1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”

72 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Tài Trợ Xuất Nhập Khẩu Tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi Nhánh TP.HCM
Trường học Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Thể loại Đề tài
Thành phố TP HCM
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 789,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến khi thực tập tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh TP.HCM, em nhận thấy hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu đã được ngân hàng xem là một trong những hoạt động chủ yếu tron

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài

Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia Hoạt động xuất nhập khẩu đã góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách, đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán giải quyết công ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu

Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là một hoạt động hết sức phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro Nó không chỉ chịu tác động của chính sách kinh tế trong nước mà còn chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm, nguồn luật khác nhau và bị ảnh hưởng mạnh theo sự biến động của thị trường quốc tế

Để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (XNK) cần phải nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng, muốn vậy có sự đầu tư thích đáng cho quá trình sản xuất, kinh doanh như đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị Nhưng trên thực tế, khả năng của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực này còn ít ỏi, các doanh nghiệp khó có thể tự đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, gia tăng thị phần xuất nhập khẩu Nắm bắt nhu cầu này các ngân hàng đã tham gia tích cực trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu

Việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế Thế giới, đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ mang lại nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta phát triển, hơn nữa còn tạo những cơ hội cho hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng TMCP Công Thương chi nhánh TP.HCM nói riêng Đồng thời cũng đặt ra những thách thức, thậm chí là nguy cơ bị thâu tóm, sáp nhập và phải rút khỏi thị trường nếu không đủ sức cạnh

tranh với hệ thống ngân hàng nước ngoài

Trong quá trình học tập tại trường, được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã tiếp thu được những kiến thức cơ bản về ngân hàng thương mại Đến khi thực tập tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh TP.HCM,

em nhận thấy hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu đã được ngân hàng xem là một trong những hoạt động chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của mình Chính vì thế em đã

Trang 2

mạnh dạn chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh TP.HCM”

Với nhận thức còn hạn chế, thực tế còn ít, vì vậy đề tài còn nhiều khiếm khuyết Vậy em kính mong được sự tham gia chỉ dẫn của thầy giáo hướng dẫn và giáo viên các bộ môn, Ban lãnh đạo và tập thể CBCNV ngân hàng TMCP Công Thương – chi nhánh TP.HCM góp ý kiến cho đề tài của em có được những vấn đề xác thực nhất

2/ Ý nghĩa thực tiễn và lí luận

Tài trợ xuất nhập khẩu là một hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng, hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu đẩy mạnh hoạt động ngoại thương trong thời gian tới đang là định hướng của các ngân hàng thương mại và các ngân hàng trong nước

“Nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh TP.HCM” là cần thiết cho sự phát

triển kinh tế đất nước

3/ Kết quả đạt được và những tồn tại

Với những giải pháp tôi đưa ra như: mở rộng và thu hút nguồn vốn huy động,

đa dạng hóa các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu, mở rộng đối tượng được tài trợ, hạn chế rủi ro, đẩy mạnh hoạt động Marketing Mix, cải tiến quy trình thủ tục, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lương phục vụ, trình độ chuyên môn, nâng cao chất lượng thẩm định dự án chỉ mới khắc phục được một số khó khăn và hạn chế về hoạt động Marketing, nguồn vốn tài trợ, nguồn nhân lực…Mặt tồn tại là vẫn còn một số khó khăn chưa khắc phục như: khó khăn trong tiếp cận các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài mới, sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trên địa bàn hoạt động và các ngân hàng nước ngoài…

4/ Dự kiến nghiên cứu tiếp tục

Với nội dung tôi nghiên cứu trên, tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu để cố gắng khắc phục các khó khăn còn tồn tại vì thời gian nghiên cứu không nhiều và chưa đủ kiến thức để tìm ra những giải pháp hay để khắc phục những khó khăn đó Và tôi muốn nghiên cứu thêm về nội dung thẩm định trong tài trợ xuất nhập khẩu vừa để nâng cao hoạt động tài trợ, vừa tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XNK nói riêng và cho hoạt động XNK của cả nước nói chung

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1/ Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được cấu trúc thành 4 chương Với chương đầu giới thiệu một cách tổng quát về đề tài nghiên cứu Ba chương sau là nội dung chính của đề tài Với chương II nội dung chính của nó là cơ sở lí luận của tài trợ xuất nhập khẩu sẽ góp phần làm nền tảng để có thể đi sâu nghiên cứu hoạt động tài trợ XNK thực tế tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM Qua những lí luận được chọn làm cơ sở tôi đã vận dụng ở chương III để phân tích thực trạng hoạt động tài trợ XNK tại chi nhánh, qua đó phát hiện những khó khăn tồn tại trong Chi nhánh,

từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tài trợ XNK tại Chi nhánh Những giải pháp mà tôi đưa ra, dự kiến sẽ đạt hiệu quả trong 3 năm tới từ năm 2010- 2012

1.2/ Tổng quan lịch sử nghiên cứu

Đối với đề tài của tôi trong lĩnh vực tài trợ XNK, đã có những anh chị đi trước

đã làm như:

Các Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Tài Trợ Xuất Khẩu Tại Chi Nhánh Ngân Hàng Ngoại Thương Đồng Nai

Giải Pháp Và Kiến Nghị Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Tín Dụng Tại Eximbank

Một Số Giải Pháp Mở Rộng Và Nâng Cao Hiệu Quả Tín Dụng Đối Với Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Tại NHCT KCN Biên Hòa

Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Tài Trợ XK Tại Chi Nhánh NHCT KCN Biên Hòa

Mở Rộng Và nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chiết Khấu Bộ Chứng Từ Thanh Toán Hàng XK Tại NHCT- Sở Giao Dịch II

Ngoài ra còn một số đề tài nữa, tuy nhiên đối với ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM – nơi tôi thực tập và viết bài nghiên cứu khoa

học thì tôi là người đầu tiên viết về đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh TP.HCM”

Trang 4

1.3/ Mục tiêu nghiên cứu:

Đánh giá hiệu quả hoạt động tài trợ XNK tại ngân hàng Vietinbank, chi nhánh TP.HCM Từ đó phát hiện ra những mặt hạn chế và đề xuất những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tài trợ XNK của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM

1.4/ Những tư liệu được sử dụng

Các báo cáo về tình hình nhân sự, tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình huy động vốn của chi nhánh trong thời gian qua, tình hình xuất khẩu theo phương thức …được lấy từ phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Kinh doanh, phòng Xuất nhập khẩu của ngân hàng qua các năm 2007, 2008, 2009

Các tài tiệu lý thuyết tham khảo được trích dẫn trong các tài liệu đáng tin cậy:

- Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương- TS Nguyễn Văn Nam

- Nghiệp vụ ngân hàng thương mại – TS Nguyễn Minh Kiều

- Quản trị rủi ro tài chính ngân hàng – TS Nguyễn Minh Kiều

Ngoài ra, đề tài nghiên cứu còn tham khảo các tạp chí sách báo, luận văn khóa trước, tài liệu trên thư viện ĐH Lạc Hồng, thư viện Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM …cùng một số trang web như: www.mofa.gov.vn,

www.tuoitre.com.vn, www.saga.com., www.vietinbank.vn

1.5/ Phương pháp nghiên cứu

+Phương pháp thu thập thông tin

+Phương pháp quan sát

+Phương pháp phỏng vấn

+Phương pháp phân tích, so sánh

1.6/ Giới hạn phạm vi đề tài nghiên cứu

- Về không gian: đề tài được thực hiện tại ngân hàng TMCP Công Thương, chi nhánh TP.HCM

- Về thời gian: số liệu hoạt động của Chi nhánh cùng số liệu có liên quan trong năm 2007, 2008 và 2009

- Nội dung nghiên cứu: một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ XNK tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM

Trang 5

CHƯƠNG 2:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ

XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1/ Một số vấn đề cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu

2.1.1/ Sự cần thiết của hoạt động xuất nhập khẩu

Sự phát triển chung của xã hội nền kinh tế loài người trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa Trong đó sản xuất hàng hóa là bước phát triển của xã hội loài người khi nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều hàng hóa của nhau tăng cao Ban đầu chỉ là trao đổi hàng hóa giữa những người trong vùng, rồi tới miền, rồi lãnh thổ dần dần vượt qua biên giới quốc gia mà ngày nay gọi

là hoạt động thương mại quốc tế Không biết chính xác từ bao giờ đã xuất hiện hành

vi trao đổi hàng hóa giữa các thương nhân ở các quốc gia khác nhau nhưng trên bản

đồ thế giới thì từ thế kỉ thứ II Trước Công Nguyên đã vẽ nên huyết mạch thông thương buôn bán giữa những “thương nhân lạc đà” – đó là huyền thoại nổi tiếng về con đường tơ lụa nối liền Trung Hoa rộng lớn với vùng Tây Á kì bí Con đường tơ lụa được coi là một hệ thống những con đường thương mại lớn nhất thế giới thời cổ đại, nó được coi là cầu nối giữa hai nền văn minh Đông – Tây

