Để góp phần vào việc hạn chế rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối của ngân hàng, người viết chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại ngân
Trang 1Qua bốn tháng lao động thực tế tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Đồng Nai, em đã có cơ hội tiếp cận với thực tế, nâng cao kỹ năng mềm và quan trọng hơn cả ngân hàng là môi trường thuận lợi giúp em hoàn thành tốt bài báo cáo của mình
Em trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo ngân hàng đã tạo điều kiện cho em được vào lao động thực tế tại ngân hàng
Em xin gửi lời cảm ơn các anh chị phòng Kinh doanh vốn – ngoại tệ đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức thực tế cho em, anh chị cũng đã góp ý một số vấn đề liên quan đến đề tài em đang nghiên cứu giúp em hoàn thành bài tốt hơn
Em cảm ơn ban lãnh đạo ngân hàng và các anh chị đã cung cấp số liệu phục vụ cho bài báo cáo của em
Em gửi lời cảm ơn đến cô Trần Thị Thùy Linh đã tận tình giảng dạy em trong quá trình học tập cũng như hướng dẫn em suốt thời gian nghiên
cứu khoa học của mình
Xin chân thành cảm ơn !!! Sinh viên Bùi Thị Thảo
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
Danh mục sơ đồ
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Tính mới của đề tài 5
7 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI NHTM 6
1.1 Tổng quan về NHTM 6
1.1.1 Khái niệm NHTM 6
1.1.2 Chức năng NHTM 6
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng 6
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán 6
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền 7
1.1.2.4 Chức năng tạo ra các công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt 7
1.1.3 Các nghiệp vụ NHTM 7
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 7
1.1.3.2 Hoạt đông cấp tín dụng 8
1.1.3.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 8
Trang 31.1.3.4 Các hoạt động khác 8
1.2 Kinh doanh ngoại hối tại NHTM 8
1.2.1 Tỷ giá hối đoái 8
1.2.1.1 Khái niệm 8
1.2.1.2 Phân loại 8
1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 9
1.2.2 Thị trường ngoại hối 13
1.2.2.1 Khái niệm 13
1.2.2.2 Sự hình thành và phát triển 13
1.2.2.3 Đặc điểm 14
1.2.2.4 Vai trò 15
1.3 Quản trị rủi ro tỷ giá tại NHTM 15
1.3.1 Rủi ro tỷ giá tại NHTM 15
1.3.1.1 Khái niệm rủi ro tỷ giá 15
1.3.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tỷ giá 16
1.3.1.3 Nhận dạng rủi ro tỷ giá 16
1.3.2 Tác động của rủi ro tỷ giá tại NHTM 17
1.3.3 Sự cần thiết của quản trị rủi ro tỷ giá 19
1.3.4 Mô hình kiểm định rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối của NHTM 19
1.3.4.1 Các nhân tố mang tính định tính 20
1.3.4.2 Các nhân tố mang tính định lượng 20
1.3.4.3 Mô hình kiểm định rủi ro tỷ giá 20
1.3.4.4 Kiểm định giả thuyết và các hệ số hồi quy 21
1.3.4.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 21
1.3.5 Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá 22
1.3.5.1 Nghiệp vụ mua bán hối đoái kỳ hạn 22
1.3.5.2 Nghiệp vụ hoán đổi 25
1.3.5.3 Nghiệp vụ hối đoái giao sau 26
Trang 41.3.5.4 Nghiệp vụ mua bán quyền chọn 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG – CHI NHÁNH ĐỒNG NAI 31
2.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai 31
2.1.1 Tình hình chính trị - xã hội 31
2.1.2 Tình hình kinh tế 32
2.2 Khái quát về ngân hàng 34
2.2.1 Vài nét về ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 34
2.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 34
2.2.1.2 Mạng lưới hoạt động 36
2.2.2 Ngân hàng TMCP Ngoại Thương – chi nhánh Đồng Nai 37
2.2.2.1 Hình thành và phát triển 37
2.2.2.2 Cơ cấu tổ chức 37
2.2.3 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng 39
2.2.3.1 Hoạt động huy động vốn 39
2.2.3.2 Hoạt động tín dụng 40
2.2.3.3 Hoạt động thanh toán quốc tế 42
2.2.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 43
2.3 Thực trạng quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương – chi nhánh Đồng Nai 44
2.3.1 Tình hình kinh doanh ngoại hối Vietcombank – chi nhánh Đồng Nai 44
2.3.2 Tình hình quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại Vietcombank chi nhánh Đồng Nai 49
2.3.2.1 Cở sở pháp lý để Vietcombank Đồng Nai quản lý ngoại hối 49
2.3.2.2 Tình hình rủi ro tỷ giá tại Vietcombank Đồng Nai 50
2.3.2.3 Kiểm định rủi ro tỷ giá qua mô hình hồi quy đa biến 51
Trang 52.3.2.4 Các biện pháp quản trị rủi ro tỷ giá của Vietcombank - chi nhánh Đồng
Nai 62
2.3.3 Đánh giá tình hình quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại Vietcombank – chi nhánh Đồng Nai 64
2.3.3.1 Thành tựu 64
2.3.3.2 Hạn chế 65
2.3.4 Nhân tố gây hạn chế tình hình quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại Vietcombank – chi nhánh Đồng Nai 66
2.3.4.1 Môi trường pháp lý 66
2.3.4.2 Mội trường kinh doanh 66
2.3.4.3 Ngân hàng 67
2.3.4.4 Khách hàng 68
2.4 Kết quả khảo sát 69
2.4.1 Mô tả khảo sát 69
2.4.2 Phân tích kết quả khảo sát 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG - CHI NHÁNH ĐỒNG NAI 75
3.1 Định hướng phát triển của Vietcombank 75
3.1.1 Cơ hội và thách thức của Vietcombank khi Việt Nam gia nhập WTO 75
3.1.1.1 Cơ hội 75
3.1.1.2 Thách thức 76
3.1.2 Định hướng phát triển của ngân hàng 77
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại Vietcombank – chi nhánh Đồng Nai 78
3.2.1 Nâng cao cán bộ nhân viên kinh doanh ngoại hối 78
3.2.2 Nâng cao việc sử dụng các hợp đồng phái sinh 80
Trang 63.2.3 Đa dạng hóa trong kinh doanh ngoại hối 81
3.2.3.1 Đa dạng hóa ngoại tệ 81
3.2.3.2 Đa dạng hóa các sản phẩm phái sinh 82
3.2.3.3 Mở rộng phát triển mạng lưới hoạt động 82
3.2.4 Nâng cao khả năng dự báo biến động tỷ giá 84
3.2.5 Nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ 85
3.2 6 Nâng cao ứng dụng mô hình kiểm định rủi ro tỷ giá 86
3.3 Kiến nghị 87
3.3.1 Đối với chính phủ và các các bộ ngành có liên quan 87
3.3.2 Đối với NHNN 88
3.3.3 Đối với Vietcombank Đồng Nai 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7FDI Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội
L/C Letter of Credit: Thư tín dụng
T/T Telegraphic Transfer: Điện chuyển tiền
Trang 8TTXK Thanh toán xuất khẩu
2.5 Số liệu kết quả hoạt động kinh doanh của VCB Đồng Nai năm 2001 – 2010 40
2.6 Số liệu kết quả lợi nhuận đạt được của VCB Đồng Nai năm 2008 – 2010 41
