Phấn đấu đến năm 2010, sẽ có 20 triệu tài khoản cá nhân, 70% cán bộ hưởng lương ngân sách và 50% công nhân lao động trong các khu vực DN được trả lương qua tài khoản; khu vực DN sẽ có kh
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Hòa mình cùng với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng không ngừng phát triển, nó đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường Để bắt kịp nhịp độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới, tất cả các ngành nghề đều phải không ngừng vận động để tồn tại và phát triển, việc trao đổi mua bán trong kinh doanh ngày càng phát triển, nhu cầu về thanh toán là rất lớn, đặc biệt là TTKDTM Nó đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến, được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại, các giao dịch
có giá trị và khối lượng lớn Đó là một trong những cơ hội kinh doanh tốt cho NH TTKDTM không chỉ thúc đẩy tăng trưởng cho hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế mà còn góp phần đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước
Dựa theo Quyết định số 291/ 2006/ QĐ – TTg ban hành ngày 29/12/2006 về phê duyệt đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 [7]
• Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
• Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12 tháng
12 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 10/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003;
• Căn cứ Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm
1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Nghị đinh 30/CP ban hành ngày 09/05/1996 về quy chế phát hành và sử dụng Séc [1]
Nghị định 64/2001/ NĐ – CP ngày 20/09/2001 về hoạt động thanh toán qua các
tổ chức cung ứng dịch vụ [2]
Nghị định 159/ 2003 NĐ – CP ban hành ngày 10/12/2003 về cung ứng và sử dụng Séc [3]
Trang 2Trong môi trường kinh doanh ngày càng đa dạng và phức tạp như hiện nay, các NHTM phải không ngừng đổi mới hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, hiện đại hóa công nghệ nhằm nâng cao về số lượng và cả chất lượng các sản phẩm dịch vụ để đủ sức cạnh tranh và phát triển bền vững trên thị trường Một trong các sản phẩm dịch vụ đang là vấn đề nóng bỏng hiện nay, cần được quan tâm phát triển đó là dịch vụ về thanh toán Nhưng thanh toán làm sao để đem lại lợi ích cao nhất lại là một khía cạnh khác, thanh toán để đem lại sự thuận tiện, an toàn cho mọi cá nhân và doanh nghiệp, mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước
TTKDTM là dịch vụ khá phổ biến đem lại sự nhanh chóng, chính xác, an toàn và bảo mật cho khách hàng, giúp cho cả khách hàng và hệ thống NH không tốn chi phí cho việc bảo quản, kiểm đếm tiền mặt Tuy nhiên, do hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém, chưa đồng bộ nên TTKDTM tại Việt Nam vẫn chưa được phát triển rộng rãi và còn nhiều hạn chế Đẩy mạnh TTKDTM tại Việt Nam, đặc biệt là thanh toán qua thẻ ngân hàng, từng bước phát triển việc thanh toán tiền bằng các công cụ thanh toán là việc rất nên làm
Trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống Kinh tế - Xã hội Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng đang có những bước chuyển biến mạnh
mẽ để hòa nhịp với kinh tế thế giới, trong đó hiện đại hóa công nghệ thanh toán, phát triển các công cụ và tiện ích TTKDTM là mục tiêu trọng tâm của Chính phủ đặt ra Đặc biệt, Đồng Nai là tỉnh tập trung nhiều khu công nghiệp và cụm công nghiệp,là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trong điểm của Đất nước nên nhu cầu về thanh toán vốn là rất lớn
Hiện nay, thị trường tài chính Việt Nam đang cạnh tranh rất sôi động, các NHTM đang không ngừng nâng cao chất lượng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới, tạo cơ hội tốt cho người sử dụng dịch vụ có nhiều sự lựa chọn mới và có điều kiện tiếp cận phương tiện thanh toán hiện đại Các sản phẩm dịch vụ đã và đang được đa dạng hóa, phục vụ cho mục tiêu TTKDTM tại Việt Nam Nhận thức được vai trò của TTKDTM, ngân hàng Đông Á đã nổ lực rất nhiều nhằm phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ thanh toán, tuy nhiên tỷ trọng TTKDTM trong tổng doanh số thanh toán vẫn còn nhiều hạn chế Đứng trước nhu cầu thanh toán ngày càng tăng cao
và những hạn chế của thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay, ngân hàng Đông Á cần có những chiến lược để phát triển, góp phần “phổ cập” TTKDTM trong dân cư
Trang 3Phấn đấu đến năm 2010, sẽ có 20 triệu tài khoản cá nhân, 70% cán bộ hưởng lương ngân sách và 50% công nhân lao động trong các khu vực DN được trả lương qua tài khoản; khu vực DN sẽ có khoảng 80% các khoản thanh toán giữa DN với nhau được thực hiện qua tài khoản tại các NH…
Qua thời gian tiếp xúc với thực tiễn hoạt động của ngân hàng cùng với những bức xúc từ nhu cầu của thị trường kinh doanh hiện nay, em nhận thấy công tác thanh toán không dùng tiền mặt là rất cấn thiết Xuất phát từ những lí do trên và được sự cho phép của Ban lãnh đạo ngân hàng Đông Á, em chọn và viết đề tài:
“ ĐẨY MẠNH THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỂN MẶT TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐÔNG Á – PGD BIÊN HÒA ĐẾN NĂM 2015”
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, khoa học trên cơ sở sẵn có các tiềm năng về dịch vụ Đồng thời bảo đảm dưới góc độ thực tế, đưa ra những giải pháp thiết thực nhất giúp chất lượng hoạt động dịch vụ, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng phát triển, thu hút được số đông khách hàng đến với sản phẩm thanh toán của Đông Á Đây cũng là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và hiện đại trong thanh toán
2 Tổng quan đề tài nghiên cứu:
Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán đang được khuyến khích áp dụng ở Việt Nam Nó đã và đang là mục tiêu quan trọng của Chính phủ Việt Nam, đang là đề tài hấp dẫn được nhiều cá nhân và tổ chức quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, trao đổi một cách sôi nổi Đã có nhiều cuộc hội thảo và nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn, được nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính áp dụng vào thực tiễn, nhiều Chính sách của Nhà nước cũng đã ra đời để phục vụ cho mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt của Đất nước
Chính phủ đã ban hành quyết định Quyết định 291[7] về đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 với những mục tiêu, lộ trình cụ thể để đến năm 2020, về cơ bản không còn thanh toán bằng tiền mặt trong thu chi ngân sách Đồng thời, tỷ lệ các giao dịch thanh toán, chi tiêu thực hiện qua tài khoản sẽ đạt 90%
Trang 4Ngày 1/1/2005, NHNN công bố Nghị định quản lí thanh toán bằng tiền mặt đã thông qua Nhà nước, báo chí khuyến khích nhắc nhở nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức
xã hội mở tài khoản và thanh toán không dùng tiền mặt
Để hỗ trợ cho công tác thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 9/11/2005 Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua, tạo hành lang pháp lý cho các nghiệp
vụ Ngân hàng hiện đại, trong đó có dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện cho ngân hàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động thương mại điện tử, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho các chủ thể tham gia kinh doanh trực tuyến trên mạng và qua tài khoản trên phạm vi toàn xã hội Văn bản ban hành rất đồng bộ với cơ chế thanh toán hiện đại, phù hợp với xu thế hội nhập
