1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bảo tồn quần xã thú móng guốc chẵn (artiodactyla) ở khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa đồng nai, tỉnh đồng nai

276 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 276
Dung lượng 12,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1988 18 2.1 Hệ thống các tuyến khảo sát thú MGC tại KBTTN-VH Đồng Nai 33 2.2 Hệ thống các điểm điều tra thú MGC tại KBTTN-VH Đồng Nai 34 2.3 Sơ đồ vị trí các ô lâm học khảo sát sinh cảnh

Trang 1

NGUYỄN HOÀNG HẢO

NGHIÊN CỨU BẢO TỒN QUẦN XÃ THÖ MÓNG GUỐC CHẴN

(Artiodactyla) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN -

VĂN HÓA ĐỒNG NAI, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

NGUYỄN HOÀNG HẢO

NGHIÊN CỨU BẢO TỒN QUẦN XÃ THÖ MÓNG GUỐC CHẴN

(Artiodactyla) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN -

VĂN HÓA ĐỒNG NAI, TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lâm sinh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Xuân Đặng Luận án được thực hiện trong thời gian từ 2008 đến 2015 Các kết quả nêu trong Luận án là trung thực, có

cơ sở khoa học và đảm bảo độ tin cậy./

Ngày 14 tháng 4 năm 2016

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Hoàng Hảo

Trang 4

Trong quá trình thực hiện Luận án, tôi đã nhận được sự động viên giúp

đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trong trường Đại học Lâm nghiệp, cùng các bạn bè và đồng nghiệp, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Đồng Thanh Hải, PGS.TS Vũ Tiến Thịnh, PGS.TS Lê Xuân Cảnh, TS Lưu Hồng Trường, TS Nguyễn Mạnh Hà, ThS Thạch Mai Hoàng, ThS Bùi Hữu Mạnh, ThS Đặng Huy Phương, ThS Nguyễn Trường Sơn, ThS Nguyễn Văn Tứ, KS Vũ Văn Biền đã hỗ trợ tôi thực hiện một số nội dung trong Luận án

Xin cảm ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của lực lượng Kiểm lâm và cán bộ Phòng Bảo tồn thiên nhiên và Hợp tác, Khu bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai

Tôi xin cảm ơn UBND tỉnh Đồng Nai, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VCF) đã hỗ trợ một phần kinh phí trong quá trình nghiên cứu

Con xin tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn đến cha, mẹ kính yêu Xin cảm

ơn đến các anh, chị, em trong gia đình; vợ và các con luôn ủng hộ, động viên

và tạo tất cả các điều kiện tốt nhất giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn, thử thách

để hoàn thành Luận án này./

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Hoàng Hảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Khái quát về hệ thống phân loại thú Móng guốc chẵn 5

1.1.1 Đặc điểm và hệ thống phân loại bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla) 5

1.1.2 Thành phần loài khu hệ thú MGC Việt Nam 7

1.2 Tình trạng bảo tồn của thú MGC 13

1.2.1 Tình trạng bảo tồn của thú MGC trên thế giới 13

1.2.2 Tình trạng bảo tồn của thú MGC ở Việt Nam 15

1.3 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái đặc trưng của thú MGC 17

1.3.1 Phân bố và sinh cảnh 17

1.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng và thức ăn 18

1.3.3 Sinh sản 19

1.3.4 Tập tính 20

1.4 Tình hình nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam và vùng nghiên cứu 21

1.4.1 Tình hình nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam 21

1.4.2 Tình hình nghiên cứu thú MGC ở vùng nghiên cứu và lân cận 23

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 26

2.2 Nội dung nghiên cứu 26

Trang 6

2.3 Đối tượng nghiên cứu 26

2.4 Phạm vi nghiên cứu 27

2.5 Thời gian nghiên cứu 27

2.6 Tư liệu nghiên cứu 30

2.7 Phương pháp nghiên cứu 30

2.7.1 Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu 30

2.7.2 Phương pháp xử lý số liệu và xây dựng luận án 46

2.8 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 48

2.8.1 Điều kiện tự nhiên 48

2.8.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 53

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

3.1 Thành phần loài và hiện trạng quần thể các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 56 3.1.1 Thành phần các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 56

3.1.2 Hiện trạng quần thể các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 57

3.2 Đặc điểm sinh cảnh của thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 70

3.2.1 Đặc điểm thảm thực vật rừng ở KBTTN-VH Đồng Nai 70

3.2.2 Đặc điểm các dạng sinh cảnh của thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 73

3.3 Tình trạng sử dụng sinh cảnh của thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 81

3.3.1 Hình thức và mức độ sử dụng các dạng sinh cảnh của các loài thú MGC 81

3.3.2 Tình trạng sử dụng sinh cảnh của các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 85

3.3.3 Các điểm sinh cảnh đặc biệt quan trọng đối với thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 91

3.4 Đặc điểm hình thái phân loại và sinh học sinh thái Cheo cheo kanchil ở KBTTN-VH Đồng Nai 96

3.4.1 Kiểm định vị trí phân loại của quần thể Cheo cheo ở KBTTN-VH Đồng Nai 96

3.4.2 Đặc điểm sử dụng sinh cảnh của Cheo cheo kanchil ở KBTTN-VH Đồng Nai 102

3.4.3 Đặc điểm dinh dưỡng của Cheo cheo kanchil 105

3.4.4 Đặc điểm sinh sản của Cheo cheo kanchil 110

3.4.5 Tập tính hoạt động 117

Trang 7

3.5 Tình trạng quản lý bảo tồn và đề xuất các giải pháp tăng cường bảo tồn thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 125 3.5.1 Tầm quan trọng của KBTTN-VH Đồng Nai đối với bảo tồn thú MGC 125 3.5.2 Tình trạng quản lý bảo tồn thú MGC hiện nay ở KBTTN-VH Đồng Nai 126 3.5.3 Các áp lực đối với bảo tồn thú MGC và sinh cảnh của chúng ở KBTTN-VH Đồng Nai 129 3.5.4 Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý bảo tồn thú MGC tại KBTTN-VH Đồng Nai 133 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 140 CÁC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 144 TÀI LIỆU THAM KHẢO 145 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AFD Cơ quan Phát triển Pháp

CITES Công ước về quản lý buôn bán quốc tế các loài

FFEM Quỹ Môi trường Toàn cầu của Pháp

FFI Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Quốc tế

GPS Hệ thống định vị toàn cầu

HF Chiều dài bàn chân sau

HB Chiều dài thân- đầu

IB Loài nghiêm cấm khai thác sử dụng

IIB Loài hạn chế khai thác sử dụng và có kiểm soát in-situ Bảo tồn tại chỗ

IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới

Trang 9

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

SC1 Sinh cảnh rừng cây gỗ thứ sinh

SC2 Sinh cảnh rừng hỗn giao cây gỗ - tre nứa

SC3 Sinh cảnh rừng trồng, trảng cỏ - cây bụi và nương

rẫy SC4 Sinh cảnh đất ngập nước (sông, suối, hồ)

SĐVN Sách Đỏ Việt Nam (2007)

UBKHKT Ủy ban khoa học, Kỹ thuật

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Thành phần loài bộ MGC (Artiodactyla) trên thế giới 6

1.3 Số lượng các loài thú MGC bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu 14 1.4 Tình trạng bảo tồn của các loài thú MGC Việt Nam 46 2.1 Các đợt điều tra khảo sát hiện trường của Luận án 28 2.2 Số tuyến điều tra lặp lại thú MGC theo các dạng sinh cảnh 32 3.1 Các loài thú MGC hiện còn sinh sống ở KBTTN-VH Đồng Nai 56

3.3 Các dạng sinh cảnh chính của thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 74

3.4 Đặc điểm sử dụng các loại sinh cảnh của thú MGC ở

3.5 Tỷ lệ số phiếu ghi nhận các loài thú MGC theo sinh cảnh 83 3.6 Kết quả điều tra lặp lại thú MGC trong các năm 2010 và 2013 84

3.7 So sánh đặc điểm hình thái mẫu vật Cheo cheo ở KBTTN-VH

Đồng Nai với các loài Cheo cheo ở Việt Nam 96

3.8 Trị số trung bình và độ lệch chuẩn của các số đo sọ Cheo cheo

Trang 11

TT Tên bảng Trang

3.11 Những loài thực vật Cheo cheo kanchil hay ăn nhất 106

3.12 So sánh kích thước cơ thể Cheo cheo kanchil đực và Cheo cheo

3.13 Kích thước bào thai Cheo cheo kanchil theo ngày tuổi 115

3.14 Giá trị trung bình các số đo cơ thể Cheo cheo kanchil theo cấp

3.15 Thời gian hoạt động kiếm ăn vào mùa mưa của Cheo cheo kanchil 118

3.16 Hoạt động kiếm ăn của Cheo cheo kanchil trong mùa khô năm

3.17 Hoạt động uống nước trong ngày của loài Cheo cheo kanchil 121 3.18 Số lần vận động đi lại trong ngày của Cheo cheo kanchil 122 3.19 Tổng hợp các vụ vi phạm trong các năm 2008 đến 2014 131 3.20 Số lượng các loại bẫy tháo gỡ trong các năm 2008 – 2014 131 3.21 Ghi nhận số vụ vi phạm theo mỗi khu vực hành chính 132