Trang 92.9 Số liệu về doanh số mua ba loại ngoại tệ USD, EUR, JPY của VCB Đồng Nai năm 2008 – 2010 45 2.10
Số liệu về doanh số bán ba loại ngoại tệ USD, EUR, JPY của VCB Đồng Nai từ 2008 – 2010 45
2.11 Trạng thái ngoại tệ của VCB Đồng Nai năm 2008 – 2010 47 2.12 Kết quả chạy mô hình với biến INF, INT, EXIM, GDP 50
2.14 Kết quả chạy mô hình với biến INF, INT, EXIM 53
2.21 Số lượng doanh nghiệp sử dụng từng loại ngoại tệ vào mục đích khác nhau 67 2.22 Mức độ quan tâm đến rủi ro tỷ giá của doanh nghiệp 67 2.23 Tình hình sử dụng hợp đồng phái sinh của doanh nghiệp 68 2.24 Khả năng ứng dụng hợp đồng phái sinh trong tương lai 69
Trang 10Số thứ tự Tên bảng Trang 2.1 Tổng sản phẩm GDP – giá so sánh 1994 30
2.9 Khả năng ứng dụng hợp đồng phái sinh trong tương lai 70
2.2 Tóm tắt các biến dự kiến của mô hình 49
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến độ tăng của tỷ giá 57
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong thời kì toàn cầu hóa, Việt Nam đang từng bước phát triển hòa mình vào dòng chảy chung của thời đại, với việc gia nhập các tổ chức quốc tế như: ASEAN,APEC,… Nhất là từ sau khi trở thành thành viên của tổ chức WTO giúp Việt Nam phá vỡ những rào cản trước đây, mở ra hướng đi mới cho nền kinh tế, có
cơ hội tiếp cận những nền kinh tế tiên tiến trên thế giới Xu thế này tạo điều kiện tốt
để ngân hàng tranh thủ vốn, mở rộng quan hệ với các ngân hàng thương mại trong
và ngoài nước, học hỏi kinh nghiệm quản lý, khoa học kỹ thuật… Đồng thời yêu cầu các ngân hàng ngày càng phải nâng cao các hoạt động của mình nhằm đáp ứng phù hợp với nhu cầu của đất nước
Ngoài việc củng cố và phát triển hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng thì hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng được ngân hàng chú trọng Hoạt động kinh doanh ngoại hối là hoạt động mang lại lợi nhuận không nhỏ cho ngân hàng, nhưng lợi nhuận đó tỷ lệ thuận với rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu Một trong những rủi ro đó là rủi ro tỷ giá Nếu rủi ro này không được phòng ngừa, kiểm soát thì nó sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng, ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế chung
Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) nói chung và ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - chi nhánh Đồng Nai nói riêng là ngân hàng
có uy tín trong hoạt động kinh doanh ngoại hối Tuy nhiên, giống những ngân hàng khác, Vietcombank cũng không thể tránh khỏi rủi ro tỷ giá trong lĩnh vực này Do
đó ngân hàng có một số biện pháp nhằm ngăn ngừa rủi ro tỷ giá Để góp phần vào việc hạn chế rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối của ngân hàng, người viết
chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương – chi nhánh Đồng Nai” để nghiên cứu
Trang 122 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu đề tài:
Theo xu hướng mở cửa, quan hệ ngoại giao của Việt Nam ngày càng nâng cao, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng tiến triển rõ rệt đã làm giao dịch tiền tệ giữa các quốc gia xảy ra thường xuyên hơn Do
đó nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng thương mại ngày càng trở nên
quan trọng
Kinh doanh ngoại hối ngày nay trở thành vấn đề nóng bỏng được nhiều bài báo
đề cập đến như:
Bài“Tỷ giá - nguồn gốc rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp” của Thạc sĩ
Đinh Thị Thu Hồng[22], tác giả nghiên cứu tỷ giá tác động như thế nào đối với doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên cở sở lý thuyết và dẫn chứng thực tế Sự biến động của tỷ giá làm nhiều doanh nghiệp lao đao, hoạt động kém hiệu quả khiến doanh thu và lợi nhuận của họ có phần giảm sút, thay đổi tỷ số đòn bẩy tài chính, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Từ đó tác giả đã đặt ra vấn đề doanh nghiệp cần phải chuẩn bị tâm lý tốt mới có thể điều chỉnh chính sách tỷ giá linh hoạt cho phù hợp.[22]
Bài“Hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” đã khẳng định : “nhu cầu về ngoại tệ cho doanh nghiệp
cũng như sự phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại trong tiến trình hội nhập là rất lớn Vì vậy các biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ là rất cần thiết.”[21] Bài báo nêu :
* Những thuận lợi, khó khăn trong kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại cổ phần
- Thuận lợi: Nhìn chung hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng TMCP trong những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực Với hàng loạt các thông tư, quyết định về quản lý ngoại hối đã góp phần không nhỏ trong hoạt động KDNT nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung
- Khó khăn: Khác với các nước khác trên thế giới, thị trường ngoại tệ tiền mặt ở Việt Nam phát triển khá mạnh Thị trường ngầm tiền mặt ngoại tệ phục vụ cho bộ
Trang 13phận nhập khẩu lậu qua đường biên giới cộng với nhu cầu thích sử dụng ngoại tệ tiền mặt của dân chúng nên thị trường này càng sôi động Tỷ giá ở thị trường này luôn cao hơn ngân hàng Ngoài ra, chênh lệch giữa giá mua và bán ngoại tệ ở các ngân hàng ở Việt Nam luôn ở mức cao vì các nguyên nhân như chi phí cho xuất khẩu ngoại tệ tiền mặt khá cao Chi phí quản lý tiền mặt ngoại tệ cao, tiền mặt tồn kho không được trả lãi như tài khoản tiền gửi trong khi đó ngân hàng phải trả lãi huy động Doanh số mua rất nhỏ và chi phí cho giấy tờ, cho nhân viên thu đổi cao Đồng thời rủi ro giao dịch tiền mặt ngoại tệ cao (ngoại tệ giả, séc giả) Thị trường tiền mặt ngoại tệ qua ngân hàng không có tính cạnh tranh, bị chi phối nhiều bởi hoạt động của thị trường ngầm
Mặt khác, thị trường tiền tệ cũng như thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động kém sôi động, cho nên tỷ giá và lãi suất được hình thành trên thị trường này không phản ánh đúng thực chất cung cầu ngoại tệ Vai trò của ngân hàng nhà nước điều hành thị trường ngoại hối, là cầu nối giữa cung cầu ngoại tệ, tạo ra tính thanh khoản cao nhất cho hệ thống ngân hàng trong các năm qua còn mờ nhạt
* Thực trạng rủi ro trong kinh doanh ngoại hối trên thị trường nội địa
