1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ: Tín ngưỡng của nhóm Xơ teng (Xơ đăng) ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.

236 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín ngưỡng của nhóm Xơ teng (Xơ - đăng) ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum
Tác giả Phạm Thị Trung
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Minh, PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Nhân học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 5,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tiến sĩ: Tín ngưỡng của nhóm Xơ teng (Xơ đăng) ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.Luận án tiến sĩ: Tín ngưỡng của nhóm Xơ teng (Xơ đăng) ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.Luận án tiến sĩ: Tín ngưỡng của nhóm Xơ teng (Xơ đăng) ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.Luận án tiến sĩ: Tín ngưỡng của nhóm Xơ teng (Xơ đăng) ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ TRUNG

TÍN NGƯỠNG CỦA NHÓM XƠ TENG (XƠ - ĐĂNG) Ở XÃ

TU MƠ RÔNG, HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ TRUNG

TÍN NGƯỠNG CỦA NHÓM XƠ TENG ( XƠ - ĐĂNG) Ở

XÃ TU MƠ RÔNG, HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON

TUM

Ngành : Nhân học

Mã số : 9.31.03.02

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Văn Minh

2 PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận án là trung thực và nội dung này chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2018

Nghiên cứu sinh

Phạm Thị Trung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Phòng Quản

lý đào tạo, Khoa Dân tộc học và Nhân học cùng quý thầy cô của Học viện Khoahọc xã hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập,nghiên cứu và hoàn thành luận án

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Minh

và PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận ánnày

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Kon Tum đã chophép và tạo điều kiện thuận lợi để tôi học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn UBND xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnhKon Tum và các nghệ nhân, các cộng tác viên, cán bộ, người dân ở xã Tu MơRông đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian điền dã và nghiên cứu.Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp đã khích lệ,động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Hà Nội, ngày 17 tháng 9 năm 2018

Nghiên cứu sinh

Phạm Thị Trung

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 9

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.2.Cơ sở lý thuyết 18

1.3.Khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu 25

CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI, THẦN LINH VÀ LINH HỒN TRONG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI XƠ TENG 39

2.1.Quan niệm về thế giới của người Xơ teng 39

2.2.Quan niệm về các thần linh và các siêu linh 43

2.3.Quan niệm về hồn người 51

2.4.Biến đổi trong quan niệm về thế giới, thần linh và linh hồn người 61

CHƯƠNG 3: THỰC HÀNH TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI XƠ TENG 67

3.1.Các nghi lễ trong chu kỳ đời người 67

3.2.Các nghi lễ trong trồng trọt 81

3.3.Các nghi lễ cộng đồng 87

3.4.Biến đổi trong thực hành tín ngưỡng 94

CHƯƠNG 4: VAI TRÒ CỦA TÍN NGƯỠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI XƠ TENG HIỆN NAY 108

4.1.Vai trò của tín ngưỡng 108

4.2.Một số hạn chế của tín ngưỡng 119

4.3 Một số xu hướng biến đổi chủ yếu và yếu tố tác động chính 123

4.4 Kiến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị của tín ngưỡng trong phát triển kinh tế - xã hội của người Xơ teng hiện nay 133

KẾT LUẬN 146

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159

PHỤ LỤC 161

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã có những tác động tíchcực đối với sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội của các tộc người thiểu số Về học thuật,với quan điểm tiến bộ nên công tác nghiên cứu dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học đãđược chú trọng triển khai, góp phần quan trọng trong việc hiểu biết một cách tổng quát, cụthể và sâu sắc hơn về đời sống của các tộc người Qua đó cung cấp những luận cứ khoahọc và các khuyến nghị trực tiếp trong việc xây dựng và thực hiện những chính sách dântộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các tộc người, nhằm từng bước cụ thể hóaquan điểm nhân văn của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc

Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về tộc người thiểu

số ở những vùng xa, vùng sâu, vùng biên giới, đặc biệt là các tộc người có các nhómđịa phương đa dạng vẫn còn những khoảng trống nhất định Hơn nữa, sự biến chuyểncủa đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa truyền thống của các tộc người trong bối cảnh hộinhập và toàn cầu hóa hiện nay vẫn rất cần những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, cótính hệ thống và kịp thời hơn, nhằm tiếp tục tăng cường sự hiểu biết về các tộc người

và những vấn đề dân tộc đương đại cũng như đề xuất các kiến nghị khoa học nhằm gópphần phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các tộcngười phù hợp với thực tiễn của địa phương và nhu cầu của người dân

Xơ - đăng là tộc người thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, cư trú tậptrung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam và hiện có 2làng của tộc người người Xơ - đăng cư trú ở huyện Krông Păc và Chư M’Nga tỉnhĐắk Lắk Xơ - đăng là tộc người có số dân đông nhất trong các DTTS tại chỗ của tỉnhKon Tum với 122.045 người, chiếm 25% so với dân số toàn tỉnh và chiếm 45,44% sovới tổng số DTTS trên địa bàn tỉnh [6, tr.8] Xơ – đăng gồm năm nhóm địa phương là:

Xơ teng, Tơ đrá, Mơ nâm, Ha lăng và Ca dong và mỗi nhóm còn có những tên tự gọikhác nhau

Xơ teng cũng là nhóm địa phương có số khẩu đông nhất trong các nhóm địaphương của tộc người Xơ – đăng ở tỉnh Kon Tum với 74.998 người, chiếm 61.44% [6,tr.8] Nhóm Xơ teng cư trú tập trung chủ yếu ở 2 huyện Đắk Tô, Tu Mơ Rông và một