Ngân hàng Nhà nước TP HCM và Ngân hàng TMCP Đông Á (DAB) cũng đã phối hợp tổ chức cuộc hội thảo về “ Thanh toán không dùng tiền mặt” nhằm khuyến khích sử dụng thẻ như một giải pháp để phát triển nhanh việc thanh toán không dùng tiền mặt, giảm bớt lượng tiền mặt rất lớn đang được sử dụng trong các giao dịch thanh toán hàng ngày
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã đề ra một số đề án thành phần khác như: đề án chi trả trợ cấp ưu đãi xã hội và trợ cấp xã hội, đề án hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán của nền kinh tế; đề án TTKDTM trong khu vực doanh nghiệp, nhóm đề án TTKDTM trong khu vực dân cư, nhóm đề án phát triển các hệ thống thanh toán, gồm một số tiểu đề án như xây dựng trung tâm thanh toán bù trừ tự động phục vụ cho các giao dịch bán lẻ; xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất; kết nối hệ thống thanh toán bù trừ và quyết toán chứng khoán với hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia
Trên thế giới, các quốc gia ở châu Âu đã sớm áp dụng phương thức TTKDTM
và đã mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế Trong đó, Mỹ là quốc gia đi tiên phong
về lĩnh vực thanh toán điện tử trong hoạt động ngân hàng, thẻ thanh toán Nhiều đề tài phục vụ cho TTKDTM đã ra đời như:
- Đề tài nghiên cứu về thị trường thẻ thông minh Châu Á – Thái Bình Dương của Frost & Sullivan
- Giải pháp chìa khóa trao tay của BGS áp dụng công nghệ DUET (Direct Universal Electronic Transaction – Giao dịch điện tử trược tiếp phổ biến )
Trang 5- Ngoài ra, còn có nghiên cứu về hoạt động dịch vụ thẻ thanh toán của Stuart Tomlinson
Kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy, trong lĩnh vực thanh toán qua ngân hàng
có nhiều luật khác nhau như Luật Thanh toán bằng tiền mặt, Luật Séc, Luật Hối phiếu, Luật Phòng chống rửa tiền… đều được xây dựng đồng bộ Theo TS Nguyễn Đại Lai:
“Thụy Điển là một trường hợp rất hay Cuộc cách mạng về TTKDTM ở quốc gia này mới bắt đầu từ 1999, vậy mà kể từ sau năm 2000, tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán của Thụy Điển chỉ còn 0,7%, một con số đáng khâm phục nếu biết rằng trước 1999 tỷ lệ đó là trên 17%”.[20]
Bên cạnh đó, ở giác độ nghiên cứu khoa học của sinh viên Các kiến nghị đưa ra
thể hiện quan điểm rõ ràng, tập trung vào vấn đề nghiên cứu Nhiều Sinh viên chuyên ngành tài chính ngân hàng trong phạm vi cả nước đã có nhiều tham luận và có nhiều báo cáo nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực TTKDTM Tất cả những tham luận và báo cáo nghiên cứu này đều thể hiện được tính cấp thiết cũng như gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn để giải quyết vấn đề có tính khoa học
Trong phạm vi trường Đại học Lạc Hồng, đề tài về TTKDTM hầu như chưa có Sinh viên nào thực hiện Tuy nhiên, cũng có một số đề tài làm về thanh toán thẻ, marketing thẻ ngân hàng, đó là một phần trong đề tài TTKDTM
- Đề tài của tác giả Nguyễn Ngọc Phương Thanh: “ Đẩy mạnh hoạt động Marketing thẻ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Biên Hòa”
- Đề tài: “ Giải pháp Marketing nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Đông Á phòng giao dịch Biên Hòa – Đồng Nai” của tác giả Phan Thị Huyền – Sinh viên khoa Quản trị - Kinh tế quốc tế
Trong báo cáo nghiên cứu này, tác giả đi sâu phân tích các phương thức TTKDTM: thanh toán bằng Séc, thanh toán bằng Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, thanh toán bằng thẻ, nhưng chủ yếu tác giả tập trung vào phương thức thanh toán bằng thẻ, dùng thẻ làm phương tiện phổ biến để thực hiện TTKDTM Mong muốn của tác giả là phát triển rộng rãi phương thức thanh toán bằng thẻ ra công chúng, góp phần mở rộng TTKDTM trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, dựa trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của các nước tiến bộ đã đi trước Xuất phát từ nhu cầu của các cá nhân và tổ chức, mở rộng phương thức TTKDTM không những giải quyết nhu cầu về thanh toán mà còn
Trang 6góp phận thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Đất nước, góp phần khắc phục những tồn tại và khó khăn trong công tác TTKDTM Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra những cách đánh giá và nhìn nhận vấn đề trong bối cảnh và tình hình mới, đánh giá kết quả sử dụng thẻ ngân hàng với công tác thanh toán không dùng tiền mặt
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tiến hành điều tra, phân tích, sàng lọc, so sánh những vấn đề liên quan ở 2 chương cùa báo cáo Tìm hiểu phương thức TTKDTM qua thẻ tại Việt Nam, tăng giảm ra sao, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến TTKDTM: các vấn đề về chất lượng dịch vụ, cơ sở hạ tầng kĩ thuật, cơ chế chính sách ở nhiều góc độ khác nhau.Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng công tác TTKDTM tại Việt Nam đến năm 2015
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng về thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam
- Đi sâu nghiên cứu thực trạng về thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng
TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa
- Dựa trên cơ sở đó, đưa ra những biện pháp đẩy mạnh hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc phát triển các dịch vụ thanh toán, đặc biệt
• Thời gian: từ năm 2007 đến cuối năm 2009
• Không gian: tại địa bàn Thành phố Biên Hòa, cụ thể là ở ngân hàng Đông Á – PGD Biên Hòa
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tại bàn gồm: so sánh, thống kê, phân tích
- Phương pháp tại hiện trường gồm: điều tra khảo sát thực tế bằng bảng câu hỏi Ngoài ra , tác giả còn sử dụng công cụ Excel và phần mềm xử lý số liệu SPSS 16.0
để hỗ trợ cho việc tính toán và phân tích
6 Những đóng góp mới của đề tài:
- Khắc phục những tồn tại trong hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt
là thanh toán bằng thẻ
- Đem lại lợi ích tối đa cho khách hàng khi thanh toán không dùng tiền mặt
- Góp phần “phổ cập” thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư
7 Kết cấu nội dung:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bảng biểu, phụ lục, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về thanh toán không dùng tiền mặt
- Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng
TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác thanh toán không dùng
tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa
Trang 8CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt:
Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là cách thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả sang tài khoản của người thụ hưởng mở tại Ngân hàng (NH) hoặc là bằng cách
bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng
1.2 Nguồn gốc hình thành thanh toán không dùng tiền mặt:
Thanh toán là một khâu rất quan trọng trong quá trình sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa Vì vậy, các phương tiện thanh toán phải không ngừng đổi mới, phát triển theo hướng hiện đại để phù hợp với nhịp độ tăng trưởng của quá trình sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa cũng như phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế
Cùng với sự phát triển của xã hội, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mạnh
mẽ, lưu thông hàng hóa ngày càng được mở rộng cả về quy mô, phạm vi, nhu cầu của con người ngày càng cao, khối lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng cả về khối lượng và chất lượng, các quan hệ thương mại được mở rộng ra trên phạm vi quốc tế thì thanh toán dùng tiền mặt càng bộc lộ những hạn chế nhất định của nó
• Đầu tiên, khối lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên gây khó khăn cho quá trình điều hòa, lưu thông tiền mặt, gây sức ép về mặt giá cả, đó là một trong những nguyên nhân gây nên lạm phát cao
• Mặt khác, thanh toán bằng tiền mặt phải tốn chi phí rất lớn cho việc in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm…
• Tiếp đến, khi quan hệ thanh toán mở rộng ra phạm vi quốc tế thì chi phí về thủ tục chuyển đổi tiền sẽ rất lớn, thời gian để thanh toán bị hạn chế, điều này làm kiềm hãm quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa
• Hơn nữa, thanh toán tiền mặt hạn chế khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, hạn chế nạn tiền giả
Trang 9Từ thực tế khách quan này, một phương thức thanh toán tiến bộ hơn đã ra đời
và ngày càng được mở rộng cả về quy mô và phạm vi, đó là phương thức TTKDTM với hình thức tiền tệ ghi sổ, trong đó, NH đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng Nó đã khắc phục được những hạn chế trên của thanh toán dùng tiền mặt
1.3 Đặc điểm của TTKDTM:
- Gọn nhẹ, không giữ trong người nên an toàn
- Không thực hiện thao tác bằng tiền mặt
- Thanh toán qua hệ thống tài khoản ngân hàng
- Có thể kiểm soát được thông tin giao dịch trên tài khoản
- Thực hiện được giao dịch mọi lúc, mọi nơi
- Tiết kiệm thời gian và chi phí
1.4 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường:
TTKDTM có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường Tính đến cuối năm 2009, ngành NH đã đạt tỷ lệ TTKDTM 86%; tốc
độ quay vòng đồng vốn giảm từ 3 - 5 ngày trong năm 2001 xuống còn 20 phút năm
2009 Toàn quốc đã có hơn gần 10.000 máy rút tiền tự động ATM và hơn 36.000 POS,
22 triệu thẻ thanh toán, 25/49 tổ chức tín dụng trong nước có dịch vụ Internet Banking, Home Banking, SMS banking, Mobile Banking và Ví điện tử [20]
1.4.1, Thúc đẩy quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa không ngừng phát triển:
TTKDTM cung cấp cho các chủ thể thanh toán những công cụ thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và hiện đại Khi thực hiện thanh toán, khách hàng không phải mang theo tiền mặt mà chỉ cần sử dụng một số hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, do vậy sẽ tránh được những rủi ro như mất trộm, giảm chi phí vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản tiền mặt Nhờ đó chất lượng của hoạt động thanh toán ngày càng nâng cao, góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế và hạn chế được hoạt động rửa tiền
1.4.2, Góp phần ổn định lưu thông tiền tệ, giảm chi phí lưu thông xã hội
Công tác TTKDTM gắn liền với công tác kế hoạch hoá lưu thông tiền tệ Thực hiện tốt công tác TTKDTM tức là tăng nhanh tỷ trọng TTKDTM trong chu chuyển tiền tệ, giúp:
Trang 10• Giảm lượng tiền mặt trong lưu thông
• Giảm được các chi phí cần thiết phục vụ cho lưu thông tiền mặt như: chi phí in
ấn, kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền
• Tác động trực tiếp đến thị trường giá cả, kiềm chế lạm phát
• Đảm bảo an toàn cho việc dự trữ tiền và tài sản của xã hội,
• Đẩy mạnh tốc độ lưu chuyển tiền tệ tiến tới ổn định tiền tệ
• Giải quyết được tình trạng thiếu tiền mặt trong ngân quỹ làm cho hoạt động của ngân hàng được thực hiện trong suốt, hoàn thiện chức năng trung gian thanh toán của NHTM
1.4.3, Góp phần tăng nguồn vốn cho ngân hàng thương mại:
• TTKDTM tạo điều kiện cho NHTM thực hiện chức năng “tạo tiền” TTKDTM
sử dụng tiền ghi sổ, thực hiện thanh toán bằng cách trích từ tài khoản người phải trả sang tài khoản người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các NHTM với nhau
Do đó, TTKDTM luôn tạo ra một lượng tiền nhàn rỗi mà NH có thể sử dụng để tăng nguồn vốn tín dụng, tăng nguồn vốn cho đầu tư
• Đồng thời, thông qua hình thức thanh toán này, NH nắm được một cách chính xác, hợp lý tình hình thiếu vốn của các bên tham gia thanh toán để kịp thời cho vay, phát tiền đúng mục đích và có vật tư hàng hóa đảm bảo Đây chính là cơ sở
để NH thực hiện chức năng tạo tiền của mình
• TTKDTM giúp cho ngân hàng tập trung được nguồn vốn trong xã hội phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.4.4, Phục vụ cho việc chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của NHNN:
• Giảm được khối lượng lớn tiền mặt trong lưu thông và làm tăng khối lượng tiền ghi sổ, điều đó giúp cho NH Trung ương có thể sử dụng hữu hiệu các công cụ của chính sách tiền tệ
• Nhà nước có thể kiểm soát được lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường để có biện pháp quản lý lạm phát, quản lý sự biến động của thị trường, thiết lập các chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia Bên cạnh đó, việc thanh toán qua ngân hàng sẽ kiểm soát được tình trạng thu chi của các doanh nghiệp hạn chế tình trạng tham ô, chi tiêu mờ ám, trốn thuế, rửa tiền…
Trang 111.4.5, Giúp nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các NHTM:
Hiện nay, ngoài sự có mặt của các NHTM quốc doanh còn có sự góp mặt của rất nhiều các tổ chức ngân hàng nước ngoài, các tổ chức phi ngân hàng như bảo hiểm, bưu điện cũng cung cấp một số dịch vụ ngân hàng cho khách hàng Do vậy, để thu hút khách hàng đòi hỏi các NH phải không ngừng cải tiến dịch vụ (áp dụng công nghệ hiện đại, đổi mới phong cách giao dịch), nâng cao chất lượng phục vụ để đủ sức cạnh tranh cùng với các tổ chức khác
Như vậy, TTKDTM giữ một vai trò hết sức quan trọng trong ngành ngân hàng nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung
1.5 Nguyên tắc TTKDTM tại Việt Nam hiện nay:
1.5.1, Đối với người chi trả (người mua):
Phải mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng hoặc các tổ chức làm dịch vụ thanh toán Khi tiến hành thanh toán phải thực hiện thanh toán thông qua tài khoản đã mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí thanh toán theo quy định của ngân hàng và
tổ chức làm dịch vụ thanh toán
1.5.2, Đối với người thụ hưởng ( người bán):
Phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời và đúng lượng gía trị mà người mua đã thanh toán đồng thời phải kiểm soát kỹ càng các chứng từ phát sinh trong quá trình thanh toán
1.5.3, Đối với Ngân hàng thương mại (tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán)
Là trung gian thanh toán và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng các NHTM phải có trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động thanh toán như:
Mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng và thông báo cho khách hàng biết số tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản
• Kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, cung cấp đầy đủ các loại chứng từ thích hợp với mỗi loại hình thanh toán, đảm bảo lập đúng thủ tục quy định, dấu và các chữ ký trên giấy tờ thanh toán đúng với mẫu đã đăng ký, số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng còn đủ để thanh toán
• Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu các giấy tờ thanh toán không đủ các yêu cầu trên
