện rộng nấm Lớn các vùng Nhiệt đới Trung Quốc bao gồm hơn 60 khu bảo tồn, xây dựng Trung tâm bảo tàng các loài nấm Lớn đặc sắc, cung cấp luận cứ về tính đa dạng nấm Lớn vùng Nhiệt đới châu Á và toàn cầu Lần đầu tiên nghiên cứu sâu về tính đa dạng nấm Lớn vùng Nhiệt đới , nghiên cứu một cách hệ thống đặc trưng hình thái, tổ thành loài và đặc điểm phân bố , thu thập hơn 30.000 mẫu, mô tả hơn 2500 loài thuộc 282 chi, 68 họ 25 bộ nấm Lớn, phát hiện 280 loài nấm mới ở TQ, trong đó có hơn 500 loài nấm ăn, bao gồm 66 loài đã được nuôi trồng, 369 loài nấm làm thuốc, 167 loài nấm độc; trong đó có hơn

10 loài nấm cực độc Ngoài ra có 296 loại nấm cộng sinh, 226 loài nấm mục gỗ hoặc gây bệnh cây và xuất bản 2 bộ sách " Nấm Nhiệt đới Trung Quốc" (Dai Y.C, 2012) [64]

Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau như Radariv et al đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra trong đó có 170 loài của 10 họ có lỗ, 86 loài thuộc 20 họ không có lỗ,

tỷ lệ mục trắng trên mục nâu là 80:20(YJ Park et al, 2012), [132]

Trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura (2010)và cộng sự đã ghi chép được 242 loài thuộc 11 chi Trong rừng mưa nhiệt đới Brazil năm 2002, Tatiana B Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau như trên gỗ, trên cây sống, trên đất (YJ Park et al, 2012), [132]

Tại Litva một số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm Lớn và nấm Nhầy năm 2013 công bố 326 loài nấm Lớn tại vườn Asveja Regional (Lithuania).(Zhou, 2013)[136]

Trong các tài liệu về bảo tồn và quản lý nấm, các tác giả Randi Monila, David Pilz,Jane Smith đã công bố hơn 2000 loài ở Bắc Thái Bình Dương nước

Mỹ của các Bang Oregon, Washington, và Idaho.(Zhou, 2013)[136]

Trang 19

Từ năm 1985 Hội đồng tư vấn Bảo tồn nấm châu Âu (ECCF) được thành lập

và góp phần quan trọng trong việc điều tra xác định nấm, đến năm 2007 đã xác định được 15000 loài nấm ở các nước Châu Âu Nhiều tác giả về nấm học đã tham gia công trình này năm 2010 đã xuất bản cuốn sách "Sổ tay Bảo tồn Nấm Lớn

ở Châu Âu"

Tại các nước Đông Nam Á nhiều tác giả cũng đề cập đến nấm Lỗ Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều nhà nấm học đã phát hiện được một số loài mới, như năm 2008 FH Gleason, Hội Nấm học Mỹ đã tiến hành điều tra nấm Lỗ ở các nước Trung Quốc, Indonesia, Lào, Myanmar và Philipin Năm 2012 Christophe

Wiart đã phát hiện loài Polyporus umbellatus (Pers ) Fr sinh trường và sinh sản ở

Campuchia, Lào, và Việt Nam.Ông cũng đã công bố danh lục nấm Lỗ ( Polyporales)

ở 3 nước gồm 43 chi thuộc các họ khác nhau Ở Thái Lan năm 2012 Mh Bolhassan

đã tiến hành điều tra nấm Lỗ khu bảo tồn Terengganu miền Tây Nam Thái Lan phát hiện được nhiều loài nấm mới trong đó có các loài thuộc các chi

Pseudolagarobasidium, Irpex ,Sistotrema, Radulodon (Zhang, 2013)[135]

Năm 2012,Roy Halling, vườn Thực vật New York Mỹ đã phát hiện nhiều loài nấm Nhiệt đới và Cận nhiệt đới ở Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea,Thái lan Trước đây ông đã lần đầu tiên phát hiện nấm Lỗ ở Costa Rica, Brazil, và Australia Nhà nấm học cây rừng Nhật Bản, Tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia Ông đã từng nghiên cứu và giảng dạy về nấm Lỗ từ năm 1990 ở Malaysia và Thái Lan

Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele ( Polyporales) ở Thái Lan

và một số nước khác như Côngô, Nam Phi và Đài Loan.(Zhang, 2013)[135]

Những năm gần đây các nhà nấm học tập trung vào việc phân loại nấm thuộc

họ Linh chi (Ganodermataceae) ở các nước nhiệt đới như Mabel Gisela Torres và Laura Guzmán-Dávalos đã tiến hành điếu tra phân loại nấm ở Thái Lan, Malaysia, Singapor và công bố 33 loài mới (Zhou, 2013)[136]

Torres-Những tài liệu phân loại xác định thành phần loài trên đã thể hiện tính đa dạng và phòng phú về thành phần loài ở các khu vực khác nhau, là cơ sở để nhiều tác giả tìm ra các loài nấm mới và là những căn cứ quan trọng để so sánh mức độ

đa dạng và phong phú của những loài nấm Lỗ ở khu vực nghiên cứu

Trang 20

1.1.1.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái nấm Lỗ

Các loài sinh vật nói chung, nấm Lỗ nói riêng không chỉ đa dạng về loài mà còn đa dạng về đặc điểm sinh thái Đặc điểm sinh thái của sinh vật là những vấn đề rất rộng bao gồm tổ thành khu hệ, thành phần địa lý,đặc điểm phân bố của nấm Lỗ dưới tác động tổng hợp của các nhân tố phi sinh vật và sinh vật Các nhân tố phi sinh vật bao gồm các điều kiện môi trường khác nhau như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng, pH Chúng được thể hiện mối liên quan với các nhân tố địa lý, địa hình, độ cao, hướng dốc, điều kiện khí tượng, khí hậu Các nhân tố sinh vật bao gồm mối quan hệ với loài cây chủ, sinh trưởng phát triển của cây chủ, thảm thực vật, loại hình rừng, trạng thái rừng và mối quan hệ với động vật và con người

Về mối quan hệ với yếu tố phi sinh vật của bộ nấm Lỗ đã được nghiên cứu nhiều vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, nhiều tác giả đã đề cập đến sự sinh trưởng của sợi nấm và thể quả một số loài bộ nấm Lỗ liên quan với các nhân tố nhiệt độ, độ ẩm, pH

Theo Zhao (1998) và một số tác giả cho biết, nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến nấm Lỗ rất đa dạng như pH, nhiệt độ,, đai khí hậu, ánh sáng pH của giá thể là nhân tố quan trọng, nói chung giao động từ 3-7, thích hợp nhất là 4-5 Phạm vi sinh trưởng phát triển của nấm Lỗ là 3-38oC, thích hợp nhất là 25-30oC Rất nhiều loài ở nhiệt độ thấp dưới 15oC là bị ức chế sinh trưởng Một số loài sinh trưởng ở nhiệt độ dưới 24o C như Daedalea quercina, có loài ở nhiệt độ 24-32oC như Fomes fomentarius , Fomitopsis pinicola, có loài lại ưa nhiệt độ cao trên 32oC như

Pycnoporus sanguineus , Gloeophyllum saepiarium, G trabium Rất nhiều chi nấm phân bố ở vùng Nhiệt đới và Cận nhiệt đới thuộc loại này như các chi Hexagonia, Microporus, Earliella Hầu hết các loài nấm Lỗ phân bố ở các vùng thuộc các

tỉnh Nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam, Đài Loan là những vùng Nhiệt đới Núi Thái Sơn đến Hoài Hà là vùng Cận nhiệt đới

Từ đó ta có thể suy ra hầu hết nấm Lỗ ở khu vực nghiên cứu mang tính chất nhiệt đới ở khu vực núi thấp và núi vừa, rất ít loài mang tính chất Cận nhiệt đới ở khu vực núi cao.[186]

Về ánh sáng Zhao cho rằng ánh sáng không có ý nghĩa mấy đối với sự phát triển nấm Lỗ Nhưng ánh sáng có thể ảnh hưởng đến sự nẩy mầm của bào tử, có thể