Trang 8

phần nhỏ ở huyện Đăk Hà và huyện Đăk glei tỉnh Kon Tum Ở huyện Tu Mơ Rông,

nhóm này được người dân gọi là Xơ teng núi (Xơ teng ngok) để phân biệt với người

Xơ teng cư trú ở huyện Đăk Tô được coi là Xơ teng ở vùng thấp Trong bối cảnh biếnđổi văn hóa truyền thống của các DTTS tại chỗ Tây Nguyên hiện nay thì nhóm Xơteng ở huyện Tu Mơ Rông vẫn còn duy trì khá đều đặn và đậm nét tín ngưỡng và nghi

lễ truyền thống của dân tộc Ví dụ: nhiều làng ở huyện Tu Mơ Rông còn bảo lưu việcthực hành nghi lễ có cúng trâu, trong khi đó nghi lễ này hiện ít được các cộng đồngdân tộc thiểu số tại chỗ khác thực hiện, Chính vì tính đại diện cho sự bảo lưu các yếu

tố truyền thống cũng như sự tiếp biến những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo mới trong đờisống của người dân nên nơi đây là điều kiện thuận lợi để nghiên cứu về tín ngưỡngtruyền thống trong điều kiện xã hội hiện nay

Hiện nay, tỉnh Kon Tum đang tập trung triển khai các giải pháp phát triển kinh tế

xã hội bền vững vùng DTTS Cộng đồng người Xơ teng ở xã Tu Mơ Rông hiện đangthụ hưởng rất nhiều các chính sách phát triển kinh tế xã hội Cùng với quá trình đẩymạnh phát triển kinh tế xã hội, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, vấn đềđảm bảo đời sống tín ngưỡng của người dân, nhất là phát huy các giá trị tín ngưỡngtruyền thống trong điều kiện hiện nay đang đặt ra các yêu cầu quản lý cao hơn Cácchính sách cần được xây dựng trên cơ sở thực tiễn và khoa học hơn để đảm bảo mụctiêu phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra

Qua quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về tộc người Xơ - đăng nói chung vàcác nhóm địa phương của dân tộc này nói riêng có thể thấy, từ sau 1979, các vấn đề vềDân tộc học/Nhân học đối với tộc người Xơ - đăng đã có những tư liệu dày dặn hơn.Tuy nhiên, hầu hết các công trình khoa học đã công bố thường tập trung nghiên cứucác phương diện văn hóa như lễ hội, phong tục tập quán, kiến trúc, nghề thủ công, còn

về tín ngưỡng của từng nhóm mới chỉ được khảo tả sơ bộ hoặc được giới thiệu như là cứliệu minh họa cho những đặc tính chung về tín ngưỡng của tộc người này Do đó, đặt rayêu cầu cần nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống và toàn diện hơn về mỗi nhóm địaphương, trong đó có vấn đề tín ngưỡng trong xã hội truyền thống và hiện tại của tộcngười này

Trang 9

Từ những lý do khoa học và thực tiễn trên, NCS chọn đề tài "Tín ngưỡng của

nhóm Xơ teng (Xơ - đăng) ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum" để

làm luận án tiến sĩ ngành Nhân học

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Thực hiện đề tài này luận án nhằm góp phần cung cấp hệ thống tư liệu mớitương đối toàn diện, chuyên sâu về đời sống tín ngưỡng của nhóm Xơ teng ở tỉnh KonTum trong truyền thống và hiện tại Trên cơ sở đó, đề xuất một số khuyến nghị làm cơ

sở khoa học cho việc xây dựng và triển khai công tác bảo tồn và phát huy các giá trịcủa tín ngưỡng ở nhóm Xơ teng nói riêng và tộc người Xơ - đăng nói chung, nhằm gópphần phát triển kinh tế - xã hội của nhóm tộc người này trong bối cảnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

- Một là, tập trung làm sáng tỏ một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về

bức tranh tín ngưỡng truyền thống của nhóm Xơ teng thuộc tộc người Xơ - đăng vànhững biến đổi của tín ngưỡng trong đời sống hiện nay

-Hai là, phân tích, đánh giá làm rõ hơn những ảnh hưởng của tín ngưỡng đến đời

sống của người Xơ teng, từ đó rút ra những nhận định về vai trò của tín ngưỡng trongđời sống người Xơ teng

- Ba là, phân tích lý giải quá trình biến đổi và các nguyên nhân tác động đến sự

biến đổi tín ngưỡng của người Xơ teng từ sau 1986 đến nay

-Bốn là: Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các

giá trị còn phù hợp của tín ngưỡng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội củanhóm tộc người Xơ teng trong định hướng phát triển bền vững hiện nay

3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các phương diện tín ngưỡng của nhóm Xơ teng, mộttrong 05 nhóm địa phương của tộc người Xơ – đăng Đây là nhóm địa phương có tỷ lệdân số nhiều nhất trong 5 nhóm của người Xơ - đăng ở tỉnh Kon Tum và tụ cư khá tập

Trang 10

trung Đặc biệt, từ trước đến nay chưa có nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về người Xơteng nói chung và tín ngưỡng của họ nói riêng dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học Tuyvậy, tín ngưỡng là lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, nên luận án này tập trung nghiên cứu

về một số nội dung chính của tín ngưỡng và nghi lễ thực hành tín ngưỡng liên quansau đây:

1)Quan niệm về các thế giới; 2) Hệ thống thần linh, linh hồn người và ma; 3) Hệ thốngcác nghi lễ tiêu biểu liên quan đến thực hành tín ngưỡng

Đây là nghiên cứu trường hợp, tập trung trên địa bàn một xã, vì vậy, luận án khảo

tả, phân tích các lĩnh vực chủ yếu nêu trên để làm rõ hơn các đặc điểm truyền thống vànhững biến đổi trong tín ngưỡng của người Xơ teng Đồng thời, luận án phân tích cácnguyên nhân dẫn đến sự biến đổi; đánh giá những ảnh hưởng của tín ngưỡng đến đời sốngcủa nhóm Xơ teng ở tỉnh Kon Tum trước đây và hiện nay, để từ đó có cái nhìn toàn diệnhơn về các giá trị của tín ngưỡng, cũng như vai trò của tín ngưỡng trong đời sống kinh tế

xã hội của người Xơ teng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chọn xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum là địa bàn sinhsống tập trung của nhóm Xơ teng để nghiên cứu Xã Tu Mơ Rông hiện có 8 làng người