Thị trường ngoại tệ hoạt động tương đối hiệu quả nhờ công tác quản lý ngoại hối đã được thực hiện tương đối đồng bộ cùng với các chính sách thu hút vốn đầu tư, chuyển tiền kiều hối tạo thế chủ động cho các NHTM trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ Chính sách về nới rộng biên độ và kiểm soát trạng thái ngoại tệ làm cho tỷ giá vận hành theo cơ chế thị trường cũng góp phần đáp ứng nhu cầu ngoại tệ hợp lý của nền kinh tế và từng bước mở rộng quyền tự chủ trong việc sử dụng ngoại tệ của các doanh nghiệp
* Nguyên nhân tồn tại rủi ro
- Sự thay đổi môi trường
- Cơ chế hoạt động
Trang 14* Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại
- Sử dụng các sản phẩm phái sinh:hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi
- Đa dạng hóa các loại ngoại tệ
- Xây dựng chiến lược phù hợp từng giai đoạn
- Lập quỹ rủi ro
- Xác định hạn mức kinh doanh ngoại tệ cho từng khách hàng.[21]
Hiện nay chỉ có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như : đề tài “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam” của tác giả Giang Thị Thu Trang - Trường Đại học Ngoại Thương, đề tài “ Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh Đà Nẵng” của Nguyễn Thị Thu Dung - khoa Tài chính ngân hàng Trường Đại học Kinh tế … Nhưng các đề tài đó đều nghiên cứu chung chung, ở phạm vi rộng
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống cơ sở lý luận về kinh doanh ngoại hối và quản trị rủi ro tỷ giá tại NHTM
- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương - chi nhánh Đồng Nai.Từ đó đánh giá tình hình quản trị rủi ro
tỷ giá có những mặt tốt và còn tồn tại những mặt hạn chế nào.Tìm nguyên nhân gây
ra các hạn chế đó
- Đưa ra một số giải pháp và đề xuất kiến nghị nhằm quản trị rủi ro tỷ giá có hiệu quả cao để lĩnh vực kinh doanh ngoại hối hoạt động tốt hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Quản trị rủi ro tỷ giá tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
chi nhánh Đồng Nai
- Phạm vi nghiên cứu:
* Thời gian: Số liệu được thu thập năm 2008,2009,2010
* Không gian: Vietcombank - chi nhánh Đồng Nai
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích
- Phương pháp thu thập số liệu, mô tả, so sánh
- Sử dụng phần mềm Excel, Eviews và SPSS để xử lý số liệu
6 Tính mới của đề tài:
Tác giả sẽ nghiên cứu về quản trị rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối tại một ngân hàng cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai dựa trên cơ sở tình hình phát triển của tỉnh trong thời kỳ mới, tình hình hoạt động kinh doanh ngoại hối, quản trị rủi ro tỷ giá tại ngân hàng trong những năm gần đây Đồng thời tác giả phân tích, tìm hiểu tác động của tỷ giá và sử dụng mô hình hồi quy để đánh giá rủi ro tỷ giá Cùng với
đó tác giả sẽ lập phiếu khảo sát khách hàng doanh nghiệp có quan hệ ngoại tệ với Vietcombank Đồng Nai về việc sử dụng các hợp đồng phái sinh để phòng ngừa rủi
ro tỷ giá trong thời điểm hiện nay Từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao quản trị rủi ro tỷ giá để nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối hoạt động
tốt hơn nữa
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài báo cáo nghiên cứu khoa học có kết cấu gồm 3 chương như sau:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI VÀ QUẢN TRỊ
RỦI RO TỶ GIÁ TẠI NHTM
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TRONG KINH
DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG - CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ
TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG - CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
Ngoài ra phần cuối bài báo cáo còn có Danh mục tài liệu tham khảo và Phần phụ lục
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI VÀ QUẢN TRỊ RỦI
RO TỶ GIÁ TẠI NHTM
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI VÀ
QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI NHTM
1.1 Tổng quan về NHTM
1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong hệ thống ngân hàng nói riêng Theo luật các tổ chức tín dụng, luật sửa đổi và bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng đã định nghĩa về ngân hàng thương mại như sau: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.”[2]
1.1.2 Chức năng NHTM
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng [1]
Ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn đó để đầu tư vào các nhu cầu khác trong nền kinh tế Điều đó có nghĩa là ngân hàng vừa mua “tiền” vừa bán “tiền”, phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng vừa có lợi cho NHTM vừa có lợi cho khách hàng của NHTM và cả nền kinh tế.[1]
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán [1]
Thực chất của chức năng này là ngân hàng vừa làm thủ quỹ vừa thực hiện các dịch
vụ ủy nhiệm của khách hàng như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, … Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa đối với khách hàng của NHTM và cả nền kinh tế.[1]
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền [4]
Là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), khối tiền tệ
Trang 18của một quốc gia bao gồm: tiền giấy, tiền kim loại, tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng
Chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán làm tiền đề cho
hệ thống NHTM có khả năng tạo tiền Nghĩa là hệ thống NHTM có thể nhân rộng tiền ghi sổ từ tiền gửi nhận được từ khách hàng [4]
1.1.2.4 Chức năng tạo ra các công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt
Các công cụ lưu thông tín dụng như hối phiếu, lệnh phiếu, séc,… NHTM phát hành séc và các công cụ lưu thông khác thay thế cho tiền giấy bạc ngân hàng và tiền đúc
lẻ đã tạo điều kiện cho xã hội tiết kiệm được một khối lượng chi phí lưu thông khá lớn.[4]
Xem chi tiết ở phụ lục 1
1.1.3 Các nghiệp vụ NHTM [2]
Luật các tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của NHTM [23] gồm:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động cấp tín dụng
- Hoạt động dịch vụ thanh toán
- Hoạt động ngân quỹ
- Hoạt động khác
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng đối với NHTM Hoạt động này mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các hoạt động khác Có thể nói hoạt động huy động vốn góp phần giải quyết “đầu vào” của ngân hàng NHTM được huy động dưới nhiều hình thức như: nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác, vay vốn ngắn hạn của NHNN,….[2]