Ngày nay, các dòng chảy hàng hóa không chỉ gói gọn trong vùng, miền hay bộ phận nhỏ trên bản đồ thế giới mà nó trải dài hầu như ở tất cả các quốc gia và ngày càng đa dạng bởi không chỉ hàng hóa hữu hình mới có thể lưu thông mà bao gồm cả những hàng hóa vô hình cũng được trao đổi Hoạt động thương mại quốc tế hiện nay được tăng cường như là xu hướng chung của sự phát triển và được xem như là ý nghĩa cơ bản của “toàn cầu hóa” Tuy đã trải qua hàng thế kỷ hình thành và phát triển, nhưng hoạt động thương mại quốc tế cơ bản chỉ là hành vi mua bán – trao đổi hàng hóa, dịch vụ qua biên giới quốc gia hay lãnh thổ mà việc đưa hàng hóa từ trong nước ra tiêu thụ ở nước khác gọi là xuất khẩu và mua hàng hóa của nước ngoài vào trong nước gọi là nhập khẩu

2.1.1.1.Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế

2.1.1.1 Hoạt động xuất khẩu:

Trong lí luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF

là việc bán hàng hóa cho nước ngoài

Trang 6

• Các nhân tố tác động:

Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không thay đổi, trị giá xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng dốc) thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên Tỷ giá hối đoái tăng (tức

là tiền tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ) thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi

• Xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế:

Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại nhu) Mức độ phụ thuộc vào một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân Đối với những nền kinh tế mà nhu cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Chính vì thế nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Tuy nhiên xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến khích các nước phải dựa

nhiều hơn nữa vào nhu cầu nội địa.[ 13]

2.1.1.1.2, Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam:

Kinh tế Việt Nam trong những năm đầu sau chiến tranh là một nền kinh tế đóng theo chế độ tập trung bao cấp, trì trệ, kiềm hãm sự phát triển của các thành phần kinh tế Có thể nói Đại hội Đảng lần thứ X năm 1986 là một bước ngoặc đưa kinh tế nước ta sang trang mới, công nhận nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, cho phép các thành phần kinh tế tự do hoạt động theo khuôn khổ pháp luật… Bên cạnh đó Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ , chấm dứt hoạt động cấm vận đối với Việt Nam đã tạo điều kiện thông thương hàng hóa giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Trong bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta nhận thấy rõ việc mở cửa hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội để nước ta phát triển chủ trương đẩy mạnh lực lượng, phát huy hết mọi khả năng để thu hút đầu tư nước ngoài và một phần không thể thiếu của kinh tế đối ngoại là lấy xuất khẩu làm mũi nhọn đẩy nhanh hoạt động sản xuất

Trang 7

kinh doanh Hoạt động xuất khẩu đã mang lại nhiều lợi ích cho sự phát triển kinh tế

xã hội Việt Nam như sau:

- Góp phần đẩy nhanh sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, tăng sản lượng sản phẩm, tạo nhiều việc làm cho nhiều lao động trình độ thấp, giải quyết phần nào tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn đầu khó khăn của đất nước

- Tạo nguồn thu ngoại tệ dồi dào cho nền kinh tế, là cơ sở cho các hoạt động buôn bán ngoại tệ diễn ra sôi động cũng như các hoạt động về ngoại hối của các ngân hàng thương mại

- Là động cơ để nâng cao vị thế cạnh tranh của nước ta trên trường quốc tế, mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia, tạo cơ hội cho hợp tác đầu tư song phương, đa phương giữa Việt Nam và thế giới

- Tận dụng được lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, năng động, tài nguyên phong phú và các ngành nghề truyền thống để quảng bá

về hình ảnh của Việt Nam với thế giới

- Là một kênh quan trọng tạo điều kiện giao lưu, hợp tác về kinh tế, xã hội, văn hóa với các nền văn hóa tiên tiến Tiếp thu những tiến bộ để phục vụ cho việc đẩy

nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…[ 3 – trang 147]

2.1.1.2, Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế:

2.1.1.2.1, Hoạt động nhập khẩu:

Trong lí luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch

vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước Tuy nhiên theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại

• Đơn vị tính khi thống kê về nhập khẩu

Thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định Đôi khi nếu chỉ xét trong một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng (cái, tấn…)

Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái Thu nhập của người dân trong nước càng cao thì nhu cầu của người dân đối với

Trang 8

hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu ngày càng cao Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng cao, do đó nhu cầu nhập khẩu giảm đi

• Mức độ nhập khẩu của một quốc gia được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu

và tổng thu nhập quốc dân

2.1.1.2.2, Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế Việt Nam:

• Nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu sẽ làm thâm hụt cán cân thanh toán của một quốc gia, tuy chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu nhưng chúng ta không thể phủ nhận một số vai trò tích cực của hoạt động nhập khẩu đối với chúng ta

• Đứng trên cương vị là người tiêu dùng, nhập khẩu hàng hóa của nước khác tạo cho họ nhiều sự lựa chọn hơn

• Nhập khẩu còn tạo ra động lực nhằm tăng tính năng động của thị trường vì khi đó cạnh tranh sẽ buộc những nhà sản xuất trong nước phải nhập cuộc để giành lại thị phần

• Nước ta đang trên đà phát triển, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên nhất thiết không thể thiếu các sản phẩm khoa học, công nghệ hiện đại được nhập khẩu từ các nước tiên tiến Do đó, bên cạnh xuất khẩu thì nhập khẩu cũng có một số ảnh hường tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế nước ta

• Chúng ta cần có quan điểm rõ ràng về hoạt động xuất nhập khẩu để có những chính sách phù hợp với những cam kết khi gia nhập WTO, vừa có lợi cho nền sản xuất trong nước, vừa tận dụng được cơ hội mở rộng thị trường, phục vụ tốt cho sự

nghiệp phát triển đất nước [16]

2.1.2/ Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu

Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, hoạt động thương mại quốc

tế hay ngoại thương không còn đơn giản như việc mua bán hàng hóa thông thường trong nội địa vì khi hàng hóa di chuyển từ nước này sang nước khác phải trải qua nhiều khâu Quá trình đó phức tạp hơn bởi các đặc thù sau:

- Hàng hóa phải di chuyển qua biên giới quốc gia

- Áp dụng các phương thức thanh toán quốc tế như: chuyển tiền, ghi sổ, nhờ thu hay tín dụng chứng từ Phổ biến hiện nay là nhờ thu và tín dụng chứng từ

Trang 9

- Liên quan đén các đồng tiền khác nhau, dẫn đến việc mua bán, chuyển đổi ngoại tệ

- Quy tắc giao dịch tuân thủ luật lệ quốc tế, tuy nhiên không loại trừ những đặc điểm luật lệ riêng mang tính quốc gia

- Thủ tục buôn bán mang tính quốc tế là chủ yếu…

Ngày nay, trình độ phát triển nền kinh tế kéo theo sự cải thiện và nâng cao trong hoạt động ngoại thương, các nhà xuất nhập khẩu không trực tiếp giao dịch và thanh toán với nhau mà thông qua một định chế tài chính trung gian đó là ngân hàng

để hợp thức hóa theo chuẩn mực quốc tế nhằm giảm thiểu thời gian, chi phí và rủi ro

Do hoạt động ngân hàng đối ngoại gắn chặt hoạt động ngoại thương, hơn nữa, một thương vụ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, do đó sự tham gia của ngân hàng trong hoạt động ngoại thương gần như là tất yếu, đóng vai trò chủ chốt trong từng nghiệp

vụ phát sinh, cụ thể như sau:

- Trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, ngân hàng sẽ tham gia với vai trò là ngân hàng mở và nhận kí quỹ hay thông báo và xác nhận L/C

- Trên cơ sở đặt hàng hay một thư tín dụng, ngân hàng sẽ tham gia tài trợ cho nhà xuất khẩu

- Do các bên xuất khẩu - nhập khẩu ở xa nhau lại bị chi phối bởi các luật pháp khác nhau nên để bảo đảm thực hiện hợp đồng, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải phát hành thư bảo lãnh thưc hiện hợp đồng cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu

- Sau khi giao hàng, để đáp ứng vốn ngắn hạn cho nhà xuất khẩu duy trì hoạt động bình thường, ngân hàng tham gia tài trợ cho nhà xuất khẩu thông qua nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất

- Nếu là xuất khẩu trả chậm thì ngân hàng sẽ tài trợ cho nhà xuất khẩu thông qua nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu đã được chấp nhận còn thời hạn

- Nếu đồng tiền thanh toán không phải là bản tệ thì ngân hàng sẽ cung cấp các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ để:

+ Nhà nhập khẩu mua ngoại tệ thanh toán cho hàng xuất khẩu + Nhà xuất khẩu bán ngoại tệ nhận bản tệ để trang trải các chi phí đầu vào

- Thông qua ngân hàng việc thanh toán giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu được thực hiện…

Trang 10

Bên cạnh đó với hệ thống các ngân hàng đại lí rộng khắp được củng cố quan

hệ chặt chẽ và cơ sở vật chất trang bị đầy đủ, hệ thống kĩ thuật và công nghệ hiện đại; các ngân hàng cấp nhiều hơn cho các khách hàng của họ các dịch vụ tiện ích phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu Do đó, vai trò quan trọng của ngân hàng trong hoạt động thông thương của các quốc gia ngày càng được khẳng định nhất là đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu – một trong những ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế các nước đang phát triển