Trang 21

do ánh sáng của tia tử ngoại Nhận xét này có thể liên tưởng đến những vùng núi cao nhiều cây bụi, cây hoa đẹp của khu vực nghiên cứu không có nấm Lỗ.Nhưng ánh sáng tán xạ lại rất cần không thể thiếu được cho nấm Lỗ hình thành thể quả Vì vậy ở dưới khu rừng hỗn giao nhiều cây khô cây đổ, cành khô lá rụng mọc rất nhiều loài nấm Lỗ.[186]

Xu Tiantian (2010) đã nghiên cứu sinh trưởng của sợi nấm và thể quả trong các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, pH và ánh sáng khác nhau Tác giả kết luận hầu hết các loài nấm Lỗ sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ 25oC, pH thích hợp 4,5-5,0 Ánh sáng là một trong những điều kiện không thể thiếu được cho nấm Lỗ hình thành chồi nấm Nuôi nấm Lỗ trong điều kiện môi trường nhân tạo là một căn cứ khoa học quan trọng nhằm khai thác và lợi dụng chúng.[182]

Về phân bố địa lý của nấm Lỗ, Zong Wu (2009) đã đề cập đến phân bố địa lí Theo tác giả vùng Nhiệt đới bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hồng Kông, Xishuangbanna, Đông Nam Tây Tạng, Nam Đài Loan và đảo Hải Nam, tại đây có 66 loài nấm Linh chi, chiếm 66%; vùng Cận nhiệt đới (Á nhiệt đới) bao gồm các tỉnh Nam núi Thái Sơn qua hạ du sông Trường giang đến giáp lưỡng Quảng chỉ có 25 loài chiếm 25%; vùng Ôn đới bao gồm núi Thái Sơn đến núi Hưng Lĩnh giáp Nga, vùng này chỉ có 5 loài Điều này chứng tỏ muốn nghiên cứu tính đa dạng loài nấm Linh chi nói riêng, nấm Lỗ nói chung phải tập trung nghiên cứu ở các vùng Nhiệt đới.Theo Jordan K Zjawiony (2003) nấm Lỗ là nấm phân bố rộng

có nhiều loài trong ngành nấm Đảm Trong 25.000 loài nấm Đảm, nấm Lỗ có khoảng 500 loài Phân bố nhiều ở Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á và châu Phi.( Zong Wu,2009) [195]

Nhiều tác giả cũng đề cập đến các nhân tố phân bố địa lý như thế giới, Bắc bán cầu, Ôn đới, Cận nhiệt đới và Nhiệt đới.Theo Yuan Kun (2004) đã dùng phương pháp thống kê và phân tích của Frankenberg xác định được tổ thành loài, chi ưu thế, và thành phần khu hệ nấm Lỗ ở khu rừng Huoditang Kết quả nghiên cứu cho biết trong 93 loài thuộc 45 chi nấm Lỗ chỉ có 10 loài phân bố vùng Bắc ôn đới, còn lại các loài đều phân bố rộng.(Yuan Kun, 2008) [133] Khi phân tích khu

hệ và tập tính sinh thái nấm Lỗ vùng Đông Himalaya, Bian Lusen ( 2014) chứng

Trang 22

minh, trong 372 loài, thuộc 101 chi, 10 họ của bộ nấm Lỗ hầu hết chỳng phõn bố vựng Bắc ụn đới ( Bian Lusen , 2014) [52]

Căn cứ vào điều tra tài nguyờn và thu thập mẫu nấm lõu dài, đặc biệt là nhờ

sự phỏt triển cụng nghệ sinh học phõn tử nhận thức về loài nấm Lỗ càng phong phỳ thờm Theo thụng bỏo của Zhou (2010) Trung Quốc là nước cú tớnh đa dạng loài nấm Lỗ phong phỳ nhất thế giới Hiện nay đó biết được 704 loài nấm Lỗ thuộc 11

bộ, 22 họ, 134 chi bao gồm cỏc thành phần phõn bố Thế giới, Bắc ễn đới và Nhiệt đới- Cận nhiệt đới Nấm mục trắng trong nấm Lỗ cú khả năng dựng trong cụng nghệ dệt, giấy, da giầy, nấm mục nõu cú vai trũ quan trọng trong quỏ trỡnh tỏi sinh rừng, bảo vệ sự phỏt triển bền vững hệ sinh thỏi rừng.[190]

Về phõn bố nấm Lỗ theo địa hỡnh, cỏc tỏc giả tập trung nghiờn cứu đến phõn

bố và tớnh đa dạng nấm Lỗ theo độ cao, hướng phơi.Theo một tài liệu của Lin Xiaomin (2007) áp dụng điều tra theo tuyến và điều tra trên ô tiêu chuẩn định vị từ năm 1982-1986, cho biết nấm Lớn khu bảo tồn Giang Tây khá phong phú ở độ cao 1500-1800m so mặt biển, còn ở độ cao 1900m số loài giảm xuống mạnh Tác giả cũng cho biết, số loài nấm Lớn mọc trong rừng cây lá rộng phong phú hơn rừng cây lá kim.[171]

Về mựa mọc nấm, những nghiờn cứu về sinh thỏi nấm Lỗ ở Đài Loan, năm

2004, khi đề cập đến đa dạng sinh học nấm Lớn Chen Shengming cho rắng phần lớn thể quả nấm xuất hiện vào thỏng 7, một số mọc vào thỏng 3, một số nấm Tỏn lại xuất hiện vào mựa đụng Tần suất xuất hiện thể quả nấm Lớn núi chung, nấm Lỗ núi riờng liờn quan với khả năng sinh trưởng của cỏc loài cõy mọc kốm ( He, 2010)[164]

Về mối quan hệ với sinh vật, nhiều nhà nấm học đều nghiờn cứu đến cõy chủ

và chia ra hoại sinh, ký sinh, loài cõy lỏ rộng, lỏ kim Nhiều tỏc giả đều cho rằng hầu hết nấm Lỗ sống hoại sinh trờn cõy khụ, cõy đổ trong rừng , hoặc trờn gỗ đó khai thỏc, mụt số ớt sống ký sinh hoặc kiờm ký sinh; hầu hết nấm Lỗ gõy mục trắng mọc trờn cõy lỏ rộng, một số ớt mọc trờn cõy lỏ kim và gõy mục nõu (Zhou, 2013) [136]

Về mối quan hệ với cõy chủ và kiểu rừng, Zhao và nhiều tỏc giả đều nhận

xột rằng một số loài nấm Lỗ ưa mọc trờn cõy lỏ kim như Fomitopsis officinalis, cũn

Trang 23

hầu hết chỳng mọc trờn cõy lỏ rộng, một số loài mọc cả trờn cõy lỏ rộng lẫn lỏ kim,

nhưng chủ yếu là trờn cõy lỏ rộng như F pinicola, Laetiporus sulphureus [186]

Về kiểu rừng núi chung nhiều tỏc giả đều nhận định rằng, rừng thuần loài lỏ kim hay lỏ rộng đều rất ớt nấm Lỗ sinh trưởng, cũn rừng hỗn giao nhiều loài cõy sẽ

cú nhiều loài nấm Lỗ, rừng cõy non ớt hơn rừng tuổi già.Điều này cú thể liờn tưởng đến rừng ở khu vực nghiờn cứu sẽ cú nhiều loài nấm Lỗ hơn cỏc khu rừng khỏc

Trong tài liệu về sinh thái nấm Lớn Wu Xingliang (2012) đã mô tả khá tỷ mỷ

về thể dinh dưỡng hay thể sợi nấm được quan sát dưới kính hiển vi và các biến thái của sợi nấm như hạch nấm (sclerotium) chất đệm (stroma) và bó sợi ( rhizomorph) [178]

Theo He Xinsheng (2010) đặc điểm sinh thỏi nấm Lớn núi chung, nấm Lỗ núi riờng cú thể chia ra sinh cảnh rừng, sinh cảnh đất trống và sinh cảnh đồng cỏ Tổng số loài nấm Lỗ trong rừng chiếm 80%, nấm mọc trờn đồng cỏ chỉ chếm 20% Điều đú núi lờn phõn bố của nấm Lớn liờn quan mật thiết với nhiệt độ, lượng mưa

và thực bỡ , nhưng phản ỏnh rừ nột nhất là giỏ thể của nấm sinh trường phỏt triển [164]