1.1.3.2 Hoạt động cấp tín dụng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định
Trang 19NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính,… Trong đó cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.[2]
1.1.3.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện đươc các dịch vụ thanh toán giữa khách hàng với khách hàng thông qua ngân hàng, NHTM mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước
Để thực hiện dịch vụ thanh toán giữa ngân hàng với ngân hàng thông qua NHNN, NHTM phía mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Các chi nhánh của NHTM được
mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh.[2]
1.1.3.4 Các hoạt động khác
NHTM còn có các hoạt động khác như góp vốn và mua cổ phần, kinh doanh ngoại
tệ, ủy thác và nhận ủy thác,… [2]
Xem chi tiết ở phụ lục 2
1.2 Kinh doanh ngoại hối tại NHTM
1.2.1 Tỷ giá hối đoái
1.2.1.1 Khái niệm[5]
Hối đoái là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang đồng tiền khác
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng tiền
tệ nước khác.[5]
1.2.1.2 Phân loại[5]
Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do ngân hàng nhà nước công bố Tỷ giá này thường
được dùng làm tỷ giá tham khảo cho các ngân hàng thương mại và làm tỷ giá tính toán trong công tác kế toán và kế hoạch, không áp dụng trong mua bán ngoại tệ
Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc di chuyển ngoại hối
không phải bằng tiền mặt, mà bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng
Tỷ giá tiền mặt: tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối bằng tiền
mặt
Trang 20Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá được công bố vào đầu giờ giao dịch
Tỷ giá đóng cửa : là tỷ giá được công bố vào cuối giờ giao dịch
Tỷ giá mua : là tỷ giá ngân hàng mua ngoại tệ từ khách hàng
Tỷ giá bán : là tỷ giá ngân hàng bán ngoại tệ cho khách hàng
Tỷ giá liên ngân hàng: là tỷ giá áp dụng trong giao dịch mua bán ngoại tệ giữa các
ngân hàng với nhau trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.[5]
1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Cung cầu ngoại tệ
Tỷ giá hối đoái, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay thấp được quyết định bởi các lực lượng thị trường, cung và cầu Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn bán ra để thu về nội tệ Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn mua vào bằng các đồng nội tệ Giá cả ngoại tệ, tỷ giá hối đoái cũng được xác định theo quy luật cung cầu như đối với hàng hóa thông thường Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ sẽ làm cho giá ngoại tệ giảm, tức là tỷ giá tăng Khi cung ngoại
tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ làm giá ngoại tệ tăng, tức tỷ giá giảm Ở vị trí cung bằng cầu ngoại tệ được xác định ở trạng thái cân bằng Khi cung lớn hơn cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần bán ra nhiều hơn lượng ngoại tệ mua vào, khi đó
có một số người không bán được sẽ sẵn sàng bán với mức giá thấp và làm cho giá ngoại tệ trên thị trường giảm Khi cầu lớn hơn cung ngoại tệ, một số người không mua được ngoại tệ sẵn sàng trả giá cao hơn và gây sức ép làm giá ngoại tệ trên thị trường tăng Khi cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần mua đúng bằng lượng ngoại tệ cần bán làm cho giá ngoại tệ không đổi, thị trường cân bằng [15]
Trạng thái cán cân thanh toán
Cán cân thương mại là sự chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu Một quốc gia khi xuất khẩu sẽ thu được ngoại tệ, bán ngoại tệ đổi lấy nội tệ
để mua hàng trong nước tiếp tục công việc kinh doanh Khi đó trên thị trường cung ngoại tệ tăng, cầu giảm làm tỷ giá giảm theo Ngược lại, với một nước nghiêng về
Trang 21nhập khẩu thì phải đi mua ngoại tệ từ nội tệ để thanh toán cho đối tác, thị trường lúc này lại có xu hướng cầu ngoại tệ tăng, cung giảm và tỷ giá sẽ tăng
Sự dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán của một nước cũng là nhân tố tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu về ngoại hối trên thị trường hối đoái nên nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của tỷ giá Nếu cán cân thanh toán của một nước bị thiếu hụt (chi lớn hơn thu), khi đó cầu ngoại tệ tăng làm cho tỷ giá tăng và ngược lại, nếu cán cân thanh toán dư, nước đó đủ khả năng chi trả nên không có nhu cầu ngoại tệ cao, lúc này tỷ giá sẽ giảm.[5]
Lạm phát
Lạm phát thường có biểu hiện là giá cả của tất cả các loại hàng hóa đều tăng Nếu tỷ
lệ lạm phát trong nước cao hơn lạm phát ở nước ngoài, giá cả hàng hóa trong nước
sẽ tăng hơn so với giá cả hàng hóa nước ngoài, đồng nội tệ mất sức mua so với ngoại tệ Nếu như tỷ giá không đổi thì khi đó hàng hóa trong nước sẽ trở nên đắt đỏ, người dân có xu hướng chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn Điều này làm gia tăng nhu cầu hàng hóa ngoại nhập, sụt giảm nhu cầu hàng hóa nội địa nghĩa là nhập khẩu tăng và thu hẹp xuất khẩu, hậu quả khó lường là cán cân thanh toán có thể bị thiếu hụt Chính những sự thay đổi này làm tăng cầu, giảm cung ngoại tệ và tất yếu
tỷ giá cũng tăng theo
Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái được hiểu rõ hơn qua lý thuyết
“Ngang sức mua” Theo hình thức tuyệt đối của lý thuyết này, còn gọi là “ luật một giá” cho rằng: giá cả các sản phẩm giống nhau của hai nước khác nhau sẽ bằng nhau khi được tính bằng đồng tiền chung Còn theo hình thức tương đối cho rằng:
do bất hoàn hảo của thị trường, giá cả của những sản phẩm giống nhau ở các nước khác nhau không nhất thiết bằng nhau khi được tính bằng đồng tiền chung
Khi đó có công thức như sau: 1
)1(
)1
I
I e
e f: phần trăm thay đổi đồng ngoại tệ
I h: mức lạm phát trong nước
I f: mức lạm phát nước ngoài
Trang 22Nếu Ih > If, ef sẽ dương, nghĩa là đồng ngoại tệ sẽ tăng giá khi lạm phát trong nước cao hơn nước ngoài Nếu Ih < If, ef sẽ âm, nghĩa là đồng ngoại tệ sẽ giảm giá khi lạm phát trong nước thấp hơn nước ngoài.[12]
Lãi suất