2.1.3/ Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu

- Nguồn tín dụng tài trợ thương mại từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), đặc biệt vào năm 2009 Việt Nam được lựa chọn vào Chương trình hỗ trợ tài chính thương mại của ADB

- Các khoản vay có bảo lãnh từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện hợp đồng thương mại được dễ dàng và nhanh chóng

- Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu của Chính phủ giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh để xuất khẩu

- Các dự án phát triển kinh tế do các đối tác nước ngoài tài trợ

2.2/ Khái quát về ngân hàng thương mại

2.2.1/ Ngân hàng thương mại:

Luật Các Tổ Chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997, định nghĩa:

Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn

bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luật này còn định nghĩa:

Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt đông kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung

ứng các dịch cụ thanh toán.[4 – trang 15]

Luật Tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì khái niệm này đã được định nghĩa trong Luật Ngân Hàng Nhà Nước cũng do Quốc hội khóa X

thông qua cùng ngày Luật Ngân Hàng Nhà Nước định nghĩa: Hoạt động ngân hàng

là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là

Trang 11

nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán [4

– trang 15]

Nhìn chung NHTM có 3 chức năng cơ bản: chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền, chức năng sản xuất Trong đó chức năng trung gian tài chính và chức năng tạo tiền là chức năng cơ bản của NHTM

- Chức năng trung gian tài chính: NHTM đóng vai trò trung gian giữa các khách hàng với nhau hoặc trung gian giữa ngân hàng Trung Ương và công chúng khi thực hiện các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ bao thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới khác

- Chức năng tạo tiền: tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ, góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế

- Chức năng sản xuất: bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo

ra “sản phẩm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế Các sản phẩm và dịch

vụ NHTM có thể cung cấp bao gồm:

+ Các sản phẩm huy động vốn như tiền gửi và chứng từ có giá các loại + Các sản phẩm cấp tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, cho thuê tài chính…

+ Các sản phẩm thẻ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ ATM…

+ Các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế…

+ Các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ như các hợp đồng giao ngay, kỳ

hạn, hoán đổi, giao sau, quyền chọn…[ 4 –trang 20; 21]

2.2.2/ Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại:

[4- trang 29 – 36]

NHTM là tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động tiền gửi của công chúng,

sử dụng tiền gửi huy động được cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ tài chính khác Các hoạt đông cơ bản của NHTM bao gồm:

- Hoạt động huy động vốn: dưới các hình thức:

Trang 12

+ Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

+Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nước ngoài

+ Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng Nhà Nước

+ Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước

- Hoạt động cấp tín dụng

+ Bảo lãnh + Chiết khấu + Cho thuê tài chính + Bao thanh toán + Tài trợ nhập khẩu

+ Tài trợ xuất khẩu

+ Cho vay thấu chi

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng

- Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: bao gồm các hoạt động:

+ Cung cấp các phương tiện thanh toán + Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng + Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước

+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân Hàng Nhà Nước cho phép

+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng + Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước

+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân Hàng Nhà Nước cho phép

Trang 13

- Các hoạt động khác bao gồm:

+ Góp vốn và mua cổ phần + Tham gia thị trường tiền tệ + Kinh doanh ngoại hối

+ Ủy thác và nhận ủy thác + Cung ứng dịch vụ bảo hiểm + Tư vấn tài chính

+ Bảo quản vật quý giá

2.3./ Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại 2.3.1/ Hoạt động tài trợ xuất khẩu

2.3.1.1/ Khái niệm tài trợ xuất khẩu:

Tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thương mại là một hình thức tài trợ thương mại, kỳ hạn gắn với thời gian thực hiện thương vụ xuất khẩu, đối tượng nhận tài trợ là các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hoặc ủy thác, giá trị tài trợ thường ở mức vừa và

lớn [4 – trang 516]

Tài trợ xuất khẩu của NHTM là một bộ phận trong tài trợ ngoại thương Tài trợ ngoại thương bao gồm các hoạt động mang tính chất tài trợ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu đặc thù về tài chính và uy tín trong kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong quá trình giao dịch ngoại thương

Quá trình giao dịch ngoại thương là toàn bộ diễn biến của thương vụ xuất khẩu (đối với bên bán) và nhập khẩu (đối với bên mua) bao hàm cả các giao dịch kinh doanh trước và sau thương vụ xuất khẩu, có tính chất gắn liền với thương vụ xuất khẩu đó Đối với người xuất khẩu, đó là quá trình thu mua hàng xuất khẩu, mua vật tư nguyên liệu để xuất khẩu, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ xuất khẩu…hoặc gia hạn bảo hành, bảo trì đối với dự án xuất khẩu máy móc hoặc xây

dựng cơ xưởng ở nước ngoài [2- trang 423]

2.3.1.2/ Đối tượng được tài trợ xuất khẩu: [2 - trang 425]

Là những nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt của khách hàng trong quá trình kinh doanh xuất khẩu (quá trình thu gom hàng cũng như chế biến hàng hóa chuẩn bị xuất khẩu), nhất là đối với những khách hàng là các tổ chức xuất khẩu lớn, có uy tín, có

Trang 14

những hợp đồng xuất khẩu liên tục, thường có nhu cầu vốn ngay để tiếp tục sản xuất kinh doanh bình thường

Và khách hàng để nhận được tài trợ phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Doanh nghiệp phải được phép kinh doanh xuất khẩu

- Nếu doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh xuất khẩu thì phải có hợp đồng ủy thác xuất khẩu

- Dự án phải có hiệu quả kinh tế, xác định được nguồn trả nợ, kết quả sản xuất kinh doanh của khách hàng không bị lỗ, không có nợ quá hạn ngân hàng

2.3.1.3/ Vai trò tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thương mại:

Với hoạt động xuất khẩu ngày càng đa dạng, phức tạp và có sự cạnh tranh gay gắt, vai trò hỗ trợ của các ngân hàng thương mại là cực kì quan trọng Các ngân hàng không những hỗ trợ về mặt tài chính (cấp tín dụng ) để hoàn tất nghĩa vụ thanh toán

và sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại mà còn hỗ trợ về mặt kĩ thuật, đảm bảo các quá trình thanh toán cho những hoạt động chu chuyển với nước ngoài, đồng thời

đảm nhận những rủi ro gắn liền với những hoạt động đó [2 – trang 147]

Với những hợp đồng xuất khẩu có giá trị lớn và vừa, vốn lưu động của khách hàng (các doanh nghiệp) thường là không đủ để thực hiện hợp đồng, họ sẽ nhờ đến nguồn vốn của ngân hàng thông qua việc tài trợ Ngân hàng khi đó sẽ vừa đóng vai trò ngân hàng phục vụ cho nhà xuất khẩu, vừa là ngân hàng tài trợ cho việc thực hiện hợp đồng Đồng thời với quá trình tài trợ, để bảo đảm nguồn vốn tài trợ được sử dụng đúng mục đích, quản lí được nguồn thu, ngân hàng sẽ tham gia thanh toán quốc tế với vai trò là ngân hàng thương lượng (negotiating bank), ngân hàng nhờ thu (collecting

bank)…[4 – trang 517]

Là một thành viên hoạt động trong lĩnh vực quốc tế, hoạt động ngân hàng trong tài trợ xuất khẩu đã có đóng góp đáng kể đối với nền kinh tế đất nước trên nhiều phương diện Trong đó bằng việc cung cấp các dịch vụ ở nước ngoài (gọi là xuất khẩu vô hình ) đã đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập quốc gia và điều quan trọng hơn là hoạt động tài trợ này đã thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hóa, mang lại một

nguồn thu nhập lớn cho quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế [4 – trang

517]

Trang 15

2.3.1.4/ Các hình thức tài trợ xuất khẩu 2.3.1.4.1/Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C

đã mở

Khi nhận được LC do ngân hàng mở LC phát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu thì nhà nhập khẩu được bảo đảm thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ chứng từ phù hợp điều kiện ghi trong LC Mỗi lô hàng giao ra nước ngoài đều đòi hỏi một loại tài trợ nào đó trong quá trình sản xuất và vận chuyển Nhà xuất khẩu có thể dựa vào LC đã mở để yêu cầu ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng nhằm thực hiện xuất khẩu hàng theo các điều khoản đã quy định trong LC Trên cơ sở LC

đã được chấp nhận ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu để tiếp tục sản

xuất [ 4 – trang 518]

Đối tượng được tài trợ là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ xuất khẩu có nhu cầu bổ sung vốn lưu động để thu mua, sản xuất, gia công, cung ứng hàng hóa dịch vụ xuất khẩu

Trị giá khoản tài trợ thường từ 60-70% giá trị hợp đồng xuất khẩu Doanh nghiệp có uy tín có thể thế chấp, đảm bảo khoản tài trợ bằng hợp đồng xuất khẩu hoặc LC

2.3.1.4.2/ Chiết khấu hối phiếu

Chiết khấu hối phiếu là một hình thức tín dụng của ngân hàng cấp cho khách hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán bằng việc khách hàng chuyển quyền sở hữu hối phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá hối phiếu trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu mà ngân hàng

chiết khấu hưởng [ 4 – trang 518]