Khu bảo tồn thiờn nhiờn Liu Bu Xi ( Hồ Nam, TQ) phỏt hiện được 188 loài,được chia ra theo trạng thỏi thực bỡ là loại rừng hỗn giao lỏ rộng thường xanh, rừng lỏ rộng thường xanh, rừng tre nứa (Zhang ,2011) [189]

Hu Xuehong thụng bỏo cụng viờn rừng Feng Shan, Giang Tõy ( TQ) cú 87 loài nấm Lớn và chia ra 4 kiểu rừng : Kiểu rừng lỏ rộng thường xanh, kiểu rừng lỏ kim thường xanh, kiểu rừng hỗn giao lỏ kim, lỏ rộng, tre nứa thường xanh và kiểu rừng cõy bụi đất nỳi.(Hu, 2011)[166] Về mặt sinh thỏi du lịch, một số tỏc giả Trung Quốc đó nghiờn cứu khỏ tỷ mỷ về ảnh hưởng của du lịch đến mụi trường sinh thỏi khu bảo tồn, đó phõn tớch những nhõn tố ảnh hưởng như kinh tế, văn hoỏ,

xó hội, giới tớnh và tuổi, mụi trường tự nhiờn từ đú ảnh hưởng đến việc bảo vệ tớnh

đa dạng sinh học cỏc loài nấm Lớn.(Zhang Shuanghu, 2011)[188]

Giải thớch về sự làm giàu hệ sinh thỏi rừng, cỏc tỏc giả đó giải thớch nấm mục nõu ớt hơn nấm mục trắng vỡ hầu hết nấm mục nõu phỏt sinh trờn cõy lỏ kim, cú quan hệ mật thiết với sự hỡnh thành thực vật Do cõy lỏ kim xuất hiện trước cõy lỏ rộng từ kỷ thạch thỏn cỏch đõy 300 triệu năm, nờn nấm mục nõu cú trước nấm mục

Trang 24

trắng Xác phân giải của gỗ bị mục nâu khá ổn định, có thể tồn tại trong đất hàng trăm năm, cho nên chúng có thể tăng cường khả năng giữ nước trong đất khá lâu, không những thế còn tạo môi trường cho các loài nấm cộng sinh và khả năng cố định Nitơ, cây sinh trưởng sẽ tốt hơn Ngoài ra môi trường đất như vậy có độ pH thích hợp và khả năng trao đổi electron khá cao rất có lợi cho việc cải thiện nhiệt

độ đất, chức năng sinh thái đó rất quan trọng cho việc sinh tồn và phát triển cây lá kim Đặc biệt là nơi có điều kiện lập địa khí hậu xấu và đất nghèo kiệt.(Gilbertson

& Ryvarden, 1986)[72]

Về yếu tố sinh vật, nhiều tác giả nêu lên vai trò của cây chủ, thể hiện rõ nhất

là thực bì, trạng thái rừng , loại dinh dưỡng, mối quan hệ nấm Lỗ với các loài côn trùng như mối, mọt, ong đục cây, xén tóc, vòi voi, cát dinh Về công dụng nấm Lỗ nhiều tác giả chia ra nấm ăn, nấm làm thuốc, nấm chống ung thư, nấm phân giải gỗ

và nấm nhiều công dụng trong công nghiệp giấy, da, giày, vải, phân giải kim loại nặng, diệt tuyến trùng và phòng chống ô nhiễm không khí

Trong 1701 loài nấm được công bố có 828 loài làm thực phẩm chiếm 48,68%, 208 loài làm dược liệu, 294 loài chống ung thư và 270 loài nấm độc (Mao X.L.2000) [107]

Tại Quý Châu nơi đỉnh cao 2000-2570m, Wu Xingliang (2012) đã điều tra được 365 loài nấm Lớn, trong đó có 105 loài nấm ăn, 97 loài nấm làm dược liệu, 33 loài nấm độc, có 131 loài mọc trên gỗ, 11 loài nấm cộng sinh [178]

Một số tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa nấm Lỗ với các loài côn trùng như Jody Jellison (2009) đã nêu lên các nguyên nhân sinh học dẫn đến sự mục gỗ và mối quan hệ nấm Lỗ, côn trùng và vi khuẩn Tác giả cho rằng chúng có mối quan

hệ cộng sinh với nhau

Trong hệ sinh thái rừng, nấm Lỗ thường có quan hệ cộng sinh với rất nhiều động vật Nhiều loài động vật có vú và côn trùng ăn nấm Tán và nấm Lỗ chất thịt Nhiều loài nấm có thể cung cấp thức ăn và nơi sinh sản cho các sâu bộ Cánh cứng,

một số loài có quan hệ mật thiết với các loài ong đục cây ( Tremex fuscicornis), các loài mối (Zootermopsis angusticollis, Reticulitermes spp.)

Trang 25

Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết, những nấm Lỗ có lúc không có ong đục cây vẫn có thể tồn tại, nhưng ong luôn luôn phải có nấm Lỗ mới sinh trưởng phát triển,

là môi giới lây lan bào tử nấm Lỗ ( He Xinsheng 2010) [164]

Các enzym phân giải của nấm Lỗ cũng luôn luôn cung cấp trực tiếp hoặc gián

tiếp lượng thức ăn cho nhiều loài côn trùng, như gỗ mục do nấm Gloeophyllum trabeum có nhiều chất ngoại kích thích tố có thể hấp dẫn mối, mặc dù cơ chế này

chưa được làm rõ, nhưng nhiều nghiên cứu đã chứng minh các sợi nấm trong gỗ có loài nấm này có thể cải tiến chất lượng thức ăn của mối, lượng đẻ trứng của mối tăng lên và tạo thành mối quan hệ lẫn nhau Một số loài côn trùng trong tập tính

sống cũng tạo con đường cho nấm mục xâm nhập, như các loài mọt dài Platypus

và sâu non của chúng sống trong lỗ đục thân cây hình thành lỗ đục hình bầu dục có

đường kính 1mm ( P gracilis) hoặc 2mm ( P apicolis) và phân nhánh thành mạng

lưới trong gỗ, một số bào tử xâm nhập vào các lỗ đó, nẩy mầm dần dần gây ra mục lõi ( Wei Yulian, 2004) [179]

Khi nghiên cứu về mối quan hệ nấm Lớn với các loài động vật, Komonen (2000) phát hiện được 1000 loài côn trùng bộ Cánh cứng và cho rằng chính côn trùng đã xúc tiến sự đa dạng nấm Lớn ( He Xinsheng 2010) [164]

Rõ ràng vùng Nhiệt đới như Việt Nam nói chung, núi Ba Vì nói riêng sẽ có rất nhiều loài nấm để điều tra nghiên cứu Những loài đã công bố là tài liệu tham khảo có giá trị

1.1.1.3 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học nấm Lỗ

Theo quan điểm của các nhà VSV học, nghiên cứu tài nguyên nấm, công trình sinh học, tính đa dạng sinh vật là vấn đề quan trọng để lợi dụng nấm

Zhang Xinbo (2011) nghiên cứu tính đa dạng nấm Lớn thông qua sinh học phân tử để phân loại tính đa dạng di truyền nấm Lớn đã mô tả tỷ mỷ tính đa dạng loài, tính đa dạng thành phần khu hệ và tính đa dạng chức năng của nấm Lớn , đồng thời kết hợp mô tả tính đa dạng loài giới thiệu địa vị, hệ thống phân loại, nguyên lý phân loại và phương pháp phân loại, mô tả tỷ mỷ đặc trưng hình thái, tập tính sinh thái, phân bố địa lý và ý nghĩa kinh tế của những loài đại diện Ngoài ra, ông còn trình bày 4 phương diện giá trị: giá trị lợi dụng trực tiếp, giá trị lợi dụng gián tiếp,

Trang 26

giá trị lựa chọn và giá trị tồn tại để thuyết minh giá trị của tính đa dạng nấm Lớn [189]