Lãi suất cũng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến tỷ giá Nếu lãi suất của đồng nội tệ tăng, tài sản trong nước hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư hơn so với tài sản nước ngoài Các nhà đầu tư sẽ chuyển hướng đầu tư vào nội địa, khi đó nội tệ có giá hơn ngoại tệ, nhà đầu tư bán ngoại tệ lấy nội tệ để đầu tư và kết quả là giảm cầu, tăng cung ngoại tệ, tỷ giá sẽ giảm Ngược lại, khi lãi suất đồng ngoại tệ tăng, người dân có xu hướng đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư muốn thực hiện kinh doanh thì phải chuyển đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ, tăng cầu giảm cung ngoại tệ
và tỷ giá tăng Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái do lãi suất được thể hiện qua lý thuyết
“ Hiệu ứng Fisher quốc tế”
Công thức: 1
)1(
)1
I
I e
e f: phần trăm thay đổi đồng ngoại tệ
I h: mức lãi suất trong nước
I f: mức lãi suất nước ngoài
Lý thuyết này khẳng định khi Ih > If, ef sẽ dương, nghĩa là đồng ngoại tệ sẽ tăng giá khi lãi suất nước ngoài thấp hơn trong nước Khi Ih < If, ef sẽ âm, nghĩa là đồng ngoại tệ sẽ giảm giá khi lạm phát trong nước thấp hơn nước ngoài.[12]
Đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra ngước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp, những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái tăng Ngược lại,một nước nhận đầu tư từ nước ngoài luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước làm cung ngoại tệ tăng, tỷ giá giảm
Đầu tư nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước Khi đầu tư nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ
Trang 23hơn luồng vốn ra nước ngoài, tỷ giá tăng Khi luồng vốn chảy vào lớn hơn luồng vốn chảy ra, đầu tư ra nước ngoài ròng âm, tỷ giá sẽ giảm Như vậy đầu tư ra nước
ngoài làm tỷ giá biến động.[15]
Vai trò của Chính phủ hay sự can thiệp của ngân hàng Trung ương
Sự can thiệp của chính phủ được thực hiện bằng việc bán ra hay mua vào ngoại tệ với khối lượng lớn để thay đổi cung cầu ngoại tệ, từ đó tác động đến tỷ giá nhằm đạt mục tiêu chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương Khi tỷ giá giảm, chính phủ bán ngoại tệ ra làm tỷ giá tăng, khi tỷ giá tăng thì chính phủ mua ngoại tệ vào làm tỷ giá giảm trở lại Ngân hàng Trung ương can thiệp vào thị trường để ổn định
tỷ giá bằng các chính sách sau:
- Chính sách tài khóa và tiền tệ
- Kiểm soát giá cả và tiền lương
- Kiểm soát ngoại hối, thuế quan và hạn ngạch
Chính sách đầu tiên phù hợp với các nước công nghiệp phát triển có các đồng tiền thả nổi, chính sách còn lại phù hợp với các nước đang phát triển có các đồng tiền được quản lý chặt chẽ.[13]
Tâm lý của khách hàng [13]
Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức kinh doanh ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối Hoạt động mua bán của họ tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu
tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai Điều này giải thích tại sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai Nếu mọi người kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ
xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhạy cảm với thông tin cũng như các chính sách của Chính phủ Nếu có tin rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng.[13]
Trang 24Xu hướng ưa chuộng hàng nội hay hàng ngoại [13]
Nếu mọi người có sở thích hàng ngoại làm nhập khẩu tăng, nhu cầu về ngoại tệ tăng
và tỷ giá tăng
Ngoài ra còn có một số nhân tố khác như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tình hình chính trị - xã hội, thiên tai, …… cũng làm tỷ giá biến động.[13]
Bảng 1.1: Tóm tắt các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
(Nguồn: Tác giả nghiên cứu tháng 01/2011)
1.2.2 Thị trường ngoại hối
1913, tỷ giá hối đoái chịu sự khống chế của chế độ bản vàng Mỗi đồng tiền được chuyển đổi thành vàng theo một tỷ lệ nhất định Do đó tỷ giá giữa hai đồng tiền được xác định dựa trên tỷ lệ chuyển đổi thành một ounce vàng của mỗi đồng tiền Mỗi quốc gia sử dụng vàng để dự trữ cho đồng ngoại tệ
Cung – cầu ngoại tệ Cung > cầu Tăng
Lãi suất Tăng Giảm
GDP Tăng Giảm
Lượng cầu xuất khẩu Tăng Giảm
Lượng cầu nhập khẩu Tăng Tăng
Ưa chuộng hàng ngoại Tăng Tăng
Trang 25Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra và chế độ bản vị vàng bị tạm hoãn Đến thập niên 20, một số nước quay trở lại với chế độ bản vị vàng nhưng đã
từ bỏ nó khi xảy ra khủng hoảng ngân hàng Mỹ và Châu Âu theo sau cuộc Đại suy thoái Vào thập kỷ 30, một số nước lại nỗ lực neo giá trị đồng tiền của họ theo đồng
đô la hoặc bảng Anh Tuy nhiên vấn đề này lại thường xuyên được đem ra bàn cãi Như là kết quả của sự bất ổn định trên thị trường ngoại hối là những rào cản trong các giao dịch quốc tế, trong suốt thời kỳ này số lượng hoạt động mậu dịch quốc tế liên tục bị sụt giảm
Năm 1944, một bản hiệp định giữa các nước (được biết đến với tên gọi Hiệp định Bretton Wood) ra đời nhằm cố định tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền Hiệp định này đã tồn tại cho đến năm 1971, chính phủ các nước đã cố gắng duy trì tỷ giá hối đoái biến động trong biên độ cao hơn hoặc thấp hơn 1% so với mức tỷ giá được thiết lập ban đầu
Năm 1971, đô la Mỹ bị đánh giá cao trong khi nhu cầu nước ngoài đối với đồng đô
la thực chất lại thấp hơn mức cung đô la Đại biểu của các nước lớn đã gặp gỡ và thảo luận nhằm đối phó vấn đề này Kết quả của cuộc họp là Hiệp định Smithsonian, đô la Mỹ được phá giá so với các đồng tiền chính Mức độ phá giá đô
la khác nhau tùy mỗi đồng tiền Không chỉ giá trị của đô la Mỹ bị thay đổi mà tỷ giá hối đoái cũng được phép dao động trong biên độ 2% so với tỷ giá mới Đây là nền tảng đầu tiên trong việc để cung cầu thị trường xác định giá cả của một đồng tiền Các giới hạn trong tỷ giá hối đoái tồn tại nhưng chúng được nới rộng dần cho phép giá trị của các đồng tiền được biến động tự do xoay quanh giá trị ban đầu của nó Mặc dù có Hiệp định Smithsonian, chính phủ các nước vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong việc duy trì tỷ giá hối đoái trong giới hạn cho phép Tháng 3 năm 1973, các đồng tiền giao dịch rộng rãi được phép giao động theo mức cung cầu thị trường và các giới hạn chính thức bị xóa bỏ.[12]
Trang 262.2.3 Đặc điểm [5]
Thị trường ngoại hối là thị trường đặc biệt, hàng hóa mua bán trên thị trường này chính là đồng tiền các nước Do đó thị trường ngoại hối có những đặc điểm riêng biệt mà các thị trường khác không có
