1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và mối quan hệ sinh thái của quần thể bò tót (bos gaurus h smith, 1827) ở vườn quốc gia cát tiên phục vụ cho quản lý và bảo tồn

137 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 3.15 Khả năng cung cấp thức ăn kg/ha của các sinh cảnh bò tót ở một số khu vực 71 Bảng 3.19 Diện tích vùng cư trú của loài bò tót ở VQG Cát Tiên 86 Bảng 3.22 Tần số bò tót xuất hiện

Trang 1

TR¦êNG §¹I HäC L¢M NGHIÖP

PH¹M H÷U KH¸NH

NGHI£N CøU §ÆC §IÓM PH¢N Bè THEO SINH C¶NH

Vµ MèI QUAN HÖ SINH TH¸I CñA QUÇN THÓ Bß TãT

(BOS GAURUS H SMITH, 1827) ë V¦êN QUèC GIA

C¸T TI£N PHôC Vô CHO QU¶N Lý Vµ B¶O TåN

LUËN ¸N TIÕN SÜ N¤NG NGHIÖP

Hµ Néi - 2010

Trang 2

TR¦êNG §¹I HäC L¢M NGHIÖP

PH¹M H÷U KH¸NH

NGHI£N CøU §ÆC §IÓM PH¢N Bè THEO SINH C¶NH

Vµ MèI QUAN HÖ SINH TH¸I CñA QUÇN THÓ Bß TãT

(BOS GAURUS H SMITH, 1827) ë V¦êN QUèC GIA

C¸T TI£N PHôC Vô CHO QU¶N Lý Vµ B¶O TåN

Chuyªn ngµnh: Kü thuËt l©m sinh

Trang 3

LờI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, trích dẫn trong luận án đều được sự đồng ý của tác giả hoặc ghi rõ nguồn gốc

sử dụng các phần mềm Statgraphic version 15.0 và Primer 5 for Windows version 5.2.4; Hạt Kiểm lâm và các trạm, đội cơ động đã tham gia điều tra, cung cấp số liệu giám sát quần thể bò tót Đặc biệt là các anh em kiểm lâm ở các trạm Bàu Sấu, Đắc Lua, Đồi Đất

đỏ, Sa Mách, Đà Cộ, Đà Lắc, Gia Viễn, Tiên Hoàng, Phòng khoa học kỹ thuật đã phối hợp tổ chức các đợt điều tra thực địa và xây dựng các loại bản đồ

Con xin tưởng nhớ đến bố, mẹ với lòng kính yêu và biết ơn vô hạn Xin cảm ơn anh, chị, em trong gia đình; vợ và các con đã luôn ủng hộ và là nguồn động viên, chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để hoàn thành luận

án này

Tôi xin cảm ơn tất cả các thày trong Bộ môn động vật rừng, trường đại học Lâm nghiệp Hà Nội; các thày trong Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã góp ý sửa chữa luận án; Các anh, chị, em đồng nghiệp, đồng ngành, bạn bè gần xa đã luôn quan tâm, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, cung cấp các tài liệu tham khảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

Trang 4

1.3.2 Khái quát các giai đoạn lịch sử nghiên cứu về bò tót ở Việt Nam 10 1.3.3 Một số đặc điểm sinh học và sinh thái của bò tót 14

3.1 Hiện trạng và đặc điểm quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên 44

3.2 Đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố theo sinh cảnh của bò tót ở

VQG Cát Tiên

49

3.2.1 Đặc điểm sinh cảnh của bò tót ở VQG Cát Tiên 49

3.3 Các mối quan hệ sinh thái của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên 103

3.3.2 Quan hệ với các loài thú móng guốc khác trong các sinh cảnh 103 3.4 Xây dựng chiến lược bảo tồn quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên 107

D

3.4.1 Tình trạng bảo tồn quần thể bò tót hiện nay của VQG Cát Tiên 107 3.4.2 Dự báo biến động kích thước quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên 114 3.4.3 Chiến lược bảo tồn quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên 115

Bảng 3.6 Các họ thực vật và số loài là thức ăn của loài bò tót ở VQG Cát

Tiên

59

Bảng 3.7 Diện tích vùng cây thức ăn của bò tót ở VQG Cát Tiên 62 Bảng 3.8 So sánh dạng thân các loài cây thức ăn của bò tót ở các khu vực 63 Bảng 3.9 Dạng thân các loài cây thức ăn trong các sinh cảnh ở khu vực Nam

Trang 5

Bảng 3.15 Khả năng cung cấp thức ăn (kg/ha) của các sinh cảnh bò tót ở một

số khu vực

71

Bảng 3.19 Diện tích vùng cư trú của loài bò tót ở VQG Cát Tiên 86

Bảng 3.22 Tần số bò tót xuất hiện ở Bàu Sấu và Núi Tượng 97 Bảng 3.23 Mức độ sử dụng sinh cảnh của bò tót ở VQG Cát Tiên 98 Bảng 3.24 Số lượng cá thể bò tót bắt gặp trong các sinh cảnh vào mùa khô 99 Bảng 3.25 Số lượt du khách đến VQG Cát Tiên qua các năm 108

Hình 3.9 Cluster sinh cảnh ở độ tương đồng (similarity) ở mức 90% của

các điểm nghiên cứu

100

Hình 3.11 Dự báo kích thước của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên trong

tương lai

115

G

DANH MụC CáC PHụ LụC

Phụ lục 4 Ước đoán tuổi của quần thể bò tót qua kích thước dấu chân vi Phụ lục 5 Phân biệt dấu chân của bò tót với các loài trâu bò nhà viii Phụ lục 6 Tương quan kích thước giữa chiều dài, chiều rộng với chân trước

chân sau

ix

Phụ lục 7 Số liệu diện tích và kích thước các móng chân xv Phụ lục 8 Tương quan giữa diện tích và kích thước các móng chân xvii Phụ lục 9 Địa hình trong các sinh cảnh của bò tót ở VQG Cát Tiên xxiii

Phụ lục 11 Danh lục các loài cây thức ăn của bò tót ở VQG Cát Tiên xxx

Phụ lục 14 Kết quả giám sát số lượng cá thể bò tót xuất hiện ở các khu vực xliii

Phụ lục 16 Bảng SWOT về bảo tồn quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên xlvii Phụ lục 17 Dự báo biến động kích thước quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên xlviii

Trang 6

CáC CHữ VIếT TắT TIếNG VIệT BTTN Bảo tồn thiên nhiên

UBKHKTNN ủy Ban Khoa học và kỹ thuật Nhà Nước

VQG Vườn quốc gia

CáC CHữ VIếT TắT TIếNG ANH

ASL Above sea level

Độ cao so với mặt nước biển ATP Adenosin triphosphat (hóa học)

Phân tử mang năng lượng có chức năng vận chuyển năng lượng đến các nơi cần thiết cho tế bào sử dụng

AWCSG Asian Wild Cattle Specialist Group (IUCN)

Nhóm chuyên gia bảo tồn các loài trâu bò hoang dã quốc tế CITES Convention on International Trade in Endangered Species of Wild

Fauna and Flora Công ước thương mại quốc tế về kiểm soát buôn bán các loài động thực vật hoang dã đang nguy cấp

Hệ thống tọa độ địa lý toàn cầu

I

ICDP Integrated conservation and development project

Dự án kết hợp giữa bảo tồn và phát triển IRF International Rhino Foundation

Tổ chức bảo tồn tê giác quốc tế IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural Resources

Hiệp hội bảo vệ thiên nhiên thế giới MAB Man and Biosphere

Chương trình “Con người và Sinh quyển” của UNESCO MIKE Monitoring the Illegal Killing of Elephants

Chương trình giám sát voi bị giết bất hợp pháp của CITES UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

Tổ chức Liên Hiệp quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hóa USWFS United States Fish and Wildlife Service

Cục Thủy sản và Động vật hoang dã Hoa Kỳ

Sẽ nguy cấp WWF World Wildlife Fund

Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên

Trang 7

Mở ĐầU

1 - Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới [12] Các giá trị của ĐDSH là những nhân tố tích cực góp phần vào việc cải thiện cuộc sống của con người ngày càng văn minh, hiện đại, tốt đẹp hơn [44] Các vùng có tính ĐDSH cao chủ yếu tập trung tại các VQG và các khu BTTN [15]

ở Việt Nam đã xây dựng được 30 VQG, 57 Khu bảo tồn thiên nhiên và 37 khu bảo

vệ cảnh quan [12], trong đó có VQG Cát Tiên

Bên cạnh những hoạt động nỗ lực nhằm bảo vệ tính ĐDSH, con người cũng

đang khai thác quá mức hoặc làm biến đổi tài nguyên ĐDSH, làm cho các giá trị

ĐDSH đang dần bị suy thoái, xuống cấp [12] Hiện nay bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề ưu tiên của Chính Phủ Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới

Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) dành ưu tiên cho giải pháp bảo tồn

in-situ và chú trọng vào các hệ sinh thái nổi bật nhất ở các địa phương với 3 mục tiêu

lớn được đặt ra: i) Bảo vệ các hệ sinh thái tiêu biểu hoặc các hệ sinh thái bị đe doạ bởi các sức ép của con người; ii) Bảo vệ các thành phần ĐDSH đang bị đe doạ; iii) Xác định và quảng bá các công cụ, phương pháp sử dụng và phát huy các giá trị

ĐDSH [9],[12]

Mỗi hệ sinh thái đều được đặc trưng bởi nhiều quần xã sinh vật [12],[23],[39], [45] Các quần xã sinh vật được đặc trưng bởi các quần thể của mỗi loài [12],[23], [39],[45] Mỗi loài đều thích ứng với các sinh cảnh đặc trưng khác nhau [23],[39],[45] Mặt khác, các loài sinh sống trong các sinh cảnh phù hợp thì có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt và ngược lại [23],[39],[40] Do vậy khi nghiên cứu bảo tồn của một loài ở bất cứ một địa điểm nào, điều quan trọng và cần thiết là phải nghiên cứu sinh cảnh của nó [38],[40]

VQG Cát Tiên bao gồm các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với giá trị ĐDSH cao,

có diện tích lớn, là sinh cảnh phù hợp cho việc bảo tồn và phát triển quần thể bò tót

(Bos gaurus H Smith, 1827), là loài đang có nguy cơ bị đe dọa cao Ước tính số

Trang 8

lượng cá thể bò tót ở VQG Cát Tiên hiện còn khoảng 111 cá thể, chiếm 1/4 số lượng cá thể bò tót của cả nước và là một trong những quần thể bò tót có số lượng cá thể lớn nhất ở Việt Nam hiện nay [35]

Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm số lượng đàn và số lượng cá thể của loài bò tót ở Việt Nam là do con người đang làm mất, chia cắt và làm suy thoái sinh cảnh của chúng Do vậy để bảo tồn loài bò tót, bên cạnh việc ngăn chặn các hiện tượng săn, bắt, bẫy trái phép và các hoạt động phi pháp khác cũng cần nghiên cứu xây dựng các giải pháp bảo tồn các sinh cảnh của loài bò tót Tuy nhiên, hiện nay chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về đặc điểm sinh cảnh

và mối quan hệ giữa các yếu tố sinh cảnh với đời sống của bò tót ở VQG Cát Tiên Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm

phân bố theo sinh cảnh và mối quan hệ sinh thái của quần thể bò tót (Bos

bảo tồn” nhằm nghiên cứu các nhân tố sinh thái để bảo tồn quần thể bò tót và sinh cảnh của chúng ở VQG Cát Tiên

2 - Mục đích nghiên cứu của luận án:

- Xác định hiện trạng và đặc điểm phân bố của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên;

- Mô tả đặc điểm các dạng sinh cảnh chính và sự phân bố theo sinh cảnh của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên; Xác định các sinh cảnh tối ưu

- Tìm hiểu các mối quan hệ sinh thái của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên;

- Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên

3 - Nội dung nghiên cứu chính của luận án là:

a - Nghiên cứu hiện trạng và phân bố của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên: i)

Ước tính số lượng cá thể, mật độ và kích thước đàn; ii) Xác định cấu trúc tuổi, giới tính của quần thể; iii) Đặc điểm phân bố của quần thể bò tót trong các sinh cảnh

b - Mô tả đặc điểm các dạng sinh cảnh chính và sự phân bố theo sinh cảnh của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên;

Trang 9

i) Xác định các dạng sinh cảnh chính; ii) Mô tả đặc điểm cấu trúc của sinh cảnh (địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, các kiểu rừng, thảm thực vật, thức ăn, nguồn nước, nguồn muối khoáng); iii) Xác định các sinh cảnh tối ưu

c - Tìm hiểu các mối quan hệ sinh thái của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên:

- Nghiên cứu mối quan hệ sinh thái giữa loài bò tót với các loài thú móng guốc khác

- Nghiên cứu một số tập tính hoạt động của loài bò tót trong các sinh cảnh: i)

Sự di chuyển theo ngày, mùa; hoạt động kiếm ăn, trú ẩn, sinh sản; ii) Sự cạnh tranh không gian sống với các loài thú móng guốc khác

d – Xây dựng chiến lược bảo tồn quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên

- Đánh giá các mối đe dọa và thách thức đối với bò tót và sinh cảnh của chúng: i) Tác động của các chủ trương, chính sách của Nhà nước đến sự tồn tại và phát triển của quần thể bò tót; ii) Các thuận lợi, khó khăn, thách thức đối với công tác bảo tồn quần thể và sinh cảnh của bò tót ở VQG Cát Tiên

- Dự báo diễn biến kích thước quần thể bò tót trong thời gian tới

- Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bảo tồn quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên

4 - Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là loài bò tót ở VQG Cát Tiên đặc điểm phân bố theo các sinh cảnh của bò tót và các mối quan hệ sinh thái của chúng ở VQG Cát Tiên

5 - Phạm vi nghiên cứu:

luận án có nội dung nghiên cứu sâu, địa bàn nghiên cứu rộng Do thời gian có hạn, tác giả tập trung nghiên cứu, điều tra và giám sát quần thể bò tót ở một số khu vực bò tót thường xuất hiện và nghiên cứu một số sinh cảnh đặc trưng của chúng ở VQG Cát Tiên

6 - Những đóng góp mới của luận án:

a) Về khoa học, luận án đóng góp tư liệu khoa học về sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể bò tót

- Xác định được số lượng đàn và cá thể bò tót Mật độ của quần thể bò tót Số cá thể trung bình/đàn Tỷ lệ giới tính đực/cái

Trang 10

- Xác định được diện tích cư trú của bò tót trong phạm vi VQG Cát Tiên và giữa VQG Cát Tiên với vùng đệm Hình thức phân bố

- Xác định được các điều kiện sinh thái phù hợp và sinh cảnh đặc trưng của bò tót, sinh cảnh tối ưu của bò tót

- Xác định được mối quan hệ sinh thái giữa bò tót với các cá thể cùng loài, với các loài thú móng guốc khác

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu ở VQG Cát Tiên nhằm bảo tồn quần thể và sinh cảnh của bò tót ở VQG Cát Tiên

b) Về thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở khoa học cho Ban quản lý VQG Cát Tiên giám sát diễn biến số lượng quần thể loài bò tót; Cung cấp cơ sở dữ liệu để các nhà quản lý đề ra các chủ trương quản lý thích hợp phục vụ cho công tác bảo tồn Bảo tồn nơi sống và sinh cảnh cho loài bò tót chính là bảo tồn quần thể bò tót tránh

được những nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh, bảo tồn nguồn gen hoang dã quý hiếm [86]

Trang 11

CHƯƠNG 1 - TổNG QUAN các vấn đề NGHIÊN CứU

từ gốc và uốn cong vào phía trong, có màu xanh ở phần gốc, đen ở phần đỉnh Mỗi chân có 2 móng guốc, không có móng 1, 2 và móng 5 Tất cả chúng đều là loài nhai lại với bao tử có 4 ngăn Có một số loài luôn giữ cấu trúc đàn với sự hiện diện của con cái với tỷ lệ thấp hoặc thậm chí không có con cái [102]

Đầu thế kỷ XVI, họ Trâu bò có 12 loài bò hoang dã phân bố trên khắp các châu á, châu Âu, châu Phi và Bắc Mỹ [86] Ngày nay họ Trâu bò chỉ còn lại 10 loài [86], giới hạn trong những quần thể nhỏ và phân tán ở một vài quốc gia Loài bò

xám (Bos sauveli) và bò Auroch (Bos primigenus) được cho là đã tuyệt chủng Loài trâu nước (Bubalus arnee) cũng chỉ còn một vài cá thể phân tán ở châu á Nếu

không được quản lý đúng mức, loài này sẽ bị tuyệt chủng trong tương lai gần [86]

ở Việt Nam, họ Trâu bò có 2 phân họ là Bovinae và Caprinae, trong đó có 6

loài là bò tót (Bos gaurus), bò rừng (Bos javanicus), bò xám (Bos sauveli), trâu rừng (Bubalus bubalis), sơn dương (Nemorhaedus sumatraensis) và sao la (Pseudoryx

nghetinhensis) [4] Các loài thú trong họ Bovidae ở Việt Nam đều nằm trong Sách đỏ

IUCN và Sách đỏ Việt Nam [1],[84]

1.2 Loài bò tót

1.2.1 Vị trí phân loại

- Tên khoa học: Bos gaurus H Smith, 1827 [1],[33],[37],[42],[86]

- Tên đồng nghĩa: Bos frontalis Lambert, 1804 [4],[20],[74]

- Tên Việt Nam: Bò tót, min (Việt), Ngua pá (Thái), Tà sù (Hmông), Zông (Cà Tu), Lâu Tằm (Ê đê), Sơn ngâu (Vân Kiều), Kờ bay (Xê đăng), Miềm (Chăm) [1],[4]

Trang 12

- Tên tiếng Anh: Gaur [1],[4],[20],[33],[37],[66],[74],[89]

Phân họ (Subfamilia): Bovinae; Họ (Familia): Bovidae; Bộ (Ordo): Artiodactyla; Lớp (Class): Mammalia; Ngành (Phylum): Chordata; Giới (Kingdom): Animalia [86]

Bò tót có 3 phân loài [86]:

- Bos gaurus gaurus (Indian Bison): Phân bố ở ấn Độ, phía Nam Nê-pal

Chúng là phân loài phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% các quần thể bò tót trên thế giới

- Bos gaurus hubbacki (Malayan Gaur hoặc Seladang): Phân bố ở Nam Thái

Lan và bán đảo Ma-lai-xi-a Chúng là phân loài nhỏ nhất của bò tót

- Bos gaurus laosiensis (South East Asian Gaur): Phân bố từ Mi-an-ma, Lào,

Việt Nam, Căm-pu-chi-a và phía Nam Trung Quốc Chúng là phân loài đang bị đe dọa cao nhất Phân bố ở khu BTTN Xishuangbanna, phía Nam tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, VQG Cát Tiên (Việt Nam) và VQG Virachey (Căm-pu-chi-a)

Bò tót ở VQG Cát Tiên là phân loài Bos gaurus laosiensis [25],[86]

1.2.2 Tình trạng bảo tồn

Sách đỏ Việt Nam: EN [1]; Nghị định 32/2006/NĐ-CP: Nhóm IB [7] Sách đỏ thế giới: VU [84]; CITES: Phụ lục I [82]

1.2.3 Đặc điểm hình thái

Đặc điểm dễ nhận biết bò tót nhất là có một khối u trên sống lưng và con đực trưởng thành có đầu to lớn Con đực trưởng thành có lông màu nâu đen, con cái có lông màu đỏ [77] Con mới sinh có lông màu vàng nhạt Con già có lông màu đen nhánh Cổ, lưng và hai bên hông của con trưởng thành có lông màu nâu đen bóng, ngắn Phần phía dưới bụng lông hơi vàng nhạt Bốn chân có lông màu trắng từ bàn chân đến khuỷu chân [70] Mặt nhìn từ một bên có hình hơi lõm, dẹp, trên trán có 2 sừng nhô cao Sừng dày, to khỏe, uốn cong hình bán nguyệt, vàng xám ở gốc, ngà

đen ở mút Vùng trán có màu trắng và màu đen ở đỉnh Mắt có màu nâu nhưng sáng, khi có đèn phản chiếu ban đêm, chúng có màu xanh [77] Yếm là một miếng da nhỏ, treo thõng xuống ở dưới cổ họng, kéo dài đến giữa chân trước có màu nâu xám hoặc

Trang 13

màu đen ở viền yếm [66] Bò tót là loài độc nhất tiết ra chất nhờn như dầu, có mùi

đặc trưng và có lẽ để phòng tránh côn trùng [86]

- Công thức răng [41],[102]:

32 ,

,

3

3 1

0 3

Nguồn: Van Peenen P.D.F (1969)