Trang 121.6 Các hình thức TTKDTM:
Theo nghị định 64/CP [2] của chính phủ và quyết định 226/2002/QĐ-NHNNcủa thống đốc NHNN thì có 5 hình thức thanh toán được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ là:
• Thanh toán bằng Séc
• Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi
• Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu
• Thanh toán bằng thư tín dụng
• Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
1.6.1, Thanh toán bằng Séc:
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản, ra lệnh cho NH trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong Séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản
Séc được dùng để thanh toán trực tiếp tiền hàng hoá, dịch vụ giữa người mua (người chi trả) và người bán (người thụ hưởng), nộp thuế trả nợ hoặc để rút tiền mặt tại các chi nhánh NH Tất cả khách hàng mở tài khoản tại NH đều có quyền sử dụng séc để thanh toán Trong hình thức thanh toán bằng séc, việc trả tiền do người trả tiền khởi xướng và kết thúc bằng việc ghi số tiền trên tờ séc vào tài khoản của người nhận tiền
Nghị định 30/CP [1] của Chính phủ ban hành về quy chế phát hành sử dụng séc
do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 09/05/1996 và tiếp đến là nghị định 159/CP đã đánh dấu một bước chuyển biến có ý nghĩa kinh tế lớn trong việc sử dụng séc ở Việt Nam Theo Nghị định này, séc không còn là một công cụ chuyển khoản đơn thuần mà còn phát huy được vai trò là công cụ lưu thông tín dụng được sử dụng rộng rãi (tổ chức và các cá nhân) ở tất cả các nước trên thế giới, quy tắc sử dụng séc đã được chuẩn hóa trên luật thương mại quốc gia và trên công ước quốc tế
Thời hạn hiệu lực của séc là 30 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành séc đến ngày người thụ hưởng nộp séc vào NH (gồm cả ngày chủ nhật và ngày lễ) Nếu ngày kết thúc của thời hạn là ngày chủ nhật, ngày lễ thì thời hạn được lùi vào ngày làm việc tiếp theo sau ngày chủ nhật, ngày lễ đó.[3]
Một tờ séc đủ điều kiện thanh toán là tờ séc, đảm bảo các yếu tố sau đây:
Trang 13- Tờ séc phải có đủ các yếu tố và nội dung quy định, không bị tẩy xóa, sửa chữa, số tiền bằng chữ và bằng số phải khớp nhau
- Được nộp trong thời hạn hiệu lực thanh toán
- Không có lệnh đình chỉ thanh toán
- Chữ ký và dấu (nếu có) của người phát hành séc phải khớp đúng với mẫu đã đăng ký tại Ngân hàng
- Không ký phát hành séc vượt quá thẩm quyền quy định tại văn bản ủy quyền
- Tài khoản tiền gửi của Chủ tài khoản đủ số dư để thanh toán
- Các chữ ký chuyển nhượng (đối với séc ký danh) phải liên tục
Ở Việt Nam hiện nay, séc có nhiều loại nhưng séc dùng trong TTKDTM gồm có séc chuyển khoản và séc bảo chi
1.6.1.1, Séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản là loại séc do người chi trả ký phát hành để trao trực tiếp cho người cung cấp khi nhận hàng hoá, dịch vụ cung ứng Để phân biệt với các loại séc khác, khi viết séc chuyển khoản người người viết phải gạch hai đường gạch song song chéo góc ở phía trên, bên phải hoặc ghi từ “chuyển khoản’’ ở mặt trước của tờ séc
Về nguyên tắc, séc thanh toán chuyển khoản phải được phát hành trên cơ sở số
dư tài khoản tiền gửi hiện có tại Ngân hàng
Phạm vi thanh toán séc chuyển khoản gồm thanh toán cùng một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và nếu thanh toán khác tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thì chi nhánh ngân hàng đó phải tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố
Để đảm bảo quy định người chi trả phải có đủ tiền để trả cho người thụ hưởng thì khi kế toán séc chuyển khoản phải thực hiện nguyên tắc ghi Nợ trước, ghi có sau
Trang 14Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản Ngoài việc được
sử dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng, hoặc hai chi nhánh Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố, séc bảo chi còn được sử dụng để thanh toán giữa khách hàng mở TK tại các chi nhánh Ngân hàng trong cùng hệ thống trong phạm vi cả nước
- Quy trình thanh toán :
Trường hợp 1: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản cùng hệ thống ngân hàng
Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán Séc của 2 chủ thể thanh toán cùng hệ thống NH
“Nguồn: Thanh toán quốc tế”[9]
Chú thích:
(1) Người bán giao hàng cho người mua
(2) Người mua kí phát Séc thanh toán cho người bán
(3) Người bán nộp Séc vào ngân hàng để được chi trả
(4) Ngân hàng ghi Nợ và báo Nợ người mua
(5) Ngân hàng ghi Có và báo Có người bán
Nhận xét:
Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy quy trình thanh toán Séc của 2 chủ thể mở tài khoản trong cùng hệ thống ngân hàng đơn giản nhưng rất chặt chẽ Đây là điều kiện tốt để khách hàng có thể tham gia hình thức thanh toán này một cách nhanh chóng
Ngân hàng
(1)
(2)
(3) (5) (4)
Trang 15Trường hợp 2: 2 chủ thể mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ thanh toán Séc của 2 chủ thể thanh toán khác hệ thống NH
“Nguồn: Thanh toán quốc tế”[9]
Chú thích:
(1) Người bán giao hàng cho người mua
(2) Người mua kí phát Séc thanh toán cho người bán
(3) Người bán nộp Séc vào ngân hàng để được chi trả
(4) Ngân hàng bên bán nhờ ngân hàng bên mua thu hộ tiền ở người mua
(5) Ngân hàng bên mua ghi Nợ và báo Nợ cho người mua
(6) Quyết toán Séc giữa 2 ngân hàng
(7) Ngân hàng bên bán ghi Có và báo Có cho bên bán
Nhận xét:
Quy trình thanh toán Séc giữa 2 chủ thể mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng tương đối đơn giản So với quy trình thanh toán Séc trong một NH thì NH bên bán phải thực hiện thêm 2 bước nữa là nhờ NH bên mua thu hộ tiền của người mua và quyết toán Séc giữa 2 NH Tuy nhiên, đây vẫn là hình thức thanh toán rất thuận lợi cho khách hàng
1.6.2, Thanh toán bằng ủy nhiệm chi - Lệnh chi
Uỷ nhiệm chi (UNC) là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng
UNC được dùng để thanh toán các khoản tiền hàng, dịch vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống hay khác hệ thống Ngân hàng
Người bán Người mua
(3) (7)
(6)
(2)
(4) (1)
(5)
Trang 16Trong hình thức thanh toán UNC, người trả tiền chủ động lập UNC và nộp vào
NH phục vụ mình để trích tài khoản tiền gửi của mình chuyển trả cho bên thụ hưởng Khi nhận được UNC, trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng phục vụ người trả tiền phải hoàn tất lệnh chi hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền hoặc lệnh chi lập không hợp lệ
- Quy trình thanh toán:
Trường hợp 1: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản cùng hệ thống ngân hàng
Sơ đồ 1.3: Quy trình thanh toán bằng UNC của 2 chủ thể thanh toán cùng hệ thống
Ngân hàng
“ Nguồn: Tài liệu tập huấn dành cho cán bộ kế toán”[6]
Chú thích:
(1) Người mua gửi lệnh chi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
(2) Người bán giao hàng cho người mua
(3) Ngân hàng gửi báo nợ cho người mua
(4) Ngân hàng gửi báo có cho người bán
Ngân hàng
(2)
(3) (1)
(4)
Trang 17Trường hợp 2: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng
Sơ đồ 1.4: Quy trình thanh toán bằng UNC của 2 chủ thể thanh toán khác hệ thống
Ngân hàng
“Nguồn: Thanh toán quốc tế”[9]
Chú thích:
(1) Người bán giao hàng cho người mua
(2) Người mua lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển trả tiền cho người bán