Xơ teng, hầu như không có sự cư trú đan xen với các dân tộc khác ngoài một số ít cán

bộ, giáo viên và tiểu thương người Kinh đến làm việc và buôn bán Vì vậy, địa bànnghiên cứu này khá tiêu biểu cho sự thống nhất cũng như tính đa dạng của tín ngưỡngngười Xơ teng trong truyền thống cũng như hiện tại Tính thống nhất thể hiện trước hết

ở chỗ 6 làng của người Xơ teng nơi đây cơ bản vẫn bảo lưu các yếu tố tín ngưỡngtruyền thống; sự đa dạng thể hiện ở sự phân hóa, biến đổi trong tín ngưỡng của người

Xơ teng, đặc biệt là sự chuyển đổi từ đa thần giáo truyền thống sang Công giáo ở 2làng còn lại

Dưới tác động của hoạt động kinh tế, sự thay đổi của điều kiện tự nhiên khu vực

cư trú, sự tham gia của thiết chế buôn làng và gia đình vào đời sống hiện đại đã tạonên những biến đổi nhất định trong đời sống tâm linh của các làng theo tín ngưỡngtruyền thống Tuy nhiên, biến đổi tín ngưỡng thường diễn ra trong một quá trình lâudài, thời điểm so sánh giữa truyền thống và hiện tại là rất khó phân định, vì vậy luận án

Trang 11

tạm thời xác định thời điểm để xem xét là từ bắt đầu thời kỳ đổi mới năm 1986 đếnnay.

Trang 12

4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án dựa trên quan điểm triết học của Chủ nghĩa duy vật biện chứng vàChủ nghĩa duy vật lịch sử để nhìn nhận, đánh giá các vấn đề liên quan đến tínngưỡng trong quá trình tồn tại và vận động của nó Phương pháp luận này được vậndụng để nghiên cứu tín ngưỡng truyền thống của nhóm Xơ teng trong một hệ thống

và bối cảnh cụ thể có sự tác động qua lại lẫn nhau của nhiều thành tố liên quan, như:thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường; đồng thời đặt đối tượngnghiên cứu trong bối cảnh lịch sử cụ thể, vận động theo hướng phát triển, biến đổihoặc mất đi Phương pháp luận này là nguyên tắc định hướng xuyên suốt quá trìnhNCS tiếp cận chủ thể tín ngưỡng như một hiện tượng xã hội khách quan, cụ thể, cómối quan hệ biện chứng để nghiên cứu

Bên cạnh đó, luận án dựa trên quan điểm lý luận của Dân tộc học Mác xít vàNhân học văn hóa – xã hội để nhìn nhận các loại hình và thực hành tín ngưỡng củangười Xơ teng trong bối cảnh cụ thể mà nó nảy sinh, tồn tại và biến đổi đến nay Tínngưỡng của người Xơ teng được xem xét trong quá trình vận động, trong mối tươngquan giữa chủ thể văn hóa với các điều kiện cụ thể tác động tại địa phương Luận áncũng được triển khai dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc,

về xây dựng và phát triển văn hóa, về tín ngưỡng và tôn giáo

4.2.Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, NCS lựa chọn cách tiếp cận chuyên ngành Dân tộc học/Nhânhọc là chính, ngoài ra, còn xem xét, tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên cơ sở liênđa/ngành Cụ thể như sau:

- Thống kê tổng hợp và kế thừa các tài liệu đã có: Với phương pháp này, luận án

kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu đã công bố trên các sách chuyênkhảo, tham khảo, bài tạp chí, báo cáo khoa học và những tư liệu liên quan của các họcgiả trong và ngoài nước về người Xơ - đăng nói chung và tín ngưỡng của nhóm Xơteng nói riêng Đồng thời thu thập và xử lý các số liệu thống kê, tài liệu thứ cấp thuộcnhiều nguồn khác nhau từ Trung ương đến địa phương

Trang 13

- Phương pháp điền dã Dân tộc học: Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng

trong quá trình thu thập phần lớn tư liệu cho luận án Địa điểm khảo sát thực tế chủ yếu

là các làng của xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum Tại các điểmnghiên cứu, những kỹ thuật chính được sử dụng bao gồm quan sát tham dự, phỏng vấnsâu, thảo luận nhóm, phỏng vấn hồi cố, trong đó:

+ Quan sát: Nhằm bao quát về đặc điểm địa lý nhân văn như: hình dung được

cảnh quan, điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú, các hoạt động kinh tế, lối sống,phong tục, những sinh hoạt văn hóa hàng ngày… để có được những thông tin ban đầu,tương đối khái quát về đối tượng, địa bàn nghiên cứu

+ Quan sát tham dự: Mục đích để hiểu sâu về đối tượng nghiên cứu, việc vừa

quan sát vừa tham dự vào nếp sống sinh hoạt thường ngày, hay các dịp đặc biệt nhưnhững ngày lễ, tết, các nghi lễ quan trọng trong cộng đồng, gia đình, cá nhân… chophép NCS có những trải nghiệm thực tế, từ đó phát hiện những vấn đề nghiên cứumang tính khách quan

+ Phỏng vấn sâu: Được sử dụng để thu thập các thông tin làm nền tảng cơ bản

của đề tài Đối tượng phỏng vấn sâu được lựa chọn chủ yếu là người có uy tín trongcác làng, bao gồm có già làng, nghệ nhân, thanh niên, thầy cúng Ngoài ra, đối tượngphỏng vấn sâu còn được lựa chọn là các trưởng, phó thôn, đại diện các cán bộ đoànthể tại thôn làng (nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên ) cán bộ văn hóa xã, đại diệnlãnh đạo địa phương Tổng cộng đã phỏng vấn sâu nhiều lần đối với 35 người