1.3 Tổng quan các kết quả nghiên cứu về bò tót trên thế giới và ở Việt Nam 1.3.1 Các nghiên cứu về bò tót trên thế giới

Các công trình nghiên cứu về các loài trâu bò hoang dã trên thế giới đã được một số tác giả nghiên cứu từ đầu thế kỷ XIX, nhưng từ những năm 1980 đến nay mới

có nhiều công trình nghiên cứu về các loài trâu bò hoang dã nói chung và là loài bò tót nói riêng với nhiều kết quả phong phú Các báo cáo nghiên cứu đã công bố, tập trung nhiều ở các quốc gia có bò tót phân bố như Căm-pu-chia, Lào, Thái Lan, ấn

Độ, Nê-pal, Bu-tan, Băng-la-đét, Mi-an-ma, Trung Quốc và Ma-lai-xi-a [86] một số công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái học bò tót tiêu biểu như:

Ghi chú: i: Răng cửa c: Răng nanh pm: Răng trước hàm m: Răng hàm

Trang 14

- nghiên cứu của Wharton (1957) về bò xám (Bos sauveli) và các loài bò hoang dã (Bovinae) ở vùng Đông và Đông Bắc Căm-pu-chi-a Tác giả đã đưa ra một

số thông tin về quần thể, sự phân bố và các đặc điểm sinh thái của loài bò xám và các loài bò hoang dã Tác giả nhận định bò tót, bò xám và các loài bò hoang dã khác không có sự xung đột trong cùng khu vực Sinh cảnh ưa thích của bò tót là rừng thưa

và trảng cỏ Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu chủ yếu là các thông tin và nhận định

về các đặc điểm sinh thái của bò xám [103]

- nghiên cứu của Conry (1981) ở Lepar Valley, miền trung Pa Hang, bán đảo Ma-lai-xi-a từ năm 1977 đến 1979 Tác giả sử dụng các thiết bị vô tuyến thu phát sóng ngắn (FM) và máy bay cánh bằng cơ nhỏ (Cessna) để theo dõi từ xa của 3 cá thể bò tót Đây là một trong những nghiên cứu sớm nhất về bò tót trong khu vực, có phương pháp nghiên cứu hiện đại báo cáo cung cấp được một số thông tin bước đầu

về số lượng cá thể có 62 cá thể với 7 đàn Số lượng cá thể biến động từ 1 - 15, trung bình là 5 Khoảng cách di chuyển trung bình của 3 cá thể bò tót là 20,8 km bò tót

đẻ quanh năm Bò tót sống trong các dạng sinh cảnh rừng thứ sinh, rừng hỗn giao và trảng cỏ Thức ăn của bò tót đã thống kê được 87 loài Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ cung cấp được một số thông tin bước đầu về các đặc điểm sinh thái của quần thể

bò tót ở Pa Hang như vùng sống, di chuyển, thức ăn, dựa trên kết quả nghiên cứu của

3 cá thể bò tót [69], tính đại diện chưa cao

- nghiên cứu của Prayurasiddhi (1997) ở khu bảo tồn Huai Kha Kaeng, Thái Lan Tác giả sử dụng máy thu phát sóng ngắn (FM) và máy bay lên thẳng (Bell-UH1) để theo dõi và so sánh sự khác biệt về phân bố và sự lựa chọn vùng sống của

bò tót (Bos gaurus) và bò rừng (Bos javanicus) Tác giả ước lượng quần thể bò tót ở

khu vực nghiên cứu là 300 - 350 cá thể Vùng sống của bò tót lớn hơn vùng sống của

bò rừng Vùng sống ưa thích của bò tót là rừng bán thường xanh có độ cao từ 200 -

600 m ASL Thức ăn của bò tót đã thống kê được 232 loài Đây là công trình nghiên cứu có trang thiết bị hiện đại như máy thu phát sóng và máy bay lên thẳng Do vậy các kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao Tuy nhiên các nghiên cứu tập trung vào sự chọn lựa vùng sống của hai loài bò tót và bò rừng Các nghiên cứu về sinh thái chủ

Trang 15

yếu thông tin về thức ăn của 4 cá thể bò tót Địa điểm nghiên cứu trong phạm vi của một khu bảo tồn, không có các thông tin về sinh học, đặc điểm sinh cảnh của bò tót [96]

Bên cạnh những nghiên cứu về sinh học và sinh thái của bò tót tiêu biểu như trên, còn có nghiên cứu về đánh giá và phân bố của bò tót cũng được thực hiện ở một

số khu vực như:

- nghiên cứu của Heinen và Srikosamatara (1995) đánh giá về hiện trạng và đề xuất bảo tồn quần thể trâu bò hoang dã ở Đông Nam á, trong đó có đánh giá về hiện trạng và phân bố của quần thể bò tót [80]

- nghiên cứu của Duckworth và Hedges (1998) về phân bố các loài thú lớn như bò tót, bò rừng, trâu rừng, voi và hổ ở khu vực Đông Dương và Nam Trung Quốc, trong đó tác giả đề cập đến và đề xuất bảo tồn loài bò tót [75]

- nghiên cứu của Pasha, Areendran, Sankar và Qureshi (2000) về hiện trạng quần thể, sự phân bố và đề xuất các giải pháp bảo tồn bò tót Trong đó các tác giả đã cài đặt 3 thiết bị vô tuyến theo dõi từ xa cho 3 cá thể (2 con đực, 1 con cái) để theo dõi về sự di chuyển, kích thước vùng sống, kích thước quần thể và cấu trúc đàn quần thể bò tót ở Pench Tiger Reserve, thuộc miền trung cao nguyên ấn Độ [95]

- nghiên cứu của Men Soriyun (2001) về hiện trạng phân bố và sinh thái quần thể bò tót, là những nghiên cứu ban đầu ở Căm-pu-chia, nơi có quần thể bò tót rất gần gũi với Việt Nam [91]

- nghiên cứu của Robert Steinmetz (2004) về độ phong phú, sử dụng sinh cảnh

và đánh giá bảo tồn của hai loài bò tót (Bos gaurus) và bò rừng (Bos javanicus) ở

khu bảo vệ Xe Pian (Lào) của các cuộc khảo sát thực hiện từ năm 1996 đến 1998 [97]

- nghiên cứu của Mohan Pai (2008) về phân bố và một số đặc điểm sinh thái, tập tính và bảo tồn quần thể bò tót ở vùng Western Ghats, cao nguyên miền trung ấn

Độ Đây là vùng có số lượng cá thể bò tót lớn nhất ở ấn Độ [93]

Trang 16

- nghiên cứu về phân loại học của Lekagul và McNeelley (1977) đã đưa ra nhiều thông tin cơ bản về sinh học, sinh thái học cho nhiều loài thú ở Thái Lan, trong đó có loài bò tót Các thông tin về bò tót tuy có đề cập, nhưng chủ yếu là mô tả

về các đặc điểm hình thái, trọng lượng, sinh sản, phân bố của bò tót ở Thái Lan [89]

- nghiên cứu điều tra các mức độ buôn bán các sản phẩm của các loài ĐVHD trái phép ở Căm-pu-chia của Martin và Phipps (1996), trong đó có loài bò tót và tác giả đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài bò tót [90]

Các báo cáo trên mô tả rất phong phú về các kết quả điều tra, nghiên cứu về số lượng và vùng phân bố, xác định các mối đe dọa, đề xuất việc quản lý và bảo tồn quần thể bò tót sinh cảnh của bò tót tuy đã được một số tác giả đã đề cập, nhưng chưa có được những dẫn liệu về các yếu tố tạo nên sinh cảnh, đặc điểm các sinh cảnh của loài bò tót để làm cơ sở cho công tác bảo tồn

1.3.2 Khái quát các giai đoạn lịch sử nghiên cứu về bò tót ở Việt Nam

Công tác nghiên cứu về các loài thú móng guốc nói chung và loài bò tót nói riêng ở Việt Nam được chia làm 3 giai đoạn [34]:

- Giai đoạn trước năm 1954

Trước thế kỷ XVIII, việc nghiên cứu thú hoang dã ở Việt Nam còn rất ít Đến

đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu, nhà thám hiểm người nước ngoài như Anh, Pháp, Hoa Kỳ bắt đầu đến Việt Nam đi du lịch, săn bắn và thu thập mẫu cho nhà bảo tàng ở Paris (Pháp), Luân đôn (Anh) Các kết quả điều tra chủ yếu liệt kê, mô tả các mẫu vật, kiểm kê các loài thú ở Đông Dương, rất ít thông tin về loài bò tót ở giai

đoạn này Việc mô tả nguồn gốc các mẫu vật chỉ mô tả theo các địa danh của vùng như Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, không mô tả chi tiết theo tên địa phương, do vậy cũng khó xác định các vùng phân bố của bò tót

- Giai đoạn từ 1954 đến 1975

Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra tài nguyên, trong đó có nguồn tài nguyên sinh vật cần phải tiến hành để nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế đất nước và hoàn toàn do các cán bộ Việt Nam đảm nhận Các kết quả nghiên cứu về thú nói chung còn lẻ tẻ

Trang 17

do một số trường đại học và viện nghiên cứu thực hiện Các công trình nghiên cứu có liên quan đến bò tót rất ít

ở miền Nam, do điều kiện chiến tranh, công tác nghiên cứu không được thực hiện rộng rãi Một số công trình nghiên cứu của Vương Đình Sâm, giáo sư trường

Nông Lâm súc Sài gòn để phục vụ giảng dạy Công trình của Van Peenen (1969)

nghiên cứu khu hệ thú từ Quảng Trị trở vào Nam, đề cập đến thông tin về loài bò tót phân bố ở Tây Nguyên và các số đo mẫu vật [102]

- Giai đoạn từ 1975 đến nay

Giai đoạn đất nước hoàn toàn giải phóng, đây là thời kỳ thuận lợi nhất để nghiên cứu ĐVHD Địa bàn nghiên cứu được mở rộng trên toàn quốc, đặc biệt là các tỉnh phía Nam Lực lượng tham gia nghiên cứu cũng được phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng nghiên cứu, đặc biệt với sự giúp đỡ của các nhà khoa học Liên Xô và từ nhiều nước khác trên thế giới Nhiều công trình nghiên cứu cấp Nhà nước

được tổ chức liên ngành, với nhiều cơ quan tham gia và đã đem lại nhiều kết quả quan trọng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng các khu bảo tồn và vườn quốc gia ở Việt Nam, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm Với chính sách đổi mới và mở cửa, sự hợp tác

mở rộng sang các nước không phải xã hội chủ nghĩa; một số tổ chức khoa học chính phủ và phi chính phủ đã mở văn phòng đại diện và đã có những đóng góp tích cực vào công tác điều tra ĐVHD ở nước ta