Thị trường ngoại hối mang tính chất quốc tế, phạm vi hoạt động của nó không đóng khung ở một quốc gia mà lan rộng khắp toàn cầu nhằm phục vụ nhu cầu mua bán ngoại tệ
Thị trường ngoại hối hoạt động 24/24, do có sự chênh lệch múi giờ giữa các quốc gia, giữa các châu lục
Thị trường ngoại hối hoạt động liên tục nhờ có phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như: Fax, Telex, Swift (Hệ thống truyền tin điện tử liên ngân hàng toàn cầu, mỗi ngân hàng có mã khác nhau)
Giá cả của thị trường ngoại hối chính là tỷ giá hối đoái được hình thành một cách hợp lý và linh hoạt dựa vào mối quan hệ cung cầu ngoại tệ
Thị trường ngoại hối rất nhạy cảm với các chỉ số kinh tế và các sự kiện kinh tế - xã hội Ngôn ngữ sử dụng ngắn gọn, mang nhiều quy ước nghiệp vụ rất khó hiểu với người không có liên quan đến lĩnh vực này.[5]
Thị trường ngoại hối là phương tiện giúp cho các nhà đầu tư chuyển đổi ngoại tệ phục vụ cho khát vọng kiếm tiền và làm giàu của họ thông qua các hình thức đầu tư vào tài sản hữu hình hay tài sản tài chính
Thị trường ngoại hối là công cụ để Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện chính sách tiền tệ nhằm điều khiển nền kinh tế theo mục tiêu của chính phủ.[5]
Trang 271.3 Quản trị rủi ro tỷ giá tại NHTM
1.3.1 Rủi ro tỷ giá tại NHTM
1.3.1.1 Khái niệm rủi ro tỷ giá [3]
Rủi ro là khả năng xuất hiện một tình trạng bất ổn hay sự không chắc chắn có thể ước đoán được xác suất xảy ra
Rủi ro tỷ giá là loại rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của ngân hàng cũng như của khách hàng.[3]
1.3.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tỷ giá [3]
Kinh doanh ngoại hối là hoạt động găp nhiều rủi ro, trong đó rủi ro tỷ giá là nguy hiểm nhất Rủi ro tỷ giá xuất hiện qua các hoạt động sau:
- Hợp đồng với khách hàng nội địa liên quan đến tài sản có, tài sản nợ và các giao dịch ngoại bảng bằng ngoại tệ
- Hợp đồng với khách hàng nước ngoài liên quan đến tài sản có, tài sản nợ và các giao dịch ngoại bảng bằng ngoại tệ hay nội tệ
- Mua và bán ngoại tệ (giao ngay hay kỳ hạn) với khách hàng hoặc cung cấp dịch vụ phòng ngừa tổn thất ngoại hối cho khách hàng
- Giao dịch ngoại tệ trên tài khoản riêng của NHTM, như giao dịch kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng trên thị trường quốc tế
Các giao dịch này đều hình thành các khoản phải thu và các khoản phải trả bằng ngoại tệ đối với NHTM Từ đó gây ra rủi ro tỷ giá.[3]
1.3.1.3 Nhận dạng rủi ro tỷ giá [13]
Do tỷ giá luôn luôn biến động và không theo nguyên tắc nào nên trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng rủi ro tỷ giá là mối đe dọa nguy hiểm Rủi ro tỷ giá xảy ra khi có sự dịch chuyển tỷ giá của các ngoại tệ mà NHTM giữ dưới dạng tài sản có, tài sản nợ hoặc cả hai tức là tạo trạng thái ngoại hối mở (open or unhedged position) để đầu cơ kiếm lãi khi tỷ giá thay đổi Điều này có nghĩa là không có trạng thái ngoại hối mở thì không có rủi ro tỷ giá hoặc là có trạng thái ngoại hối mở nhưng tỷ giá không biến động thì rủi ro tỷ giá không xuất hiện Một
Trang 28khía cạnh khác cũng gây ra rủi ro tỷ giá đó là sự không cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ Tài sản có lớn hơn tài sản nợ, ngoại tệ ở trạng thái trường.Tài sản có nhỏ hơn tài sản nợ, ngoại tệ ở trạng thái đoản.[13]
Trạng thái ngoại hối ròng được tính như sau:
Trạng thái ngoại hối ròng=(Tài sản có i - tài sản nợ i)+ (Doanh số mua vào i – doanh số bán ra i)
Rủi ro tỷ giá ảnh hưởng đến lãi (lỗ) của ngoại tệ Mối quan hệ đó được thể hiện qua công thức tính như sau:
Lãi (lỗ) đối với ngoại tệ i = (trạng thái ngoại hối ròng của ngoại tệ i) x (mức biến động của tỷ giá ngoại tệ i)
i: ngoại tệ
Dù ngân hàng duy trì trạng thái ngoại hối với bất kỳ ngoại tệ nào, khi tỷ giá của nó biến động càng lớn thì khả năng lãi lớn hoặc lỗ cũng cao (nghĩa là có rủi ro).[13]
1.3.2 Tác động của rủi ro tỷ giá tại NHTM [3]
Giao dịch ngoại tệ của NHTM thường liên quan đến nhiều loại ngoại tệ khác nhau với kỳ hạn cũng khác nhau Để quản lý được rủi ro tỷ giá và ngăn ngừa tổn thất, trước tiên chúng ta nên xem xét tổn thất ngoại hối của NHTM theo từng loại kỳ hạn đối với từng loại ngoại tệ riêng biệt Do vậy, tổn thất giao dịch có thể xem xét dưới hai góc độ:
- Tổn thất ròng giao dịch cùng thời hạn
- Tổn thất ròng giao dịch gộp
Trang 29Tổn thất ròng giao dịch cùng thời hạn
Tổn thất ròng giao dịch ngoại tệ cùng thời hạn đối với một loại ngoại tệ nào đó được xác định bằng chênh lệch giá trị giữa tài sản có và tài sản nợ, cộng với trạng thái ròng mua bán ngoại tệ đó, xét trong cùng một thời hạn nhất định
Về mặt toán học, tổn thất ròng giao dịch cùng thời hạn đối với một loại ngoại tệ nào
NEi >0: Ngân hàng có trạng thái ròng giao dịch ngoại tệ cùng thời hạn dương
NEi < 0: Ngân hàng có trạng thái ròng giao dịch ngoại tệ cùng thời hạn âm
- Nếu ngân hàng có trạng thái ròng giao dịch ngoại tệ cùng thời hạn dương đối với một loại ngoại tệ nào đó thì khi ngoại tệ đó xuống giá so với nội tệ, ngân hàng sẽ bị tổn thất ròng giao dịch với ngoại tệ đó
- Nếu ngân hàng có trạng thái ròng giao dịch ngoại tệ cùng thời hạn âm đối với một loại ngoại tệ nào đó thì khi ngoại tệ đó lên giá so với nội tệ, ngân hàng sẽ bị tổn thất ròng giao dịch với ngoại tệ đó.[3]
Tổn thất ròng giao dịch gộp
Tổn thất ròng giao dịch gộp đối với một loại ngoại tệ nào đó được xác định bằng tổn thất ròng của từng giao dịch ngoại tệ đó sau khi đã hiệu chỉnh theo thời lượng của từng giao dịch
Về mặt toán học, tổn thất ròng giao dịch gộp đối với một loại ngoại tệ nào đó được xác định bởi công thức:
NTE = ∑ RiNi / D - ∑ PiNi / D
Trang 30Trong đó :
R i: giao dịch i hình thành nên khoản phải thu ngoại tệ kỳ hạn của ngân hàng,
Ri có thể là giao dịch tài sản có như cho vay, mua trái phiếu,… và các giao dịch mua ngoại tệ kỳ hạn
P i: giao dịch i hình thành nên khoản phải trả ngoại tệ kỳ hạn của ngân hàng,
Pi có thể là giao dịch tài sản nợ như nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu ,….và các giao dịch bán ngoại tệ kỳ hạn
D: thời lượng trung bình của tất cả các loại giao dịch, kể cả các giao dịch tài
sản có, tài sản nợ và giao dịch mua hoặc bán ngoại tệ
N i , Nj : thời hạn tương ứng với giao dịch khoản phải thu i và khoản phải trả j
(i, j = 1,2,3….)