Khi nghiên cứu về đa dạng nấm Lỗ Zhou Liwei ( 2013) cũng đã đề câp đến tính đa dạng loài, đa dạng khu hệ và đa dạng chức năng sinh thái [136] Tác giả cho hay, những nơi nào có điều kiện địa lý và địa hình phức tạp đa dạng, sẽ tạo ra nhiều kiểu rừng phức tạp, đồng thời cũng cho nhiều loài nấm Lỗ Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, những trang thiết bị hiện đại khiến con người đi sâu nghiên cứu nấm

lỗ càng sâu sắc hơn, càng tìm ra nhiều loài mới hơn và cũng là nguyên nhân tăng thêm tính đa dạng loài Đặc biệt hệ thống phân loại mới của Kirk et al xuất bản lần thứ 10 đã làm thay đổi hẳn quan điểm phân loại và trong nhiều loài nấm mới tăng lên, về vị trí phân loại vẫn chưa rõ ràng, nhiều loài nấm Lỗ sẽ có những đặc điểm của vùng sinh thái hoặc của khu vực khác nhau Liên quan với đề tài nghiên cứu, những loài chúng tôi xác định chưa phải là chính xác tuyệt đối Một số loài cũng cần phải có những công trình nghiên cứu sâu hơn để tìm ra những giá trị mà chưa ai nghiên cứu đến

a) Tính đa dạng loài

Ngoài tính đa dạng khu hệ sinh thái đã được trình bày trên Do sự thay đổi điều kiện sinh thái mà luôn luôn xuất hiện các loài mới, tạo nên sự đa dạng loài Lin Xiaomin, Li Zhenzhi (2007) đã nghiên cứu một cách hệ thống tính đa dạng loài, tính đa dạng khu hệ và mối liên quan với thực bì rừng và mùa sinh trường của nấm Lớn tại rừng Lão Linh Lĩnh (Cát Lâm.TQ) [171]

Nghiên cúu tính đa dạng loài không thể tách rời việc nghiên cứu đa dạng về sinh thái Căn cứ và những nghiên cứu gần đây của Wei Yulian ( 2004) đã lần đầu tiên chia nấm Lớn ra 12 kiểu sinh thái: nấm mục gỗ, nấm mọc trên lá rụng, trên cỏ mục, hoại sinh trong đất, mọc trên phân, ký sinh thực vật, ký sinh côn trùng, ký sinh lên nấm, cộng sinh kiểu địa y, ngoại cộng sinh, cộng sinh côn trùng và nấm cộng sinh với nấm Tác giả đã kết hợp với những bức ảnh chụp giải thích đặc điểm sinh thái và một số vấn đề liên quan [179]

Những năm gần đây nhiều tác giả đã kết hợp điều tra các loài nấm Lỗ với nghiên cứu vai trò của tính đa dạng nấm.Từ năm 2006 đến năm 2009 Dai Yucheng

đã tiến hành điều tra 7 đợt ở tỉnh Quảng Đông thu thập được gần 1000 mẫu nấm Lỗ,

Trang 27

xác định được 219 loài.Vùng Bắc ôn đới như núi Changbai cũng có đến 246 loài nấm Lỗ, có chỉ số đa dạng là 5,06, chủ yếu là hoại sinh trên gỗ có hệ số tương quan giữa số lượng và mức độ mục là 0,89 thể hiện mối tương quan rõ rệt Nấm Lỗ

có vai trò quan trọng về tuần hoàn vật chất của hệ sinh thái rừng.Bên cạnh đó nấm

Lỗ cũng có giá trị kinh tế khá lớn Vì vậy, mọi người cần phải bảo vệ tính đa dạng của chúng Tác giả đã đề cập đến số lượng loài hiếm và loài nguy cơ Trong đó có

48 loài nguy cơ chiếm 37,5% loài nguy cơ trong toàn quốc.Cũng theo thông báo này năm 2009 Trung Quốc có 604 loài nấm Lỗ mà đến năm 2011 đã lên tới 704 loài Nghĩa là số loài nấm Lỗ luôn luôn tăng lên do phát hiện được nhiều loài mới (Zhou, 2013) [136] Phải nói rằng những nơi có nhiều rừng, tài nguyên rừng còn được bảo vệ là ở đó sẽ có nhiều loài nấm Lỗ và việc phân loại nấm vẫn phải đi sâu nghiên cứu để chứng minh tính đa dạng loài của chúng Những vùng sinh thái khác nhau, tính đa dạng loài được thể hiện ở những trường hợp cùng vật khác tên (synonymes), nhiều loài mới vẫn phải được tiếp tục phát hiện Như nấm Linh chi

trước đây Ryvaden phát hiện năm 1994 là loài Ganoderma lucidum một thời gian

lâu cũng đều công nhận là nấm Linh chi châu Âu, nhưng đến năm 2012 ở Tứ xuyên

Wang và cộng sự đã phát hiện đổi tên là Ganoderma sichuanensis Wang (2012) và

cũng từ mẫu nấm đó đã được ITS công nhận là một loài mới không phải là nấm

Linh chi châu Âu nữa và được gọi là nấm Linh chi " ling zhi", Ganoderma lingzhi (Zhou, 2013)[ 136]

Theo quan điểm của các nhà VSV học, nghiên cứu tài nguyên nấm,công trình sinh học, tính đa dạng sinh vật là vấn đề quan trọng để lợi dụng nấm

Davis Moore, trường Đại học Manchester năm 2009,T.B Gibertoni et al đều công bố các loài nấm Lỗ ở rừng mưa nhiệt đới Brazil năm 2003 Trong các tài liệu đó các tác giả đã mô tả thành phần loài, đặc điểm và lập một danh lục nấm Lỗ

Miền Bắc Carolina nước Mỹ, Grand, L.F trong cuốn sinh thái bệnh cây rừng ( Ecology of Forest tree Diseases, 2008) đã nêu lên khá dầy đủ về tính đa dạng các nhóm nấm thuộc bộ nấm Lỗ thông qua nghiên cứu công nghệ DNA.(Wu Xingliang, 2012)[178]

Từ năm 2001 đến nay rất nhiều tài liệu nói về đa dạng sinh học nấm Lỗ, như

Malysheva L.V.(Nga) đã nghiên cúu đến các loài thuộc chi Phellinus ; Spirin (Anh)

Trang 28

nghiên cúu đến nhiều loài thuộc họ nấm Lỗ ( Polyporaceae); Zmitrovich (La tinh)

nghiên cúu đến phân bố các loài trong các chi Cerena, Fomes, Ischnoderma, Fabisporus.(Zhang, 2013)[135]

b) Tính đa dạng thành phần khu hệ

Về tính đa dạng thành phần khu hệ chủ yếu các tác giả đề cập đến sự phân

bố loài đã được trình bày trên Zhou cho biết trong các quần thể nhiều loài nấm có nhiều bộ nấm khác nhau như nấm Lỗ (Polyporales), nấm Da gỉ ( Hymenochaetales) nấm Tán ( Agaricales) , nấm Mộc nhĩ ( Auriculariales), nấm Gan bò ( Boletales) Cũng như các loài nấm khác, rất nhiều loài nấm Lỗ có tính đặc thù của khu vực, đặc biệt là xưa nay từ khái niệm "loài hình thái" ( morphological species) chuyển sang khái niệm phân tích hệ phân tử thành một quan niệm mới là " loài phát triển

hệ thống" (phylogenetic species), nhận thức của mọi người càng rõ ràng hơn, rất nhiều chi nấm có phân bố rộng, rất nhiều chi có phân bố thế giới như các chi

Antrodiella, Bjerkandera, Ceriporia, Dedalea, Datronia, Ganoderma, Pereniporia, Polyporus, Trametes, Trichaptum Nhưng nhiều chi cũng có tính khu vực của nó,

những chi nấm phân bố vùng Bắc bán cầu có Ôn đới, Hàn đới, Cận nhiệt đới và

Nhiệt đới Những chi nấm thuộc Ôn đới có Antrodia, Cerrena, Fomes, Fomitopsis, Haploporus, Heteroba-sidion, Oligoporus, Spongipellis, những nấm phân bố vùng Nhiệt đới có Amauroderma, Aurificaria,Coltriciella, Cyclomyces, Earliella, Microporus Zhou, 2013[136]

c) Tính đa dạng chức năng

Nấm Lỗ là thành viên của hệ sinh thái rừng, một bộ phận tổ thành rất quan trọng trong hệ sinh thái rừng Tuyệt đại bộ phận nấm Lỗ thuộc loại hoại sinh hoặc kiêm ký sinh, nhưng cùng có một số ít loài hình thành nấm rễ cộng sinh như Albatrellus, Coltricia ( Cui Songying, 2009) [160]