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Dạ dày của thú MGC nhai lại (theo Lekagul et al 1988) 18 2.1 Hệ thống các tuyến khảo sát thú MGC tại KBTTN-VH Đồng Nai 33 2.2 Hệ thống các điểm điều tra thú MGC tại KBTTN-VH Đồng Nai 34

2.3 Sơ đồ vị trí các ô lâm học khảo sát sinh cảnh thú MGC tại

2.6 Sơ đồ đo các chỉ tiêu hình thái sọ Cheo cheo kanchil theo

2.7 Sinh cảnh khu nuôi Cheo cheo kanchil tại Trung tâm Cứu hộ

3.1 Tần suất bắt gặp Lợn rừng trên tuyến trong các đợt điều tra 57

3.2 Bản đồ các điểm ghi nhận Lợn rừng theo các dạng sinh cảnh ở

3.3 Tần suất bắt gặp Cheo cheo kanchil trên tuyến trong các đợt điều tra 59

3.4 Bản đồ các điểm ghi nhận Cheo cheo kanchil theo các dạng sinh

Trang 13

3.12 Biểu đồ tương quan số cây - cấp đường kính và số cây - cấp

chiều cao của trạng thái rừng IIIA2 tại KBTTN-VH Đồng Nai 77

3.13 Biểu đồ tương quan số cây - cấp đường kính và số cây - cấp

chiều cao của trạng thái rừng IIIA1 tại KBTTN-VH Đồng Nai 78

3.14 Biểu đồ tương quan số cây - cấp đường kính và số cây - cấp

chiều cao của trạng thái rừng IIB tại KBTTN-VH Đồng Nai 79

3.15 Biểu đồ tương quan số cây - cấp đường kính và số cây - cấp

chiều cao của trạng thái rừng IIA tại KBTTN-VH Đồng Nai 80

3.16 Tình trạng sử dụng các dạng sinh cảnh của thú MGC tại

3.17 Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Lợn rừng trong các dạng sinh

3.18 Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Cheo cheo kanchil trong các

3.19 Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Hoẵng trong các dạng sinh cảnh 87 3.20 Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Nai đen tại KBTTN-VH Đồng Nai 89 3.21 Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Bò tót trong các dạng sinh cảnh 90

3.22 Bản đồ phân bố các điểm sinh cảnh đặc biệt quan trọng đối với

3.23 Bộ da của T versicolor (trái) và T kanchil (phải) (Nguồn:

Trang 14

STT Tên hình Trang

3.24 Cheo cheo kanchil trưởng thành ở KBTTN-VH Đồng Nai 98 3.25 Hình thái sọ Cheo cheo kanchil (mẫu từ KBTTN-VH Đồng Nai) 99 3.26 Dấu chân và phân Cheo cheo kanchil tại KBTTN-VH Đồng Nai 103 3.27 Biểu đồ tần suất hoạt động giao phối của Cheo cheo kanchil 112

3.28 Biểu đồ sinh sản của Cheo cheo kanchil theo các tháng trong năm

tại Trung tâm Cứu hộ KBTTN-VH Đồng Nai từ năm 2010-2012 113

3.30 Số lượt cá thể Cheo cheo kanchil ra ăn theo giờ trong mùa mưa 119 3.31 Số lượt cá thể ra ăn của Cheo cheo kanchil mùa khô năm 2012 119

3.32

(trái) Biểu đồ so sánh tỷ lệ % số lần uống nước trong các giờ

trong ngày và (phải) Cheo cheo kanchil uống nước từ máng, bên

cạnh là viên đá liếm khoáng

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bộ thú Móng guốc chẵn (Artiodactyla) bao gồm những loài thú lớn phong phú nhất hiện nay trên đất liền (Hutchins et al 2004) [79] với tổng số khoảng 240 loài (Wilson et al 2005) [104] Các loài thú Móng guốc chẵn (MGC) có vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái tự nhiên (Đặng Huy Huỳnh 1986 [24], Hutchins et al 2004 [79]) Chúng là vật tiêu thụ đầu tiên, chuyển hóa các chất dinh dưỡng từ thực vật sang các chất dinh dưỡng động vật, là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài thú ăn thịt có kích thước cơ thể

lớn và vừa như Hổ (Panthera tigris), Báo (Panthera pardus), Báo gấm (Neofelis nebulosa), Sói đỏ (Cuon alpinus), Chúng góp phần duy trì tính đa

dạng sinh học của các sinh cảnh thông qua hoạt động kiếm ăn, kích thích sự sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật và tạo nên các vũng đầm là môi trường sống cho nhiều loài động, thực vật khác, Chúng là nguồn vật liệu di truyền gốc có thể sử dụng để cải tạo các dòng động vật MGC nuôi

Các loài thú MGC cũng có giá trị kinh tế rất lớn Chúng cung cấp nguồn thực phẩm (thịt), nguồn dược liệu (sừng, gạc, xương, xạ hương) và nguồn nguyên liệu sản xuất hàng mỹ nghệ (sừng, gạc, da, lông, ) Đây cũng

là nguyên nhân làm cho các loài thú MGC luôn là đối tượng săn bắt của người dân các vùng rừng núi (Đặng Huy Huỳnh 1986 [24], Đặng Huy Huỳnh và cs 2010) [27]

Trên thế giới, bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla) có khoảng 240 loài thuộc 89 giống và 10 họ (Wilson & Reeder 2005) [104] Tuy nhiên, do việc mất và suy thoái sinh cảnh cùng với việc săn bắt quá mức trong nhiều thập kỷ qua, đã có 8 loài thú MGC đã bị tuyệt chủng và trên 122 loài khác (chiếm 54,6% tổng số loài hiện biết) đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, phải đưa vào Danh lục Đỏ IUCN (phiên bản 2015.2) [98] Vì vậy, bảo tồn các loài thú

Trang 16

MGC đang là vấn đề cấp thiết hiện nay trên toàn cầu (IUCN-SSC Asian Wild Cattle Specialist Group 2010) [82][83]

Việt Nam có khu hệ thú MGC khá đa dạng và phong phú Cho đến nay,

đã ghi nhận được 19 loài thú MGC thuộc 12 giống và 5 họ (Đặng Ngọc Cần

và cs 2008 [6], Nguyễn Xuân Đặng và cs 2009) [17] Các loài thú MGC có mặt ở hầu hết các hệ sinh thái rừng tự nhiên của Việt Nam và là nguồn thực phẩm quan trọng của người dân nhiều vùng rừng núi trong nhiều thập kỷ qua Tuy nhiên, hiện nay khu hệ thú MGC của Việt Nam đã bị suy giảm mạnh cả

về phạm vi vùng cư trú và độ phong phú cá thể (Nguyễn Xuân Đặng và cs 2009) [17] Trong số 19 loài thú MGC đã ghi nhận ở Việt Nam, có 2 loài đã

bị tuyệt chủng trong thiên nhiên gồm Bò xám (Bos sauveli), Hươu sao (Cervus nippon) và 15 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác

nhau (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007) [2], chiếm tới 89,5 % (17/19 loài) tổng

số loài thú MGC hiện biết của Việt Nam Vì vậy, đối với Việt Nam, bảo tồn các loài thú MGC và sinh cảnh của chúng cũng đang là vấn đề hết sức cấp thiết Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phục vụ bảo tồn các loài thú MGC

ở Việt Nam, đặc biệt là các nghiên cứu chuyên sâu về sinh học, sinh thái và bảo tồn của chúng còn rất hạn chế

Khu bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai (KBTTN-VH Đồng Nai) được thành lập năm 2004, tổng diện tích là 100.304 ha với 67.904 ha rừng và đất lâm nghiệp, 32.400 ha đất ngập nước hồ Trị An (trước 2012, có tên là Khu bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu) [38][43] Với địa hình tương đối bằng phẳng, bình độ thấp (dưới 368 mét); nguồn nước mặt dồi dào, phân bố trải đều trong khu vực; và được che phủ bởi lớp thảm rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh và bán thường xanh, KBTTN-VH Đồng Nai là nơi cư trú của nhiều loài thú MGC Các cuộc điều tra khảo sát đa dạng sinh học tại KBTTN-