Kết quả nghiên cứu về thú trong giai đoạn này rất to lớn với hàng ngàn công trình được công bố trong nước và trên thế giới Các công trình chính trong thời gian này của Đào Văn Tiến (1985); Đặng Huy Huỳnh và cs (1981) đã đưa ra một số thông tin về phân bố của bò tót ở một số địa phương miền Bắc như Lai Châu, Thanh

Hóa và Nghệ An [30],[49] Sách Sinh học và sinh thái của các loài thú móng guốc ở

Việt Nam của Đặng Huy Huỳnh (1986) được xem là tài liệu sớm nhất và tương đối

đầy đủ về sinh học và sinh thái của 19 loài thú móng guốc của Việt Nam thuộc 7 họ,

2 bộ, trong đó có loài bò tót [32]

Một số công trình nghiên cứu đề cập đến thông tin về bò tót ở Tây Nguyên của

Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kính, Đặng Ngọc Cần (1981), Trần Hồng Việt (1986); Lê Xuân Cảnh và nnk (1997) là những tư liệu quý góp phần mô tả về các đặc điểm phân

Trang 18

bố, sinh học, sinh thái của loài bò tót [3],[31],[52] Các danh lục thú hoang dã Việt

Nam của các tác giả Đặng Huy Huỳnh và nnk (1994), Lê Vũ Khôi (2000) và gần

đây của tác giả Đặng Ngọc Cần và nnk (2008) cũng góp phần mô tả vùng phân bố và hiện trạng bảo tồn bò tót trong toàn quốc [4],[33],[37] Ngoài ra các công trình của Nguyễn Hải Hà và Jamse Hardcastle (2005), đặc biệt của Nguyễn Mạnh Hà (2008)

là những tài liệu cung cấp nhiều thông tin cập nhật về phân bố, hiện trạng bảo tồn các quần bò tót hiện nay ở Việt Nam [24],[25]

Nhìn chung, các công trình nói trên chủ yếu là các thông tin kết quả điều tra về phân bố, hiện trạng, những nguy cơ đe dọa đến các đàn và quần thể Các tài liệu chuyên khảo về bò tót ở Việt Nam còn rất hạn chế và đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu sâu đặc điểm các sinh cảnh của quần thể bò tót

 Lịch sử nghiên cứu bò tót ở VQG Cát Tiên

Đối với VQG Cát Tiên, công tác nghiên cứu khoa học nói chung và ĐVHD nói riêng được quan tâm từ năm 1998 đến nay Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự

khởi động của Dự án bảo tồn VQG Cát Tiên do Chính phủ Hà Lan và Chính phủ

Việt Nam đồng tài trợ thông qua Tổ chức WWF Việt Nam (1998 - 2004) Công tác

điều tra nghiên cứu động vật nói chung và nghiên cứu thú nói riêng có nhiều bước phát triển tốt Ngoài ra, có các công trình nghiên cứu khoa học của dự án 661 hỗ trợ cho VQG Cát Tiên như xây dựng danh lục động thực vật rừng (2000, 2001), xây dựng cơ sở dữ liệu danh lục động, thực vật rừng (2000) Bên cạnh sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà Nước, dự án bảo tồn VQG Cát Tiên đã đầu tư nhiều mặt nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của VQG Cát Tiên, thông qua các chương trình hợp tác đào tạo, nghiên cứu với các cơ quan, các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước Nội dung nghiên cứu trong thời gian này chủ yếu tập trung vào:

- Điều tra thống kê, đánh giá giá trị khu hệ và tài nguyên ĐDSH của VQG Cát Tiên phục vụ quy hoạch và bảo tồn;

- Nghiên cứu, giám sát một số loài quý hiếm, trong đó có bò tót (Bos gaurus

H.Smith, 1827) và xây dựng kế hoạch quản lý, bảo tồn bền vững

Trang 19

Dự án thu hút nhiều cơ quan khoa học tham gia nghiên cứu bao gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học trong và ngoài nước Nhiều chuyên gia nước ngoài, các tổ chức quốc tế cũng tham gia mạnh mẽ vào công tác nghiên cứu bảo tồn ĐDSH của VQG Cát Tiên như IUCN, WWF, FFI, Birdlife International, Trung tâm Nhiệt

đới Việt - Nga, IRF, USFWS, MIKE,…

Một số ấn phẩm quan trọng đã được xuất bản, như Sổ tay ngoại nghiệp nhận

diện các loài thú của vườn quốc gia Cát Tiên của Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng

và Gert Polet (2001) mô tả đặc điểm nhận dạng, phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái một số loài ĐVHD ở VQG Cát Tiên, trong có loài bò tót [42] Các báo cáo của Ben Hayes (2004), David Murphy (2004) ước đoán số lượng cá thể bò tót xuất hiện ở một số khu vực trong các lần các tác giả khảo sát ở VQG Cát Tiên [64],[71], [72],[73],[98] Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2001) xác định họ Bovidae ở

VQG Cát Tiên có 4 loài, bò tót (Bos gaurus), bò rừng (Bos javanicus), bò xám (Bos

sauveli), trâu rừng (Bubalus bubalis), sơn dương (Nemorhaedus sumatraensis) [55]

VQG Cát Tiên đã nhiều lần quay phim, chụp ảnh được ảnh bò tót ở VQG Cát Tiên Một kiểu ảnh chụp được một đàn khoảng 25 cá thể bò tót đang ăn gần trạm Bàu Sấu (2001) một đoạn phim khoảng 15 phút với 12 cá thể bò tót đang băng ngang đường rừng ở khu vực Đắc Lua (2003) Nhiều ảnh bò tót khác cũng đã được ghi nhận bằng máy bẫy ảnh (trapping camera) Năm 2001 trạm kiểm lâm Bàu Sấu thu được 1 hộp sọ được các chuyên gia xác định là hộp sọ của loài bò rừng khoảng 1 năm tuổi, có hình ảnh chụp trong báo cáo [72] Hiện nay bộ xương đã bị thất lạc Vấn đề này đã và đang gây nhiều nghi vấn cho các nhà khoa học, loài bò rừng có còn tồn tại hay không ở VQG Cát Tiên

Nhìn chung, các báo cáo chủ yếu phục vụ việc xây dựng danh lục, mô tả số

đàn và số lượng cá thể ở một số vùng cư trú, đe dọa đối với loài bò tót, nhưng chưa

có nghiên cứu chi tiết về sinh cảnh của quần thể bò tót ở VQG Cát Tiên

Dự án bảo tồn bò hoang dã ở Việt Nam (2006 - 2010) được Chính Phủ Pháp

thông qua Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Quỹ Môi trường toàn cầu của Pháp (FFEM) đã tài trợ cho Việt Nam nhằm bảo tồn nguồn gen các loài bò hoang dã với mục tiêu duy trì nguồn gen để cải tạo đàn bò nuôi [60] Trong khuôn khổ của Dự án

Trang 20

này, VQG Cát Tiên đã tổ chức nhiều đợt điều tra, giám sát số lượng loài và vùng cư trú [17], [18]

1.3.3 Một số đặc điểm sinh học và sinh thái của bò tót

1.3.3.1 Kết quả nghiên cứu về phạm vi vùng phân bố của bò tót

khu vực sinh sống truyền thống của bò tót nằm ở phía Đông Bắc Chittagong, Băng-la-đét [75],[80] Vùng phân bố của bò tót xuyên suốt ở lục địa từ phía Nam

đến Đông Nam á và Sri-lan-ka Hiện nay bò tót phân bố trong những vùng phân tán

ở Bhu-tan, Căm-pu-chi-a, Trung Quốc, ấn Độ, Lào, bán đảo Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, Nê-pal, Thái Lan và Việt Nam, nhưng đã tuyệt chủng ở Sri Lanka và ở Băng-la-đét [86] Hiện nay bò tót đang bị cô lập bên trong các vùng phân bố, đặc biệt ở ấn Độ, Mi-an-ma, Trung Quốc và Ma-lai-xi-a [86] (xem hình 1.1)

ở Việt Nam, trước đây nhiều tác giả đã ghi nhận bò tót phân bố ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai thượng, Vĩnh Long, Lâm Đồng (núi Lang Biang), Buôn Đôn (Đắk Lắk), Thừa thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng [32] Nhưng do tác động mạnh mẽ của con người làm mất nơi sống của chúng, vì vậy ngày nay bò tót chỉ phân bố ở trong một số VQG và khu BTTN [86] Hiện nay bò tót phân bố ở 27 khu vực thuộc 15 tỉnh trong cả nước [25] Một số tỉnh thuộc Nam Trung Bộ và phần lớn các tỉnh Tây Bắc trước khi có ghi nhận về bò tót nay đã không

có thông tin về sự tồn tại của chúng [25] Các vùng phân bố bò tót theo các vùng địa

lý như sau:

Tây Bắc: Lai Châu: Mường Nhé (Mường Tè);

Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa: Pù Hu (Mường Lát), Xuân Liên (Thường Xuân); Nghệ An: Pù Hoạt (Quế Phong), Pù Mát (Con Cuông); Hà Tĩnh: Vũ Quang (Vũ Quang); Quảng Bình: Thượng Hóa (Minh Hóa), U Bò (Quảng Ninh); Quảng Trị: Vĩnh Ô (Vĩnh Linh), Triệu Nguyên (Đắk Rông)

Tây Nguyên: Kon Tum: Chư Mom Rây (Sa Thầy), Gia Lai: Chư Prông; Đắk Lắc: Yok Đôn (Buôn Đôn, Cư Jút), Ea Súp, Ea Sô (Ea Kar), Chư Yang Sin (Krông Bông, Lắk); Đắk Nông: Tà Đùng (Đắk Lấp), Nam Nung (Đắc Min); Lâm Đồng: Bi

Đúp - Núi Bà (Lạc Dương), Bảo Lộc

Trang 21

Hình 1.1 - Bản đồ phân bố bò tót trên thế giới (Theo Corbet and Hill, 1992)

Nguồn: http://www.ultimateungulate.com/Artiodactyla/Bos_frontalis.html

Trang 22

Đông Nam Bộ: Bình Phước: Tân Lập, Nghĩa Trung (Đồng Phú), Bù Gia Mập (Phước Long), Lộc Ninh; Đồng Nai: Cát Tiên (Tân Phú, Vĩnh Cửu), La Ngà; Ninh Thuận: Phước Bình (Bác ái), Ninh Sơn