+ Thảo luận nhóm: Được sử dụng để thu thập thông tin về cách hiểu, quan điểm

của chủ thể văn hóa, các nhà triển khai chính sách về các vấn đề còn ý kiến khác nhau.Nhóm được tổ chức để thảo luận có thể tương thích về trình độ, lứa tuổi, hoặc nhómcông việc liên quan Nhóm thảo luận cũng được thiết kế với các đối tượng khác nhau

về sở thích và sự quan tâm Luận án đã tiến hành 6 thảo luận nhóm hỗn hợp bao gồmgiới tính và độ tuổi khác nhau

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được áp dụng thông qua các cuộc

thảo luận, trao đổi trực tiếp theo từng vấn đề chuyên sâu với các chuyên gia trên cáclĩnh vực nghiên cứu (các nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, các chuyên giatrong

Trang 14

lĩnh vực xây dựng chính sách, các nhà nghiên cứu tôn giáo) nhằm xác lập tính khoahọc và giá trị của các nhận định, các kết luận và những kiến nghị đề xuất liên quan.

- Phương pháp điều tra xã hội học: NCS đã khảo sát bằng phiếu điều tra với 2

đối tượng hộ gia đình (336 hộ) và thôn trưởng - già làng ở (8 làng) để thu thập cácthông tin cơ bản về các vấn đề kinh tế, y tế, giáo dục, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng trên

địa bàn xã, làm cơ sở cho việc rút ra các nhận định của luận án (xem phụ lục 5).

5.Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Một là, xây dựng được hệ thống tư liệu tương đối đầy đủ, có hệ thống về đời

sống tín ngưỡng của nhóm Xơ teng ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh KonTum Từ đó góp phần xây dựng bức tranh tương đối toàn diện, chuyên sâu về đời sốngtín ngưỡng của tộc người này

- Hai là, góp phần làm rõ những biến đổi về tín ngưỡng của nhóm Xơ teng xã

Tu Mơ Rông trong xã hội hiện nay, đồng thời xác định rõ những yếu tố tác động tới

sự biến đổi đó

- Ba là, phân tích, đánh giá về vai trò, ảnh hưởng của tín ngưỡng đến đời sống

của người Xơ teng ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum trước đây

và hiện nay

- Bốn là, trên cơ sở những phân tích sâu ở các phương diện trên, luận án đã góp

phần cung cấp những cơ sở khoa học trong việc tham khảo để hoạch định và thựchiện các chính sách tín ngưỡng tôn giáo cũng như bảo tồn, phát huy các giá trị tínngưỡng của nhóm Xơ teng, ở xã Tu Mơ Rông, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tumtrong thời kỳ xây dựng nông thôn mới của địa phương

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án góp phần bổ sung và làm sáng tỏ các luận điểm, những hiểu biết khoahọc về tín ngưỡng và biến đổi tín ngưỡng thông qua các cứ liệu, kết quả nghiên cứucủa luận án về tín ngưỡng của người Xơ teng ở địa phương

Luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học để phục vụ công tác hoạch định vàthực hiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị của tín ngưỡng trong công cuộc pháttriển kinh tế - xã hội ở địa phương hiện nay

Trang 15

7.Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về địa

bàn tộc người nghiên cứu

Chương 2: Quan niệm về thế giới, thần linh và linh hồn trong tín ngưỡng của

người Xơ teng

Chương 3: Thực hành tín ngưỡng của người Xơ teng

Chương 4: Vai trò của tín ngưỡng và những vấn đề đặt trong đời sống tín ngưỡng

của người Xơ teng hiện nay.

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1.Các công trình nghiên cứu chung về người Xơ - đăng

Một trong những tài liệu nghiên cứu đầu tiên của các học giả nước ngoài đề cập

đến tộc người Xơ - đăng là công trình Rú mọi (Les Jungles Moi) của Henri Maitre công

bố năm 1912 [56] và sau này được Lưu Đình Tuân dịch sang tiếng Việt với tựa đề

Rừng người Thượng vùng rừng núi cao nguyên miền Trung Việt Nam Cùng với công

trình Khu vực người mọi ở Nam Đông Dương - cao nguyên Đăc Lăc (1909) cũng của Henri Maitre thì Rú mọi là một công trình nghiên cứu công phu với nhiều tư liệu quý

viết về điều kiện tự nhiên và xã hội của Tây Nguyên lúc bấy giờ Cả hai ấn phẩm này

H Maitre đã tiến hành ghi chép dân tộc học về các cư dân tại chỗ bắc Tây Nguyên,trong đó có người Xơ - đăng Maitre cũng như nhiều học giả thời kỳ này rất quan tâmđến vai trò của “ông vua” Xơ - đăng tự phong là Marie de Mayréna, vì vậy ông đã giớithiệu “Hiến pháp của vương quốc Sedang (Xơ - đăng)” được lập tại làng Kon Gung vàongày 3/6/1888 với 11 điều giữa ông Marie de Mayréna và các thủ lĩnh của những tộcngười trong vùng thời bấy giờ Tại điều 2 của “Hiến pháp” này có ghi: “Do lãnh thổ củangười Sedang là lớn nhất trong Hợp bang này, nên Hợp bang lấy tên là vương quốcSedang” [56, tr.300] Tác giả đã chia người Xơ - đăng thành nhiều nhóm khác nhaunhư: Reungao, Hamong, Dedrah, Keumrang, Ka – Giong, Halang, Halang – Duan, Tuy không có những ghi chép riêng và dầy dặn về hệ thống tín ngưỡng của các cư dântại chỗ nói chung và người Xơ - đăng nói riêng, nhưng những tư liệu mà H Maitre đểlại, đặc biệt là bản đồ và các tư liệu ảnh rất quý, được ví như các "đường dẫn" gợi mởcho những vấn đề nghiên cứu tiếp sau về Tây Nguyên