VH Đồng Nai đã ghi nhận có 8 loài thú MGC (Lê Trọng Trải và cs 2000

Trang 17

[56], Nguyễn Xuân Đặng 2001 [13], Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, 2009 [49], Đặng Huy Phương và cs 2010 [51], Nguyễn Hoàng Hảo và cs 2011 [21]) Mặc dù, KBTTN-VH Đồng Nai có vai trò rất quan trọng trong bảo tồn các loài thú MGC ở Việt Nam và trên thế giới, nhưng khu hệ thú MGC ở đây còn rất ít được nghiên cứu Ngoài một số cuộc điều tra thống kê thành phần loài, chưa có công trình nghiên cứu nào có tính hệ thống và chuyên sâu về sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài thú MGC trong KBTTN-VH Đồng Nai được thực hiện

Xuất phát từ sự cấp thiết phải bảo tồn và phát triển các loài thú MGC ở Việt Nam nói chung và ở KBTTN-VH Đồng Nai nói riêng, tôi chọn thực hiện

Luận án “Nghiên cứu bảo tồn quần xã thú móng guốc chẵn (Artiodactyla)

ở Khu bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai” nhằm

cung cấp các thông tin, tư liệu đầy đủ và cập nhật mới nhất về tình trạng quần thể các loài, đặc điểm sinh học, sinh thái một số loài, các đe dọa đến quần thể

và sinh cảnh của chúng để đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn phù hợp

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án

Ý nghĩa khoa học: Luận án cung cấp các dẫn liệu khoa học về tình trạng

quần thể và đặc điểm sinh cảnh của các loài thú MGC trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới thường xanh và bán thường xanh đất thấp đặc trưng cho vùng Đông Nam Bộ của Việt Nam và đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn của loài

Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil) có giá trị bảo tồn và kinh tế cao nhưng

còn ít được nghiên cứu

Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả của Luận án là cơ sở khoa học quan

trọng để xây dựng các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai nói riêng và ở Việt Nam nói chung Các giải pháp quản lý, bảo tồn do Luận án đề xuất là những hướng dẫn cụ thể cho Ban Quản lý KBTTN-VH Đồng Nai thực hiện các hoạt động quản lý, bảo tồn đa

Trang 18

dạng sinh học trong phạm vi KBTTN-VH Đồng Nai và có thể áp dụng cho Vườn Quốc gia Cát Tiên và các Khu bảo tồn lân cận khác

3 Đóng góp mới của luận án

Luận án đã cung cấp đủ số liệu khoa học tin cậy để khẳng định có 6 loài thú MGC đang sinh sống tại KBTTN-VH Đồng Nai và 2 loài thú MGC

có thể không còn cư trú tại đây; đồng thời, cung cấp thông tin cập nhật và đầy

đủ nhất về hiện trạng quần thể của mỗi loài trong Khu bảo tồn

Luận án đã xác định 4 dạng sinh cảnh chính cho thú MGC tại

KBTTN-VH Đồng Nai, mô tả chi tiết đặc điểm của mỗi dạng sinh cảnh, tình trạng sử dụng sinh cảnh của mỗi loài thú MGC trong KBTTN-VH Đồng Nai và xác định được 18 điểm sinh cảnh đặc biệt quan trọng cho thú MGC trong KBTTN-VH Đồng Nai; chỉ ra sự khác biệt trong hình thức sử dụng sinh cảnh của mỗi loài

Luận án là công trình đầu tiên xác định một cách có hệ thống và khoa học vị trí phân loại của quần thể Cheo cheo tại KBTTN-VH Đồng Nai thuộc

loài Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil) thông qua các số liệu về hình thái

ngoài, hình thái sọ và trình tự ADN gen ty thể; cung cấp nhiều thông tin, tư liệu khoa học mới về đặc điểm sinh học và sinh thái của quần thể Cheo cheo kanchil tại KBTTN-VH Đồng Nai

Luận án là công trình đầu tiên đưa ra các giải pháp quản lý, bảo tồn cụ thể chi tiết cho từng loài thú MGC đang sinh sống trong KBTTN-VH Đồng Nai và cải tạo sinh cảnh của chúng Các giải pháp này cũng có giá trị sử dụng đối với các quần thể thú MGC ở VQG Cát Tiên và các Khu bảo tồn khác của Việt Nam

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về hệ thống phân loại thú Móng guốc chẵn

1.1.1 Đặc điểm và hệ thống phân loại bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla)

Theo mô tả của nhiều tác giả (Đặng Huy Huỳnh 1986 [24], Lekagul et

al 1988 [86], Hutchins et al 2004 [79], Đặng Huy Huỳnh và cs 2008 [31], Nguyễn Xuân Đặng và cs 2009 [17], Đặng Huy Huỳnh và cs 2010) [27], thú MGC gồm các loài thú có kích thước cơ thể từ rất lớn tới trung bình Lớn nhất

là Hà mã (Hippopotamus amphibius) nặng tới 4.500 kg và nhỏ nhất là Cheo cheo lưng bạc (Tragulus versicolor) nặng khoảng 1,5 - 2,5 kg Các chân đều

mang số ngón chẵn (2 hoặc 4 ngón) và có guốc Thú MGC đi bằng đầu ngón chân thứ III và thứ IV nên các ngón này rất lớn và có kích thước gần bằng nhau Ngón thứ nhất đã bị tiêu biến, ngón thứ II và thứ V bị tiêu giảm về kích thước Chỉ ở một số loài (họ Lợn Suidae) cả 4 ngón đều hoạt động, còn ở hầu hết các loài khác chỉ có 2 ngón (thứ III và IV) hoạt động, 2 ngón khác nhỏ và hầu như không chạm đất, trừ khi đất quá xốp

Thú MGC được chia thành 2 nhóm: nhóm có sừng và nhóm không có sừng Nhóm không có sừng gồm các loài thuộc họ Cheo cheo (Tragulidae), họ Lợn (Suidae), họ Lợn Taya (Tayassuidae) và họ Hươu xạ (Moschidae) Các loài này có răng nanh phát triển dài để thực hiện chức năng bảo vệ thay cho sừng Nhóm có sừng bao gồm các họ còn lại Tuy nhiên, kích thước và nguồn gốc sừng có khác nhau Sừng của các loài họ Hươu nai (Cervidae) đặc và rụng hàng năm sau mỗi mùa động dục (còn gọi là gạc) Sừng của các loài họ Trâu bò (Bovidae) rỗng trong và không rụng, phát triển liên tục suốt đời Chức năng chủ yếu của sừng và răng nanh là làm vũ khí đấu tranh trong loài (tranh giành vị trí đầu đàn, tranh giành thú cái trong mùa động dục, ), sau đó mới đến chức năng chống lại thú ăn thịt hoặc các loài khác (Hutchins et al 2004) [79] Các cá thể đực thường có sừng hoặc răng nanh lớn hơn so với cá thể cái Tùy loài, các cá thể cái có thể có sừng như ở họ Trâu bò hoặc không có sừng như ở họ Hươu nai

Trang 20

Bộ răng thích nghi với chế độ ăn của mỗi nhóm loài Lợn rừng có răng nanh trên rất dài, thò ra khỏi môi và mặt răng hàm có nhiều u, mấu nhỏ Các loài nhai lại không có răng nanh trên, mặt răng hàm có nhiều gờ nhai sắc hình lưỡi liềm Số lượng răng từ 32 - 44 chiếc Tất cả các loài trong các họ Tragulidae, Moschidae, Cervidae và Bovidae đều không có răng cửa hàm trên Công thức răng: (i 0–3/3, c 0–1/1, pm 2–4/2–4, m 3/3) x 2 = 30–44

Thú MGC ăn thực vật và có dạ dày thích nghi với việc tiêu hóa chất xenluloza thực vật Dạ dày được cấu tạo có 1 đến 4 ngăn, dạ dày giả nằm phía trước dạ dày thật (abomasum) Họ Lợn (Suidae) ăn tạp, dạ dày ít chuyên hoá, chỉ có 2 ngăn Các họ khác có dạ dày phức và ruột tịt nhỏ Họ Cheo cheo (Traguliadae) có dạ dày 3 ngăn, các họ khác có dạ dày 4 ngăn Trong dạ dày

có hệ sinh vật và ký sinh trùng cộng sinh phong phú giúp phân hủy xeluloza

Đa số các loài có đặc điểm nhai lại thức ăn (Đặng Huy Huỳnh và cs, 1986 [24] và Lekagul B and McNeeley J A 1988) [86]