Khu vực phân bố của bò tót tập trung nhất là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Trong các khu vực phân bố, có 19/27 khu vực phân bố quần thể bò tót tồn tại chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng (70,4%), có 3/27 khu vực là diện tích các lâm trường (11,1%) Chỉ có 5/27 khu vực phân bố của bò tót chưa được bảo vệ (18,5%) [25] 1.3.3.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm địa hình nơi cư trú của bò tót

Conry (1981) cho biết bò tót phân bố ở độ cao 46 m đến 1.079 m ASL [69] Wood (1937), Wharton (1968) cho rằng bò tót phân bố ở độ cao tối thiểu là 2.800 m ASL [86] Các tác giả Choudhury (2002) và Robert Steinmetz (2004) cho rằng bò tót

ưa thích vùng địa hình đồi núi có giới hạn, ít hoạt động ở các khu vực có địa hình không thuận lợi như các khu vực nhiều đá Vùng đất thấp là vùng sinh thái tối ưu nhất [68],[97] Ebil Bin Yusof (1981) cho biết bò tót thường tránh sử dụng các đồi, mặc dù chúng thỉnh thoảng xuyên qua các dãy đồi thấp khi đi từ một thung lũng đến nơi khác [76] Bò tót có thể chịu đựng được địa hình hiểm trở hơn là các loài trâu bò hoang dã khác và trâu, bò nhà với điều kiện là có đủ nguồn nước [84]

ở Việt Nam, Đặng Huy Huỳnh (1986) cho biết bò tót thích nghi với các vùng núi có độ dốc 50o - 60o; độ cao 1.500 m ASL, dễ thích nghi với các địa hình hiểm trở [32]

1.3.3.3 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm thảm rừng ở các nơi cư trú của bò tót Các kết quả nghiên cứu về các kiểu rừng rất phong phú, đa dạng và không giống nhau giữa các quần thể bò tót ở từng khu vực và từng quốc gia do chúng hoàn toàn phụ thuộc vào các đặc điểm tự nhiên và xã hội có tác động trực tiếp và gián tiếp

đến quần thể bò tót ở mỗi vùng địa lý khác nhau, bò tót thích nghi với các kiểu rừng khác nhau, từ rừng khộp khô, rừng thường xanh, rừng hỗn giao rụng lá và đến các đồng cỏ [84]

ở Thái Lan, bò tót sử dụng nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau và có xu hướng sinh sống thường xuyên trong các kiểu rừng bán thường xanh có loài bằng lăng, rừng

Trang 23

thường xanh khô [84],[96] ở các khu rừng rậm, bò tót xuất hiện thường xuyên ở các vùng cỏ [96] Tỷ lệ bò tót sử dụng rừng thường xanh cũng thay đổi theo mùa, mùa mưa 13% và mùa khô 27% [96]

ở ấn Độ, bò tót cư trú ở rừng thường xanh bán ẩm và rừng tre, rừng khô nửa rụng lá [84] ở khu Bhadra Wildlife Sanctuary, bò tót cư trú trong những diện tích cà phê trong phạm vi 1 km của ranh giới khu bảo tồn Vùng đất ven rừng, ven dòng nước, có những bãi cỏ mọc sau bị đốt cháy là nơi bò tót đến kiếm ăn thường xuyên nhất [84]

ở Ma-lai-xi-a, những vùng có địa hình nhấp nhô và được bao phủ bởi vùng đất thấp và rừng Dầu, bao gồm cả cây ăn quả là vùng thích hợp của bò tót Những khu rừng ven sông bằng phẳng ở bìa rừng cũng là sinh cảnh tốt cho bò tót [84]

ở Lào, bò tót sử dụng sinh cảnh rộng hơn là bò rừng, trong các kiểu rừng bán thường xanh, rừng cây dầu và rừng rụng lá hỗn giao [97]

ở Việt Nam, các tác giả nghiên cứu cho biết bò tót ưa thích các khu rừng bán thường xanh tương đối bằng phẳng, liền kề với sinh cảnh savana, hoặc trảng cỏ, rừng hỗn giao gỗ tre nứa xen kẽ với các thung lũng có nhiều loại cỏ [24],[25] Bò tót không hoạt động ở các vùng nương rẫy và núi đá vôi [32] ở Tây Nguyên, bò tót cư trú ở các khu rừng thưa, vùng đồi, các khu vực gần suối, bụi cỏ rậm và các trảng cỏ [3] áp lực con người là nguyên nhân làm cho bò tót không còn nơi nào khác để sống trong các vùng đồi [84] ở VQG Cát Tiên, bò tót không cư trú trong rừng già

có cây gỗ lớn [25] Rừng bán thường xanh, rừng tre nứa, hỗn giao tre nứa và trảng cỏ cây bụi là sinh cảnh bò tót hoạt động nhiều nhất [25]

1.3.3.4 Kết quả nghiên cứu về thức ăn của bò tót

Số lượng và thành phần các loài thực vật là thức ăn của bò tót ở các khu vực khác nhau không giống nhau (xem bảng 1.2)

Tập tính ăn, cách sử dụng thức ăn của bò tót cũng thay đổi theo mùa và các vùng cư trú khác nhau Nguồn thức ăn của bò tót là cỏ và chồi non Bò tót thích ăn

cỏ non xanh nhất, nhưng chúng cũng ăn lá cây, quả, nhánh non và vỏ cây của nhiều loài cây gỗ, cũng như các loài cỏ khô thô, và tre [84]

Trang 24

Bảng 1.2 - Số loài cây thức ăn của bò tót ở một số quốc gia

thức ăn

Nguồn

1 Miền trung ấn Độ 180 - 190 http://www.iucnredlist.org

2 Khu bảo vệ phía Nam Goa,

ấn Độ

32 Suman Gad, S.K Shyama

(2009)

3 Parsa, Miền trung Nê-pan 38 Chetri M (2002)

4 Huai Kha Kaeng, Thái Lan 232 Prayurasiddhi Theeraapat

(1997)

5 Miền trung Pa Hang,

Ma-lai-xi-a

87 Conry P J (1981)

6 Klong Saeng, Thái Lan 76 Naris Bhumpakphan (1997)

Bò tót có thể hoạt động tốt trong điều kiện chất lượng thức ăn tương đối thấp [84],[86] Trong suốt mùa lạnh (tháng 11 đến tháng 2), bò tót ăn nhiều loại cỏ, các lá cây và hạt tre, nhưng vào mùa nóng (tháng 3 đến tháng 6) cỏ thô khô và bán khô là thành phần chính cho thức ăn của chúng Trung bình chiếm 85% khối lượng (thể tích

66 - 100%, bốn mẫu dạ cỏ), với chồi non chỉ chiếm 10% [84] Bò tót cũng ăn các loại ngũ cốc như bắp, mì và cây cao su non [84]

ở Ma-lai-xi-a, bò tót ăn hỗn hợp nhiều loài cỏ và cây bụi Cỏ chiếm 4% thành phần thức ăn, thân cây 23% và chồi non thân gỗ 36% Trong suốt thời gian hạn hán,

bò tót ăn lá cây, dây leo và cây rừng [84] Hàm lượng prô-tê-in thô của các loài cỏ biến đổi từ 7,0 đến 7,6% và phốt pho chứa từ 0,11 đến 0,17%, bê con cần khoảng

300 kg trong năm đầu [69]

ở Việt Nam, bò tót chủ yếu ăn các loại cỏ như cỏ giác, cỏ tranh non, các mầm non của lau sậy, các loại dương xỉ, chuối, măng, tre nứa, vầu, lá cây, dây leo và một số quả cây Bò tót cũng thường đến những bãi cỏ tranh vừa mới đốt một vài ngày để tìm ăn các loại tro tàn của cỏ tranh [32] ở vùng Xuân Trạch (Quảng Bình),

Đắc Krông (Quảng Trị), khu BTTN Pù Mát (Nghệ An) và VQG Cát Tiên đã xác

định 62 loài, chủ yếu là các loài cỏ, lau, ô rô, măng tre, măng giang, chuối rừng,

Bò tót cũng ăn ngọn và chồi non của một số loài thực vật Ngoài ra bò tót ăn tro tàn, muối khoáng và một số loài cây trồng khác [24] ở VQG Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm

Trang 25

Đồng), khu BTTN Ea sô và VQG Yok đôn (Đắc Lắc), khu vực Tân Lập, huyện

Đồng Phú (Bình Phước) và khu BTTN Đắc Krông (Quảng Trị) có 125 loài [25] Trong đó các loài cây thức ăn trong mùa mưa là 115 loài, cao hơn mùa khô 54 loài Các loài cây thức ăn trong sinh cảnh trảng cỏ, cây bụi có 91 loài; rừng bán thường xanh 81 loài; rừng thường xanh 52 loài [25]

1.3.3.5 Kết quả nghiên cứu về nhu cầu nước và muối khoáng của bò tót

Bò tót là loài có nhu cầu cao trong việc sử dụng nước hằng ngày trong tất cả các mùa trong năm [32],[76] ở VQG Kanha, ấn Độ, bò tót uống tối thiểu một lần trong một ngày trong suốt mùa nóng, thông thường vào buổi chiều (Schaller, 1967) Sahai (1972) cho rằng bò tót thường uống nước tối thiểu hai lần trong một ngày nhưng không cố định thời gian để uống [84] Chúng di chuyển đi kiếm ăn không xa các

điểm uống nước hơn một ngày đường để uống nước và phục hồi sức khoẻ [84] Mặc

dù bò tót sử dụng nước nhiều nhưng chúng không tắm [86]

Các nguồn nước tự nhiên cũng có một hàm lượng muối khoáng không thay

đổi Trong nước ngọt, thường chứa một hàm lượng các muối khoáng khoảng 0,5 g/l [61],[62] Muối khoáng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và tử vong của bò tót [84] Các điểm khoáng hoặc các bãi liếm muối là nơi tập hợp nhiều nguyên tố vi lượng,

được bò tót sử dụng để bổ sung các chất khoáng cần thiết vào cơ thể mà trong các nguồn thức ăn còn thiếu ở những vùng đất đai màu mỡ, các loài cây thức ăn đa dạng, phát triển tốt, bò tót không cần bổ sung chất khoáng [76] Bò tót ở khu bảo tồn Khlong Saeng, Thái Lan hiếm khi sử dụng chất khoáng [94] ở VQG Ulu Lepar, Ma-lai-xi-a, số lượng các điểm khoáng thay đổi theo mùa [76]

Theo Ebil Bin Yusof (1981), các nguyên tố vi lượng cần bổ sung cho các loài

ăn cỏ như Ca2+, Mg2+, Fe2+, P+, K+ và Na+ Tuy nhiên, tác giả chỉ phân tích 10 mẫu