Trong số những học giả gắn bó và yêu quý văn hóa Tây Nguyên với tất cả sự

trân trọng và đầy ưu tư phải kể đến là Jacques Dournes (bút danh Dam Bo) “Nhà

nhân học chân trần” này đã để lại những tác phẩm được xem là "kinh điển" về Tây

Nguyên, trong đó có công trình: Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương in lần đầu

tiên trong

Trang 17

Tạp chí France – Asie số 49 và 50 năm 1950, đến năm 2003 được Nguyên Ngọc dịch

ra tiếng Việt với tựa đề Miền đất huyền ảo[18] Đây là công trình khoa học vừa

nghiêm túc vừa say mê như một bút ký dân tộc học, một kiểu tác phẩm văn học độcđáo về Tây Nguyên Với tính chất khái quát về con người và xã hội Tây Nguyên, tác

giả đã phác thảo diện mạo đặc trưng của các cộng đồng cư dân ở đây như: "Người

Stiêng đi săn", "Kết ước liên minh của người Rơ ngao", "Người Xơ - đăng ra trận" qua đó

tín ngưỡng của người Xơ - đăng trong bức tranh tín ngưỡng chung của các cư dân tạichỗ Tây Nguyên đã bước đầu được đề cập Điều đáng quý nhất ở công trình này khôngchỉ là các tư liệu phong phú, những nhận định sâu sắc về nguyên lý, bản chất của tínngưỡng mà còn là những ưu tư về xu thế biến đổi của đời sống tinh thần của các cư dânnơi đây

Năm 1964, Gerald C Hickey công bố tài liệu Những dân tộc thiểu số chính ở các

Cao nguyên Nam Việt Nam (The major ethinic groups of the South Vietnamese Hinglands) [37] Đây là một báo cáo kết quả nghiên cứu, mặc dù được khuyến nghị là

không dùng vào việc hoạch định hay đánh giá các vấn đề liên quan, nhưng những tưliệu trong báo cáo này đã cho phép người đọc có cái nhìn tổng quan nhất định về TâyNguyên nói chung và về cộng đồng Xơ - đăng nói riêng Báo cáo gồm 02 phần: Phầnmột là những vấn đề chung của cộng đồng vùng cao nguyên và cuộc sống của họ vớicác nội dung khái quát về nguồn gốc, đặc điểm văn hóa, hoạt động kinh tế, tổ chứcchính trị xã hội, tôn giáo, giao tiếp với bên ngoài; Phần hai gồm lịch sử vùng đất vàđặc trưng của 06 cộng đồng mà tác giả giới thiệu là Ê-đê, Gia-rai, Ba-na, Mnông,Stiêng và Xơ - đăng Trên cơ sở giới thiệu các nét khái quát về nguồn gốc văn hóa, cáchoạt động kinh tế cơ bản, cấu trúc xã hội , trong tài liệu này tác giả đã nêu nhữngnhận định khái quát về tính chất đa thần, niềm tin vạn vật hữu linh của các cư dân TâyNguyên cũng như giới thiệu những điểm khác biệt trong đời sống tín ngưỡng của người

Xơ - đăng so với các dân tộc khác Tài liệu cũng đã miêu tả về đặc điểm cư trú, cấutrúc xã hội và đặc điểm tôn giáo của một số tộc người trong đó có người Xơ - đăng,như: "Sedang" là cái tên được đặt bởi người Pháp, còn người Xơ - đăng tự nhận mình

là Ha(rh) dea(ng) và bao gồm rất nhiều nhánh (nhóm) như Danja, To-drah (sống trongrừng thưa), Kmrang (sống trong rừng già), người Duong và Cor (hay Ta Cor) Tuy

Trang 18

không trực tiếp đưa ra chính kiến của mình, nhưng tác giả đã nêu lên những khác biệt

và chưa thống nhất trong

Trang 19

sự phân loại các nhóm địa phương thời kỳ đó Trong phần tôn giáo, tác giả đã giớithiệu những nét tổng quan về tín ngưỡng vạn vật hữu linh với thế giới thần linh, hồnngười, hồn ma và lược thuật một số hành vi tín ngưỡng của tộc người Xơ - đăng.

Năm 1966, Bộ Quân lực Hoa Kỳ xuất bản công trình Những nhóm thiểu số ở

Cộng hòa miền Nam Việt Nam [9] Đây được xem là tập nghiên cứu tổng hợp có giá trị

về các tộc người Tây Nguyên Trong đó, phần thứ nhất tập trung đề cập đến 18 tộcngười là: Ba-na, Bru, Cua, Halang, Ma, Hre, Koho, Katu, Jarai, Ê-đê, Hroi, Jeh,Mnong, Mường, Raglai, Rơngao, Sê-đăng, Stieng Công trình này xem nhóm Halang làmột tộc người độc lập so với cộng đồng người Xơ - đăng, đồng thời chia người Xơ -đăng ra làm 05 nhóm: Đangia, Tơđra, K’mrang, Dương và Cor Đặc biệt, công trìnhnày đã miêu thuật khái quát về văn hóa của người Xơ - đăng trên các phương diện: lịch

sử tộc người, định cư, đặc điểm nhân trắc học, chăm sóc sức khỏe, tổ chức xã hội,phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, Có thể nói, đây là công trình có sự kế thừacác kết quả trước đó và chủ yếu đi vào khảo tả về những tộc người, trong đó có dân tộc

và vấn đề tín ngưỡng của người Xơ - đăng

Hai cuốn sách Đồng bào các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam của Nguyễn Trắc Dĩ công bố năm 1970 [20] và Cao nguyên miền thượng của Toan Ánh - Cửu Long Giang

xuất bản năm 1974 [3] là những công trình chủ yếu mô tả về địa bàn cư trú, lối sống vàcác phong tục tập quán của các tộc người ở Tây Nguyên, trong đó trong đó có người