(3) Ngân hàng phục vụ người mua (NH chuyển tiền) chuyển tiền cho người bán thông qua ngân hàng đại lý
(4) Ngân hàng đại lý ghi Có và báo Có cho người bán
(5) Ngân hàng chuyển tiền ghi Nợ và báo Nợ cho người mua
Nhận xét:
Đây có thể được xem như là một phương thức chuyển tiền giữa 2 NH Khách hàng chỉ cần làm lệnh chi yêu cầu NH phục vụ mình trả tiền là khoản giao dịch thanh toán của khách hàng có thể thực hiện một cách nhanh chóng vì thủ tục và quy trình rất đơn giản và chặt chẽ
NH chuyển tiền NH đại lý
Người mua
Người bán
(3)
(2) (5)
(1)
(4)
Trang 181.6.3, Thanh toán bằng ủy nhiệm thu – Nhờ thu:
Uỷ nhiệm thu (UNT) là giấy ủy nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào NH phục vụ mình để nhờ thu hộ số tiền theo lượng hàng hóa đã giao, dịch vụ đã cung ứng cho người mua
- Điều kiện áp dụng và nội dung thanh toán:
UNT được áp dụng thanh toán tiền hàng, dịch vụ giữa các chủ thể mở TK trong cùng một chi nhánh NH hoặc các chi nhánh NH cùng hệ thống hay khác hệ thống Các chủ thể thanh toán phải thoả thuận thống nhất dùng hình thức thanh toán UNT với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho NH phục vụ chủ thể thanh toán biết
để làm căn cứ thực hiện các UNT
Sau khi đã giao hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên thụ hưởng lập UNT kèm theo hóa NH phục vụ bên trả tiền để yêu cầu thu hộ tiền
Khi nhận được giấy UNT, trong vòng một ngày làm việc, NH phụ vụ bên trả tiền phải trích tài khoản của bên trả tiền để trả ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán
- Quy trình thanh toán UNT:
Trường hợp 1: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản cùng hệ thống ngân hàng
Sơ đồ 1.5: Quy trình thanh toán bằng UNT của 2 chủ thể thanh toán cùng hệ thống
Ngân hàng
(1)
Trang 19Chú thích:
(1) Người bán giao hàng cho người mua
(2) Người bán lập uỷ nhiệm thu gửi Ngân hàng
(3) Ngân hàng gửi báo nợ cho người mua
(4) Ngân hàng gửi báo có cho người bán
Nhận xét:
Cũng tương tự hình thức UNC, quy trình thanh toán bằng UNT cũng rất đơn
giản nhưng người lập lệnh thu là người bán Đây là một hình thức TTKDTM rất tiện
lợi và có hiệu quả cho cả khách hàng và ngân hàng
Trường hợp 1: 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản khác hệ thống ngân hàng
Sơ đồ 1.6: Quy trình thanh toán bằng UNT của 2 chủ thể thanh toán khác hệ thống
Ngân hàng
“Nguồn: Thanh toán quốc tế”[9]
Chú thích:
(1) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu
(2) Người xuất khẩu lập chỉ thị nhờ thu và hối phiếu nộp vào ngân hàng để ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu
(3) NH nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu và hối phiếu cho ngân hàng đại lý để
thông báo cho người nhập khẩu biết
(4) NH đại lý chuyển hối phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu chấp nhận hay
thanh toán Nếu hợp đồng thỏa thuận điều kiện thanh toán D/A (Document
Trang 20Against Acceptance – Nhờ thu trả chậm) thì người nhập khẩu chỉ cần chấp nhận thanh toán, nếu là D/P ( Document Against Payment – Nhờ thu trả ngay) thì người nhập khẩu phải thanh toán ngay cho người xuất khẩu
(5) Người nhập khẩu thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán
(6) NH đại lý trích tiền từ tài khoản của người nhập khẩu chuyển sang ngân hàng
ủy thác thu để ghi Có cho người xuất khẩu trong trường hợp người nhập khẩu đồng ý trả tiền, hoặc thông báo cho ngân hàng ủy thác thu biết trong trường hợp người nhập khẩu từ chối trả tiền
(7) NH ủy thác thu ghi Có và báo Có cho người xuất khẩu hoặc thông báo cho người xuất khẩu biết việc người nhập khẩu từ chối trả tiền
1.6.4, Hình thức thanh toán thư tín dụng
Thư tín dụng (L/C) là lệnh của người trả tiền yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định theo đúng những điều khoản đã ghi trên thư tín dụng
So với các chứng từ thanh toán khác như séc, UNC, UNT các điều kiện ghi trên thư tín dụng tương đối chặt chẽ, hầu như phản ánh đầy đủ những cam kết thanh toán trong hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng đã ký
Trang 21- Điều kiện áp dụng:
Thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng dịch vụ giữa hai bên mua bán
mở tài khoản ở hai Ngân hàng cùng hệ thống trong trường hợp thiếu tín nhiệm lẫn
nhau về mặt tài chính, hoặc việc mua bán không xảy ra một cách thường xuyên
- Quy trình thanh toán thư tín dụng:
Sơ đồ 1.7: Quy trình thanh toán bằng thư tín dụng
“Nguồn: Thanh toán quốc tế”[9]
Chú thích:
(1) Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu kí kết hợp đồng thương mại
(2) Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người
xuất khẩu thụ hưởng
(3) NH mở L/C mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang NH
thông báo để báo cho người xuất khẩu biết
(4) NH thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở
(5) Dựa vào nội dung L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu
(6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân
hàng thông báo để được thanh toán
(9)
(1) (5)
(10)
(3)
(8) (11)
Trang 22(7) NH thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở L/C xem xét trả tiền
(8) NH mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi Có cho người thụ hưởng Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán
(9) NH thông báo ghi Có và báo Có cho người xuất khẩu
(10) NH mở L/C trích tài khoản và báo Nợ cho người nhập khẩu
(11) Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng
Nhận xét:
Đây có thể xem là quy trình thanh toán phức tạp nhất trong các phương thức TTKDTM Quy trình phải qua nhiều khâu trung gian mới có thể thực hiện được các giao dịch thanh toán, các bước thực hiện rất chặt chẽ, bên xuất khẩu và bên nhập khẩu
có thể yên tâm thực hiện giao dịch này với các điều khoản đảm bảo trong L/C
1.6.5, Thanh toán bằng thẻ Ngân hàng ( thẻ thanh toán):
Trên thế giới đang lưu hành rất nhiều loại thẻ ngân hàng, trong đó có một số loại thẻ phổ biến sau đây:
• Thẻ tín dụng (Creadit Card)
• Thẻ thanh toán (Charge Card)
• Thẻ ATM
• Thẻ ghi nợ (Debit Card)
• Thẻ đảm bảo (Check Guarantee Card)…
Thẻ NH là một phương tiện thanh toán hiện đại với nhiều tiện ích Trong đó, thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do NH phát hành và bán cho khách hàng sử dụng
để trả tiền hàng, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các máy trả tiền mặt tự động( ATM)
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật tin học ứng dụng trong NH Thẻ thanh toán có nhiều loại, nhưng có một số loại thẻ được
sử dụng phổ biến ở Việt Nam
Trang 23• Thẻ ghi nợ
• Thẻ ký quỹ thanh toán
• Thẻ tín dụng
Các chủ thể tham gia thanh toán thẻ, gồm có:
• NH phát hành thẻ: Là Ngân hàng cung cấp thẻ cho khách hàng chịu trách nhiệm thanh toán số tiền do người sử dụng thẻ trả cho người thụ hưởng NH phát hành thẻ có thể ủy nhiệm cho một số chi nhánh NH phát hành và quản lý thẻ
• Người sử dụng thẻ là là chính chủ thẻ và dùng thẻ để mua hàng hóa, dịch vụ hay lĩnh tiền mặt tại ATM
• Các cơ sở chấp nhận thẻ là các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người sử dụng thẻ
• NH đại lý thanh toán là các chi nhánh NH làm đại lí thanh toán thẻ cho NH phát hành thẻ và do NH phát hành thẻ lựa chọn, NH đại lý thanh toán có trách nhiệm thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán bằng thẻ khi nhận được biên lai thanh toán