đất cho 5 nguyên tố là clo, phốt pho, ka-li, can-xi, và ma-nhê [76]

Bò tót đòi hỏi can-xi nhiều hơn là phốt pho, bởi vì số lượng lớn can-xi trong cơ thể thì cần thiết hơn là số lượng phốt pho [76] Trong tự nhiên, những loài cây họ

Đậu (Fabaceae) và các đồng cỏ là nguồn can-xi trong thức ăn tự nhiên tốt nhất cho

bò tót [76] Nhu cầu bổ sung Mg2+ là đòi hỏi thiết yếu của bò tót đối với bản năng luôn vận động Số lượng ma-nhê cần thiết giống như phốt pho Bò tót luôn luôn thiếu

Trang 26

nguyên tố này và ít khi chứa đầy đủ trong cỏ Tuy nhiên bò tót dễ dàng được tìm thấy trong các bãi liếm [76] Bò tót thay thế và thu được nguồn phốt pho từ nguồn muối khoáng và các loài cỏ Thông thường phốt pho có sẵn và phong phú trong các bãi liếm Thiếu phốt pho sẽ làm chậm lại sự phát triển của động vật [76]

ở VQG Cát Tiên, một số tác giả đề cập đến bò tót thường đến các bàu uống nước vào mùa khô và thường đến điểm muối khoáng ở Sa Mách để ăn muối khoáng,

có dấu vết liếm muối rõ ràng trên mặt đất [25],[64],[72],[73],[98] Tuy nhiên các báo cáo chỉ dừng ở mức độ mô tả, chưa có đánh giá và chưa có các dẫn liệu cụ thể về phân tích hàm lượng các nguyên tố trong các nguồn nước, cũng như phân tích hàm lượng muối khoáng của loài bò tót

1.3.3.6 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm quần thể bò tót

1 Số lượng cá thể

Quần thể bò tót trên toàn cầu ước khoảng 13.000 - 30.000 cá thể, đang trên đà suy giảm Trong đó, số cá thể trưởng thành chiếm 0,4 - 0,6, ước khoảng 5.200 - 18.000 cá thể, không quần thể nào lớn hơn 1.000 cá thể [84] Bảng 1.3 thể hiện số lượng cá thể bò tót ở một số quốc gia trong khu vực

Bảng 1.3 - Số lượng cá thể bò tót ở một số quốc gia trong khu vực

Trang 27

Số lượng cá thể bò tót ở VQG Cát Tiên đã được nhiều tác giả áp dụng các phương pháp khác nhau cho ra nhiều con số khác nhau về số lượng cá thể Viện Chăn nuôi (2008) phân tích ADN từ các mẫu phân bò tót để bằng phương pháp nghiên cứu hiện tượng đa hình của các microsatellite, của D-Loop, Cytochrome B và của các dấu chuẩn giới tính cho ra kết quả có ít nhất 90 cá thể bò tót ở VQG Cát Tiên [17],[18] Kết quả điều tra của Nguyễn Văn Thanh (2009) xác định có 18 đàn với 91 cá thể Trong thời gian qua, VQG Cát Tiên làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, số lượng cá thể bò tót năm 2009 tăng 30% so với năm 2000 (70 cá thể) và tăng 5,8% so với năm 2004 (86 cá thể) [46] Nguyễn Mạnh Hà (2008) quan sát cho biết

số lượng cá thể bò tót ở VQG Cát Tiên và các khu rừng giáp ranh có 15 đàn, 109 cá thể [25] Tác giả Frédéric Vallejo (2009) đếm số lượng phân tươi của bò tót thải ra trong 1 ngày ở 18 điểm khảo sát ở khu Nam Cát Tiên vào mùa khô, sau đó xử lý số liệu trên phần mềm chuyên dụng, kết luận chỉ có 29 cá thể bò tót ở khu Nam Cát Tiên [78] Phương pháp này không chính xác trong điều kiện diện tích VQG Cát Tiên rộng, rừng rậm khó có thể thu thập đầy đủ số lượng phân rơi trong 24 tiếng trong phạm vi toàn diện tích VQG Cát Tiên

2 Mật độ (cá thể/km2)

Mật độ cá thể bò tót và bò banteng (Bos javanicus) ở Huai Kha Khaeng năm

1994 là 0,54 - 0,37 Năm 1996 quần thể tăng 0,97 [94] Mật độ trung bình ở một số VQG và khu bảo tồn ở ấn Độ (xem bảng 1.4)

Bảng 1.4 - Mật độ trung bình của bò tót ở một số VQG và khu bảo tồn ở ấn Độ STT Khu bảo tồn/VQG Kiểu rừng Mật độ (cá thể/ km2)

2 Pench (Madhya Pradesh) Khô bán thường xanh 0,7

3 Pench (Maharashtra) Khô bán thường xanh 0,8

6 Tadoba -Andhari Bán thường xanh khô 1,8

Nguồn: http://www.iucnredlist.org

Trang 28

Kết quả khảo sát của Nguyễn Mạnh Hà (2008) cho thấy mật độ bò tót ở VQG Cát Tiên là 0,11 [25] Kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Thanh (2009), mật độ trung bình bò tót ở VQG Cát Tiên là 0,13 [46]

4 Kích cỡ đàn

Trong quá khứ, bò tót kết hợp thành một đàn lớn tới 400 cá thể, nhưng hiện nay chỉ tìm thấy đàn khoảng 5 - 12 cá thể, hiếm khi lớn hơn 20 cá thể [84] Những nhóm lớn từ 20, 40, hoặc ngay cả 100 cá thể là sự kết hợp tạm thời của các đàn nhỏ hơn [84] Các đàn bò tót có xu hướng hình thành các đàn lớn hơn vào mùa mưa khi thuận lợi nguồn thức ăn, và tách đàn vào mùa khô khi nguồn thức ăn khan hiếm [96] Kích cỡ trung bình của đàn bò tót ở Huai Kha Khaeng năm 1994 là 8,15 cá thể (dao động 2-42, N=40 đàn) Mật độ trung bình ở Khlong Saeng năm 1994 và 1995 là 2,68 và 2,98 [94] Trung bình kích cỡ bò tót ở Khlong Saeng là 6,55 cá thể (dao

động 2 - 13, N=17 đàn) [94] ở Ma-lai-xi-a, kích thước đàn thay đổi ở các khu vực như ở Ulu Lepar là 4 - 30 cá thể, ở Ulu Keletan là 1 - 40 cá thể và ở Perak là 4 - 17 cá thể [76]

Nguyễn Mạnh Hà (2008) quan sát trên 59 đàn ở 27 khu vực phân bố bò tót trong toàn quốc, cho biết kích cỡ đàn trung bình là 5,8 cá thể/đàn, cao hơn ở Ma-lai-

Trang 29

xi-a là 5 cá thể/đàn [25] ở VQG Cát Tiên, Nguyễn Văn Thanh (2009) nghiên cứu

19 đàn, 91 cá thể có kích cỡ đàn bình quân là 5,1 cá thể/đàn [46]

5 Cấu trúc đàn

Trong đàn có con trưởng thành, con gần trưởng thành và con non Mỗi đàn tồn tại một con đực ưu thế với nhiều con cái [84] Cơ cấu đàn không thay đổi theo mùa Trong đàn bò tót có sự phân chia đẳng cấp, mỗi cá thể có một vị trí riêng Vị trí thống trị đàn thường do con đực trưởng thành chiếm, được phân định bằng kích cỡ cơ thể nhưng chúng thường không đánh nhau mà thường đe dọa bằng những tiếng rống lớn [84]

Trong suốt thời gian cao điểm sinh sản, con bò đực khi trưởng thành tách bầy đi lang thang tìm bạn tình mới hoặc gia nhập vào các đàn khác [86] Con đực gọi con cái để giao phối với giọng vang, rõ có thể vang xa 1,6 km [84]

Các đàn nhỏ được thành lập từ khi một con bò đực trưởng thành khỏe mạnh kết giao với con bò cái trong thời kỳ động dục [86] Những con đực trưởng thành ở lại

đàn nếu không gặp được bò cái để lập đàn mới có thể bị đơn độc [86] Đối với nhóm toàn đực, do một con đực chỉ huy [86] Đàn của con bò đực thường không ổn định, mặc dù đôi khi hai cá thể hoặc nhiều hơn thường kết đàn với nhau [86]

ở Việt Nam, các đàn bò tót ở khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ tồn tại ở dạng

đơn đàn Khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có nhiều quần thể nhỏ đa đàn Kiểu hình thành các quần thể nhỏ đa đàn ở các khu biệt lập đang hình thành phổ biến ở Việt Nam [25]

- Cấu trúc tuổi

Cấu trúc tuổi của bò tót thường có số lượng bò trưởng thành chiếm đa số Cấu trúc tuổi của bò tót ở một số VQG và khu bảo tồn trên thế giới (xem bảng 1.5)

Nguyễn Mạnh Hà (2008) nghiên cứu ở 22 đàn bò tót ở các VQG Ea Sô, Yok

đôn và Cát Tiên, tỷ lệ theo nhóm tuổi là 3 trưởng thành:1,45 nhỡ:1,05 bê (66:32:23)

Số lượng bò trưởng thành nhiều hơn bò nhỡ và bê con [25]

Trang 30

Bảng 1.5 - Cấu trúc tuổi của bò tót ở một số VQG

và khu bảo tồn trên thế giới

1 Huai Kha Khaeng,

Thái Lan

trưởng thành:con sắp trưởng thành:non (bò tót + bò ban teng) 6:3,75:4,1

Naris Bhumpakphan (1997)

2 Khlong Saeng, Thái

Lan

trưởng thành:con sắp trưởng thành:con non:con bê 3,75:0,25:1:1

Naris Bhumpakphan (1997)

Nghiên cứu ở 22 đàn bò tót ở các VQG Ea Sô, Yok đôn và Cát Tiên cho thấy

tỷ lệ về giới tính của bò tót là ♂26:♀40 (♂1,18:♀1,82) Tỷ lệ bò đực ít hơn cái [25] 1.3.3.7 Kết quả nghiên cứu về tuổi thọ và sinh sản

1 Tuổi thọ

Tuổi thọ của bò tót trong môi trường tự nhiên chưa được nghiên cứu Trong môi trường nuôi nhốt là 26 năm [86] Tuổi thọ trung bình của bò tót nuôi nhốt ở Thảo Cầm viên đối với con cái là 16 năm, con đực là 19 năm [25]