Xơ - đăng

Cùng thời điểm này, ở miền Bắc có các bài viết: “Sơ lược giới thiệu dân tộc Xơ

-đăng” của Ngọc Anh (1960) trên Tập san Dân tộc số 13; “Về sự phân bố dân cư, nguồn

gốc, tên gọi và tổ chức xã hội người Xơ - đăng ở đông bắc tỉnh Công Tum” của Vị

Hoàng (1974) trên Tạp chí Dân tộc học số 1, các bào viết này đã chia người Xơ - đăng

thành 7 nhóm địa phương: Sêteng, Sêlăng, Kon Lan, Sê Trá, Mơnâm, Ca dong, B’rina

và giới thiệu sơ lược về tên gọi, địa bàn cư trú và phong tục tập quán của người Xơ

-đăng Năm 1981, Ngô Vĩnh Bình đã công bố tập Truyện cổ Xơ - đăng [7], nội dung chủ

yếu là trên cơ sở trình bày khái quát về tộc người Xơ - đăng, tập truyện đã giới thiệu 43câu truyện khác nhau, góp phần cho người đọc thấy được các quan niệm về trời đất, vũtrụ, nguồn gốc tộc người liên quan đến những hoạt động kinh tế - xã hội của tộc người

Trang 20

Xơ - đăng.

Trang 21

Sau 1975, một số công trình nghiên cứu đáng chú ý về người Xơ đăng đã đượccông bố, như: “Tục lệ cũ và sự đổi mới trong tang lễ của người Xơ - đăng” (Gia Lai -Công Tum) của Vị Hoàng năm 1977 [42] Công trình này đã đề cập sơ lược đến quanniệm về linh hồn người và thế giới quan của người Xơ - đăng thể hiện qua hệ thốngnghi thức tang ma trong quá khứ và hiện tại của tộc người này Lịch sử nghiên cứu về

người Xơ - đăng thực sự tiến một bước đáng kể qua công trình Các dân tộc tỉnh Gia

Lai – Công Tum do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên năm 1981, trong đó lần đầu tiên tộc

người Xơ - đăng được giới thiệu khá toàn diện trên cơ sở thống nhất về phân loại cácnhóm địa phương Riêng về nội dung tín ngưỡng, trên cơ sở các tư liệu của nhóm Tơđrá và Ca dong công trình đã sơ lược giới thiệu “khái niệm về các siêu linh, thần linh,hồn” [115, tr 222]

Năm 1998, Đặng Nghiêm Vạn tiếp tục xuất bản cuốn Người Xơ - đăng ở Việt

Nam [117] Đây là công trình dựa trên sự kế thừa các thành quả nghiên cứu trước đó

và bổ sung những tư liệu điền dã phong phú Tập sách rất sinh động bởi những tư liệuảnh về di sản văn hóa của người Xơ - đăng, nhiều vấn đề văn hóa nói chung và tínngưỡng nói riêng được soi rọi bởi quan niệm mới Đặc biệt, tác giả đã trình bày khá tậptrung về hệ thống thần linh, các nghi thức nông nghiệp của người Xơ - đăng với những

tư liệu chủ yếu lấy từ nhóm Tơ đrá và Ca dong

Hợp phần đào tạo trong Chương trình điều tra Sử thi Tây Nguyên đã tạo điềukiện bổ sung thêm một lớp tri thức trẻ là người DTTS tại chỗ Tây Nguyên thông quakhóa đào tạo thạc sĩ Văn hóa học do Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian liên kết vớiTrường Đại học Văn hóa Hà Nội thực hiện và kết thúc năm 2005 Sau khóa đào tạonày, năm 2006 Ngô Đức Thịnh đã tuyển chọn và giới thiệu luận văn của 10 học viên

cao học K10 là người DTTS trong cuốn sách có tiêu đề Nghi lễ và phong tục các tộc

người ở Tây Nguyên [95] Công trình này đã tổng hợp những nghiên cứu về các nghi lễ

trong sản xuất nông nghiệp, nghi lễ cộng đồng, nghi lễ vòng đời người của các dân tộcnhư: nhóm Xơ teng, Tơ đrá và Ca-dong (Xơ - đăng), Ê-đê, Mnông, Ba-na, Xtiêng Docác tác giả chính là những chủ thể của mỗi nền văn hóa, dựa trên cơ sở những tri thức

và phương pháp luận khoa học được trang bị, những học viên này đã trình bày các vấn

đề nghiên cứu được lựa chọn làm luận văn thạc sĩ hết sức tỉ mỉ, sinh động, góp phần

Trang 22

cung cấp thêm kho tư liệu quí giá về văn hóa các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên Trong

số tác giả và

Trang 23

tác phẩm đó, có 02 người nghiên cứu về 02 nhóm địa phương là Tơ đră và Ca dong

của tộc người Xơ - đăng Cụ thể là: Đinh Thị Quyết với luận văn về Các nghi lễ nông

nghiệp truyền thống của người Tơ Đră ở xã Đăk Tơ Lung huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum, đã góp phần làm rõ và tái hiện chi tiết về nghi thức trong nghi lễ nông nghiệp của

người Tơ đrá, từ đó đưa ra những nhận định về giá trị của nghi lễ nông nghiệp trong

đời sống của người Tơ đrá; Y Hồ với luận văn Tang ma của người Ca Dong ở làng

Nước Cua xã Ngọc Tem huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum đã đề cập đến hệ thống vũ trụ

và quan niệm về thế giới thần linh của người Ca dong, từ đó đã đi sâu nghiên cứu vềcác lễ thức, vai trò và những biến đổi trong tang ma của nhóm Ca-dong

Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, Sở VHTTDL tỉnhKon Tum đã triển khai công tác sưu tầm, kiểm kê và phục dựng những di sản đặc trưngcủa các dân tộc tại chỗ trên địa bàn tỉnh Một phần kết quả của công tác này là cuốn

sách Phác thảo văn hóa dân gian các DTTS tỉnh Kon Tum [69] do Viện Văn hóa nghệ

thuật Việt Nam xuất bản năm 2008, đây là công trình tuyển chọn các nghiên cứu củanhững tác giả trong tỉnh về văn hóa của các DTTS tại chỗ ở Kon Tum Trong đó, diệnmạo đời sống nói chung và tín ngưỡng của người Xơ - đăng cũng đã được giới thiệutrong tập sách này Ngoài việc giới thiệu tổng quan về tên gọi, ngôn ngữ, địa vực cư trú,các di sản tiêu biểu…thì những nghi lễ tiêu biểu của mỗi nhóm địa phương của dân tộc

Xơ - đăng cũng được tuyển chọn giới thiệu Tuy nhiên, tập sách mang tính phác thảo,nên các tác giả chủ yếu tập trung mô tả sơ lược diễn trình của một nghi lễ và các phongtục tập quán liên quan, còn những vấn đề về sự biến đổi hay việc phân tích, đánh giá,nhận định về các giá trị cũng như vai trò của nghi lễ đối với đời sống tộc người còn đểngõ

Năm 2009, Sở VHTTDL tỉnh Kon Tum tiếp tục xuất bản cuốn Bảo tồn và phát

huy di sản văn hóa ở Kon Tum [70] Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu của đội

ngũ công chức viên chức làm công tác văn hóa trên địa bàn tỉnh về một số giá trị tiêubiểu và thực trạng, giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa cộng đồng cácDTTS tại chỗ Tây Nguyên Những tư liệu về tộc người Xơ - đăng được trình bày trongtác phẩm này về các nghi lễ, phong tục tập quán của từng nhóm địa phương được gắnvới từng địa bàn nghiên cứu cụ thể Tập sách cũng đồng thời phản ánh những khuyến

Trang 24

nghị trong chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng của các dântộc tại chỗ của tỉnh Kon Tum.

Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa của người Xơ - đăng, SởVHTTDL tỉnh Kon Tum triển khai nghiên cứu, sưu tầm, truyền dạy ngành nghề thủ

công của nhóm Xơ teng và đã xuất bản các cuốn Nghề đan lát của người Xơ - đăng ở

Kon Tum [84]; Nghề dệt thổ cẩm truyền thông của người Xơ - đăng ở Kon Tum [85].

Đây là những chuyên khảo về ngành nghề thủ công truyền thống, nhưng dưới góc nhìnvăn hóa, nhóm tác giả đã giới thiệu khái quát về tộc người Xơ - đăng, các hoạt độngkinh tế và kỹ thuật của ngành nghề Nhiều nghi lễ và kiêng kị liên quan đến sinh kế vàngành nghề thủ công cũng được giới thiệu Tuy chỉ mang tính khái quát, nhưng các tưliệu về tín ngưỡng đề cập trong cuốn sách rất quý Một mặt, góp phần tăng cườngnhững hiểu biết khoa học về nhóm Xơ teng các vấn đề liên quan, mặt khác, cáctác giả cũng đã đề xuất những giải pháp trong bảo tồn và phát huy các giá trị vănhóa tiêu biểu của người Xơ teng

Năm 2015, NCS Rơ dăm Bích Ngọc đã nghiên cứu thành công luận án "Nhàrông của người Xơ - đăng ở huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum" [67] Dưới góc độ tiếp cậncủa chuyên ngành văn hóa dân gian, tác giả luận án đã cho người đọc thấy đượckhông gian, cấu trúc của nhà rông, các nghi lễ và đời sống văn hóa của người Xơ -đăng ở Đăk Tô tỉnh Kon Tum Đồng thời luận án cũng nêu được vai trò, chức năng, ýnghĩa biểu tượng và các giá trị văn hóa của nhà rông trong truyền thống và các nguyênnhân tác động đến sự thay đổi không gian văn hóa và hình thức sinh hoạt tín ngưỡngliên quan

1.1.2.Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng của nhóm Xơ teng

Năm 2005, tác giả luận án này đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài Quan

niệm về linh hồn người và các nghi lễ liên quan tới linh hồn của người Xơ Teng ở xã

Tu Mơ Rông huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum [103] Đây được coi là một trong những

nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề cụ thể thuộc hệ thống tín ngưỡng của nhóm Xơteng từ góc độ Văn hóa học Luận văn đã góp phần nhận thức sâu sắc hơn đời sốngtâm linh của nhóm Xơ teng; nhận diện những hạt nhân giá trị và hạn chế đang tồn tạitrong đời sống tín ngưỡng này của cộng đồng; tìm hiểu mối quan hệ giữa tín ngưỡng

Trang 25

truyền thống và các giá trị văn hóa dân gian; đồng thời bước đầu tìm hiểu những hệquả về văn hóa

Trang 26

nảy sinh từ sự biến đổi tín ngưỡng truyền thống dưới tác động của các nhân tố mới cảbên trong và bên ngoài Những nghi lễ liên quan được lựa chọn trình bày trong luậnvăn là các nghi lễ có tính đại diện, phản ánh khá đậm nét tín ngưỡng truyền thốngcủa nhóm tộc người này, qua đó góp phần làm sáng tỏ hơn quan niệm của chính họ

về linh hồn con người

Một trong những nghiên cứu chuyên sâu khác về tín ngưỡng của nhóm Xơ teng

là luận văn thạc sĩ Văn hóa học về Nghi lễ tang ma của người Xơ Teng ở làng Măng

Rương xã Văn Lem, huyện Đăk Tô tỉnh Kon Tum của Phan Văn Hoàng năm 2005 [39].