- Quy trình thanh toán thẻ được cụ thể hóa theo sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.8: Quy trình thanh toán bằng thẻ ngân hàng
Cơ sở tiếp nhận thẻ (3)
(4)
(6) (5)
(7) (1)
(2)
Trang 24Chú thích:
(1) Khách hàng lập và gửi đến NH phát hành thẻ giấy đề nghị cấp thẻ thanh toán (nếu là thẻ ký quỹ thanh toán, khách hàng nộp thêm UNC trích TKTG của mình hoặc nộp tiền mặt để lưu ký tiền vào TK thẻ thanh toán tại Ngân hàng phát hành thẻ)
(2) Căn cứ giấy đề nghị phát hành thẻ của khách hàng, sau khi kiểm tra thủ tục lập chứng từ và các điều kiện sử dụng thẻ của khách hàng, nếu đủ điều kiện NH phát hành thẻ làm thủ tục để cấp thẻ cho khách hàng và hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ khi thanh toán NH phát hành thẻ phải quản lý và giữ bí mật tuyệt đối về mật mã sử
dụng thẻ của khách hàng
(3) Chủ sở hữu thẻ giao thẻ cho cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ để kiểm tra, đưa thẻ vào máy thanh toán thẻ, máy tự động ghi số tiền thanh toán và in biên lai thanh toán (gồm 3 liên)
(4) Cơ sở chấp nhận trả thẻ và 1 liên biên lai thanh toán cho chủ sở hữu thẻ
(5) Cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ lập bảng kê biên lai thanh toán và gửi cho NH đại lý thanh toán để thanh toán
(6) Nhận được biên lai thanh toán kèm theo bảng kê biên lai thanh toán do cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ gửi đến sau khi kiểm tra đủ điều kiện thanh toán, NH đại lý thanh toán thẻ có trách nhiệm thanh toán ngay cho cơ sở tiếp nhận thanh toán bằng thẻ (7) NH đại lý thanh toán thẻ thanh toán với NH phát hành thẻ
Nhận xét:
Đây là một hình thức thanh toán rất thuận lợi và đang có xu hướng phát triển
Vì vậy quy trình của nó rất đơn giản và thủ tục cũng rất nhanh gọn, sở hữu một tấm thẻ thanh toán là rất dễ dàng trong giai đoạn hiện nay
Người sử dụng thẻ có thể dùng thẻ để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hoặc tại các quầy trả tiền mặt tự động
Trong phạm vi 10 ngày làm việc, kể từ ngày viết hóa đơn cung ứng hàng hóa dịch vụ, người chấp nhận thanh toán thẻ phải nộp biên lai vào NH đại lý để đòi tiền Quá thời hạn trên, NH không nhận thanh toán
Trang 25Trong phạm vi 1 ngày làm việc kể từ khi nhận được biên lai thanh toán NH đại lý phải thanh toán cho người tiếp nhận thanh toán thẻ
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến TTKDTM:
1.7.1, Môi trường vĩ mô, sự ổn định chính trị xã hội
Môi trường vĩ mô là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động TTKDTM Việt Nam là nước có kinh tế phát triển, chính trị ổn định, phát triển lành mạnh, trong sạch, công bằng, là cơ sở thúc đẩy TTKDTM phát triển Vì vậy, xây dựng một môi trường tốt, giữ cho nền chính trị ổn định là nhiệm vụ lâu dài của Đảng
và Nhà Nước ta
1.7.2, Môi trường pháp lý:
Môi trường pháp lý là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động NH nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng, đặc biệt TTKDTM, một phương thức thanh toán hiện đại, đòi hỏi tính an toàn và độ bảo mật cao mà môi trường pháp lí là cơ sở để giải quyết vấn đề đó Tại Việt Nam, Luật thương mại điện tử vẫn chưa chính thức được ban hành, vì thế những tiện ích của dịch vụ này còn nhiều hạn chế, chỉ cho phép xem số dư tài khoản và thông tin giao dịch, chưa thể thanh toán hoá đơn trên web Vì vậy, Nhà nước ta cần xây dựng một hành lang pháp lý cụ thể, một chế tài nhất định để làm cơ sở để TTKDTM phát triển
1.7.3, Tâm lí, thói quen, trình độ dân trí và thu nhập của người dân
Đây có thể xem là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với việc phát triển TTKDTM Đại đa số dân cư đều quen với việc chi tiêu bằng tiền mặt, họ đã quen với việc buôn bán theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng không đạt như mong muốn Đó là thói quen rất khó thay đổi của người dân
Bên cạnh đó, trình độ dân trí và thu nhập của người dân cũng là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến công tác TTKDTM Do TTKDTM chưa được phố biến rộng rãi
ở hầu hết các tầng lớp dân cư mà chỉ tập trung ở một số thành phần như cán bộ, viên chức Nhà nước… chưa phổ cập trong dân cư, làm cho công tác TTKDTM khó phát triển được
Trang 261.7.4, Quy mô của ngân hàng
NHTM ở Việt Nam hiện nay số lượng này ngày càng nhiều nhưng quy mô còn nhỏ, nguồn vốn chưa đủ lớn, điều này ảnh hưởng đến nhiều nghiệp vụ của NH như huy động vốn, cho vay, bảo lãnh, các hoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ của NH TTKDTM cũng là yếu tố bị tác động theo quy mô của NH Quy mô, mạng lưới của các NH càng lớn, càng rộng rãi, địa diểm đặt máy ATM, máy chấp nhận thẻ thanh toán càng nhiều…thì công tácTTKDTM càng dễ dàng để phát triển và ngược lại quy mô nhỏ, địa diểm chấp nhận thẻ ít, các sản phẩm dịch vụ phục vụ cho công tác TTKDTM không được phổ biến rộng rãi và đầy đủ cũng là yếu tố kiềm hãmTTKDTM phát triển
1.7.5, Khoa học kĩ thuật và công nghệ
Công nghệ là một trong những nhân tố môi trường ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của ngành NH Những thay đổi và tiến bộ của công nghệ ứng dụng vào NH đã tạo ra một cuộc cách mạng công nghệ, dòi hỏi các NH phải nâng cao chất lượng dịch
vụ đáp ứng nhu cầu TTKDTM: dịch vụ thẻ, dịch vụ NH tại nhà, ngân hàng tự động, máy rút tiền tự động… cho phép khách hàng truy cập tiền gửi của họ 24/24 giờ, chuyển tiền điện tử, máy thanh toán POS, tạo được nhiều tiện ích cho khách hàng Cơ
sở hạ tầng tốt, khoa học kĩ thuật, công nghệ hiện đại là nhân tố quan trọng thúc đẩy TTKDTM phát triển
1.7.6, Nhân tố con người
Con người cũng như nguồn nhân lực hiện nay là nhân tố hết sức quan trọng, thúc đẩy công tác TTKDTM Việt Nam là nước có dân số đông, phần nhiều lại là dân
số trẻ nên việc nhận thức của họ về công tác TTKDTM tương đối dễ dàng đối với một
số quốc gia khác Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ công nhân viên NH ngày càng được đào tạo một cách chuyên nghiệp là cơ sở để đẩy nhanh công tác TTKDTM tại Việt Nam Nhân tố này có tác động tích cực đến việc đưa ngành NH Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, đưa kinh tế Việt Nam sánh với các quốc gia trong châu lục và thế giới
Trang 27TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Nâng cao năng lực hệ thống thanh toán đang là một trọng tâm lớn của hoạt động NH Trong đó, phát triển các hình thức TTKDTM là cở sở quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động và dịch vụ thanh toán TTKDTM có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường
Sự nhanh chóng, tiện ích, an toàn, hiệu quả trong thanh toán sẽ đẩy nhanh việc tập trung và phân phối các dòng vốn trong nền kinh tế xã hội, cung ứng vốn cho kinh
tế phát triển Đã đến lúc điều hành chính sách tài chính, tiền tệ phải thông qua màn hình thanh toán quốc gia, với những phương tiện, kỹ thuật công nghệ thanh toán hiện đại và tất yếu tổ chức TTKDTM trong nền kinh tế sẽ phát triển; hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch, mua bán
Trong chương này, em nêu lên một số vấn đề cơ bản về TTKDTM như: khái niệm, nguồn gốc ra đời, vai trò, đặc điểm, các phuong thức thanh toán, các nhân tố ảnh hưởng…để làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng tình hình TTKDTM và đưa ra những giải pháp cụ thể, góp phần phát triển phương thức thanh toán mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế đất nước này
.