ở ấn Độ và Thái Lan, bò tót giao phối chủ yếu vào giữa tháng 11 đến tháng 3 [84] Bê con được sinh ra vào tháng 8 hoặc tháng 12 [84] ở Căm-pu-chi-a, bê con

được sinh ra trong thời gian tháng 12 đến tháng 6 [84] ở Mi-an-ma, bê con được sinh ra trong suốt năm [84] ở Ma-lai-xi-a, bê con được nhìn thấy trong tất cả các tháng, trừ tháng 10 tới tháng 12 [84]

Trang 31

Thời gian con cái mang thai từ 270 đến 275 ngày [86] Trong thời gian sinh, con cái tự rời khỏi đàn đi vào rừng, tìm chỗ kín đáo để sinh nở một mình và nhập lại

đàn sau vài ngày Thời gian cho con bú khoảng 12 - 15 tháng trong khoảng thời gian giữa 2 lần sinh [86] Bò tót trưởng thành sau 2 - 3 năm, con đực cần thời gian lâu hơn [86] Bò cái thường dành nhiều thời gian chăm sóc con non [86]

ở Việt Nam, bò tót giao phối vào các tháng 3 đến tháng 6 và sinh sản từ tháng

12 đến tháng 3 năm sau [25] Bò tót đẻ ở nhiều tháng trong năm, mỗi lần đẻ 1 con, không có thông tin về bò tót sinh đôi [24],[25]

1.3.3.8 Kết quả nghiên cứu về các tập tính hoạt động của bò tót

Bò tót có tập tính di chuyển vùng hoạt động [32] Khi đi ăn hoặc di chuyển từ rừng này sang rừng khác, thường con bò đực già nhất, khỏe mạnh nhất đi trước, rồi

đến bò cái, bò tơ và các bê nhỏ đi sát bò mẹ sinh ra chúng [32] Vào mùa khô, để tránh nắng, những đàn bò tập hợp và chia thành những đàn nhỏ phân tán lần lượt kéo nhau lên các sườn núi, nơi có nhiều cây gỗ lớn, hoặc đi sâu vào các thung lũng sát

bờ sông, suối lớn để trú ẩn và tìm kiếm thức ăn, nước uống [32] Bò tót thường hay

đi qua lại những bãi cỏ tranh vừa mới đốt một vài ngày để tìm ăn các loại tro tàn của

cỏ tranh [32] Khi mùa mưa đến, cây cối bắt đầu trở nên xanh tốt, chúng lại kéo nhau xuống núi để kiếm những đám cỏ non Chính ở đây sẽ cung cấp cho chúng một lượng “đạm” giàu dinh dưỡng, đó là cơ sở thức ăn chính để đàn bò vỗ béo [32]

Bò tót là loài hoạt động ban ngày, thường kiếm ăn ở những vùng đất nông nghiệp, dọc đường hoặc có con người, nhưng do tác động của con người quá mạnh,

bò tót chuyển thói quen kiếm ăn vào ban đêm hoặc lúc sáng sớm để tránh con người [86] Bò tót thích trú ẩn trên các vùng đồi có rừng bán thường xanh với cây bụi thưa

và nhiều cánh đồng cỏ ở vùng đất thấp, chúng trú ẩn trong rừng tre nhiệt đới, được bao bọc kín đáo với nhiều loài cỏ cao, cây bụi để nghỉ ngơi và nằm nhai lại, hoặc trong các khu rừng rậm có tán rừng bị vỡ làm thành các trảng cỏ rộng [24], [25],[32],[86]

1.3.3.9 Kết quả nghiên cứu về thiên địch

Bò tót có kích thước lớn và khỏe mạnh, ít có kẻ thù trong tự nhiên [84] Hổ

(Panthera tigris) là loài thiên địch chính (Schaller, 1967) Cá sấu (Crocrodylus sp.),

Trang 32

các loài báo như báo lửa (Catopuma temminckii), báo gấm (Pardofelis nebulosa), báo hoa mai (Panthera pardus) và chó sói (Cuon alpinus) cũng là thường tấn công

bê con mới sinh hoặc những con bò ốm yếu (Andheria et al., 2007) [84]

1.3.3.10 Kết quả nghiên cứu về di truyền và sinh sản vô tính của bò tót

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sinh học phân tử của bò tót như ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ Một số phương pháp kỹ thuật

được áp dụng như microsatellite, đánh dấu mtDNA thuộc hệ gen ty thể Phương

pháp này đã áp dụng thành công cho các nghiên cứu về di truyền ở bò nhà (Bos

taurus) [86] Năm 2001, các nhà khoa học Mỹ đã cho ra đời một con bò tót bằng

phương pháp sinh sản vô tính, nhưng cá thể này đã chết trong vòng hai ngày sau [85] Nhiều quốc gia ở châu Âu và châu Mỹ đã và đang có các chương trình bảo tồn

ex-situ, đặc biệt là 2 phân loài Bos gaurus laoensis và Bos gaurus hubbacki Tuy

nhiên các quần thể nuôi nhốt này rất nhỏ và có nguy cơ đồng huyết rất cao [86] Viện Công nghệ sinh học Việt Nam đã thành công trong việc tạo được số lượng tế bào đủ để bảo quản nguồn gen của bò tót trong ni tơ lỏng từ một mẫu tế bào tai của bò tót nuôi ở Thảo Cầm viên Qua khảo sát lần cấy chuyển thứ 19, tốc độ phân bào của bò tót là ổn định, tế bào đạt mật độ tối ưu sau 3 ngày Bộ nhiễm sắc thể qua các lần cấy chuyển ổn định về mặt số lượng (2n = 58) và về mặt hình thái [51] Nghiên cứu về sự tương đồng về số nucleotide và axit amin của các mẫu nghiên cứu cho biết quần thể bò tót ở Việt Nam có sự đồng nhất về di truyền [25] 1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

VQG Cát Tiên được thành lập ngày 13/01/1992 trên cơ sở diện tích khu Nam Cát Tiên (thuộc tỉnh Đồng Nai) đã được bảo vệ từ năm 1978; khu Cát Lộc (thuộc tỉnh Lâm Đồng) và khu Tây Cát Tiên (thuộc tỉnh Bình Phước) đã được bảo vệ từ năm

1996 Từ tháng 12/1998, VQG Cát Tiên được hợp nhất 3 khu vực nói trên Hiện nay VQG Cát Tiên trực thuộc Tổng Cục Lâm nghiệp Việt Nam

VQG Cát Tiên được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển quốc tế năm 2001 và hệ đất ngập nước Bàu Sấu đã được ghi tên vào danh sách Ramsar năm

2005 Hiện nay Chính Phủ Việt Nam đã chấp thuận cho VQG Cát Tiên xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới

Trang 33

1.4.1 Điều kiện tự nhiên của VQG Cát Tiên

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đắc Nông và Bình Phước;

- Phía Nam giáp Công ty Lâm nghiệp La ngà (Đồng Nai);

- Phía Tây giáp Khu BTTN Vĩnh Cửu (Đồng Nai);

- Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng

3 Diện tích:

Tổng diện tích toàn VQG Cát Tiên là 71.350 ha, trong đó khu Nam Cát Tiên (Đồng Nai) là 39.627 ha, khu vực Cát Lộc (Lâm Đồng) là 27.530 ha, khu Tây Cát Tiên (Bình Phước) là 4.193 ha

4 Địa hình:

VQG Cát Tiên nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên cực nam Trung bộ đến đồng bằng Nam bộ, bao gồm các kiểu địa hình đặc trưng của phần cuối dãy Trường Sơn và địa hình vùng Đông Nam bộ, có 5 kiểu chính:

- Kiểu địa hình núi cao, sườn dốc: chủ yếu ở phía bắc VQG Cát Tiên Độ cao

so với mặt nước biển từ 200m - 600m, độ dốc 15o- 20o, có nơi trên 300 Địa hình là các dạng sườn dốc, phân bố giữa thung lũng sông, suối và dạng đỉnh bằng phẳng Mức độ chia cắt phức tạp và cũng là đầu nguồn của các suối nhỏ chảy ra sông Đồng Nai

- Kiểu địa hình trung bình sườn dốc: ở phía tây nam VQG Cát Tiên, độ cao từ 200m - 300m so với mặt nước biển, độ dốc 15o - 20o, độ chia cắt cao Những suối lớn như Đắc Lua, Đa Tapok được tạo nên từ vùng đồi trung du này và cuối cùng đổ ra sông Đồng Nai

- Kiểu địa hình đồi thấp và bằng phẳng: ở đông nam VQG Cát Tiên, độ cao dưới 130m - 150m so với mặt biển, dốc thoải từ 5o - 7o, độ chia cắt thưa

Trang 34

- Kiểu địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và dạng đồi bát úp tiếp giáp đầm lầy:

ở phía tây nam VQG Cát Tiên, độ cao trung bình của vùng khoảng 130m so với mặt nước biển

- Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: bao gồm những suối nhỏ, những khu đất ngập nước phân tán, những hồ, ao ở khu vực nhánh của suối Đắc Lua và ở trung tâm phía bắc VQG Cát Tiên Vùng này thường thiếu nước trong mùa khô nhưng lại bị ngập úng trong mùa mưa, trong mùa khô nước chỉ còn ở những vùng đất lầy rộng lớn như bàu Sấu, bàu Chim, bàu Cá Độ cao của vùng này thường dưới 130

Từ nền địa chất với 3 kiến tạo chính là: trầm tích, bazan và sa phiến thạch đã phát triển thành 4 loại đất chính của VQG Cát Tiên như sau:

- Đất feralit phát triển trên đá bazan (Fk): loại đất này có diện tích lớn nhất, phân bố ở khu vực phía Nam

- Đất feralit phát triển trên đá cát (sa phiến thạch) (Fq): chiếm diện tích lớn thứ

2 của VQG Cát Tiên, phân bố chủ yếu ở phía bắc của VQG Cát Tiên (khu Cát Lộc), dọc thượng nguồn sông Đồng Nai Một số tài liệu gọi đất này là đất xám bạc màu trên đá axit hoặc đá cát

- Đất feralit phát triển trên phù sa cổ (đất xám bạc màu trên phù sa cổ) (Fo): gồm các loại đất được bồi tụ ven suối, ven sông Đồng Nai, chủ yếu phía bắc và phía

đông nam của VQG Cát Tiên

Trang 35

- Đất feralit phát triển trên đất sét (Fs): phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía nam xen kẽ các vạt đất bazan

Thời gian mưa trong mùa mưa (tháng) 10 (tháng 3-12) 8 (tháng 4-11)