NTE > 0 : ngân hàng có trạng thái ngoại tệ gộp dương
NTE <0 : ngân hàng có trạng thái ngoại tệ gộp âm
- Nếu ngân hàng có trạng thái ngoại tệ gộp dương đối với một loại ngoại tệ nào đó thì khi ngoại tệ đó xuống giá so với nội tệ, ngân hàng sẽ bị tổn thất ngoại tệ gộp với ngoại tệ đó
- Nếu ngân hàng có trạng thái ngoại tệ cùng thời hạn âm đối với một loại ngoại tệ nào đó thì khi ngoại tệ đó lên giá so với nội tệ, ngân hàng sẽ bị tổn thất ngoại tệ gộp
với ngoại tệ đó.[3]
1.3.3 Sự cần thiết của quản trị rủi ro tỷ giá
Qua việc nhận dạng và tìm hiểu tác động của tỷ giá, ta thấy phòng ngừa rủi ro tỷ giá
là rất cần thiết Khi kinh doanh ngoại tệ, rủi ro tỷ giá xảy ra làm giảm giá trị thị trường của ngân hàng Mục tiêu của ngân hàng là lợi nhuận, lợi nhuận càng cao càng tốt, một khi giá trị của ngân hàng giảm sút thì doanh thu và lợi nhuận cũng giảm theo Do đó ngân hàng cần phải có biện pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá để chống sự sụt giảm giá trị ngân hàng [3] Mặt khác khi ngân hàng phòng ngừa được rủi ro tỷ giá, ngân hàng mới có thể tư vấn và thuyết phục doanh nghiệp sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá do ngân hàng cung cấp
Trang 311.3.4 Mô hình kiểm định rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối của NHTM
Mỗi ngân hàng có những biện pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá riêng biệt Nhưng để quản trị rủi ro tỷ giá có hiệu quả thì trước hết chúng ta cần phải đánh giá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Các nhân tố này đã được tác giả đề cập một cách chi tiết ở mục 1.2 Trong đó có các nhân tố mang tính chất định tính
và các nhân tố mang tính chất định lượng Để biết được nhân tố định lượng nào thật
sự ảnh hưởng đến tỷ giá chúng ta cần phải kiểm định bằng mô hình
Hiện nay có nhiều mô hình được ứng dụng để đánh giá, kiểm định rủi ro Ở đây tác giả sẽ sử dụng mô hình hồi quy đa biến để kiểm định rủi ro tỷ giá
1.3.4.1 Các nhân tố mang tính chất định tính
- Sự can thiệp của NHNN
- Tâm lý kỳ vọng của khách hàng
- Chính trị - xã hội
- Xu hướng dùng hàng nội hay hàng ngoại
1.3.4.2 Các nhân tố mang tính chất định lượng
- Lạm phát
- Lãi suất
- Đầu tư ra nước ngoài
- Cán cân thương mại
Trang 32x ki: Biến độc lập thứ k của quan sát thứ i
ε i: Số lượng sai số, hạng nhiễu ngẫu nhiên
1.3.4.4 Kiểm định giả thuyết và các hệ số hồi quy [6]
Đặt giả thuyết: H0: β1= 0 (Biến x1 không có ý nghĩa thống kê)
H1: β1 ≠0 (Biến x1 có ý nghĩa thống kê)
Tính
)ˆ(
α : bác bỏ giả thuyết H1, chấp nhận giả thuyết H0
k: tổng số biến mô hình (biến phụ thuộc và biến biến độc lập)
n: mẫu quan sát
Hoặc: dựa vào bảng kết xuất kết quả, ta xác định xác suất thống kê t (Prob
(t-statistic)) của biến x1, đem so sánh với α (hệ số tin cậy, thông thường α = 0,05) Xác suất thống kê t (Prob (t-statistic)) > α, bác bỏ giả thuyết H1, chấp nhận giả thuyết H0.
Xác suất thống kê t (Prob (t-statistic)) < α, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1, biến x1 có ý nghĩa thống kê
Mặt khác kết quả kiểm định còn được khẳng định lần nữa qua Wald Test nhằm xem xét biến có cần thiết có mặt trong mô hình [6]
Kiểm định tương tự với các biến độc lập còn lại
1.3.4.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình [6]
Đặt giả thuyết: H0: R2 = 0 (Không tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa các biến)
H1: R2 ≠0 (Tồn tại mối quan hệ giữa các biến)
Tính:
)1()1(
)(
2
2
R k
k n R F
Trang 33< α : bác bỏ giả thuyết H1, chấp nhận giả thuyết H0
k: tổng số biến mô hình (biến phụ thuộc và biến biến độc lập)
n: mẫu quan sát
Hoặc: dựa vào bảng kết xuất kết quả, ta xác định xác suất thống kê F (Prob
(F-statistic)) của mô hình, đem so sánh với α (hệ số tin cậy, thông thường α = 0,05) Xác suất thống kê F (Prob (F-statistic)) > α, bác bỏ giả thuyết H1, chấp nhận giả thuyết H0.
Xác suất thống kê F (Prob (F-statistic)) < α, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1, tồn tại quan hệ tuyến tính giữa các biến [6]
1.3.5 Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá
1.3.5.1 Nghiệp vụ mua bán hối đoái kỳ hạn [3]
Định nghĩa
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn được thực hiện trên thị trường gọi là thị trường hối đoái
kỳ hạn Thị trường hối đoái kỳ hạn là thị trường giao dịch các hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn
Tham gia giao dịch trên thị trường này chủ yếu là các ngân hàng thương mại, các công ty đa quốc gia, các nhà đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế và các công ty xuất nhập khẩu Khi có nhu cầu giao dịch ngoại tệ, hai bên ngân hàng và khách hàng thỏa thuận giao dịch và ký kết hợp đồng giao dịch ngoại tệ kỳ hạn
Ở Việt Nam, giao dịch hối đoái chính thức ra đời khi NHNN ban hành quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10 tháng 01 năm 1998 Quy chế này đã định nghĩa giao dịch hối đoái có kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai Đồng thời quy chế cũng xác định tỷ giá có kỳ hạn là tỷ giá giao dịch do ngân hàng thương mai, ngân hàng đầu tư và phát triển yết giá hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính
Trang 34toán và thỏa thuận với nhau, nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định giới hạn tỷ giá có kỳ hạn hiện hành của NHNN tại thời điểm ký kết hợp đồng.[3]
Thời gian của hợp đồng kỳ hạn [3]
Trên thị trường hối đoái có kỳ hạn tỷ giá thường được niêm yết theo bội số của 30 ngày và năm tài chính thường có 360 ngày Để tiện sử dụng và chính xác, thời hạn hợp đồng có kỳ hạn thường là một tháng, hai tháng, ba tháng,…Tuy nhiên, trên thị trường liên ngân hàng có thể có những hợp đồng có thời hạn dưới một tháng Ngoài
ra cũng có một số ít hợp đồng với thời hạn không phải là bội số của 30 ngày, nhưng loại hợp đồng này thường khó thỏa thuận hơn so với hợp đồng có thời hạn là bội số
30 ngày
Ở Việt Nam do thị trường hối đoái có kỳ hạn chưa phát triển mạnh nên thời hạn giao dịch theo bội số của 30 ngày chưa được áp dụng phổ biến, thay vào đó thời hạn giao dịch thường là do thỏa thuận giữa hai bên nhưng nói chung không quá 180 ngày.[3]
(
)(
2
2 1
t LSCV
t LSCV LSTG
S S
F m m m
×+
×
−
×+
=
)1
(
)(
2
2 1
t LSTG
t LSTG
LSCV S
S
×+
×
−
×+
=
Công thức gần đúng:
360
)(LSCV 1 LSTG 2 n S
S
Trang 35Trong đó:
F m :Tỷ giá mua kỳ hạn
F b : Tỷ giá bán kỳ hạn
S m : Tỷ giá mua giao ngay
S b : Tỷ giá bán giao ngay
LSTG 1 : Lãi suất tiền gửi của đồng tiền định giá
LSCV 1 : Lãi suất cho vay của đồng tiền định giá
LSTG 2 : Lãi suất tiền gửi của đồng tiền yết giá
LSCV 2 : Lãi suất cho vay của đồng tiền yết giá
t: Thời hạn hợp đồng
n: Thời hạn hợp đồng tính theo ngày