Trang 28CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐÔNG Á – PGD BIÊN HÒA
2.1 Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa
NH TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa được thành lập vào ngày 26/10/2007 với
cơ cấu tổ chức gồm 6 phòng ban:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức và các phòng ban
“ Nguồn: Phòng hành chính – nhân sự NH Đông Á PGD Biên Hòa”
Sau hơn 2 năm đi vào hoạt động, Đông Á Biên Hòa đã đạt được những thành tích xuất sắc Bên cạnh kênh NH truyền thống, Đông Á Biên Hòa đã và đang phát triển kênh NH điện tử, với các thế mạnh vượt trội về công nghệ, mang đến nhiều tiện ích nhất cho khách hàng Thế mạnh của NH Đông Á Biên Hòa còn thể hiện ở phong cách làm việc chuyên nghiệp và tận tâm của đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao với chất lượng phục vụ tốt nhất, luôn làm hài lòng khách hàng, góp phần đưa hình ảnh của NH Đông Á lên một tầm cao mới, xứng đáng là “Người bạn đồng hành tin cậy” của khách hàng
Phòng
Kế Toán
Phòng Ngân Quỹ
Phòng Sản Xuất Thẻ
Phòng
Tư Vấn
Trang 292.2 Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam:
Trong những năm gần đây, hệ thống thanh toán của ngành NH nước ta được cải thiện đáng kể và phục vụ khá tốt cho khách hàng đặc biệt trong thanh toán với các NH nước ngoài Ở Việt Nam đã tham gia thanh toán SWIFT nhưng Việt Nam vẫn được đánh giá là chưa thoát khỏi ‘nền kinh tế tiền mặt’ Hệ thống thanh toán điện tử liên NH
có sự tham gia của 443 đơn vị, thuộc 83 NH thành viên, với lượng giao dịch trung bình 35.000-45.000 món/ngày, vốn luân chuyển khoảng 35.000 tỷ đồng/ngày.[12]
Như vậy, với sự tiến bộ của công nghệ NH, chất lượng các sản phẩm dịch vụ…hệ thống thanh toán của nước ta đang dần được cải thiện, đặc biệt là TTKDTM
Từ năm 2001 đến nay, tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán so với tổng phương tiện thanh toán qua từng năm như sau:
Bảng 2.1: Tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt qua các năm
Năm Tỷ trọng thanh toán
Trang 30• Một trong các phương tiện thanh toán khá phổ biến hiện nay là thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM, máy POS; tuy số lượng thẻ, máy ATM, máy POS do các ngân hàng thương mại (NHTM) phát hành, lắp đặt ngày càng nhưng tác dụng giảm khối lượng tiền mặt vào lưu thông còn rất khiêm tốn Tính đến cuối năm 2009, cả nước đã có hơn 22 triệu thẻ ATM đang được lưu hành, [14] song trên thực tế, đa số người dân chỉ sử dụng thẻ ATM chỉ để rút tiền, [12]khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt [15] thanh toán bằng thẻ chiếm khoảng 6% trong tổng số món giao dịch của các phương tiện TTKDTM.[21]
• Séc là một phương tiện thanh toán mang đến nhiều tiện ích cho khách hàng Tuy nhiên, tỷ lệ thanh toán bằng séc mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt
• Thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn còn nhiều rào cản do thói quen ưa sử dụng tiền mặt của người dân Hầu hết người dân chưa sử dụng phương thức này để thanh toán mặc dù nó có nhiều lợi ích như: giảm thời gian và chi phí giao dịch thông qua Internet, tạo điều kiện tiếp cận với nền kinh tế số hóa…90% khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán của NH là để vấn tin nhanh, chỉ có 10% là để chuyển khoản, thanh toán.[19]
• Hành lang pháp lý còn nhiều hạn chế và thiếu đồng bộ cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho việc phát triển TTKDTM vì các tổ chức kinh tế cũng như ngành
NH sợ khi thực hiện thanh toán, nếu có xảy ra sự cố gì thì các NHTM không có
cơ sở nào để giải quyết
• Kinh phí để triển khai các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cũng đang là vấn đề khó khăn đối với các NHTM ở Việt Nam như: chi phí lắp đặt
Trang 31các thiết bị thanh toán, địa điểm, an ninh…Tuy nhiên, các ngân hàng lại chưa
có sự liên thông đầy đủ, thiếu thống nhất trong hệ thống thanh toán POS tại Việt Nam
Mô hình giao dịch thương mại điện tử hiện nay như sau:
Sơ đồ 2.2 : Một số hình thức giao dịch thương mại điện tử
Trang 32Các liên minh thẻ hiện nay bao gồm:
• Công ty Smartlink có 28 thành viên, với gần 4.500 máy ATM (43%), 20.200 máy POS/EDC (55%) và số lượng thẻ đã phát hành gần 8 triệu thẻ (39%); [16]
• Liên minh thẻ Đông Á (VNBC) có 9 thành viên tham gia đã phát hành 2.500.000 thẻ (12%), với 1180 máy ATM (11%), gần 2.000 máy POS/EDC (6%);[17]
• Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Banknet có 15 thành viên với
số lượng máy ATM đạt gần 4.800máy (46%), máy POS/EDC đạt gần 14.000 máy (39%) và đã phát hành gần 10 triệu thẻ (chiếm 49%) [15]
Các liên minh này đã phần nào kết nối hoạt động thẻ của các ngân hàng lại với nhau Thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2: Thị phần thẻ và máy ATM, máy POS của 3 liên minh thẻ Smarlink, Đông Á
và Banknetvn tính đến đầu năm 2010
Trang 33Biểu đồ 2.2: Thị phần thẻ của 3 liên minh thẻ Smartlink, VNBC và Banknet
THỊ PHẦN THẺ CỦA 3 LIÊN MINH THẺ
SMARTLINK, VNBC VÀ BANKNET
Smartlink, 39%
Banknet,
49%
VNBC, 12%
Biểu đồ 2.3: Thị phần máy ATM của 3 liên minh thẻ Smartlink, VNBC và Banknet
THỊ PHẦN MÁY ATM CỦA LIÊN MINH
THẺ SMARTLINK, VNBC, BANKNET
Smartlink, 43%
VNBC, 11%
Banknet,
46%
Trang 34Biểu đồ 2.4: Thị phần máy POS của 3 liên minh thẻ Smartlink, VNBC và Banknet
THỊ PHẦN MÁY POS CỦA LIÊN MINH
THẺ SMARTLINK, VNBC, BANKNET
Smartlink, 55%
NH hiện nay đã góp phần tích cực, thúc đẩy TTKDTM phát triển, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 352.3 Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa:
Cũng như các mặt hoạt động kinh doanh khác trong NH, công tác TTKDTM tại ngân hàng Đông Á – PGD Biên Hòa đang từng bước chuyển đổi phù hợp với yêu cầu thanh toán của nền kinh tế Để đáp ứng nhu cầu thanh toán vốn của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các cá nhân trên địa bàn, NH đã thực hiện tin học hóa các nghiệp vụ, nhất là đối với các giao dịch thương mại điện tử, giúp NH đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển chứng từ, rút ngắn thời, khắc phục được tình trạng chậm trễ, sai sót trong thanh toán