Tỷ lệ lượng mưa trong mùa mưa/lượng mưa

hồ thủy điện Trị An thuộc hạ lưu sông Đồng Nai

Sông Đồng Nai dài khoảng 90 km, tạo nên ranh giới tự nhiên và bao bọc 1/3 chu vi của VQG Cát Tiên Sông có chiều rộng trung bình khoảng 100 m, lưu lượng nước bình quân khoảng 405 m3/giây Mực nước cao nhất là 8,03 m, mực nước trung bình là 5m Mùa kiệt 2 - 3m Lưu lượng nước sông Đồng Nai thay đổi đáng kể theo mùa Toàn bộ hệ thuỷ văn của VQG Cát Tiên phụ thuộc vào dòng chảy của sông

Trang 36

Đồng Nai, tạo nên hệ thực vật, hệ động vật thuỷ sinh đa dạng, và tạo nên những cảnh quan thiên nhiên đẹp, hùng vĩ

Hệ bàu ở khu trung tâm khu Nam Cát Tiên nối liền với sông Đồng Nai bằng con suối Đắc Lua Vào mùa mưa, nước từ sông Đồng Nai dâng cao mang vào hệ bàu một số lượng lớn phù sa và sinh vật thủy sinh vào sâu trong nội địa các bàu, cung cấp nhiều dinh dưỡng cho hệ bàu Trong mùa khô, lưu lượng của các suối nước trong VQG Cát Tiên giảm mạnh, các suối cạn hầu như không có nước Mực nước của các bàu nước lớn như bàu Sấu, bàu Cá, bàu Chim, cũng thay đổi đáng kể Vào mùa khô, nước rút ra sông Đồng Nai bằng con suối Đắc Lua, nước ở các bàu Cá trê, bàu Sen, bàu Tròn và có khi cả bàu Chim hầu như cạn kiệt Các bàu còn nước như bàu Sấu, bàu Gốc, có mực nước rất thấp, khoảng 0,5 - 1 m ở các vùng bán ngập hình thành các sinh cảnh đồng cỏ hấp dẫn các loài thú móng guốc như bò tót, nai, heo rừng, Biên độ nước chênh lệch cực đại giữa mùa khô và mùa nắng khoảng 4 m 1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Vùng đệm VQG Cát Tiên có khoảng 17 vạn người của 36 xã, thị trấn thuộc 8 huyện, 4 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước và Đắc Nông Dân số vùng đệm tăng tự nhiên khoảng 1,2%/năm Tỷ lệ các hộ nghèo ở mức hơn 30% (2007)

Sau khi điều chỉnh ranh giới theo quyết định số 173/2003/QĐ-TTg ngày 19/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ và cắt giảm một số diện tích của VQG Cát Tiên giao cho chính quyền địa phương quản lý, số dân hiện đang sinh sống trong VQG Cát Tiên giảm từ 2.542 hộ, 12.264 (năm 2004) nhân khẩu còn 165 hộ, 874 nhân khẩu (2007) Số cụm dân cư sống trong VQG Cát Tiên giảm từ 9 cụm còn 4 cụm, là:

- Khu Nam Cát Tiên: có 1 cụm dân cư là khu cầu sắt thuộc ấp 4, xã Đắc Lua (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai), gồm 33 hộ, 193 khẩu ở đây đều là người Kinh, là quân nhân của Sư đoàn 600 cũ ở lại làm kinh tế sau hòa bình

- Khu Cát Lộc: có 2 cụm dân cư là thôn 3, thôn 4 thuộc xã Phước Cát 2 (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng), gồm 52 hộ, 268 khẩu Hầu hết đồng bào dân tộc bản địa Châu Mạ và S’Tiêng đã sinh sống ở đây từ lâu đời

Trang 37

- Khu Tây Cát Tiên: có 1 cụm dân cư của tổ 5 và tổ 6, thôn 1 và tổ 4, thôn 2 thuộc xã Đăng Hà (huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước), gồm 80 hộ, 413 khẩu Bao gồm các nhóm đồng bào dân tộc di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn gồm đồng bào Tày, Nùng, Dao, H’Mông, đến cư trú trong VQG Cát Tiên từ những năm 1990

VQG Cát Tiên đã xây dựng dự án di dân, cho các hộ đang sống trong VQG Cát Tiên được tái định cư ở vùng đệm đã được Bộ NN và PTNT phê duyệt (Quyết

định số 893/QĐ-BNN-KL ngày 31/3/2003) Từ năm 2003 đến năm 2006, VQG Cát Tiên đã phối hợp với UBND huyện Cát Tiên thực hiện thành công dự án thí điểm

Tiểu dự án tái định cư thôn K’Lo, K’ích và Thung Cọ ở Cát Lộc Kết quả đã di dời

125 hộ, 583 khẩu, trong đó người đồng bào dân tộc có 52 hộ, 138 khẩu Thu hồi 291

ha diện tích đất đã trồng Điều trong vùng lõi VQG Cát Tiên Do thiếu vốn đầu tư, các hộ còn lại không được di dời như trong quyết định 893/QĐ-BNN-KL Do vậy,

Bộ NN và PTNT và UBND tỉnh Lâm Đồng đã cho phép UBND huyện Cát Tiên xây dựng dự án ổn định tại chỗ cho toàn bộ số dân của đồng bào dân tộc thôn 3 và thôn 4 (khu vực Cát Lộc) sinh sống trong vùng lõi (Quyết định số 1190/BNN-KL ngày 16/5/2006 của Bộ NN và PTNT, văn bản số 3035/UBND ngày 30/5/2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng) Cũng do quyết định 893/QĐ-BNN-KL quá thời hạn đầu tư, UBND tỉnh Bình Phước và UBND tỉnh Đồng Nai đang tiếp tục xây dựng lại các dự án mới

để di dời, tái định cư mới cho các hộ nói trên

Tình hình dân sinh kinh tế của các địa phương vùng đệm có ảnh hưởng rất lớn

đến việc quản lý tài nguyên thiên nhiên của VQG Cát Tiên Hầu hết các hộ dân sinh sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, trong khi các nhu cầu về lâm sản, tập quán sống dựa vào tài nguyên rừng còn nhiều Tùy từng thời gian, từng khu vực, các hình thức vi phạm phổ biến là săn bắt, bẫy chim, thú rừng; khai thác lâm sản quý hiếm; lấn chiếm đất rừng Các vụ vi phạm tập trung ở các khu vực dân cư sống trong và ven rừng như Tà Lài ở Nam Cát Tiên; Thôn 3, thôn 4, xã Đồng Nai thượng ở Cát Lộc; khu vực Đăng Hà ở Tây Cát Tiên Trong những năm gần đây tình hình vi phạm luôn có chiều hướng gia tăng về số vụ và số người vi phạm, gây nhiều hậu quả thiệt hại nghiêm trọng Các đối tượng vi phạm ngày càng trở nên liều lĩnh, bất chấp pháp

Trang 38

luật Một số vụ chống đối người thi hành công vụ chưa được xử lý nghiêm minh đã

và đang gây nhiều bức xúc cho những người trực tiếp làm công tác quản lý bảo vệ rừng Hiện tượng di dân tự do tuy đã được kiểm soát, nhưng vẫn tiếp diễn, đặc biệt là

ở khu vực Đa Bông Cua

Nạn chăn thả gia súc bừa bãi làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh cho các loài

động vật hoang dã, ảnh hưởng đến việc bảo tồn gen và cũng làm tăng nguy cơ cháy rừng vào mùa khô hàng năm do người dân địa phương đốt các trảng cỏ để tạo cỏ non cho chăn thả gia súc, nhất là ở các vùng có dân cư sinh sống nằm giáp ranh với VQG Cát Tiên như Đắc Lua, Tà Lài, Đa Bông Cua, Cát Lộc

VQG Cát Tiên đã tăng cường nhiều biện pháp quản lý bảo vệ rừng kết hơp với việc nâng cao đời sống cho người dân địa phương nhằm hạn chế tình hình xâm hại tài nguyên rừng của VQG Cát Tiên

1.4.3 Tài nguyên đa dạng sinh học

và song bột (Calamus poilanei Conr.) [54]

Hệ thực vật ở VQG Cát Tiên mang tính đặc trưng điển hình của khu vực địa sinh học Đông Nam Bộ với hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thường xanh, có các loài cây gỗ chủ yếu thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Đậu (Fabaceae) và họ Tử vi (Lythraceae) là đại diện phổ biến ở các khu rừng ít bị tác động của con người Tại các khu rừng bị tác động nhiều hơn thì các họ đại diện chính là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae) [53]

VQG Cát Tiên có 5 kiểu rừng chính: i) Rừng lá rộng thường xanh; ii) rừng thường xanh nửa rụng lá; iii) rừng hỗn giao gỗ tre nứa; iv) rừng tre nứa thuần loại; v) thảm thực vật đất ngập nước [53] (bảng 1.7 và hình 1.2)

Trang 39

Bảng 1.7 - Các dạng thảm thực vật ở VQG Cát Tiên

Diện tích (ha)

T/cộng (ha)

đông bắc khu Nam Cát Tiên và gần sông Đồng Nai Rừng thường xanh hoặc bán thường xanh, chiếm khoảng 50% diện tích của VQG Cát Tiên, đây là những diện tích rừng thường xanh cuối cùng ở miền Nam Việt Nam [53]

Rừng hỗn giao gỗ tre hoặc rừng tre nứa thuần loại, là kiểu rừng thứ sinh nhân tác sau phục hồi, chiếm khoảng 40% diện tích của VQG Cát Tiên Phân bố ở phía

đông và nam khu Nam Cát Tiên Rừng tre phổ biến cả ở khu Nam Cát Tiên và Cát Lộc [53] Khu đất ngập nước chiếm khoảng 5% diện tích toàn VQG Cát Tiên, ở phần trung tâm và bắc Nam Cát Tiên là hệ sinh thái độc đáo, hiếm thấy ở Việt Nam [53] Thực vật ở đây thích ứng cao với chế độ ngập lụt hàng năm, bao gồm các loài

tre, các loài cây gỗ ven bàu và thảm cỏ với các loài cói Carex spp., cỏ tranh (Imperata cylindrica (L.) P Beauv var major (Nees) Hubb.), cỏ đế (Echinochloa

pyramidalis (Lam.) Hichc.), lách (Saccharum spontaneum L.), Đây cũng chính là

sinh cảnh cho nhiều loài động vật sinh sống [53]

Trang 40

Hình 1.2 - Bản đồ hiện trạng rừng ở VQG Cát Tiên

Nguồn: VQG Cát Tiên, 2002

Ngày đăng: 23/05/2021, 13:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w