Về chức năng nấm Lỗ trong hệ sinh thái rừng Wei Yulian (2004) đã đề cập khá chi tiết về sự phân giải gỗ của nấm Lỗ, tập tính sinh thái của chúng và tác giả kết luận nấm Lỗ có tác dụng không thể thay thế được trong các khâu tuần hoàn vật chất của hệ sinh thái rừng, làm tăng tính đa dạng của hệ sinh thái, làm giàu rừng Nấm Lỗ có nhiều tác dụng kinh tế, sinh thái và xã hội và cần được bảo vệ, phát

Trang 29

triển và lợi dụng hợp lý bảo đảm phát triển bền vững hệ sinh thái rừng.Tác giả cho biết gỗ là những tài nguyên chứa năng lượng lớn nhất trên địa cầu, nhưng thành phần của chúng chỉ có một ít monosaccharid và tinh bột, chủ yếu là cellulose ( chiếm 40-50%) hemicellulose (chiếm 25-40%) và lignin (chiếm 20-35%) Trong

đó chất lignin có tác dụng đề kháng mạnh với các enzym tham gia vào tổ thành tế bào mô gỗ, làm cho gỗ khó bị phân giải Phần lõi gỗ còn chứa các chất tannin trong cây lá rộng, chất phenol trong cây lá kim, cho nên phần lõi gỗ khó bị mục hơn Phần lõi bị mục là do các loài côn trùng đục thân như mọt xén tóc, cát đinh, vòi voi mang nấm vào gây mục.Giải thích các kiểu mục tác giả cũng cho biết gỗ mục được chia ra mục trắng do nấm phân giải lignin, mục nâu do nấm phân giải cellulose và hemicellulose, xác gỗ mục có các dạng mục khối, mục tổ ong; còn mục mềm chủ yếu phát sinh trên gỗ có hàm lượng nước và Nitơ cao, xác gỗ mục chỉ còn lại dạng phiến, xốp Kiểu mục trắng và nâu thường do nấm Đảm, nhất là nấm Lỗ gây nên, kiểu mục mềm thường do các loài nấm Túi và nấm Bất toàn gây nên Loại mục trắng thường có hai hình thức mục đồng thời và mục chọn lọc Mục đồng thời là cả 3 chất lignin, cenlulose và hemicenlulose cùng bị phân giải thường phát sinh trên cây lá rộng ; còn mục chọn lọc là trước hết phân giải lignin và hemicenlulose, sau đó mới phân giải cenlulose, sau khi phân giải, gỗ còn có tính đàn hồi.(Xu Tiantian, 2010)[182]

Căn cứ vào các loại mục, người ta chia ra nấm mục trắng và nấm mục nâu Nấm mục trằng là những loài phân giải lignin, nếu không có nấm mục trắng thì không có sinh vật phân giải cây khô cây đổ vật chất và năng lượng cũng không hoàn trả lại cho rừng Vì vậy nấm mục trắng còn dùng rộng rãi trong công nghiệp phân giải sinh học và công nghiệp giấy, vải, nhuộm Tính đa dạng công dụng nấm

Lỗ còn thể hiện ở các giá trị như nấm làm thực phẩm, nấm làm dược liệu, nấm phân giải kim loại nặng, nấm phân giải các chất độc như dioxin, Selenium, nấm diệt tuyến trùng Trong nấm Lỗ có 75% số loài có chất kháng sinh mạnh và có thể làm tài nguyên phát triển các chất kháng sinh mới (YJ Park et al, 2012), [132]

Những năm gần đây nhiều nhà nấm học tập trung nghiên cứu đến tính kháng

u của một số loài trong bộ nấm Lỗ, đặc biệt là họ nấm Linh chi Ganodermataceae

Trang 30

Một số tác giả đã đề cập đến hoạt tính kháng ung thư của chất clitocine trong tế bào của một số loài nấm thuộc nấm Linh chi

Căn cứ vào các tài liệu về nấm Linh chi nhiều tác giả đã tổng kết tác dụng chữa bệnh của chúng và nêu ra những tác dụng sau: chữa các triệu chứng thần kinh suy nhược, cao huyết áp, viêm gan kéo dài, tiểu đường; viêm phế quản mạn , hen suyễn, kháng u bướu, giải độc, bảo vệ gan, cải thiện tuần hoàn cơ tim, chống lão hoá, dị ứng, làm đẹp da

Nhiều loài trong nấm Lỗ tâng (Fomes) và Tựa lỗ tầng ( Fomitopsis) đã được

nhiều tác giả nghiên cứu:

Nấm Fomes fomentarius còn gọi là nấm Lỗ tầng gốc cây hay nấm Lỗ tầng

lông nhung lửa, phân bố trên cây lá rộng trên thế giới Vào thế kỷ 18 và 19, chúng

dã được sử dụng làm cao dán cầm máu, một công cụ dùng để châm cứu, bộ phận được dùng là thể quả Chất chiết có thể có tác dụng chống oxy hoá, lợi tiểu, chữa bỏng, tiêu tích, giảm đau, tiêu đờm và kháng u và đã được ứng dụng có tính truyền thống

Nấm Fomitopsis officinalis dùng để chữa nhiều bệnh như cảm cúm, trúng

gió, kiện vị tiêu thực, diệt khuẩn lợi tiểu, chữa bệnh đau dạ dày, tiểu tiện kém, kết sỏi dường niệu đạo và bệnh ngoài da Chúng có hoạt tính ức chế các enzym tyrosine kinase, acetylcholinesterase Vùng Tân cương gọi là " A li hong" Trong nấm có chứa các chất eburicoic acid.eburicol, eburical, eburico-diol, tumulosic acid Tác dụng của eburicoic acid là làm cho huyết quản quanh tuyến mồ hôi động vật co thắt lại, nhưng không ảnh hưởng sự tiết của tuyến mồ hôi Tác dụng chủ yếu của nấm này là chữa hen suyễn, viêm khớp do phong thấp mạn tính, đau dạ dày, viêm họng, viêm chân răng, kết hạch đường nước tiểu, phù thũng, chữa rắn cắn (Wang

Bo, 2012) [180]

Nấm Fomitopsis rosea có thể làm thuốc ức chế ung thư, hiệu quả thử nghiệm

chữa HIV đạt 60%.,

Nấm Fomitopsis pinicola (Sow ex Fr.) Kart thường mọc trên cây lá kim,

phân bố rộng khắp thu hái mùa thu Chất polysacharit trong loài này cũng đã được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu.(Xu ,2010)[183]

Trang 31

Một số loài nấm Lỗ khác có tác dụng chữa các bệnh cũng đã được đề cập

đến như nấm Vân chi ( Coriolus versicolor) sau khi thu hái phơi khô có thể phòng

và chữa ung thư gan, có tác dụng hoá đờm, viêm gan virus, kết hạch phổi Nấm

Bần đỏ ( Trametes cinnabaria) có tác dụng thanh nhiệt, chữa kiết lỵ, chữa tê buốt

chân tay ( Zhao, 1998) [186]

Về tính đa dạng nấm Lớn được lợi dụng để hấp thu kim loại nặng, Zhang chứng minh, tính đa dạng nấm Lớn quyết định khả năng hấp thu kim loại nặng trong đất như chất Chì (Pb) cao hơn thực vật ( <1mg/kg) Chứng tỏ nấm Lớn có tác dụng hút chất chì trong đất khá rõ rệt ( Zhang, 2010) [185]