Theo Wilson và cộng sự (Wilson et al 2005) [104], bộ móng guốc chẵn (Artiodactyla) có khoảng 240 loài thuộc 89 giống và 10 họ (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Thành phần loài bộ MGC (Artiodactyla) trên thế giới

Trang 21

Một số tác giả (Simpson 1945, Mckenna et al 1997, Janis and Scott 1987, trong Lekagul et al 1988) [86] chia bộ MGC thành 3 phân bộ:

- Phân bộ Không nhai lại (Non-ruminantia) hoặc Phân bộ Lợn (Suina): Răng hàm có mấu, răng nanh lớn sinh trưởng liên tục, dạ dày đơn, ngón II và ngón V phát triển Phân bộ này có 3 họ là họ Lợn (Suidae), Hà mã (Hippopotamidae) và họ Lợn Taia (Tayassuidae)

- Phân bộ Nhai lại (Ruminantia): Răng hàm có nếp sắc hình bán nguyệt, thiếu răng cửa và thường thiếu cả răng nanh Dạ dày phức tạp chia 4 ngăn Phân bộ này có 05 họ: họ Hươu nai (Cervidae), họ Hươu cao cổ (Giraffidae),

họ Trâu bò (Bovidae), họ Cheo cheo (Tragulidae) và họ Linh dương (Antilocapridae)

- Phân bộ Chân chai (Tylopoda): gồm các loài Lạc đà Thiếu răng nanh và răng cửa ở cả hai hàm, răng hàm có mặt nhai phẳng, dạ dày tương đối phức tạp Ngón I, II và V thiếu Chỉ có 1 họ Lạc đà (Camelidae) phân bố ở sa mạc Trung Á

Ba họ có số loài lớn nhất là: họ Trâu bò với 143 loài, họ Hươu nai với 51 loài và họ Lợn với 19 loài Các họ còn lại đều có dưới 10 loài Wilson et al (2005) [104] chia họ Trâu bò thành 8 phân họ (Aepycerotinae, Alcelaphinae, Bovinae, Cephalophinae, Hippotraginae, Atilopinae, Caprinae và Reduncinae)

và chia họ Hươu nai thành 3 phân họ (Capreolinae, Cervinae và Hydropotinae)

1.1.2 Thành phần loài khu hệ thú MGC Việt Nam

Việt Nam có khu hệ thú MGC khá đa dạng và phong phú Theo thống

kê gần đây nhất của Đặng Ngọc Cần và cs (2008) [6], khu hệ thú MGC ở Việt Nam có 19 loài thuộc 12 giống và 5 họ (Bảng 1.2) Trong đó, có 1 loài

đã bị tuyệt chủng (Bò xám Bos sauveli), một loài đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Hươu sao Cervus nippon) (Động vật chí Việt Nam 2007 [1], Sách Đỏ

Việt Nam 2007 [2]) và một loài có vị trí phân loài chưa rõ ràng (Lợn rừng

trường sơn Sus bucculentus) (Groves et al 2008) [73]

Trang 22

Bảng 1.2: Thành phần loài thú MGC ở Việt Nam

1 Lợn rừng trường sơn Sus bucculentus Heude, 1892

2 Lợn rừng Sus scrofa Linnaeus, 1758

3 Cheo cheo kanchil Tragulus kanchil (Raffles, 1821)

4 Cheo cheo lưng bạc Tragulus versicolor Thomas, 1910

5 Hươu xạ Moschus berezovskii Flerov, 1929

6 Hươu vàng Axis porcinus (Zimmermann, 1780)

7 Hươu sao Cervus nippon Temminck, 1838

8 Mang thường, hoẵng Muntiacus muntjak (Zimmermann, 1780)

9 Mang ruzơven Muntiacus rooseveltorum Osgood, 1932

10 Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis (Giao et al., 1997)

11 Mang lớn Muntiacus vuquangensis (Tuoc et al., 1994)

12 Nai cà tông Rucervus eldii (Mclelland, 1842)

13 Nai đen Rusa unicolor (Kerr, 1792)

14 Bò tót Bos frontalis Lambert, 1804

15 Bò rừng Bos javanicus d’Alton, 1823

16 Bò xám Bos sauveli Urbain, 1937

17 Trâu rừng Bubalus bubalis (Linnaeus, 1758)

18 Sao la Pseudoryx nghetinhensis Dung et al., 1993

19 Sơn dương Capricornis milneedwardsii David, 1869

Ghi chú: hệ thống phân loại theo Wilson & Reeder 2005 [104]

Ở Việt Nam, bộ MGC (Artiodactyla) có 5 họ, gồm họ Lợn (Suidae), họ Cheo cheo (Tragulidae), họ Hươu nai (Cervidae), họ Hươu xạ (Moschidae) và

Trang 23

họ Trâu bò (Bovidae) (Nguyễn Xuân Đặng và cs 2009) [17] Đặc điểm chung của các họ này như sau:

Họ Lợn (Suidae): Mõm dài, linh động, kết thúc bằng một đĩa phẳng,

trần Hai lỗ mũi mở ngay tại mặt đĩa mõm, giúp Lợn dễ dàng đánh mùi thức

ăn khi dùng mũi đào đất tìm thức ăn Khứu giác rất phát triển Bàn chân hẹp

có 4 ngón phát triển Guốc của các ngón ngoài không chạm đất khi đi trên đất cứng, chỉ chạm khi đi trên đất xốp Công thức răng: (i 3/3, c1/1, pm 4/4, m 3/3) x 2 = 44 Các hàm đều có răng cửa, nhưng răng cửa hàm dưới mọc ngang Răng nanh hàm dưới chĩa ra ngoài và ngược lên trên, răng nanh hàm trên lớn hơn nhiều so với hàm dưới, rất dài ở con đực Các răng nanh hàm trên và hàm dưới mài vào nhau tạo thành cạnh rất sắc để cắt củ cây Lợn không nhai lại, dạ dày đơn 2 ngăn Lợn cái có 3-6 đôi vú Ở Việt Nam, họ

Lợn (Suidae) có 1 giống, 2 loài (Lợn rừng Sus scrofa và Lợn rừng trường sơn

Sus bucculentus)

Lợn rừng trường sơn được Heude mô tả năm 1892 dựa trên 2 mẫu sọ thu được ở Nam Việt Nam (được cho là ở Đồng Nai) Sau đó có một mẫu sọ không hoàn chỉnh khác của cá thể đực non thu được ở Dãy Trường Sơn (bản

Ni Giang, Lào) (Groves et al 1997 [73]; Meijaard et al 2004) [89] Tuy

nhiên, kết quả ADN ty thể cho thấy có thể Sus bucculentus chỉ là tên đồng vật của Sus csrofa (Robins et al 2006, trích theo Grove et al 2008) Vì vậy, vị trí

phân loại của Lợn rừng trường sơn còn nghi ngờ (Grove et al 2008) [73]

Họ Cheo cheo (Tragulidae): Thân nhỏ, chân mảnh mai; nửa thân sau

cao hơn nửa thân trước; tuyến dưới cằm lớn, thường có các đốm trắng ở cổ và ngực Con cái có 4 vú ở bẹn Cheo cheo không có sừng, con đực có răng nanh hàm trên rất dài thò ra ngoài thành nanh Công thức răng: (i0/3,c1/1,pm 3/3,m3/3) x 2= 34 Răng nanh hàm dưới giống răng cửa, do đó hàm dưới có 8 răng cửa Răng trước hàm có cạnh sắc, răng hàm có mấu bán nguyệt đặc trưng của thú nhai lại Dạ dày 3 ngăn Ở Việt Nam họ Cheo cheo có 1 giống, 2 loài

Trang 24

Việc xác định chính xác vị trí phân loại của đối tượng nghiên cứu là rất cần thiết đối với công tác bảo tồn loài Hệ thống phân loại Cheo cheo (Tragulidae) rất phức tạp Hiện nay, vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu động vật về hệ thống phân loại và thành phần loài Cheo cheo ở Việt Nam Nhiều tác giả (Van Peenen et al 1969 [101], Đặng Huy Huỳnh

1986 [24], Corbet et al 1992 [66], Đặng Huy Huỳnh và cs 1994 [25], Đặng Huy Huỳnh và cs 2008 [31], ) cho rằng ở Việt Nam chỉ có một giống Cheo

cheo (Tragulus) với 2 loài: Cheo cheo nam dương Tragulus javanicus Osbeck, 1765, (tên đồng vật là Tragulus kanchil Gray 1861) và Cheo cheo napu hay Cheo cheo lớn Tragulus napu (F Cuvier 1822) (tên đồng vật là:

Tragulus versicolor Thomas 1910) Một số tác giả khác (Đặng Ngọc Cần và

cs 2008 [6], Nguyễn Xuân Đặng và cs 2009 [17]) lại cho rằng ở Việt Nam có

2 loài Cheo cheo là: Tragulus kanchil và Tragulus versicolor

Meijaard & Groves (2004) [89] thẩm định lại hệ thống phân loại giống

Cheo cheo (Tragulus) dựa trên phân tích nhiều chỉ tiêu hình thái sọ Tác giả

đã phân tách giống Cheo cheo (Tragulus) ra làm 6 loài thuộc 3 nhóm:

- Nhóm Tragulus napu: có 2 loài, gồm Tragulus napu phân bố ở bán đảo Malay, Borneo, Sumatra và các đảo lân cận và loài Tragulus nigricans phân

bố ở đảo Balabac thuộc Nam Philippines

- Nhóm Tragulus versicolor: chỉ có 1 loài duy nhất Tragulus versicolor

phân bố ở Nam Việt Nam

- Nhóm Tragulus javanicus: có 3 loài gồm: Tragulus javanicus phân bố

ở đảo Giava, Tragulus williamsoni phân bố ở Bắc Thái Lan và Nam Trung Quốc và Tragulus kanchil với 16 phân loài phân bố ở lục địa Nam Á, Borneo,

Sumatra và các đảo lân cận

Theo hệ thống phân loại này, Tragulus javanicus, Tragulus kanchil,

Tragulus napu và Tragulus versicolor là những loài độc lập

Trang 25

Như vậy, theo Meijaard & Groves (2004) [89], loài Tragulus javanicus không có ở Việt Nam, thay vào đó là loài Tragulus kanchil (trước đây được xem là loài phụ của Tragulus javanicus), loài Tragulus napu không có ở Việt Nam, thay vào đó là loài Tragulus versicolor (trước đây được xem là loài phụ của Tragulus napu)

Loài Tragulus versicolor là loài độc lập và là loài đặc hữu của Việt

Nam; mẫu vật của loài này mới chỉ thu được ở Nha Trang và Gia Lai

(Meijaard et al 2004, Kuznetsov et al 2004) [89] [85] Loài Tragulus kanchil

có kích thước cơ thể lớn hơn loài Tragulus versicolor và không có ở Nam

Dương, vì vậy, tên tiếng Việt "Cheo cheo nam dương" hay "Cheo cheo nhỏ " dùng cho loài này đều không phù hợp, Luận án đề nghị dùng tên "Cheo cheo kanchil" thay thế

Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil) là loài thú quý, hiếm có tên trong

Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (bậc VU) và có giá trị kinh tế cao, nhưng còn rất ít được nghiên cứu về sinh học, sinh thái Khảo sát cho thấy, Cheo cheo kanchil khá phổ biến ở KBTTN-VH Đồng Nai và cũng là đối tượng thường xuyên bị người dân săn bắt làm thực phẩm dẫn đến số lượng ngày càng suy giảm Vì vậy, Luận án đã nghiên cứu sâu về sinh học, sinh thái của Cheo cheo kanchil làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả

và nhân nuôi phát triển loài thú quý, hiếm này

Họ Hươu xạ (Moschidae): Họ này trước đây thường được ghép vào

họ Hươu nai (Cervidae) Sau này được tách thành họ riêng (Wilson et al 2005) [104] Điểm nổi bật nhất là con đực có tuyến xạ rất lớn ở gần cơ quan sinh dục Cả đực và cái đều không có sừng, răng nanh hàm trên phát triển

thành ngà, đặc biệt ở con đực Hươu xạ (Moschus berezovskii) có túi mật (các

loài Hươu nai không có túi mật) Công thức răng: (i0/3,c1/2,pm3/3,m3/3) x 2

= 36 Dạ dày 4 ngăn Ở Việt Nam, chỉ có một loài Hươu xạ

Trang 26

Họ Hươu nai (Cervidae): Cá thể đực mang sừng (gạc), cái không

mang sừng Khác với họ Trâu bò (Bovidae), sừng họ Hươu nai đặc, có nguồn gốc xương chính thức Ở hầu hết các loài, sừng rụng hàng năm Sau khi sừng rụng, da xung quanh phát triển để che kín đế sừng, sau đó các động mạch hoạt động tích tụ can xi để phát triển thành sừng mới Sừng non được phủ một lớp

da có lông ngắn mềm như vải nhung nên được gọi là nhung Sừng Hươu nai

có nhiều nhánh và mang tính đặc trưng loài hoặc giống Người ta cho rằng, việc hình thành sừng và rụng sừng hàng năm giúp thú giải thoát bớt lượng can

xi dư thừa trong cơ thể Con cái giải thoát dư thừa can xi qua việc nuôi dưỡng bào thai và con non Hươu nai thường có tuyến lệ rất lớn cạnh góc trong của mỗi mắt và các tuyến da ở kẽ các ngón chân Tiết dịch tuyến có mùi nặng và được thú sử dụng để thông tin liên lạc với nhau Họ Hươu nai không có túi mật Thú cái thường có 4 vú Công thức răng: (i0/3,c0/1,pm3/3,m3/3) x 2=

32 Với những loài không có sừng, răng nanh hàm trên phát triển dài thành

hình lá kiếm Các loài khác không có răng nanh (trừ Muntiacus và

Elaphurus) Răng nanh hàm dưới nằm sát các răng cửa và hình thành một

phần của dãy răng cửa Răng hàm thấp, mặt nhai rộng, gần vuông, các mấu gờ sắc và có hình lưỡi liềm Dạ dày 4 ngăn Ở Việt Nam, họ Hươu nai chỉ có một phân họ (Cervinae) với 5 giống và 8 loài

Các mẫu vật thú MGC lạ do Lê Trọng Trải thu thập được ở vùng núi

Pù Hoạt, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An được cho là loài Mang pù hoạt

(Muntiacus puhoatensis) Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy

Muntiacus puhoatensis có thể chỉ là tên đồng vật (tiếng nước ngoài là

Symnonym) của loài Mang ruzơven (Muntiacus rooseveltorum) hoặc Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis) (Timmins et al 2008 [98], Phạm

Mộng Giao và cs 1998 [74])

Họ Trâu bò (Bovidae): Sáu loài thuộc họ Trâu bò ở Việt Nam đều có

sừng ở thú đực và thú cái Sừng rỗng có nguồn gốc biểu bì, tạo thành bao

Trang 27

cứng trùm lên một lõi xương mọc từ xương trán Sừng chỉ có một nhánh duy nhất và không rụng hàng năm Sừng có thể lớn lên trong suốt cuộc đời Sừng

là vũ khí tấn công rất có ích của thú họ Trâu bò Chân dài, bàn chân có các ngón bên bị tiêu giảm đáng kể hoặc biến mất Công thức răng: (i0/3, c0/1, pm3/3, m3/3) x 2 = 32 Răng nanh hàm dưới giống răng cửa và là một bộ phận của dãy răng cửa Không có răng cửa hoặc răng nanh hàm trên, nhưng

có gờ cứng được hình thành từ một phần của hàm cứng để bứt cỏ, lá Chúng thường dùng lưỡi quấn quanh túm cỏ hoặc lá cây, rồi dùng các răng hàm dưới

và gờ cứng hàm trên để cắt đứt chúng Răng hàm thích hợp với việc nghiền nát lượng lớn cỏ lá, có mặt nhai lớn có các gờ mấu hình lưỡi liềm, sắc Răng trước hàm nhỏ hơn răng hàm Họ Trâu bò là thú nhai lại với dạ dày 4 ngăn Ở Việt Nam, có đại diện của các phân họ Trâu bò (Bovinae) với 3 giống, 5 loài

và phân họ Sơn dương (Caprinae) với 1 giống, 1 loài

1.2 Tình trạng bảo tồn của thú MGC

1.2.1 Tình trạng bảo tồn của thú MGC trên thế giới

Các loài thú MGC có phân bố rộng trên thế giới Chúng là loài bản địa

ở tất cả các châu lục trừ châu Nam Cực, châu Úc và các đảo đại dương Ngày nay, do con người du nhập và thuần hóa nên các loài thú MGC có mặt cả ở nhiều đảo xa bờ không thuộc vùng phân bố tự nhiên của chúng (Hutchins et

al 2004) [79] Tuy nhiên, do sự suy thoái sinh cảnh và săn bắt quá mức của con người, các loài thú MGC trên thế giới hiện nay đã bị suy giảm đáng kể cả

về phạm vi phân bố và số lượng cá thể Danh lục Đỏ IUCN (2015) [98] đã thống kê có 8 loài thú MGC đã bị tuyệt chủng và 122 loài khác (chiếm 54,6% tổng số loài hiện biết) đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (Bảng 1.3): 11 loài ở mức "rất nguy cấp - CR", 40 loài ở mức "nguy cấp - EN", 33 loài ở mức "sẽ nguy cấp - VU", 20 loài ở mức "gần bị đe dọa – LR, nt" và 18 loài ở mức "thiếu dữ liệu - DD"