Chiết khấu hối phiếu tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng (bán chịu hàng hóa) cung ứng hàng đã cấp cho nhà nhập khẩu

Nét đặc trưng của nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu là ngân hàng sẽ khấu trừ tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số tiền còn lại

Công thức xác định chiết khấu:

Lck Tck = M (1 - - * t ) – P

360

Trang 16

Trong đó:

Tck : Giá trị chiết khấu

t : Thời gian chiết khấu (ngày)

P : Lệ phí chiết khấu

M : Mệnh giá hối phiếu Lck : Lãi suất chiết khấu (năm) Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền hối phiếu

2.3.1.4.3/ Chiết khấu chứng từ thanh toán theo hình thức tín dụng chứng từ

Chiết khấu bộ chứng từ là hình thức ngân hàng tài trợ cho nhà xuất khẩu thông qua việc mua lại hay cho vay trên cơ sở bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người xuất khẩu xuất trình

Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng có thể yêu cầu ngân hàng chiết khấu tức là ứng trước số tiền thanh toán trên bộ chứng từ xuất khẩu Số

tiền chiết khấu được trả bằng ngoại tệ, có thể lên tới 90-95% trị giá bộ chứng từ [4 –

trang 518]

Có 2 hình thức chiết khấu bộ chứng từ:

a/ Chiết khấu bảo lưu truy đòi

Muốn được chiết khấu bảo lưu truy đòi phải thỏa mãn các điều kiện:

- Bản gốc LC và tất cả bản gốc sửa đổi LC phải được xác thực bởi NHTB và được xuất trình với bản gốc thông báo LC của NHTB

- LC còn hiệu lực, số dư chưa thanh toán

- LC cho phép thanh toán ngay hoặc trả chậm 90 ngày

- Các quy định trong LC rõ ràng, cụ thể, hạn chế những điều khoản mang lại rủi ro cho ngân hàng chiết khấu và người thụ hưởng

- LC quy định vận đơn lập theo lệnh NHPH hoặc tất cả vận đơn bản gốc được xuất trình qua ngân hàng

- Thị trường truyền thống có quan hệ thương mại với Việt Nam và không nằm trong danh sách bị cấm vận bởi Liên Hợp Quốc/ Mỹ/ EU hoặc khu vực có chiến tranh, bất ổn định chính trị

Trang 17

- Khách hàng có tài chính rõ ràng, hoạt động kinh doanh tốt, có khả năng hoàn trả khoản tiền mà ngân hàng đã chiết khấu khi NHPH/ NHXN từ chối thanh toán

[ 9 – trang 125]

b/ Chiết khấu miễn truy đòi

Ngân hàng sẽ không đòi lại tiền chiết khấu đã ứng cho doanh nghiệp nếu phía nước ngoài không trả tiền Tuy nhiên số tiền chiết khấu trong trường hợp này thấp hơn nhiều so với chiết khấu truy đòi, thường không quá 80% trị giá bộ chứng từ xuất khẩu

Bộ chứng từ hàng xuất muốn được chiết khấu miễn truy đòi phải là bộ chứng

từ theo LC và đảm bảo một số điều kiện:

- Chứng từ phải phù hợp hoàn toàn với các điều khoản, điều kiện của LC

- LC phải yêu cầu vận tải đơn lập theo lệnh của NHPH LC và toàn bộ vận đơn gốc xuất trình qua ngân hàng chiết khấu

- NHPH LC phải là ngân hàng có uy tín, thường xuyên giao dịch và có quan hệ tốt với ngân hàng chiết khấu

- Nhà xuất khẩu cung cấp đầy đủ thông tin, báo cáo liên quan nhà nhập khẩu, xem xét đánh giá tính trung thực của giao dịch, chất lượng hàng hóa, uy tín người bán

- Thời hạn chiết khấu:

+ LC trả ngay: tối đa 60 ngày + LC trả chậm: căn cứ thời hạn thanh toán chứng từ cộng thêm 30 ngày

- Cần xem xét các thông tin liên quan đến mặt hàng xuất khẩu và giá cả trên thị trường vào thời điểm chiết khấu, đồng thời thực hiện các biện pháp đảm bảo như cầm cố, thế chấp tài sản khách hàng hoặc bên thứ 3 hay bảo lãnh bên thứ 3 nếu cần

- Không chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu các mặt hàng do nhà nước cấm xuất khẩu, xuất khẩu sang các nước bị cấm vận hay bộ chứng từ xuất khẩu xuất trình LC

chuyển nhượng.[ 9 – trang 126]

2.3.1.4.4/ Cho vay trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu

Hầu hết các ngân hàng sẵn sàng cấp các khoản thấu chi cho các khách hàng xuất khẩu thực hiện các hợp đồng mà thời hạn thanh toán lên đến 6 tháng Khi một

Trang 18

ngân hàng xử lí chứng từ bằng cách chuyển chúng cho một ngân hàng đại lí ở nước ngoài để nhờ thu, ngân hàng sẵn sàng cung cấp một khoản ứng trước theo một tỷ lệ phần trăm thỏa thuận tính trên các khoản nhờ thu tồn đọng còn chưa nhận tiền Trong một số trường hợp, vật bảo đảm được chấp nhận cho những khoản ứng trước sẽ là các chứng từ gửi hàng đem lại quyền kiểm soát hàng hóa cùng với các tờ hối phiếu đang

trong quá trình nhờ thu [4 – trang 518]

Phương thức này cũng có nhiều điểm tương tự như hình thức chiết khấu bộ chứng từ thanh toán theo hình thức tín dụng chứng từ Tuy nhiên trong trường hợp bộ chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu thì một số ngân hàng sử dụng cụm từ

“Ứng trước tiền hàng xuất khẩu” và công việc thẩm định sẽ giao cho phòng tín dụng phụ trách Và đối với loại hình tài trợ này, vì mức độ rủi ro rất cao nên lãi suất tài trợ cũng cao hơn so với các loại hình tài trợ khác, ngoài ra để được tài trợ khách hàng

cũng cần có tài sản bảo đảm [4 – trang 519]

2.3.1.4.5/ Thuận nhận ngân hàng (Banker’s aceptance)

Thuận nhận ngân hàng là hình thức tài trợ gắn liền với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Khi hối phiếu được doanh nghiệp kí phát cho ngân hàng, bằng việc kí chấp nhận hối phiếu, ngân hàng đã cam kết chi trả vô điều kiện một số tiền nhất định vào ngày nhất định trong tương lai Do đó hối phiếu này trở thành công cụ

có thể giao dịch trên thị trường [4 – trang 519]

Đây chính là nghiệp vụ thuận nhận ngân hàng – một hình thức tài trợ của ngân hàng cho nhà xuất khẩu, để họ có thể sử dụng hối phiếu đã được chấp nhận bằng cách chiết khấu, hay bán trên thị trường

Điểm nổi bật của thuận nhận ngân hàng là có thể huy động được nguồn vốn tài trợ từ thị trường tiền tệ chứ không chỉ giới hạn trong nguồn vốn của NHTM

2.3.1.5/ Một số hình thức tài trợ xuất khẩu đặc biêt khác:

[2- trang 421, 461]

Đây là các dạng tài trợ hiện nay đang được các ngân hàng thương mại nước ta chú ý phát triển, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ cung cấp khách hàng nhằm thỏa mãn một cách hiệu quả nhất nhu cầu khách hàng:

Trang 19

a/ Bao thanh toán (Factoring)

Là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã dược bên bán

và bên mua thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa [4 – trang 462]

Gồm có 4 loại:

- Bao thanh toán truy đòi (recourse factoring )

- Bao thanh toán miễn truy đòi (non- recourse factoring )

- Bao thanh toán ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu

- Bao thanh toán khi đáo hạn

Bao thanh toán thường áp dụng cho các khoản thanh toán có thời hạn ngắn (không quá 6 tháng), không sử dụng L/C hoặc hối phiếu Chi phí thực hiện bao thanh toán gồm hai loại: chi phí chiết khấu được tính trên số tiền ứng trước theo mức lãi suất tương đương lãi suất cho vay, và phí Factoring là chi phí hành chính quản trị với mức độ tối đa là 0,5% giá trị hóa đơn thương mại

b/ Tín dụng thuê mua (Leasing)

Là một hợp đồng thương mại, trong đó người cho thuê đồng ý cho người đi thuê được quyền sử dụng tài sản trong một khoảng thời gian nhất định để đổi lấy một

chuỗi thanh toán định kì [4 – trang 421]

Khách hàng tiềm năng của ngân hàng là các doanh nghiệp hoặc công ty có nhu cầu đầu tư hoặc mua sắm tài sản cố định nhưng nhu cầu sử dụng tài sản không thường xuyên, hoặc khách hàng sử dụng tài sản thường xuyên nhưng đang kẹt nguồn vốn để đầu tư tài sản đó

c/ Bảo hiểm tín dụng xã hội

Là việc nhà xuất khẩu đóng phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm (thường công

ty này thuộc quyền sở hữu của NHTM ) theo thỏa thuận đối với một hay nhiều rủi ro nhất định Sau đó nhà xuất khẩu sử dụng bảo hiểm này làm chứng từ thế chấp khi đến ngân hàng vay vốn Thực chất nhà xuất khẩu bảo hiểm chuyển giao cho ngân hàng