Ưu – nhược điềm của giao dịch kỳ hạn
Nhà xuất khẩu thỏa thuận bán ngoại tệ cho ngân hàng theo hợp đồng kỳ hạn
Nhà nhập khẩu thỏa thuận mua ngoại tệ từ ngân hàng theo hợp đồng kỳ hạn
Ngân hàng bán ngoại tệ vừa mua của nhà xuất khẩu cho nhà nhập khẩu theo tỷ giá bán kỳ hạn được thỏa thuận trước và cố định trong suốt thời hạn giao dịch
Trong giao dịch này, nhà xuất khẩu – ngân hàng – nhà nhập khẩu đều có lợi ích nhất định Nhà xuất khẩu được ngân hàng cam kết mua ngoại tệ với tỷ giá cố định
và biết trước nên nhà xuất khẩu hạn chế được rủi ro ngoại tệ xuống giá Nhà nhập khẩu được ngân hàng cam kết bán ngoại tệ cũng với tỷ giá cố định và biết trước nên
Trang 36nhà nhập khầu hạn chế được rủi ro ngoại tệ lên giá Ngân hàng là người trung gian được hưởng lợi từ sự chênh lệch giữa tỷ giá bán kỳ hạn và tỷ giá mua kỳ hạn.[3]
Nhược điểm
Sử dụng hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn khi đến hạn dù bất lợi cho hai bên thì hợp đồng vẫn phải được thực hiện Mặt khác, thực tế có những khách hàng vừa có nhu cầu ngoại tệ ở hiện tại và trong tương lai thì giao dịch hối đoái kỳ hạn không thể đáp ứng mà chỉ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong tương lai.[3]
1.3.5.2 Nghiệp vụ hoán đổi [3]
Ở Việt Nam giao dịch hoán đổi được ra đời từ khi NHNN ban hành quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 Giao dịch hối đoái là giao dịch gồm hai loại giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng.[3]
Thời hạn giao dịch: có thể từ 3 ngày đến 6 tháng Nếu ngày đáo hạn rơi vào chủ
nhật hoặc ngày lễ thì hai bên sẽ thỏa thuận chọn một ngày đáo hạn thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế.[3]
Điều kiện thực hiện: giao dịch hoán đổi áp dụng đối với khách hàng có đủ các điều
kiện sau: [3]
- Có giấy phép kinh doanh
- Xuất trình các chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụng ngoại tệ
- Mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản VND ở ngân hàng
- Trả phí giao dịch theo quy định
- Duy trì một tỷ lệ đặt cọc tối đa không quá 5% trị giá hợp đồng để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng
- Ký hợp đồng giao dịch hoán đổi với ngân hàng.[3]
Ngày thanh toán: có hai loại ngày là ngày hiệu lực và ngày đáo hạn
Ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toán giao dịch giao ngay
Ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch kỳ hạn.[3]
Trang 37Xác định tỷ giá hoán đổi: giao dịch hoán đổi là sự kết hợp giữa giao dịch giao ngay
và giao dịch kỳ hạn nên tỷ giá của giao dịch này cũng liên quan đến tỷ giá giao ngay
và tỷ giá kỳ hạn [3]
Quy trình thực hiện giao dịch hoán đổi tại NHTM:[3]
- Khách hàng có nhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi đến liên hệ với phòng kinh doanh tiền tệ với ngân hàng
- Căn cứ vào cung cầu mua bán ngoại tệ, phòng kinh doanh tiền tệ sẽ chào giá và kỳ hạn cụ thể cho khách hàng
- Nếu khách hàng đồng ý giá cả thì hai bên ký hợp đồng hoán đổi.[3]
Ưu- nhược điểm
Ưu điểm
Giao dịch hoán đổi là sự kết hợp giữa giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi khắc phục được nhược điểm của giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn Trong giao dịch các bên tham gia đều có lợi ích nhất định
Đối với khách hàng: khách hàng thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ ở hiện tại và cũng thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ ở tương lai
Đối với ngân hàng: đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ của khách hàng đồng thời qua
đó ngân hàng kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giá mua và gia bán ngoại tệ
Sử dụng hợp đồng hoán đổi để phòng ngừa rủi ro tỷ giá.[3]
Nhược điểm
Hợp đồng chỉ quan tâm đến tỷ giá tại hai thời điểm: thời điểm hiệu lực và thời điểm đáo hạn mà không quan tâm đến sự biến động của tỷ giá trong suốt khoảng thời gian giữa hai thời điểm đó Đến thời gian đáo hạn thì các bên bắt buộc phải thực hiện hợp đồng dù tỷ giá trên thị trường có biến động như thế nào.[3]
1.3.5.3 Nghiệp vụ hối đoái giao sau [3]
Khái niệm
Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi sở giao dịch.[3]
Trang 38Hợp đồng giao sau có tính thanh khoản cao hơn so với hợp đồng kỳ hạn vì phòng giao hoán sẵn sàng “đảo hợp đồng” bất cứ khi nào có một bên yêu cầu Khi đảo hợp đồng thì hợp đồng cũ bị xóa bỏ và hai bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng Đặc điểm này khiến hầu hết các hợp đồng giao sau được tất toán thông các nhà đầu cơ Nhà đầu cơ dự báo một loại ngoại tệ nào đó lên giá trong tương lai sẽ mua hợp đồng giao sau loại ngoại tệ đó, nếu dự báo một loại ngoại tệ xuống giá trong tương lai sẽ bán hợp đồng ngoại tệ giao sau.[3]
Ưu – nhược điểm
Ưu điểm
Sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có giá trị nhỏ Hợp đồng cho phép các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn Hợp đồng được sử dụng với mục đích đầu cơ, phòng ngừa rủi ro.[3]
Nhược điểm
Hợp đồng giao sau chỉ cung cấp giới hạn một vài ngoại tệ mạnh và vài ngày chuyển giao ngoại tệ trong năm Hợp đồng này bắt buộc phải thực hiện khi đến hạn, nếu thị trường biến động bất lợi, nhà đầu cơ cũng không có quyền tự ý rút ra khỏi thị trường.[3]
1.3.5.4 Nghiệp vụ mua bán quyền chọn [3]
Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng kỳ hạn có thể sử dụng để phòng ngừa rủi ro hối đoái, nhưng vì những hợp đồng này bắt buộc thực hiện khi đến hạn nên nó cũng đánh mất cơ hội kinh doanh trong điều kiện tỷ giá biến động thuận lợi Do đó một
Trang 39số ngân hàng thương mại đã nghiên cứu và đưa ra một dạng hợp đồng quyền chọn tiền tệ khắc phục nhược điểm của các hợp đồng trên.[3]
có thể là hàng hóa hoặc cổ phiếu,…
- Tỷ giá thực hiện: tỷ giá sẽ được áo dụng nếu người mua quyền yên cầu thực hiện quyền chọn
- Trị giá hợp đồng quyền chọn: trị giá được chuẩn hóa theo từng loại ngoại tệ và thị trường giao dịch
- Thời gian của quyền chọn: thời hạn hiệu lực của quyền chọn, quá thởi hạn này quyền chọn không còn giá trị
- Phí quyền chọn: là chi phí mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền để
sở hữu quyền chọn.Chi phí này thường được tính bằng một số nội tệ trên mỗi ngoại
Trang 40mua phải trả cho người bán một khoản phí gọi là phí chọn, phí này được người bán giữ luôn.[3]
Kiểu quyền chọn
Có hai kiểu quyền chọn Châu Âu và Mỹ
- Quyền chọn kiểu Châu Âu cho phép người mua thực hiện khi quyền chọn đến hạn
- Quyền chọn kiểu Mỹ cho phép người mua thực hiện quyền bất cứ thời điểm nào trong thời hạn hiệu lực của quyền chọn
Nếu đặt E: tỷ giá thực hiện
S: tỷ giá giao ngay
Quyền chọn mua: S > E : Hợp đồng sinh lợi