Trang 28

Bảng 1.3: Số lượng các loài thú MGC bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu

Bậc đe dọa theo Danh lục Đỏ IUCN* Tổng

cộng

Tỷ lệ (%)

Ghi chú: EX - tuyệt chủng, EW - tuyệt chủng trong thiên nhiên, CR -

rất nguy cấp, EN - nguy cấp, VU - Sẽ nguy cấp, RL,nt - gần bị đe dọa, DD - thiếu

dữ liệu *Nguồn: Danh lục Đỏ IUCN 2015.2 (http://www.iucnredlist.org) [98]

Như vậy, có đến 54,6% tổng số loài thú MGC hiện biết đã tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu Trừ họ Linh dương (Atilocapridae), tất cả các họ thú MGC đều có tỷ lệ phần trăm số loài bị đe dọa tuyệt chủng cao, từ 25% (Camelidae) đến 50 - 60% (Tragulidae, Girafidae, Bovidae, Suidae), 60 - 75% (Tayassuidae, Cervidae) và 100% (Hippopotamidae, Moschidae) Các họ có số loài bị đe dọa nhiều nhất là: Bovidae (73 loài), Cervidae (38 loài) và Suidae (11 loài)

Trang 29

1.2.2 Tình trạng bảo tồn của thú MGC ở Việt Nam

Khu hệ thú MGC ở Việt Nam đã bị suy giảm đáng kể, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong trong thiên nhiên Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm mạnh số lượng của các loài thú MGC trong thời gian gần đây là tình trạng săn bắn, bẫy bắt quá mức, cháy rừng, tình trạng khai thác rừng, phá rừng làm nương rẫy, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (hồ chứa nước, các công trình thủy điện, thủy lợi, đường giao thông, ) đã làm phân mảnh hoặc mất vùng sống của chúng

Loài Bò xám (Bos sauveli) đã tuyệt chủng, Hươu sao (Cervus nippon)

cũng đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Sách Đỏ Việt Nam, 2007) [2] Trâu rừng

(Bubalus arnee) cũng trở nên rất hiếm Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) mới

được phát hiện năm 1992, nhưng số lượng cá thể của chúng trong thiên nhiên ước tính chỉ còn khoảng 120-160 cá thể (Nguyễn Xuân Đặng và cs., 2007) [15]

Bò tót (Bos frontalis) và Bò rừng (Bos javanicus) cũng bị suy giảm nhiều về số

lượng cá thể Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà (2008) [18], quần thể Bò tót ở Việt Nam ước tính chỉ còn khoảng 344 cá thể Sự tồn tại của loài

Lợn rừng trường sơn (Sus bucculentus) vẫn chưa được khẳng định

Tóm lại, trong số 19 loài thú MGC ghi nhận ở Việt Nam có tới 14 loài

và một phân loài đang bị đe dọa tuyệt chủng và đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (2007) [2] (Bảng 1.4), chưa kể đến 3 loài rất hiếm trong tự nhiên

nhưng chưa được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam là Lợn rừng trường sơn (Sus

bucculentus), Mang ruzơven (Muntiacus rooseveltorum) và Mang pù hoạt

(Muntiacus puhoatensis) Ba loài này đã được đưa vào Danh lục Đỏ IUCN

(2015) [98] ở mức "thiếu dữ liệu – DD” Như vậy, có tới 14 loài trong tổng số

19 loài thú MGC hiện còn tồn tại ở Việt Nam đang bị đe dọa tuyệt chủng và 5 loài còn lại ở mức thiếu dữ liệu Đây là lời cảnh báo khẩn cấp cho tình trạng bảo tồn của khu hệ thú MGC Việt Nam

Trang 30

Bảng 1.4: Tình trạng bảo tồn của các loài thú MGC Việt Nam

(2007)

IUCN (2015)

2 Cheo cheo kanchil Tragulus kanchil* VU

3 Cheo cheo lưng bạc Tragulus versicolor DD DD

9 Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis DD DD

19 Sơn dương Capricornis milneedwardsii EN LR,nt

Ghi chú: 1) Tính hiệu lực của 2 taxon này còn nghi ngờ (xem mục 1.1.2), IUCN – Danh lục Đỏ của IUCN (2015), SĐVN – Sách Đỏ Việt Nam (2007): CR - rất nguy cấp, EN – nguy cấp, VU - sẽ nguy cấp, LR, nt - gần bị đe dọa, DD- thiếu dữ

liệu Trong Sách Đỏ Việt Nam, *loài được ghi dưới tên Tragulus javanicus; ** loài được ghi dưới tên Bos gaurus; *** loài được ghi dưới tên là Bubalus bubalis

Trang 31

1.3 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái đặc trưng của thú MGC

1.3.1 Phân bố và sinh cảnh

Các loài thú MGC thích nghi với rất nhiều dạng sinh cảnh khác nhau trên trái đất, từ Bắc cực đến các lãnh nguyên và các khu rừng nhiệt đới (Hutchins et al 2004) [79] Các loài thú MGC lớn ở rừng nhiệt đới thường cư trú ở các khu vực rừng gần kề với vùng có sinh cảnh trống (trảng cỏ, trảng cây bụi) Chúng thường di chuyển qua lại giữa các khu vực rừng và các trảng

cỏ, cây bụi Ban ngày, chúng thường sử dụng rừng làm nơi tránh nắng và ẩn náu trốn các loài thú ăn thịt, chúng thường nghỉ ngơi ở khu vực bìa rừng để dễ quan sát kẻ thù và nhanh chóng chạy trốn vào rừng rậm Ban đêm, sáng sớm hoặc chiều muộn chúng di chuyển ra các khu vực trảng trống dọc bìa rừng để

kiếm ăn Các thú MGC nhỏ (Cheo cheo Tragulus) thường sử dụng các sinh

cảnh có thảm thực vật cao, dày để kiếm ăn và trốn tránh kẻ thù Các loài Sơn dương (Caprinae) thường cư trú ở các khu vực có vách núi hiểm trở để đảm bảo an toàn và ra kiếm ăn ở các trảng cỏ lân cận (Hutchins et al 2004) [79]

Theo Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (Đặng Huy Huỳnh và cs 2010) [27], các loài thú MGC của Việt Nam sống và hoạt động chủ yếu trong rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh và các trảng cỏ cây bụi trên núi đất có bình độ thấp và ít dốc Một số loài sinh sống cả rừng trên núi đá (Sơn dương

Capricornis milneedwardsii), rừng tràm và rừng ngập mặn (Lợn rừng Sus scrofa, Nai đen Rusa unicolor, Hoẵng Muntiacus muntjak, ) Các loài khác

nhau thường có khu vực sống khác nhau, nhưng nhìn chung các loài thú MGC của Việt Nam không đòi hỏi khắt khe về điều kiện sống

Về phân bố, các loài thú MGC của Việt Nam có thể chia thành 2 nhóm: nhóm có phân bố rộng và nhóm có phân bố hẹp Thuộc nhóm phân bố rộng có

các loài: Lợn rừng (Sus scrofa), Nai đen (Rusa unicolor), Hoẵng (Muntiacus

muntjak), Sơn dương (Capricornis milneedwardsii), Bò tót (Bos frontalis),

Trang 32

Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil) Chúng phân bố ở nhiều vùng trong cả

nước (trừ đồng bằng), một số loài có cả ở các hải đảo, các khu rừng tràm, rừng ngập mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long Nhóm phân bố hẹp gồm các loài có vùng phân bố hạn chế trong một số vùng cảnh quan nhất định Ví

dụ, Hươu xạ (Moschus berezovski) chỉ có ở khu vực núi đá các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng; Bò rừng (Bos javanicus) chỉ có ở các tỉnh Tây Nguyên, Đồng Nai

và Bình Phước; Hươu vàng (Axis porcinus) chỉ phân bố ở một số tỉnh Tây

Nguyên và Đồng Nai

1.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng và thức ăn

Các loài họ Lợn (Suidae) và họ Lợn Taya (Tayassuidae) ăn tạp có dạ dày đơn và không nhai lại Các loài MGC khác đều là những loài chuyên ăn thực vật Chúng sử dụng hệ vi sinh vật sống trong dạ dày để phân hủy xenlulô

và lignin thực vật Thích nghi với việc tiêu hóa thức ăn thực vật, các loài MGC (trừ Suidae và Tayassuidae) có dạ dày phức và ruột tịt nhỏ Họ Cheo cheo (Traguliadae) có dạ dày 3 ngăn, các họ còn lại có dạ dày 4 ngăn Tất cả đều có tập tính nhai lại thức ăn