đòi tiền trong trường hợp nhà nhập khẩu không thanh toán tiền hàng [4 – trang 623]

Mục tiêu:

+ Bảo vệ nhà xuất khẩu trước rủi ro người mua không thanh toán tiền hàng

Trang 20

+ Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng những điều khoản mang tính cạnh tranh

+ Hỗ trợ quá trình thâm nhập của giới xuất khẩu vào thị trường nước ngoài có rủi ro cao

+ Giúp các nhà nhập khẩu và ngân hàng tài trợ có khă năng linh hoạt hơn về tài chính trong xử lí các khoản nợ với nước ngoài

d/ Bao tiêu (Forfaiting)

Áp dụng đối với trường hợp xuất khẩu tư liệu sản xuất và máy móc thiết bị

Cơ chế này bao gồm: nhà xuất khẩu, ngân hàng bao tiêu, ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu

Sau khi nhận được đơn đặt hàng từ nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu gặp một ngân hàng bao tiêu để yêu cầu tài trợ Giả sử đơn đặt hàng thực hiện trong vòng 5 năm, ngân hàng bao tiêu dễ chấp nhận chiết khấu các hối phiếu của nhà xuất khẩu cho cả thời hạn 5 năm Ngân hàng có thể tính lãi cố định và tài trợ lên đến 100% giá trị hối phiếu Tuy nhiên ngân hàng bao tiêu yêu cầu ngân hàng nhà nhập khẩu bảo lãnh cho nhà xuất khẩu hoàn trả vốn vay và không để nợ khó đòi phát sinh Những bảo lãnh này rất quan trọng vì đây là tài trợ xuất khẩu miễn truy đòi Nghĩa là khi nhà nhập khẩu không thanh toán được thì chính ngân hàng chứ không phải nhà xuất khẩu

chịu thiệt thòi [2 – trang 431]

e/ Ngoài ra còn có:

- Ngân hàng sẽ cho vay thu mua hàng xuất khẩu, mua nguyên vật liệu để sản xuất, cho vay đầu tư nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, cho vay bảo trì đối với các dự án chiến lược về máy móc thiết bị nhà xưởng ở nước ngoài

- Cho vay nộp thuế xuất khẩu

- Giúp khai báo thuế, hỗ trợ về mặt chuyên môn và các hỗ trợ cần thiết khác như: dịch vụ vận chuyển chuyển giao hàng hóa, cho thuê kho bãi…

- Giúp quản lí nợ, quản lí sổ cái bán hàng, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng, xếp hạn mức tín dụng và thu hộ

2.3.1.6/ Rủi ro trong tài trợ xuất khẩu:

Hoạt động ngoại thương thường đương đầu với nhiều rủi ro khác nhau Hoạt động tài trợ ngoại thương gắn liền với hoạt động thương mại quốc tế, vì thế rủi ro

Trang 21

trong tài trợ ngân hàng cũng bắt nguồn từ rủi ro trong quá trình kinh doanh thương mại Bên cạnh rủi ro cho kinh doanh ngoại thương, ngân hàng còn chịu rủi ro bên

trong môi trường ngân hàng và các thao tác nghiệp vụ ngân hàng [13]

a/ Rủi ro trước khi giao hàng: là việc doanh nghiệp không thể tiến hành

giao hàng đúng thời hạn hợp đồng Rủi ro này gắn liền quá trình sản xuất của doanh nghiệp Nguyên nhân:

- Người mua phá vỡ hợp đồng trước ngày giao trong khi nhà xuất khẩu đã chuẩn bị hàng hóa So với các hợp đồng trong nước thì nguy cơ phá vỡ các cam kết của hợp đồng này thường cao hơn đối với doanh nghiệp xuất khẩu

- Doanh nghiệp xuất khẩu không huy động đủ vốn cho quá trình sản xuất hoặc không có được tài sản đảm bảo cần thiết để được ngân hàng cấp tín dụng nên doanh nghiệp không thể thực hiện hợp đồng

- Do thiếu hụt ngoại tệ nên không nhập nguyên liệu kịp Yếu tố này phụ thuộc vào chính sách ngoại hối của ngân hàng nhà nước trong trường hợp gặp khó khăn về cán cân thanh toán Điều này thường thấy ở các nước đang phát triển, nơi có nhu cầu ngoại tệ cao

b/ Rủi ro sau khi giao hàng:

Là doanh nghiệp không thể nhận tiền thanh toán theo như dự định Nguyên nhân từ nhiều phía như nhà xuất khẩu, ngân hàng thanh toán, rủi ro từ quốc gia, rủi ro

về tỷ giá, rủi ro về hối đoái và chuyển tiền

- Rủi ro phía nhà nhập khẩu (rủi ro thương mại) liên quan uy tín bên mua và rủi ro từ chối nhận hàng Rủi ro từ chối nhận hàng có thể lấy cớ do bên xuất khẩu xuất trình chứng từ không phù hợp quy định trong hợp đồng, hoặc do không muốn hoàn thành giao dịch và cũng có thể ép bên bán giảm giá Khi giao hàng bị từ chối, nhà xuất khẩu phải chịu phí neo tàu tại cảng dỡ và phí chậm dỡ hàng

- Rủi ro thanh toán: phát sinh do phương thức thanh toán và năng lực của nhà nhập khẩu Khi thanh toán bằng hình thức trả chậm, bên mua có thể chậm thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán vào thời điểm thanh toán

- Rủi ro từ ngân hàng thanh toán: mất khả năng thanh toán hay phá sản hoặc không thể thanh toán cho nhà xuất khẩu cho dù nhà nhập khẩu chấp nhận thanh toán

Trang 22

- Rủi ro quốc gia: phụ thuộc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Những yếu tố này sẽ làm cho việc giao hàng bên bán bị đình hoãn hoặc tình trạng mất khả năng thanh toán của bên nhập khẩu

- Rủi ro hối đoái và chuyển tiền: Giao dịch thương mại quốc tế bao giờ cũng thanh toán theo một loại tiền tệ nào đó khác đồng bản tệ của một hoặc cả hai bên mua bán Khi đó xuất hiện chuyển đổi ngoại tệ, từ đó xuất hiện rủi ro Rủi ro hối đoái bắt nguồn từ sự biến động bất lợi của tỷ giá gây tổn thất cho nhà xuất khẩu trong việc nhận tiền thanh toán Rủi ro chuyển tiền là tình trạng khan hiếm ngoại tệ hoặc sự quản lí hối đoái của chính phủ khan hiếm nên việc thanh toán hay nhận thanh toán không thực hiện ngay

2.3.2/ Hoạt động tài trợ nhập khẩu

2.3.2.1/ Khái niệm tài trợ nhập khẩu

Tài trợ nhập khẩu cũng là một bộ phận trong hoạt động tài trợ ngoại thương của các ngân hàng thương mại Nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu nhằm hỗ trợ về tài chính cùng với phương tiện, thủ tục giấy tờ liên quan để doanh nghiệp nhập khẩu có thể thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mua bán hàng hóa Giá trị tài trợ thường

ở mức vừa và lớn [4- trang 514]

2.3.2.2/ Đối tượng được tài trợ nhập khẩu:

Đối tượng được tài trợ nhập khẩu là nhu cầu về tiền của các nhà nhập khẩu để thanh toán cho bên xuất khẩu trong hợp đồng mua bán hàng hóa Thời hạn tài trợ thường là ngắn hạn

Đối tượng thường là:

+ Doanh nghiệp nhà nước

Trang 23

+ Các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia vào các hợp đồng liên doanh và tham gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam

Các tổ chức nhập khẩu muốn được nhận tài trợ cũng phải có một số điều kiện nhất định như có tư cách pháp nhân hay giấy phép kinh doanh nhập khẩu còn hiệu lực, nhập khẩu mặt hàng được phép nhập theo quy định của pháp luật và một số yêu cầu về khả năng tài chính để hoàn trả nợ vay [4- trang 514]

2.3.2.3/ Các hình thức tài trợ nhập khẩu:

2.3.2.3.1/ Mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu

Hình thức tài trợ nhập khẩu phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay là tín dụng chứng từ hay tín dụng thư (LC) Tín dụng thư là cam kết của ngân hàng mở LC đối với nhà xuất khẩu (theo yêu cầu của khách hàng nhập khẩu) rằng ngân hàng sẽ thanh toán cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu do nhà xuất khẩu kí phát nếu nhà xuất khẩu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với những điều kiện và điều khoản do ngân hàng mở LC chỉ ra LC do ngân hàng mở theo đề nghị

của nhà nhập khẩu.[4 – trang 515]

Nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng đủ số dư trên tài khoản để làm đảm bảo ( hay để kí quỹ) cho việc mở thư tín dụng Như vậy có thể nói việc mở thư tín dụng đã thể hiện sự tài trợ cho nhà nhập khẩu Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro nếu như nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán cho phía nước ngoài theo cam kết trong LC Do đó trước khi mở LC ngân hàng phải kiểm tra tình hình tài chính và khả

năng thanh toán, tình hình hoạt động của nhà nhập khẩu.[4 – trang 515]