Cụ thể, trong công tác thanh toán chuyển tiền điện tử, PGD đã trang bị được đầy đủ máy vi tính và thực hiện kết nối mạng để thực hiện thanh toán, đảm bảo được
sự nhanh chóng, an toàn, thuận tiện, chính xác cho khách hàng, giúp NH tạo được uy tín với khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch TTKDTM ngày càng bộc lộ nhiều ưu điểm hơn hẳn so với thanh toán bằng tiền mặt, tại NH TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa, công tác này đang dần được củng cố và hoàn thiện
2.3.1, Tình hình thanh toán chung của Đông Á Biên Hòa:
Bảng 2.3: Tình hình thanh toán chung của Đông Á Biên Hòa
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chênh lệch 2009/2008 Năm 2008 Năm 2009
Số món Số tiền Chỉ tiêu
Số món Số tiền Số món Số tiền Mức lệ(%) Tỷ Mức lệ(%) Tỷ TTDTM 4.856 487.350 7.775 743.967 2.919 60 256.617 53
TT
KDTM 7.106 1.261.003 10.750 2.167.508 364 51 906.505 34 Doanh số
TT 11.962 1.748.353 18.525 2.911.475 6.563 54 1.162.922 66
“Nguồn: Báo cáo kế toán” [4]
Trang 36
Biểu đồ 2.5: Biểu đồ so sánh số món thanh toán 2 năm 2008, 2009
TOÁN QUA 2 NĂM 2008, 2009
Biểu đồ 2.6: Biểu đồ so sánh giá trị thanh toán 2 năm 2008, 2009
Trang 37Nhận xét:
Trong năm 2008, tổng doanh số thanh toán của NH đạt 11.962 món với giá trị lá.748.353 triệu đồng Trong đó, TTKDTM đạt 7.106 món tương ứng với 1.261.003 triệu đồng và thanh toán bằng tiền mặt có 4.856 món tương ứng với giá trị 7.775 triệu đồng
Đến năm 2009, tổng doanh số thanh toán của NH đạt 18.525 món, tăng 6.563 món tương ứng với tốc độ tăng là 54% so với năm 2008, giá trị thanh toán đạt 2.911.475 triệu đồng, tăng lên 1.162.922 triệu đồng, tăng 66% so với năm 2007 Trong đó:
Doanh số TTKDTM đạt 10.750 món, tăng lên 364 món, tăng 51% so với năm
2008 và gía trị thanh toán đạt 2.167.508 triệu đồng, tăng lên 906.505 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng là 34%
Doanh số thanh toán bằng tiền mặt đạt 7.775 món, tăng lên 2.916 món, tăng 60% và giá trị thanh toán đạt 743.967 triệu đồng, tăng lên 256.617 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng là 53%
Điều này cho thấy tình hình TTKDTM của NH đã được cải thiện cùng với sự phát triển chung của các ngành kinh tế khác, đáp ứng yêu cầu thanh toán của cá nhân
và doanh nghiệp
Hiện nay, TTKDTM đã được cải thiện, nâng cao về số lượng cũng như chất lượng để hòa nhập cùng sự phát triển kinh tế đất nước nói chung và của tỉnh Đồng Nai nói riêng Mặc dù đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn có thói quen dùng tiền mặt nhưng TTKDTM vẫn phát triển là do các tổ chức kinh tế sử dụng và có nhu cầu thanh toán ngày càng tăng Tuy nhiên, việc TTKDTM vẫn chưa được phát triển rộng rãi trong dân cư Đây là một vấn đề tồn tại lớn cần sớm khắc phục vì phát triển TTKDTM không chỉ tăng thu nhập cho các ngân hàng mà nó còn có ý nghĩa to lớn trong việc giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần tăng trình độ dân trí cho người dân…
Trang 38Thanh toán bằng thẻ 3.611 548.115 43,47% 4.637 759.215 35,04% Doanh số TTKDTM 7.106 1.261.003 100% 10.750 2.167.508 100%
“Nguồn: Báo cáo kế toán” [4]
Biểu đồ 2.7: Tỷ trọng các hình thức TTKDTM năm 2008, 2009
TỶ TRỌNG CÁC HÌNH THỨC TTKDTM NĂM 2009
Thanh toán Séc, 5.46%
Thanh toán bằng UNC, 59.50%
Thanh toán bằng thẻ, 35.04%
Nhận xét:
Trong năm 2008, giá trị TTKDTM của NH đạt 1.261.003 triệu đồng Trong đó, thanh toán bằng Séc đạt 52.899 triệu đồng, chiếm 4,19%, thanh toán bằng UNC đạt 659.989 triệu đồng, chiếm 52,34% tỷ trọng, giá trị thanh toán bằng thẻ đạt 548.115 triệu đồng, chiếm 43,47% trong tổng doanh số TTKDTM
Đến năm 2009, giá trị TTKDTM đạt 2.167.508 triệu đồng Trong đó, thanh toán bằng Séc đạt 118.505 triệu đồng, chiếm 5,46%, thanh toán bằng UNC đạt 1.289.788 triệu đồng, chiếm 59,5% tỷ trọng, giá trị thanh toán bằng thẻ đạt 759.215 triệu đồng, chiếm 35,04% trong tổng doanh số TTKDTM
TỶ TRỌNG CÁC HÌNH THỨC
TTKDTM NĂM 2008
Thanh toán Séc, 4.19%
Thanh toán bằng UNC, 52.34%
Thanh toán
bằng thẻ,
43.47%
Trang 39Như vậy, qua 2 năm 2008 và 2009, tình hình TTKDTM của NH phát triển tương đối tốt thể hiện qua giá trị thanh toán đều tăng Tuy nhiên, đa số khách hàng đều
sử dụng hình thức thanh toán bằng UNC thể hiện ở tỷ trọng thanh toán bằng UNC qua
2 năm là lớn nhất trong tổng các hình thức TTKDTM Hình thức thanh toán bằng Séc phát sinh tại NH chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ, hình thức thanh toán bằng thẻ NH cũng đang có xu hướng phát triển, mặc dù tỷ trọng thanh toán bằng thẻ năm 2009 có giảm
so với năm 2008 nhưng giá trị thanh toán vẫn đang dần tăng lên NH cần tận dụng thế mạnh về công nghệ để phát triển hình thức thanh toán này, đây là một hình thức TTKDTM có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai, cũng là để góp phần thực hiện
2.3.2.1, Hình thức thanh toán bằng Séc:
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng Séc là một hình thức TTKDTM mang đến rất nhiều thuận lợi cho khách hàng cũng như NH, đây là một hình thức mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn
Tại ngân hàng TMCP Đông Á – PGD Biên Hòa sử dụng 2 công cụ thanh toán Séc phổ biến là Séc chuyển khoản và Séc chi tiền mặt, nhưng phương thức thanh toán chủ yếu vẫn là Séc chi tiền mặt, Séc chuyển khoản là một công cụ TTKDTM có nhiều tiện ích nhưng nó chỉ được sử dụng với khối lượng tương đối ít trong tổng doanh số TTKDTM
Trang 40Bảng 2.5: Tình hình thanh toán Séc trong năm 2008 và 2009
Đơn vị tính: Triệu đồng Chênh lệch 2009/2008 Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
“Nguồn: Báo cáo kế toán” [4]
Biểu đồ 2.8: Biểu đồ thanh toán Séc năm 2008 và 2009
47,358
5,541
52,899
101,025 17,480 118,505