Hình 1.1: Dạ dày của thú MGC nhai lại (theo Lekagul et al 1988) [80]

Tập tính nhai lại thức ăn, giúp cho thú nhanh chóng thu lượm thức ăn ở các bãi trống nơi dễ bị kẻ thù phát hiện và săn bắt, sau đó tìm nơi an toàn hơn

để từ từ nhai lại thức ăn cho dễ tiêu hoá Ở các loài có dạ dày 4 ngăn, ngăn thứ nhất khá lớn (túi dạ, rumen) và chứa nhiều các sinh vật ký sinh giúp phân

Trang 33

hủy xenlulô của thức ăn thực vật Quá trình lên men tiêu hoá cũng đã được bắt đầu từ đây Tại ngăn thứ 2 (túi tổ ong, Reticulum) thức ăn được tiếp tục nghiền nát, đóng thành cục và đưa qua thực quản trở lại miệng để nhai lại sau

đó được nuốt trở lại vào ngăn thứ nhất (túi dạ, Rumen) Quá trình này được lập lại nhiều lần cho đến khi thức ăn trong ngăn thứ nhất đủ nhỏ mới chuyển sang ngăn thứ 3 (túi sách, Omasum) để tiếp tục tiêu hoá Cuối cùng, thức ăn chuyển đến ngăn thứ 4 (túi múi khế, Abomasum) nơi có chứa các dịch tiêu hóa thì được tiêu hóa hoàn toàn và chất dinh dưỡng được hấp thụ ở ruột non Các loại thức ăn cỏ, lá non được tiêu hoá trong dạ dày khoảng 1 ngày, còn các thức ăn thô cứng hơn lâu hơn có khi tới cả tuần (Lekagul et al 1988) [86]

Các loài thú MGC nhai lại, không chỉ sử dụng các vi sinh vật để chiết xuất chất dinh dưỡng từ thực vật, chúng còn sử dụng các vi sinh vật như nguồn protein chính Các vi sinh vật sử dụng protein thực vật để sinh trưởng

và sinh sản, khi chúng được di chuyển cùng với các vật chất thực vật chưa tiêu hóa từ ngăn thứ nhất (túi dạ, rumen) tới ngăn thứ 3 (túi sách, Omasum) và cuối cùng tới ruột non, tại đây các vi sinh vật bị thú MGC tiêu hóa để hấp thụ lượng protein trong chúng Bằng cách như vậy, các loài thú MGC nhai lại thu nạp được nhiều hơn các axit amin quan trọng so với việc tiêu hóa các protein thực vật (Hutchins et al 2004) [79]

Đa số các loài thú MGC có nhu cầu bổ sung khoáng chất ngoài thiên nhiên từ các điểm mỏ khoáng, gio cháy của cây cỏ Thú càng lớn như Bò tót,

Bò rừng, Hươu, Nai nhu cầu bổ sung muối khoáng càng cao, ngoại trừ các loài họ Lợn, nhu cầu thấp hơn vì ăn tạp

1.3.3 Sinh sản

Các loài Lợn rừng có thể sinh 4 - 8 con mỗi lứa, các loài thú MGC khác thường chỉ sinh 1 - 2 con mỗi năm, rất ít khi sinh tới 3 con Hầu hết các loài chỉ sinh con mỗi năm một lứa, một số loài thú MGC nhiệt đới có thể sinh 2

Trang 34

lứa mỗi năm (Hutchins et al.2004) [79] Theo Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (Đặng Huy Huỳnh và cs 2010) [27] Các loài thú MGC có thời gian mang thai từ 3 - 9 tháng hoặc 10 tháng, thời gian nuôi con khoảng 2 - 3 tháng Chu

kỳ động dục từ 20 - 30 ngày vào tất cả các tháng trong năm

Mùa sinh sản thường trùng với thời gian bắt đầu sinh trưởng mạnh của thực vật (mùa xuân ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, mùa mưa ở vùng nhiệt đới) Sự phong phú nguồn thức ăn thực vật mới xanh non giúp thú mẹ có nhiều sữa và thú non mới sinh tiếp cận được nguồn thức ăn phong phú và có chất lượng cao để nhanh chóng phát triển Các loài thú MGC mới sinh thường

có khả năng đi lại hoặc thậm chí có thể chạy theo mẹ sau khi sinh vài giờ Sau khi sinh, một số loài thường dấu con mới sinh tại nơi kín đáo để đi kiếm ăn và chỉ quay lại 1 - 2 lần trong ngày để cho con bú và liếm vệ sinh con Khi con

đã cứng cáp hơn và có thể đi lại nhanh nhẹn, chúng bắt đầu đi theo mẹ kiếm

ăn Các loài thú MGC lớn thường có con sinh ra đã có thể đi theo mẹ Đa số các loài thú MGC là đa thê, một thú đực có thể giao phối với vài thú cái khác nhau trong một mùa động dục

Rất ít loài thú MGC sống đơn lẻ, hầu hết các loài đều sống theo đàn, ngoại trừ các loài Mang, Hươu xạ và Cheo cheo Tuy nhiên, các cá thể đực và các cá thể cái sống cách li nhau trong hầu hết thời gian của năm Các cá thể đực trưởng thành sống cách li với các cá thể cái trưởng thành và các con non Các

cá thể đực và các cá thể cái trưởng thành thường sử dụng các sinh cảnh khác nhau, tại các khu vực khác nhau trong vùng cư trú Các loài thú MGC có các

Trang 35

loại "vũ khí" khác nhau để đấu tranh sinh tồn, chủ yếu là đấu tranh giữa các cá thể trong cùng loài (để tranh giành vị trí đầu đàn, để tranh giành thú cái, bảo vệ vùng kiếm ăn, ) Chúng sử dụng các "vũ khí" này không chỉ để tấn công mà

cả để phòng vệ Vũ khí của các loài Hươu nai và các loài Trâu bò là sừng, của các loài Lợn, Cheo cheo là nanh

1.4 Tình hình nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam và vùng nghiên cứu

1.4.1 Tình hình nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam

Nghiên cứu thú MGC ở Việt Nam được bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cùng với lịch sử nghiên cứu thú (Mammalia) của Việt Nam (Đặng Huy Huỳnh và cs 2007) [26] Trước năm 1955, chỉ có các cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu nước ngoài nhằm phát hiện và mô tả các loài thú ở Việt Nam Từ sau năm 1955, các nhà khoa học Việt Nam tham gia nghiên cứu thú MGC ngày càng nhiều và phạm vi nghiên cứu dần được mở rộng ra các vùng miền khác nhau của cả nước Các nghiên cứu tập trung vào 2 hướng chính là: thống kê thành phần loài thú MGC ở các vùng miền và nghiên cứu sinh học, sinh thái của một số loài có giá trị kinh tế hoặc giá trị bảo tồn cao Về thống

kê thành phần loài có các công trình lớn như:

- Van Peenen và cs (1969) đã thống kê được 11 loài thú MGC ở các tỉnh miền Nam Việt Nam [101]

- Đặng Huy Huỳnh và cs (1981) đã thống kê được 8 loài thú MGC ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam [28]

- Đào Văn Tiến (1985) đã thống kê được 7 loài thú MGC ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam [55]

- Đặng Huy Huỳnh và cs (1994) đã thống kê được ở Việt Nam có 15 loài thú MGC [25]

- Đặng Ngọc Cần và cs (2008) thống kê được ở Việt Nam có 19 loài thú MGC [6]

Trang 36

Như vậy, cho đến nay các nhà khoa học đã thống kê được ở Việt Nam

có 19 loài thú MGC thuộc 12 giống và 5 họ (Bảng 1.2) Có thể danh sách này

đã thống kê đầy đủ các loài thú MGC có phân bố ở Việt Nam Tuy nhiên, phạm vi các khu vực cư trú của mỗi loài, cũng như tình trạng quần thể của chúng ở các địa phương đều chưa được khảo sát, đánh giá đầy đủ

Nghiên cứu về sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài thú MGC ở Việt Nam không có nhiều, một số công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất thuộc hướng này có:

- Lê Hiền Hào (1973) đã mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái của 6 loài thú MGC (Lợn rừng, Hươu xạ, Hoẵng, Nai đen, Hươu sao và Sơn dương) [20]