2.3.2.3.2/ Bảo lãnh và tái bảo lãnh

Đây là hình thức tín dụng qua cam kết bằng chữ kí, có thể cho việc mở LC hay cho việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn

Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và

hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.[4 – trang 539]

Cam kết bảo lãnh: là văn bản bảo lãnh của tổ chức tín dụng Bao gồm:

+ Thư bảo lãnh

Trang 24

+ Hợp đồng bảo lãnh + Thư tín dụng dự phòng Tái bảo lãnh là việc ngân hàng phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng

do tổ chức tín dụng khác phát hành Trong đó, bảo lãnh đối ứng là cam kết tổ chức tín

dụng (bên phát hành bảo lành đối ứng) đối với một tổ chức tín dụng khác [9 – trang

78]

2.3.2.3.3/ Chấp nhận hối phiếu

Loại tín dụng này đảm bảo cho người hưởng tín dụng đươc sử dụng để thanh toán hối phiếu khi đến hạn Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu Đây là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính và ngân hàng chưa phải xuất tiền vay thực sự trong trường hợp này Nhà nhập khẩu phải vay mượn về mặt danh nghĩa

để có được sự chấp nhận trên hối phiếu của ngân hàng theo đề nghị của nhà xuất khẩu, và nhà nhập khẩu sẽ trả lệ phí cho khoản vay mượn này Khi tới hạn mà nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán thì lúc này ngân hàng phải cho nhà nhập khẩu vay Hối phiếu có sự chấp nhận của ngân hàng thể hiện sự đảm bảo chắc chắn

về khả năng thanh toán, từ đó làm tăng uy tín của hối phiếu trong lưu thông [4 –

trang 515]

2.3.2.3.4/ Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu

Ngân hàng sẽ cho doanh nghiệp vay ứng trước một phần để thanh toán cho người bán hay ứng trước tiền thuế nhập khẩu

Trong thanh toán theo phương thức nhờ thu, ngân hàng tiếp nhận chứng từ từ ngân hàng nước ngoài và xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu Nếu nhà nhập khẩu chưa thanh toán được và yêu cầu một sự tài trợ thì ngân hàng có thể cho vay

thanh toán hàng nhập khẩu trong trường hợp này [4 – trang 515]

Tuy nhiên khách hàng cần có tài sản đảm bảo cho khoản vay, bất động sản, những chứng từ có giá, một số tài sản khác…

2.3.2.4/ Một số hình thức tài trợ nhập khẩu đặc biệt khác 2.3.2.4.1/ Chuyển tiền đi

Ngân hàng chuyển tiền cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu chuyển tiền mậu dịch và phi mậu dịch hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh dịch vụ khi khách hàng hoàn tất hồ sơ chuyển tiền

Trang 25

Hình thức này thường áp dụng cho những đối tác đã có quan hệ kinh doanh

xuất nhập khẩu lâu dài và tin cậy [17]

2.3.2.4.2/ Tài trợ nhập khẩu thế chấp bằng chính lô hàng nhập

Tài trợ vốn ngắn hạn cho các doanh nghiệp thanh toán chi phí nhập nguyên vật liệu, vật tư, hàng hóa không có đủ bất động sản để thế chấp, có thể thế chấp bằng chính lô hàng nhập

Mặt hàng nhận thế chấp rất đa dạng: sắt thép, đồng nhôm, hạt nhựa, ô tô,

nguyên liệu thức ăn gia súc, giấy, bột giấy, xe cơ giới, thiết bị điện lạnh… [17]

2.3.2.4.3/ Tài trợ nhập khẩu trọn gói

Với hình thức này doanh nghiệp chỉ cần đàm phán giá, đặt hàng với đối tác nước ngoài và ung dung chờ hàng nằm gọn ghẽ trong kho

Thông thường các doanh nghiệp tiếp cận ngân hàng với mục đích mượn vốn,

sử dụng dịch vụ thanh toán, tìm sự hỗ trợ từ thư bảo lãnh tín dụng…Sau đó quy trình nhập khẩu được nối dài bởi những rắc rối về dịch vụ vận tải, bảo hiểm, kho bãi Quá trình này vừa mất nhiều thời gian, nhân lực, chi phí phát sinh Tài trợ trọn gói là sự cấu thành của nhiều sản phẩm riêng lẻ hiện có, gồm dịch vụ phát hành và thanh toán

LC, tài trợ vốn và cung ứng ngoại hối thanh toán LC, quản trị rủi ro ngoại hối bằng các công cụ phái sinh, dịch vụ tư vấn về ngoại thương, ngoại hối và thanh toán quốc

tế, dịch vụ quản lí hàng tại kho Hình thức này được bổ trợ thêm dịch vụ bảo hiểm và

vận tải.[13]

Lợi ích là các doanh nghiệp tiết kiệm được lượng thời gian đáng kể, tính toán được tổng chi phí, giúp định hình được hiệu quả kế hoạch Doanh nghiệp không cần phải lo lắng bước tiếp theo của giao dịch, mọi dịch vụ sẽ được ngân hàng tiến hành tuần tự

2.3.2.4.4/ Các hình thức tài trợ khác [14]

- Cho thuê kho bãi để chứa và bảo quản an toàn hàng hóa nhập khẩu với giá cho thuê phải chăng (nhờ lợi thế về quy mô số lượng khách hàng của ngân hàng) tại các địa điểm hay các địa phương khác nhau

Trang 26

- Giúp khai báo thuế ( thí dụ lập tờ khai và áp mã vạch thuế chính xác, nhanh chóng, nhận lại tiền hoàn thuế nếu nộp dư do cơ quan thuế tạm tính thuế phải nộp,…)

- Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kĩ thuật từ giúp soạn thảo hợp đồng thương mại, mua bảo hiểm cho suốt quá trình vận chuyển và chuyển giao hàng hóa, theo dõi và kiểm tra hóa đơn chứng từ cả về số lượng, quy cách và chất lượng…

- Các hỗ trợ khác do sự bất cập về tập quán, luật pháp…

2.3.2.5/ Rủi ro trong hoạt động tài trợ nhập khẩu [13]

Rủi ro trong hoạt động tài trợ nhập khẩu là tình trạng doanh nghiệp nhập khẩu trong quá trình thực hiện hợp đồng, gặp phải những rủi ro do sự biến động của các yếu tố bên ngoài:

a/ Rủi ro trước khi nhận hàng: là việc khách hàng không thể tiến hành

giao hàng đúng thời hạn hợp đồng Rủi ro này gắn liền quá trình sản xuất của doanh nghiệp Nguyên nhân:

- Người bán phá vỡ hợp đồng trước ngày giao trong khi nhà nhập khẩu đã chuẩn bị xong tiền hàng thanh toán Nhu cầu hàng hóa của nhà nhập khẩu không đáp ứng được, khiến cho doanh nghiệp bị tổn thất

- Thậm chí ngay cả khi ngân hàng đươc ủy nhiệm chiết khấu hay nhờ thu không thực hiện đúng quy cách quốc tế

- Có thể bị lừa đảo khi giao tiền mà không giao hàng

- Doanh nghiệp xuất khẩu không huy động đủ vốn cho quá trình sản xuất, không chuẩn bị kịp hàng hóa nên doanh nghiệp không thể thực hiện hợp đồng

- Do thiếu hụt ngoại tệ nên nhà xuất khẩu không nhập nguyên liệu kịp Yếu tố này phụ thuộc vào chính sách ngoại hối của ngân hàng nhà nước trong trường hợp gặp khó khăn về cán cân thanh toán Điều này thường thấy ở các nước đang phát triển, nơi có nhu cầu ngoại tệ cao

b/ Rủi ro sau khi nhận hàng:

- Rủi ro phía nhà xuất khẩu (rủi ro thương mại) liên quan uy tín bên bán và rủi

ro từ chối giao hàng Rủi ro từ chối giao hàng có thể lấy cớ do bên xuất khẩu không muốn hoàn thành giao dịch Khi giao hàng bị từ chối, nhà nhập khẩu phải tốn thời gian tìm nguồn hàng mới cho kịp quá trình sản xuất, tốn thêm chi phí

Trang 27

- Sau khi thanh toán xong, khi người nhập khẩu kiểm tra lại hàng phát hiện thấy thiếu hàng, hàng giả, hàng nhái, hàng kém phẩm chất, hay không đúng phẩm chất quy cách chất lượng

- Rủi ro thanh toán : Khi thanh toán bằng hình thức trả trước hoặc trả ngay, bên bán có thể chậm giao hàng hoặc không thể giao hàng vào thời điểm thanh toán

- Rủi ro quốc gia: phụ thuộc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Những yếu tố này sẽ làm cho việc giao hàng bên bán bị đình hoãn

- Rủi ro hối đoái và chuyển tiền: Rủi ro hối đoái bắt nguồn từ sự biến động bất lợi của tỷ giá gây tổn thất cho nhà nhập khẩu trong việc thanh toán tiền hàng Rủi ro chuyển tiền là tình trạng khan hiếm ngoại tệ hoặc sự quản lí hối đoái của chính phủ khan hiếm nên việc thanh toán không thực hiện ngay