Chất dioxin được nghiên cứu vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước Đó là một chất độc mạnh có thể chảy theo dòng sông, biển, không khí, đất, tác hại đối với người và ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng Thông thường có 2 loại: poly-o-chlorinated dibenzodioxin (PCDD) và poly-o-chlorinated dibenzofuran (PCDF) Trong học thuật gọi tắt là PCDD/PCDF Những loại ở vị trí 2,3,7,8 có 17 loại Clo ,

là loại độc gọi là TCDD và TCDF

Dioxin là một trong những hợp chất độc nhất đối với người Độ độc tiếp xúc

da là 1-100µg/kg (gấp 20.000 lần so với DDT) vào cơ thể là 10-20µg/kg (gấp 4.000 lần so với DDT) TCDD trong cơ thể gây độc trong 7-10 năm Con người chỉ có thể tiếp xúc liều lượng thấp, rất ít có trường hợp trúng độc cấp tính Trúng độc mãn tính thể hiện các triệu chứng là: Giảm trọng lượng, khô tuyến ngực, hệ thống miễn dịch bị tổn thương, tổn thương gan, sinh dục và trí lực bị ảnh hưởng, dẫn đến dị dạng, ung thư, đột biến Dioxin đã được công nhận là kích thích hệ thống nội tiết cho phụ nữ Trong tự nhiên PCDD và PCDF rất khó phân giải Theo thông báo của

Xu Jingtai (2010) ngày nay đã bắt đầu nghiên cứu sử dụng các vi khuẩn

Sphingomonas sp., nấm Lỗ trải bào tử vàng (Phanerochaete chrysosporium), nấm

Lỗ trải trắng (P sordida) và nấm Lưỡi liềm Fusarium solani để phân giải

PCDD[183]

Bệnh tuyến trùng thông là bệnh nguy hiểm của thế giới Gốc chặt cây thông chết có tuyến trùng là một trong những nguồn xâm nhiễm quan trọng, lợi dụng các biện pháp hữu hiệu xử lý các gốc chặt sẽ có lợi cho việc nâng cao hiệu quả phòng trừ chúng Nhưng thực tiễn chứng minh mọi biện pháp phòng trừ bị hạn chế bởi

Trang 32

nhân lực, vật lực và tài lực mà rất khó xử lý Nhiều nghiên cứu chứng minh, nấm mục gỗ không chỉ phân giải gỗ mà còn có thể đem gốc chặt làm thuốc, trồng nấm

ăn lên gốc chặt sẽ mang lại lợi ích kinh tế, xã hội dối với dịch bệnh tuyến trùng hại thông mà còn nâng cao hiệu quả phòng trừ Các tác giả đã đề cập đến ảnh hưởng của nấm mục gỗ đến sự sinh sản của tuyến trùng, tác dụng của gốc chặt đối với cây

thông bị chết Thí nghiệm nuôi cấy nấm Lưu huỳnh ( Laetiporus sulphureus ) trên

6000 môi trường lỏng để làm căn cứ lý luận dùng nấm phòng trừ bệnh tuyến trùng Kết quả đã chọn được 22 chủng của 13 loài nấm mục gỗ dùng để xác định ảnh hưởng của nấm mục gỗ đối với bệnh tuyến trùng

Ngoài ra khi nghiên cứu các loài nấm diệt tuyến trùng thông, tác giả cho biết:

ngoài nấm Chân chim ( Schizophyllum commune), các chủng khác cũng có tác dụng ức chế, trong đó có 5 loài: Fomitopsis pinicola, Laetiporus sul- phureus,Pleurotus ostreatus,Sarcodon imbricatus,Wolfiporia cocos (Chen Yao,

Cantharellus, Pleurotus Đặc biệt thông báo cũng cho biết cùng một loài nấm Lưu huỳnh Laetiporus sulphureus mọc trên cây Dẻ là ăn được, nhưng mọc trên cây

Bạch đàn lại gây độc.(Zhang, 2011)[189]

Về bảo tồn những loài nấm Lỗ nói chung nấm ăn và nấm dược liệu nói riêng, Zhou Liwei (2013) [136] đã chia nấm thực phẩm, nấm dược liệu ra làm 3 loại:

(1) Loại nguy cơ tuyệt chủng: chủ yếu là những loại nấm do đặc điểm sinh vật học đặc biệt, yêu cầu sinh cảnh đặc biệt, phân bố rất hẹp, nơi mọc và vật chủ bị phá hoại nghiêm trọng gây ra số lượng quần thể loài giảm xuống nhanh chóng, thậm chí gần như bị tuyệt chủng mà tàn dư của chúng vẫn còn bị uy hiếp như: nấm

Trang 33

Củ, nấm Tùng nhung, nấm Gan bò, nấm Đông trùng hạ thảo Chúng đã trở thành sinh vật cần được bảo tồn

(2) Loại quý là những loài có giá trị khoa học rất lớn là nguồn có thể lợi dụng sinh vật tự nhiên như các loài nấm thuộc các chi nấm Gan bò

(Gastroboletus),nấm Mỡ đỏ (Russula),nấm Cao ngỗng (Amanita),nấm Bụng (Hydanangium),nấm Mối hay Đuôi gà (Termitomyces spp) Những nấm đó có

khoảng 30 loài Chúng có ý nghĩa phục hồi hệ sinh thái Tuy đã có nơi nuôi trồng thành công nhưng thị trường không thấy bán, giá cả rất đắt và hiếm,

(3) Loại hiếm là những loại nấm cộng sinh với cây gỗ và côn trùng như:

Truffles magnatum, Tricholoma matsutake, Boletus edulis, Sinotermi-tomyces, Russula vinosa, Lindblad , Pleurotus tuber-regium,Lepita ruda,Cantharellus

Những vấn đề này cũng đã được Uỷ ban Bảo tồn nấm Châu Âu ( Euro Council of Conservation of Fungi, ECCF) đề cập và đưa vào danh sách đỏ Châu Âu

và từng nước ( Kreisel, 1992; Dalberg & Croneberg, 2003,2006; Perini & Ventirella, 2008) (Xu, 2010)[183]

Về bảo vệ tính đa dạng di truyền, ngoài luật bảo vệ đa dạng sinh học của các nước, một số nước như Trung Quốc gần đây đã đề cập đến quy phạm kỹ thuật thu hái mẫu nấm Lớn công bố ngày 9/9/2011 và bắt đầu thực thi ngày 1/1/2012 Bản quy phạm đó đã đề cập đến những nguyên tắc cơ bản về phương thức và đối tượng thu hái, xử lý và bảo tồn mẫu vật thu hái, biện pháp an toàn, ghi chép và thu hái lặp lại [152]

Việc ứng dụng toán học để tính toán các chỉ số đa dạng nấm Lớn cũng chỉ mới bắt đầu trong vài năm gần đây sau khi có các chỉ số phong phú, chỉ số đồng đều, chỉ số đa dạng trong nghiên cứu sinh thái thực vật.Ví dụ như Rao Jun năm

2012 đã áp dụng xác định tính đa dạng quần xã nấm Lớn trong 3 kiểu rừng: rừng hỗn giao lá kim-lá rộng, rừng lá kim, rừng lá rộng, lấy ô tiêu chuẩn diện tích là 8m

x 8m đến 16m x16m dùng chỉ số đa dạng Pielou để tính toán Kết quả cho thấy rừng hỗn giao lá kim-lá rộng có chỉ số đa dạng lớn nhất.(Rao Jun, 2012)[175] Các chỉ số phong phú (R), chỉ số đa dạng (D) và chỉ số đa dạng (H') cũng đã được Chen Junliang (2012) đề cập đến[156] Đến năm 2014 Bộ Bảo vệ Môi trường Trung Quốc đã ban bố tiêu chuẩn kỹ thuật quan trắc tính đa dạng sinh vật nấm Lớn

Trang 34

vào ngày 31 thỏng 10 năm 2014 và thực thi ngày 01 thỏng 01 năm 2015, trong đú

cú phương phỏp phõn tớch xử lý số liệu theo cỏc cụng thức cỏc chỉ số nờu trờn 1.1.2 Những nghiờn cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân ta đã biết dùng nấm làm thực phẩm và dược phẩm Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) trong tác phẩm " Vân đài loại ngữ" và

" Kiều văn tiểu lục" đã đánh giá " Linh chi là sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam"

Trong thời kỳ Phỏp thuộc, những nghiờn cứu về nấm của Việt Nam núi chung và nấm Lớn núi riờng được thực hiện đầu tiờn từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ

20 bởi cỏc tỏc giả nước ngoài như Patouillard N (1890, 1897, 1907, 1909, 1913,

1915, 1917, 1920, 1923, 1927, 1928), Hariot P & Patouillard N (1914), Heim R

trỡnh nghiờn cứu " Bước đầu điều tra bộ Aphyllophorales vựng Hà Nội"" , H

Kreisel (1966), Nguyễn Văn Quyết (1969), Trịnh Tam Kiệt (1970), Cao Văn Bỡnh (1970), Trịnh Văn Trường (1970), Trịnh Tam Kiệt (1975) cũng cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về bộ nấm Lỗ ( Trịnh Tam Kiệt và cộng sự, 2001) [15]…

Từ ngày đất nước thống nhất, cỏc nghiờn cứu về nấm cũng được tiếp tục tiến hành bởi một số tỏc giả nước ngoài như Joly P & Perreau J (1977), Pfister D H (1977), Parmasto E (1986); cỏc tỏc giả trong nước như Trịnh Tam Kiệt (1977,

1981, 1996, 1998, 2001, 2005, 2008, 2010), Ngụ Anh (1978, 1999, 2003), Lờ Xuõn Thỏm (2005), Trịnh Tam Kiệt (2011,2012,2013), Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Thị Tam Bảo (2004, 2005, 2006, 2008), Trịnh Tam Kiệt và Phan Văn Hợp (2008), Đoàn Văn Vệ, Trịnh Tam Kiệt (2008); cũng như cụng bố chung giữa cỏc tỏc giả nước ngoài và Việt Nam của H Dửrfelt, T T Kiet & A Berg (2004), Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Thị Tam Bảo & H Dorfelt (2007)[6-24]

Trang 35

Cụng trỡnh " Nghiờn cứu một số đặc điểm sinh học của nấm Lim (Ganoderma lucidum Karst.) ở vựng Đụng Bắc Việt Nam" của tỏc giả Phạm Quang Thu đó sưu tập 4 chủng Ganoderma lucidum mọc ở vựng Đụng Bắc Việt Nam, đó

mụ tả hỡnh thỏi, phõn loại đặc điểm sinh học, cỏc điểu kiện sinh thỏi tự nhiờn nơi nấm mọc Tỏc giả đó nuụi trồng trong phũng thớ nghiệm và phõn tớch sơ bộ thành

phần húa học Theo Phạm Quang Thu trong nấm G lucidum cú cỏc hợp chất Sterin,

lacton, alcaloid và glucosid.[36]

Một tài liệu khác đề cập đến danh lục các loài nấm Lỗ Aphyllophorales miền Bắc Việt Nam của E Parmasto cũng nêu lên được trên 200 loài Các tác giả khác như Phạm Quang Thu, (1994) [36] Đàm Nhận (1996) [32], Lê Xuân Thám (1996) [35], Ngô Anh (2002)[6] cũng nghiên cứu nhiều về thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số nhúm nấm, nhất là họ nấm Linh chi Ganodermataceae

Những nghiên cứu sâu hơn của Trịnh Tam Kiệt về kết cấu sợi, nuôi cấy nấm trên môi trường, thành phần dinh dưỡng và chất độc đã thể hiện được những vấn đề nghiên cứu của thời đại Nhiều nghiên cứu khác của tác giả và cộng sự cũng đã đề

cập đến nhiều lĩnh vực tác dụng của các loài thuộc phân chi Coremiopleorotus

Tuy nhiờn việc nghiờn cứu một cỏch hệ thống và cú được cỏc sỏch chuyờn khảo về phõn loại nấm Lớn cũng cũn rất ớt, cú thể kể ra một số cụng trỡnh của Trịnh Tam Kiệt (1981, 1996) Trịnh Tam Kiệt và cỏc tỏc giả khỏc (2001) Lờ Bỏ Dũng ( 2003) Lờ Xuõn Thỏm ( 2005) Trịnh Tam Kiệt ( 2011,2012,2013)

Về tính đa dạng loài nấm Lớn nói chung, nấm Lỗ nói riêng, nhiều tác giả chỉ nêu lên đa dạng về hình thái và công dụng Tuy nhiên các tác giả trong nước đã nghiên cứu về các đặc điểm sinh học của nấm Lớn hại gỗ của nhiều loài nấm, mối quan hệ nấm Lỗ với các nhân tố sinh thái của nấm mọc trên gỗ

Nếu ước tớnh số loài nấm cú thể cú trờn lónh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao thỡ số loài cú thể lờn tới 72000 loài Điều đú cú nghĩa là hơn 90% số loài nấm cú thể cú ở Việt Nam cũn chưa được định loài và nờu tờn trong danh lục

Cũng cần phải núi thờm rằng, việc nuụi trồng nấm ăn đó thỳc đẩy việc nhập nhiều chủng giống nấm ăn ở nước ngoài để tiến hành nghiờn cứu, thuần húa và nuụi trồng ở Việt Nam đó dẫn tới sự cú mặt của tập đoàn giống với khoảng 50 chủng nấm

Trang 36

ăn và nấm cho dược liệu Một số chủng đã phát tán bào tử, hình thành thể quả trong điều kiện tự nhiên của Việt Nam và góp phần phong phú cho khu hệ nấm

Khu hệ nấm Việt Nam nói chung, nấm Lớn nói riêng còn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ so với thực vật bậc cao và động vật có xương sống Chúng đã được công bố chủ yếu bởi các khóa luận, luận văn tốt nghiệp cử nhân, thạc sĩ, tiến

sĩ, các bài báo đăng trong các tạp chí khoa học trong nước và một số ít ở nước ngoài Các sách xuất bản chuyên về phân loại nấm cũng còn rất ít, có thể kể ra một

số công trình của Trịnh Tam Kiệt (1981, 1996, 2008, 2011, 2012, 2013,2014) Cũng như các sinh vật khác, nấm Lớn ở Việt Nam có nhiều tác dụng như nấm làm thức ăn, nấm làm dược liệu, nấm có khả năng ứng dụng trong công nghệ sinh học

và bảo vệ môi trường đã được một số tác giả công bố trong một số công trình nghiên cứu [12-23]

Năm 2002, Ngô Anh nghiên cứu thành phần loài nấm ở Thừa Thiên Huế đã

xác định được 346 loài thuộc 134 chi, 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota [6]; Trịnh Tam Kiệt, U Grafe (2003) công bố “Những nghiên cứu

về Linh chi Hải Miên Tomophagus Murrill của Việt Nam” [89]

Từ năm 2004 đến năm 2009 Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Thị Tam Bảo đã nghiên

cứu thành phần loài nấm Lớn làm dược liệu và một số loài dưới chi Elfvingia và chi Tomophagus ở Việt Nam, xác định được 13 loài thuộc dưới chi Elfvingia và 1 loài thuộc chi Tomophagus; "Nghiên cứu thành phần loài nấm đa niên thuộc họ Coriolaceae” đã công bố 17 loài trong 8 chi [17-19]

Trong thời kỳ đó Trần Văn Mão, Nguyễn Thế Nhã cũng đã xuất bản một số sách chuyên khảo đề cập đến các loài nấm mục gỗ được thu thập từ các vườn Quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Vì [26,27,30,31]

Một số loài thuộc họ Coriolaceae được sử dụng trong công nghệ dược phẩm

như: loài Lariciformes officinalis dùng để chiết agaricin một dược phẩm dùng chữa một số bệnh như bệnh lao, nhuận tràng, chất thay thế cho quinine; Trametes vericolor, Pycnoporus sanguineus có chứa chất kháng sinh Khoảng 50 loài nấm có

khả năng sinh enzyme và một số hoạt chất quý có thể được ứng dụng trong công nghệ sinh học và bảo vệ môi trường [35,37,39,40]

Trang 37

Trong 10 năm lại đây rất nhiều công trình nghiên cứu của Trịnh Tam Kiệt

và Trịnh Thị Tam Bảo công bố về đặc tính sinh vật học của các loài nấm Lỗ ở Việt nam, đặc tính di truyền và ứng dụng Năm 2008 Trịnh Tam Kiệt công bố về nấm độc ở Việt Nam [ 18-23]