- Đặng Huy Huỳnh (1986) đã mô tả đặc điểm sinh học, sinh thái của 13 loài thú MGC ở Việt Nam (Bò tót, Bò rừng, Bò xám, Trâu rừng, Sơn dương, Nai đen, Nai cà tông, Hươu vàng, Hươu sao, Hoẵng, Hươu xạ, Cheo cheo kanchil, Lợn rừng) Đây là chuyên khảo đầy đủ nhất về sinh học, sinh thái các loài thú MGC Việt Nam [24]

- Đặng Huy Huỳnh và cs (1992) đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của chính các tác giả và những người khác về sinh học, sinh thái và kỹ thuật nuôi Hươu sao [32]

- Đặng Huy Huỳnh và cs (2008, 2010) đã cập nhật thông tin về sinh học, sinh thái của 16 loài thú MGC (Bò tót, Bò rừng, Bò xám, Trâu rừng, Sơn dương, Sao la, Nai đen, Nai cà tông, Hươu vàng, Hươu sao, Hoẵng, Mang lớn, Mang trường sơn, Hươu xạ, Cheo cheo kanchil, Lợn rừng) [27] [31]

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác nhưng chưa được công bố thành chuyên khảo như: Luận án phó tiến sỹ của Hoàng Minh Khiên (1987) [36] về sinh học, sinh thái của 3 loài thú MGC (Nai đen, Hoẵng, Cheo Cheo kanchil) ở vùng Kon Hà Nừng (Gia Lai); nghiên cứu của Trần Hồng Việt (1995) [60] về sinh học, sinh thái của Hươu xạ; luận án Tiến sỹ của

Trang 37

Nguyễn Mạnh Hà (2008) [18] về sinh học, sinh thái của Bò tót ở Việt Nam, luận án Tiến sỹ của Phạm Hữu Khánh (2010) [34] về Bò tót ở VQG Cát Tiên; nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đặng và cộng sự (2007, 2011) [15] [16] về sinh học sinh thái của Sao la ở Việt Nam,

Tóm lại, đã có một số công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của một số loài thú MGC ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa nhiều

và chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các loài thú MGC nguy cấp, quý, hiếm và có giá trị kinh tế, bảo tồn cao ở Việt Nam

1.4.2 Tình hình nghiên cứu thú MGC ở vùng nghiên cứu và lân cận

Vùng nghiên cứu của đề tài thuộc KBTTN-VH Đồng Nai với tổng diện tích là 100.304 ha, gồm 67.904 ha đất lâm nghiệp và 32.400 ha mặt nước hồ Trị An Khu bảo tồn có hệ sinh thái rừng đặc trưng của vùng miền Đông Nam

Bộ và là diện tích rừng mưa ẩm nhiệt đới cuối cùng còn sót lại ở miền Nam Việt Nam Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về tình trạng quần thể, sinh học, sinh thái và bảo tồn của các loài thú MGC trong KBTTN-VH Đồng Nai Chỉ có các cuộc khảo sát điều tra thành phần loài thú trong Khu bảo tồn, trong đó có quan tâm đến các loài thú MGC

Tổ chức WWF (2003) tiến hành điều tra tổng thể về đa dạng sinh học của ba Lâm trường Hiếu Liêm, Mã Đà và Vĩnh An để đề xuất thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu (nay là KBTTN-VH Đồng Nai) Trong đợt điều tra này, Lê Trọng Trải và Nguyễn Xuân Đặng (2000) [56] đã

ghi nhận có 5 loài thú MGC gồm: Lợn rừng (Sus scrofa), Nai đen (Rusa

unicolor), Mang (Muntiacus muntjak), Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil)

và Bò tót (Bos frontalis)

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2003) đã tiến hành điều tra về tổng thể tài nguyên động, thực

Trang 38

vật làm căn cứ xây dựng luận chứng Kinh tế -Kỹ thuật thành lập Khu bảo tồn

[62] Kết quả, đã ghi nhận có 6 loài thú MGC, gồm: Bò tót (Bos frontalis), Bò rừng (Bos javanicus), Nai đen (Rusa unicolor), Hoẵng (Muntiacus muntjak), Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil) và Lợn rừng (Sus scrofa)

Dự án Bảo tồn bò lớn hoang dã – Hợp phần Cát Tiên của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Quỹ Môi trường Toàn cầu của Pháp (FFEM) (2003 – 2007) [8],[9],[63] đã có một số chuyến khảo sát về Bò tót và Bò rừng trong KBTTN-VH Đồng Nai và đã ghi nhận sự có mặt của cả 2 loài này trong Khu bảo tồn (Pedro et al 2009) [93]

KBTTN-VH Đồng Nai (2007 – 2009) đã phối hợp với các Viện nghiên cứu, các trường Đại học trong nước và các tổ chức quốc tế tiến hành điều tra

về tài nguyên đa dạng sinh học của Khu bảo tồn Các cuộc khảo sát đã ghi nhận 8 loài thú MGC phân bố trong KBTTN-VH Đồng Nai, gồm: Lợn rừng, Cheo cheo kanchil, Hươu vàng, Mang thường, Nai đen, Bò tót, Bò rừng và

Sơn dương (Capricornis milneedwardsii) (Phân viện ĐTQHR 2004 [50], Phân

viện ĐTQHR 2009 [42][49], Đặng Huy Phương và cs 2010) [51], Nguyễn Hoàng Hảo và cs 2011 [21])

Ở các khu vực lân cận KBTTN-VH Đồng Nai, nghiên cứu về thú nói chung và thú MGC nói riêng tập trung chủ yếu ở VQG Cát Tiên và một số lâm trường xung quanh như Lâm trường La Ngà (Đồng Nai); Lâm trường Nghĩa Trung, Lâm trường Tân Lập (Bình Phước) Về điều tra thành phần loài thú MGC có các nghiên cứu của Ling (2000) [88], Murphy (2001) [69], Nguyễn Xuân Đặng và cs (2001) [14], Hayes (2004) [76] Các nghiên cứu này đã ghi nhận được 9 loài thú MGC có phân bố ở VQG Cát Tiên, gồm Lợn rừng, Cheo cheo kanchil, Nai đen, Hươu vàng, Hoẵng, Bò tót, Bò rừng, Sơn dương và Trâu

rừng (Bubalus arnee)

Trong đó, có 3 loài (Hươu vàng, Trâu rừng và Sơn dương) ghi nhận chưa khẳng định, mới chỉ thông qua phỏng vấn người dân

Trang 39

Riêng về các loài Bò hoang dã, Dự án Bảo tồn Bò hoang dã ở Việt Nam của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Quỹ Môi trường Toàn cầu của Pháp (FFEM) trong các năm 2006 – 2010 đã tổ chức nhiều đợt điều tra, đánh giá tình trạng quần thể Bò tót và Bò rừng ở VQG Cát Tiên, các khu vực lân cận

và đã ghi nhận được sự hiện diện của các loài này trong khu vực Phạm Hữu Khánh và cs (2007) [35], Nguyễn Văn Thanh (2009) [57] và Phạm Hữu Khánh (2010) [34] có các nghiên cứu về sinh học, sinh thái của loài Bò tót ở khu vực VQG Cát Tiên

Tóm lại, công tác nghiên cứu thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai và vùng lân cận mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát phát hiện thành phần loài và xác định các đe dọa đối với các loài và sinh cảnh Các nghiên cứu đã xác nhận khẳng định sự hiện diện của 8 loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai và vùng lân cận, chiếm 31,6% tổng số các loài thú MGC hiện biết ở Việt Nam Điều đó cho thấy vùng nghiên cứu có vai trò rất quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học khu hệ thú MGC ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn của các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu còn rất hạn chế, trừ một số nghiên cứu về loài Bò tót Đây là một trở ngại đáng kể cho công tác quản lý, bảo tồn thú MGC trong KBTTN-VH Đồng Nai

và vùng lân cận

Trang 40

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của Luận án là cung cấp dữ liệu khoa học làm cơ sở xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển quần thể các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai Các mục tiêu cụ thể của Luận án gồm:

- Xác định hiện trạng quần thể và sinh cảnh của các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài thú MGC có giá trị bảo tồn cao trong vùng nghiên cứu

- Xác định các yếu tố đe dọa đến quần thể và sinh cảnh của các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu và đề xuất các giải pháp bảo tồn

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra hiện trạng quần thể (số cá thể, độ phong phú) các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố theo sinh cảnh của thú MGC trong vùng nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái phân loại, trình tự AND gen ty thể, đặc điểm sử dụng sinh cảnh, thức ăn, sinh sản, sinh trưởng và tập tính hoạt động của loài Cheo cheo kanchil

- Điều tra các yếu tố tác động đến quần thể và sinh cảnh của các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các loài thú thuộc bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla) cư trú trong vùng nghiên cứu

Ngày đăng: 23/05/2021, 13:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w