2.3.3/ Rủi ro của ngân hàng tài trợ:

2.3.3.1/ Rủi ro tín dụng và tài sản đảm bảo tín dụng

- Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi khách hàng không có khả năng thanh toán bồi hoàn hoặc không thực hiện những nghĩa vụ cam kết Nguyên nhân là do ngân hàng đánh giá không đúng năng lực trả nợ hoặc tập trung quá mức tín dụng vào một ngành kinh tế, một khu vục địa lí hay một đối tượng khách hàng, dẫn đến ngân hàng không thu hồi vốn khi ngành hay đối tượng gặp khó khăn

- Rủi ro tài sản đảm bảo tín dụng

Ngân hàng tổn thất từ rủi ro có đảm bảo nếu không lưu tâm đến kiểm soát giá trị cũng như quản lí tài sản đảm bảo đó Thậm chí dù ngân hàng có kiểm soát tài sản đảm bảo tín dụng này hậu quả vẫn có thể tổn thất cho ngân hàng khi nó giảm giá trị

2.3.3.2/ Rủi ro do tập trung tín dụng: là loại rủi ro xảy ra khi

danh mục cho vay của ngân hàng thiếu đa dạng về chủ thể đi vay, thiếu đa dạng về ngành kinh tế, khu vực địa lí Việc bó hẹp phạm vi tài trợ đưa ngân hàng vào tình thế rủi ro

2.3.3.3/ Rủi ro quốc gia và chuyển tiền

Môi trường kinh tế, xã hội, pháp lí, chính trị của nước ngoài có thể tác động xấu đến khả năng của người đi vay trong việc thực hiện các nghiệp vụ tín dụng của mình

Trang 28

2.3.3.4/ Rủi ro hối đoái, lãi suất

+ Rủi ro hối đoái: là rủi ro tổn thất bắt nguồn từ biến động bất lợi tỷ giá những quy chế quản lí ngoại hối chính phủ Các khoản tài trợ ngoại tệ đang mất giá

dù được hoàn trả khiến ngân hàng chịu tổn thất lớn ngoài dự kiến

+ Rủi ro lãi suất: phát sinh từ biến động lãi suất và bất tương xứng về ngày tái lập lãi suất giữa các nguồn vốn ngân hàng đối với các khoản mục tài sản

kinh doanh [5 – trang 26]

2.3.3.5/ Rủi ro ủy thác và bảo quản chứng từ: ngân hàng

thường thay khách hàng nắm chứng từ quan trọng gồm cả chứng từ liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa đang giao dịch và lệnh đòi tiền Ngân hàng

có trách nhiệm bảo quản và kiểm soát nghiêm ngặt việc chuyển lưu chứng từ này

2.3.3.6/ Rủi ro tác nghiệp: phát sinh từ các dịch vụ thu phí của

ngân hàng, theo đó một sự sai sót hay bất cẩn sẽ khiến ngân hàng gánh chịu những tổn thất tài chính to lớn

Trang 29

Kết luận

Cơ sở lí luận của chương II gồm 4 phần:

- Phần một là những vấn đề cơ bản về hoạt động xuất nhập khẩu

- Phần hai là những nét khái quát về ngân hàng thương mại

- Phần ba là các khái niệm, đối tượng, vai trò, các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM và rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại

- Phần bốn là những rủi ro mà ngân hàng tài trợ gặp phải

Với những lí luận cơ bản về tài trợ xuất nhập khẩu được trình bày khá cụ thể trong chương II sẽ góp phần làm nền tảng để có thể đi sâu nghiên cứu hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu thực tế tai ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh

TP Hồ Chí Minh

Trang 30

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

– CHI NHÁNH TP.HCM 3.1/ Tổng quan về ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam– chi nhánh TP.HCM

3.1.1/ Lịch sử hình thành và phát triển:

3.1.1.1/ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam:

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam là một trong những NHTM Nhà nước lớn nhất của Việt Nam, thành lập năm 1988 và được nhà nước xếp hạng là doanh nghiệp đặc biệt Theo quyết định số 196/QĐ-NHNN ngày 16/01/2008 của NHNN Việt Nam, tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh của Ngân hàng TMCP Công

Thương Việt Nam được đổi thành :“ Viet Nam Joint Stock Commercial Bank for

Industry and Trade”, viết tắt là Vietinbank (tên giao dịch cũ là Industrial and

Commercial Bank of Vietnam, viết tắt là Incombank)

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam là Ngân Hàng Thương Mại Nhà Nước, được thành lập theo Quyết định số 402/CT ngày 14 tháng 11 năm 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng và được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký Quyết định số 285/QĐ-NH5 ngày 21 tháng 9 năm 1996 thành lập lại theo mô hình tổng công ty nhà nước, quy định tại Quyết định số 90/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 theo

ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, thời hạn hoạt động là 99 năm kể từ ngày được thành lập lại

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam có mạng lưới gồm 1 Sở giao dịch, 2 văn phòng đại diện, 141 chi nhánh, trên 700 phòng /điểm giao dịch, 287 quỹ tiết kiệm

và hơn 500 “ngân hàng giao dịch tự động” (ATM), 01 Trung tâm đào tạo, 01 trung tâm Công Nghệ Thông Tin ở hầu hết các tỉnh, thành phố và trung tâm thương mại trong cả nước, luôn là địa chỉ đáng tin cậy của cả người gửi tiền, người đi vay và người sử dụng dịch vụ ngân hàng Ngoài ra, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam còn là chủ sở hữu, cổ đông lớn của các công ty hàng đầu trên thị trường tài chính Việt Nam như: Công ty Chứng Khoán NHCT, Công ty quản lí nợ và khai thác tài sản, Công ty cho thuê tài chính NHCT, Công ty Liên doanh bảo hiểm Châu Á-

Trang 31

NHCT, Công ty liên doanh cho thuê tài chính quốc tế, Liên doanh ngân hàng Indovina, Liên doanh với ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương…Với quy mô này, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đại lí với 850 ngân hàng trên toàn thế giới, là thành viên của Hiệp hội ngân hàng châu Á, là thành viên của hệ thống thẻ Visa, Master và Hiệp hội tài chính viễn thông toàn cầu( SWIFT)

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam đã đầu tư tín dụng và kí hợp đồng hợp tác toàn diện với một số ngành công nghiệp mũi nhọn, các tập đoàn và tổng công

ty lớn như: Ngành điện, Ngành xi măng, Ngành dầu khí, Ngành đóng tàu, Ngành dệt may, Tập đoàn Than và Khoán sản, Tập đoàn bưu chính viễn thông và khoảng 66 tổng công ty nhà nước

Ngày 23 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định Số 1354/QĐ-TTg phê duyệt Phương án Cổ phần hóa Ngân hàng Công thương Việt Nam Ngân hàng Công thương Việt Nam tiến hành cổ phần hóa theo hình thức giữ nguyên vốn nhà nước hiện có, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn theo nguyên tắc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, không thấp hơn 51% vốn điều lệ Theo kế hoạch, tổng khối lượng phát hành lần đầu là 20% vốn điều lệ, trong đó cổ phần bán đấu giá công khai, bán cho nhà đầu tư chiến lược trong nước, và bán ưu đãi cho cán bộ nhân viên và tổ chức công đoàn là 10% vốn điều lệ, cổ phần bán lần đầu cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài là 10% vốn điều lệ Ngày 25 tháng 12 năm 2008, Ngân hàng

đã thực hiện việc chào bán lần đầu ra công chúng cho các nhà đầu tư chiến lược trong nước, bán ưu đãi cho cán bộ nhân viên và tổ chức công đoàn là 10% vốn điều lệ với giá bán bình quân là 20.265 đồng so với mệnh giá là 10.000 đồng/cổ phiếu Các hình thức đầu tư tín dụng cũng ngày một mở rộng và phát triển như: cho vay ngoại tệ, nội

tệ, bảo lãnh, tài trợ XNK, tín dụng thuê mua, tín dụng ủy thác, tín dụng theo dự án Với những kết quả đạt được, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam xứng đáng nhận được nhiều giải thưởng lớn như: giải thưởng “ Sao Vàng Đất Việt” cho sản phẩm điện tử năm 2003, giải thưởng ngân hàng có “ Hoạt động xuất sắc trong ngành thanh toán quốc tế năm 2003/2004 với tỷ lệ STP cao” do Citigroup trao tặng và giải thưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam” năm 2004 và 2005, 2006 Trong đó năm 2005

và 2006 đạt Topten; giải thưởng “Sao Vàng Đất Việt” năm 2004, 2005 cho thương

Trang 32

hiệu NHCT; giải thưởng “Thương hiệu cạnh tranh 2006” do Cục sở hữu trí tuệ trao tặng; giải thưởng “Ngọn Hải Đăng” năm 2006 do Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ trao tặng; giải “Cầu Vàng ” năm 2007 do Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam và Hiệp hội Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ tổ chức bình chọn; giải “Cúp vàng Thương hiệu và nhãn hiệu” năm 2007 và năm 2008 Vietinbank vinh dự là tổ chức tài chính đầu tiên nhận giải ISAQ (International Star Award for Quanlity) của Thụy Sỹ… tin tưởng Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam sẽ phát triển bền vững