Đặc biệt những năm gần đây, Trịnh Tam Kiệt từ năm 2008 đến nay đã mô tả các loài nấm Lớn ở Việt Nam trong các cuốn sách " Nấm Lớn ở Việt Nam" và năm

2014 đã công bố 1821 taxa nấm lớn trong " Danh lục nấm lớn ở Việt Nam"[20-23]

Ngoài ra một số tài liệu về nấm Lỗ cũng được đề cập trong các sách chuyên khảo của Trần Văn Mão,Phạm Quang Thu [ 26,36]

Cũng cần chỉ rõ rằng những tài liệu về sinh thái học rừng của Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan ( 2010)[29] bàn về sinh thái rừng, của Vương Văn Quỳnh, Trần Tuyết Hằng (1996) [34] đều là tài liệu tham khảo để tính chỉ số đa dạng sinh học, nghiên cứu khí tượng thuỷ văn rừng Việt Nam

Tất cả những dẫn liệu trên về thành phần loài và tính đa dạng loài ở trong nước và trên thế giới đã góp phần không nhỏ cho sự tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn

về thành phần loài, đặc điểm sinh thái bộ nấm Lỗ nhằm bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn tại khu vực nghiên cứu

1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vườn quốc gia Ba vì là một trong 30 vườn Quốc gia Việt Nam có những đặc điểm riêng mang tính chất riêng về mặt sinh thái, phân bố thực vật, động vật và các loài sinh vật khác Huyện Ba Vì và Vườn Quốc gia Ba Vì có những đặc điểm cơ bản như sau:

Trang 38

thứ 3 Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính giữa tỉnh Hà Tây và tỉnh Phú Thọ

Hiện tại, Huyện Ba Vì có 1 thị trấn là Tây Đằng (huyện lỵ) và 30 xã: Ba Trại,

Ba Vì, Cẩm Lĩnh, Cam Thượng, Châu Sơn, Chu Minh, Cổ Đô, Đông Quảng, Đồng Thái, Khánh Thượng, Minh Châu, Minh Quang, Phong Vân, Phú Châu, Phú Cường, Phù Đổng, Phú Phương, Phú Sơn, Sơn Đà, Tản Hồng, Tản Lĩnh, Thái Hòa, Vạn Thắng, Vật Lại, Yên Bài v.v

*Về giao thông:

Đường bộ: có quốc lộ 32 chạy qua thị trấn Tây Đằng, nối Sơn Tây với Hưng Hóa tỉnh Phú Thọ và đi các tỉnh vùng Tây Bắc Bắc Bộ Trên quốc lộ này, đoạn cuối tại xã Thái Hòa, có cầu Trung Hà, bắc qua sông Hồng

Đường thủy bao gồm sông Hồng, sông Đà và sông Tích

*Về lịch sử

Huyện Ba Vì được thành lập ngày 26/7/1968 trên cơ sở hợp nhất các huyện

cũ Bất Bạt, Tùng Thiện và Quảng Oai của tỉnh Hà Tây Thời kỳ 1975-78 thuộc tỉnh

Hà Sơn Bình Từ năm 1978 đến năm 1991 thuộc thành phố Hà Nội Từ năm 1991 đến 2008 thuộc Hà Tây.Từ 1 tháng 8 năm 2008 Ba Vì là 1 huyện của Hà Nội

1.2.2.Đặc điểm Vườn Quốc gia Ba Vì

Vườn Quốc gia Ba Vì ( QGBV) được thành lập theo Quyết định số 17-CT ngày 16/01/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập và phê chuẩn luận chứng kinh tế - kỹ thuật Rừng cấm quốc gia Ba Vì Quyết định số 407 – CT ngày 18/12/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc đổi tên thành Vườn quốc gia Ba Vì và giao Bộ Lâm nghiệp quản lý

a Vị trí địa lý:

Vườn QGBV nằm trong tọa độ địa lí 21001’ đến 21007’ vĩ độ Bắc 102018’ đến 105025’ độ kinh Đông.cách trung tâm thành phố 50 km

-Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Yên Sơn, Tản Lĩnh huyện Ba Vì

-Phía Nam giáp huyện Kì Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình

-Phía Đông giáp các xã Vân Hòa,Yên Bài huyện Ba Vì

-Phía Tây giáp các xã Khánh Phượng, Minh Quang huyện Ba Vì

Trang 39

Vườn có quy mô diện tích: 7.377 ha bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trên cote 400m và phân khu phục hồi sinh thái dưới cote 400m và vùng đệm có diện tích 14.144 ha thuộc địa phận 7 xã miền núi của huyện Ba Vì

Khối núi Ba Vì nằm ở 2 dải dông chính

- Dải dông theo hướng Đông – Tây Từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và Hang Hùm dài 9 km

- Dải dông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Từ Yên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quyết dài 11 km

Nói chung Ba Vì là vùng núi khá dốc Sườn phía Tây đổ xuống sông Đà dốc hơn so với Tây Bắc và Tây Nam Độ dốc trung binh của khu vục là 250 Càng lên cao độ dốc càng tăng từ cote 400m trở lên Độ dốc trung bình là 350 và có nhiều vách đá Ba Vì là một vùng núi có cảnh quan đẹp, một vùng sơn thủy hữu tình

c Đặc điểm khí hậu thủy văn

+ Đặc điểm khí hậu

Khu vục Ba Vì nằm ở 210 Bắc, chịu tác động của cơ chế gió mùa Tác động phối hợp của vĩ độ và gió mùa tạo nên loại khí hậu nhiệt đới ẩm với một mùa đông khô lạnh Từ cote 400m trở lên không có mùa khô

Địa hình nhô cao, đón gió nhiều phía nhất là gió hướng Đông nên lượng mưa khá phong phú và phân bố đều trên khu vực

* Chế độ nhiệt

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,390C Tháng lạnh nhất là tháng 1 (16,520C) Tháng nóng nhất là tháng 7 (28,690C) Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 11) Nhiệt độ trung bình mùa nóng là 26,20C, ngày nóng nhất là 38,20C Mùa lạnh dài 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) Tháng lạnh nhất là tháng giêng 16,520C

Trang 40

Ở độ cao cote 400m mùa lạnh kéo dài 5 tháng ( từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Tháng lạnh nhất là tháng giêng 13,30C

* Chế độ mưa ẩm

Tại chân núi Ba Vì có hai mùa rõ rệt là mùa mưa nóng ẩm (từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 11) và mùa khô lạnh (khoảng giữa tháng 11 đến tháng 3 năm sau ) Tại độ cao cote 400m hầu như không có mùa khô vì lượng bốc hơi luôn thấp hơn lượng mưa

Căn cứ vào cấp phân loại chế độ ẩm – nhiệt ( Thái Văn Trừng ) Ba Vì được xếp vào loại hơi ẩm đến ẩm

* Chế độ mưa

Lượng mưa hàng năm ở Ba Vì tương đối lớn, phân bố không đồng đều giữa các khu vực Vùng núi cao và sườn núi phía Đông mưa rất nhiều 2587,6mm/năm Vùng xung quanh chân núi có lượng mưa thấp hơn 1731,4mm/năm Sườn Đông mưa nhiều hơn so với sườn Tây Số ngày mưa tại chân núi Ba Vì từ 130 – 150 ngày/năm

Theo Gaussen-Walter (1963) ở các nước Nhiệt dới, nếu dùng chỉ tiêu 2 lần nhiệt độ bình quân (2T) và lượng mưa thể hiện lên biểu dồ sẽ thể hiện được 2 mùa

rõ rệt Mùa khô là lượng mưa thấp hơn 2T và mùa mưa cao hơn 2T Khí hậu Ba vì được thể hiện trên biểu đồ Gaussen- Walter (1963) hình 1-1:

0 50 100 150 200 250 300 350 400 450

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng

Lượng mưa

2T(tb)

P (mm)

Hình 1.1: Sơ đồ khí hậu Ba Vì theo Gaussen- Walter (1963)

Từ số liệu và biểu đồ khí tượng trên cho thấy: khí hậu Ba Vì có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 11, mùa khô từ cuối tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa lớn nhất vào tháng 8 Phân phối mưa theo mùa trong năm

Ngày đăng: 23/05/2021, 13:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w