3.1.1.2/ Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP.HCM

- Tên ngân hàng: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh

TP.HCM

- Tên Tiếng Anh: Viet Nam Joint Stock Commercial Bank For Industry

and Trade, Ho Chi Minh City Branch

- Logo

- Slogan: Nâng giá trị cuộc sống

- Trụ sở : 79A – Hàm Nghi, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP.HCM

Trang 33

Là thành viên lớn nhất của hệ thống Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Trụ Sở đặt tại 79A Hàm Nghi, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, trung tâm tài chính ngân hàng của TP.HCM và cả nước

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh TP Hồ Chí Minh được xác định là ngân hàng hàng đầu phía Nam của hệ thống Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Hiện nay, Chi nhánh TP Hồ Chí Minh có mạng lưới gồm 09 phòng giao dịch, 62 máy ATM, 310 máy chấp nhận thẻ, gần 100 trung tâm tư vấn du học; 2 đại lý phát hành thẻ ATM,… đặc biệt Chi nhánh TP Hồ Chí Minh có mạng lưới khách hàng rộng lớn nhiều đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế xã hội và dân cư

Chi nhánh TP Hồ Chí Minh luôn không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm, đa

dạng dịch vụ nhằm phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn Với phương châm “Vì sự

thành đạt của mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp” và “Sự thành công của khách hàng là sự thành công của NHCTVN”

3.1.2/ Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban

Mô hình sơ đồ tổ chức hoạt động ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh TP.Hồ Chí Minh

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh TP.HCM

Trang 34

* Ban giám đốc: gồm Giám đốc và năm phó giám đốc, có trách nhiệm trong

việc điều hành hoạt động chung của ngân hàng; nghiên cứu soạn thảo chế độ quản lí, nghiệp vụ hành chính cho ngân hàng, phân bổ nhân sự cho các phòng ban và phổ biến bằng các văn bản chỉ thị của cấp trên cho các phòng liên quan

- Hoạch định các mục tiêu, chính sách, chất lượng, mục tiêu kinh doanh hằng năm nhằm đạt lợi nhuận

- Kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ các phòng ban theo đúng quy định tổ chức của ngân hàng

- Giám đốc trực tiếp thực hiện giao dịch, đối ngoại với các khách hàng, đối tác lớn trong và ngoài nước, hoặc phân công cho phó giám đốc Nếu giám đốc đi vắng thì

ủy quyền bằng văn bản cho một phó giám đốc chỉ đạo và điều hành công việc chung

- Năm phó giám đốc làm việc dưới sự phân công, chỉ đạo của giám đốc theo từng công tác cụ thể đồng thời tham mưu kế hoạch, chiến lược kinh doanh cho giám đốc Trực tiếp tổ chức điều hành nhiệm vụ của chi nhánh

- Quyết định các vấn đề về tổ chức cán bộ và đào tạo, đề xuất các kiến nghị và đưa ra các quyết định trong cuộc họp xem xét lãnh đạo

- Kí kết các hợp đồng liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng

* Phòng hành chánh quản trị: là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ

chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của nhà nước

và quy định của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh, thực hiện công tác bảo

vệ, an ninh, an toàn cho Chi nhánh

- Xây dựng và triển khai chương trình giao ban nội bộ Chi nhánh và các phòng giao dịch trực thuộc trên địa bàn

- Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị theo chỉ đạo của Ban lãnh đạo ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh TP HCM

- Đề xuất cử cán bộ, nhân viên đi công tác học tập trong và ngoài nước Đề xuất hoàn thiện và lưu trữ hồ sơ theo đúng quy định của Nhà nước Trực tiếp quản lí

hồ sơ cán bộ trực thuộc, cán bộ nghỉ hưu của ngân hàng

Trang 35

* Phòng kinh doanh ngoại tệ: cung cấp các sản phẩm giao dịch ngoại tệ

giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn đối với các tổ chức kinh tế hoạt động tại

Việt Nam, các tổ chức khác và cá nhân hoạt động tại Việt Nam

Đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại tệ trả bằng VND của khách hàng phục vụ cho thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, cước vận tải, bảo hiểm, chuyển tiền

ra nước ngoài hoặc đầu tư

Phòng ngừa rủi ro biến động

tỷ giá ảnh hưởng xấu tới thu nhập

và chi phí trong tương lai cho khách

hàng…Giúp doanh nghiệp XNK

quản l ý dòng tiền hiệu quả

* Phòng kế toán tài

chính: là phòng nghiệp vụ giúp

giám đốc thực hiện các công tác

quản lí tài chính và thực hiện nghiệp vụ chi tiêu nội bộ tại ngân hàng theo đúng quy định của Nhà Nước và ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam

* Phòng thông tin điện toán: thực hiện công tác quản lí về mặt công

nghiệp và kĩ nghệ đối với toàn hệ thống công nghệ thông tin của chi nhánh Bảo trì và bảo dưỡng máy tính, đảm bảo thông suốt mọi hoạt động mạng, máy tính ở Chi nhánh Lưu trữ, bảo quản số liệu, phần mềm

* Phòng kế toán giao dịch: là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch

trực tiếp với khách hàng Các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản

lí tài chính, chỉ tiêu nội bộ tại chi nhánh, cung cấp các nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ kế toán, xử lí hoạch toán các giao dịch Quản lí và chịu trách nhiệm với hệ thống giao dịch trên máy, quản lí tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước và ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng các sản phẩm của ngân hàng

* Quỹ tiết kiệm số 1: là đơn vị trực thuộc cơ cấu tổ chức của Chi nhánh

thực hiện các nghiệp vụ về công tác huy động và chi trả tiền gửi dân cư theo đúng thể

lệ, chế độ quy định

Trang 36

* Phòng tiền tệ kho quỹ: là phòng nghiệp vụ quản lí an toàn kho quỹ,

quản lí quỹ tiền mặt theo đúng quy định của NHNN và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các phòng giao dịch, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho doanh nghiệp cao

* Phòng khách hàng cá nhân: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với

các khách hàng cá nhân, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng và quản lí các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế

độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng cá nhân

* Phòng quản lí rủi ro: có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc chi nhánh

về công tác quản lí rủi ro của chi nhánh, chịu trách nhiệm về quản lí và xử lí các khoản nợ có vấn đề, quản lí giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng Thực hiện chức năng đánh giá, quản lí rủi ro trong toàn bộ hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Quản lí khai thác và xử lí tài sản đảm bảo nợ vay theo quy định của nhà nước nhằm thu hồi các khoản nợ gốc và lãi tiền vay quản lí Theo dõi, thu hồi các khoản nợ đã được xử lí rủi ro

* Phòng khách hàng số 01: (khách hàng lớn) là phòng nghiệp vụ trực

tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp lớn để khai thác bằng vốn VND và ngoại tệ, xử lí các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lí các sản phẩm cho vay phù hợp chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của ngân hàng

* Phòng khách hàng số 02: (khách hàng vừa và nhỏ) là phòng nghiệp vụ

trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để khai thác bằng vốn VND và ngoại tệ, xử lí các nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lí các sản

phẩm cho vay phù hợp chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của ngân hàng

* Phòng quan hệ khách hàng: tham mưu cho giám đốc trong việc xây

dựng công việc tiếp thị, chính sách khách hàng (trong và ngoài nước) phát triển sản phẩm mới phù hợp quy định của ngân hàng Tổ chức và triển khai công tác tiếp thị, chính sách khách hàng, sản phẩm dịch vụ mới

Ngày đăng: 10/12/2013, 18:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Kết quả kinh doanh Chi nhánh TP.Hồ Chí Minh  đạt được - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 3.1 Kết quả kinh doanh Chi nhánh TP.Hồ Chí Minh đạt được (Trang 41)
Bảng 3.2:  Tình hình cho vay nền kinh tế - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 3.2 Tình hình cho vay nền kinh tế (Trang 45)
Bảng 3.3, Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 3.3 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế (Trang 46)
Bảng 3.4 :Cơ cấu dư nợ cho vay tài trợ XNK - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 3.4 Cơ cấu dư nợ cho vay tài trợ XNK (Trang 50)
Hình thức khác nhau đáp  ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên có 2 hình - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Hình th ức khác nhau đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên có 2 hình (Trang 51)
Bảng 3.5: Tình hình xuất nhập khẩu theo phương thức: - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 3.5 Tình hình xuất nhập khẩu theo phương thức: (Trang 51)
Bảng 3.7/ Tình hình thanh toán quốc tế - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 3.7 Tình hình thanh toán quốc tế (Trang 52)
Bảng 3.6: Tình hình chiết khấu bộ chứng từ - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 3.6 Tình hình chiết khấu bộ chứng từ (Trang 52)
Bảng 4.1/ Lãi suất chiết khấu bộ chứng từ - Đề tài một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuấtnhập khẩu tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh TP HCM”
Bảng 4.1 Lãi suất chiết khấu bộ chứng từ (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w