Đây là công trình đề cập đến hệ thống vũ trụ và quan niệm về thế giới thần linh củangười Xơ teng, từ đó đi sâu nghiên cứu về nghi lễ tang ma của họ Đây có thể coi làcông trình nghiên cứu chuyên sâu về tang ma của người Xơ teng từ trước đến nay

Năm 2009, A Tuấn là người Xơ teng đã hoàn thành luận văn thạc sĩ về Cồng

chiêng trong đời sống của người Xơ - đăng Xơ Teng (khảo sát ở làng Mô Pành 1, xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum) [104] Nội dung chính của luận văn tập

trung nghiên cứu chủ yếu về cồng chiêng của người Xơ teng, trong đó có đề cập tớimôi trường diễn xướng chính của cồng chiêng như nghi lễ vòng đời, nghi lễ nôngnghiệp, nghi lễ cộng đồng, Trong nghi lễ cộng đồng, luận văn này đã lựa chọn và đềcập các nghi lễ chủ yếu của người Xơ teng là lễ cúng máng nước, lễ bắn rừng, lễ vàonhà rông mới, lễ mừng thu hoạch mùa màng

Kế thừa và phát triển các thành quả của luận văn thạc sĩ nêu trên, năm 2015, ATuấn tiếp tục bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian về đề

tài “Nghi lễ cộng đồng của người Xơ Teng ở huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum”

[105] Nội dung luận án tập trung nhận diện và phân tích các đặc điểm kinh tế, xã hội,văn hóa cổ truyền để từ đó làm cơ sở tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến những nghi

lễ cộng đồng của người Xơ teng; khảo sát có hệ thống các nghi lễ cộng đồng củangười Xơ teng để phân tích các thành tố văn hóa và nghệ thuật cấu thành nên nhữngnghi lễ cộng đồng đó Trên cơ sở trình bày các nghi lễ cộng đồng tiêu biểu còn hiệndiện trong đời sống của người Xơ teng, tác giả chú trọng diễn giải các tầng ý nghĩa củanhững nghi lễ đó trong mối tương quan giữa truyền thống và hiện tại; đánh giá vaitrò của các nghi lễ

Trang 27

trong đời sống cộng đồng; phân tích, lý giải các xu hướng biến đổi và những yếu tố tácđộng đến sự biến đổi của nghi lễ cộng đồng ở người Xơ teng hiện nay.

Cùng với các công trình nghiên cứu về người Xơ teng nói chung và tín ngưỡngcủa họ nói riêng đã kể trên, còn có một số bài viết về các vấn đề liên quan đến đời

sống tín ngưỡng của nhóm này, như: Lễ hội mừng lúa mới của người Xơ - đăng nhánh

Xơ teng (huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum) của Kim Sơn [69]; Lễ cưới của người Xơ teng, Tập tục sinh đẻ của người Xơ - đăng nhóm Xơ teng, Những kiêng kị trong tang

lễ của người Xơ - đăng nhóm Xơ teng là 3 bài viết của Pa Hùng được in trong: Phác thảo văn hóa dân gian các DTTS tỉnh Kon Tum do Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam

xuất bản năm 2008 [69] Ngoài ra, còn một số bài viết khác tập trung miêu thuật về

các nghi lễ, phong tục tập quán, như: Lễ ăn lá lúa, lá bí của người Xơ teng; Đời sống

văn hóa tinh thần của người Xơ - đăng - Xơ teng ở làng Mô Bành 1, Xã Đăk Na, huyện Tu Mơ Rông, đều in trong: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Kon Tum

[70].

Như vậy, các nghiên cứu chuyên sâu về nghi lễ của nhóm Xơ teng chủ yếu làcác luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ ngành văn hóa học và văn hóa dân gian, bêncạnh đó còn có những bài viết miêu thuật về các nghi lễ, phong tục tập quán củanhóm người này chủ yếu ở 02 huyện Tu Mơ Rông và huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.Nội dung của những công trình này được các tác giả đã đề cập tới nhiều phươngdiện, như: đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ và phongtục tập quán liên quan dưới sự so sánh giữa quá khứ và hiện tại Các công trình này

đã tập trung giải quyết một số vấn đề chính sau đây: quan niệm về linh hồn người vàcác nghi lễ liên quan tới linh hồn người; các nghi lễ liên quan đến vòng đời ngườinhư: lễ khai tâm, tang ma, quan niệm về cái chết của người Xơ teng; các nghi lễcộng đồng; các nghi lễ nông nghiệp nương rẫy; Hầu hết các luận văn, luận ántrên đều chọn nghiên cứu trường hợp một làng hoặc một xã, nên tư liệu thực địarất phong phú, có hệ thống, trong đó nhiều nghi lễ, phong tục lần đầu tiên đượcphát hiện và trình bày

1.1.3.Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu

Từ tổng quan về tình hình nghiên cứu tộc người Xơ - đăng nói chung và tín

Trang 28

ngưỡng của nhóm Xơ teng nói riêng, NCS bước đầu rút ra một số nhận xét sau:

Trang 29

- Về đóng góp của các công trình: Từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các

cuốn sách, bài viết đã công bố của nước ngoài và trong nước đều có những đóng gópnhất định về tư liệu và học thuật, nhất là cung cấp những thông tin cơ bản nhất về đờisống văn hóa của tộc người Xơ - đăng, trong đó có tín ngưỡng và nghi lễ của tộc ngườinày nói chung và của nhóm Xơ teng nói riêng Nhiều công trình đã ghi chép khá cẩntrọng, có kiểm chứng và có hệ thống về một số nội dung trọng tâm, do đó có nhữngđóng góp nhất định đối với việc hiểu biết thêm về cộng đồng người Xơ - đăng Đáng

chú ý là các công trình: Những nhóm thiểu số ở Cộng hòa miền Nam Việt Nam của Bộ Quân lực Hoa kỳ (1966); Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (1981); Người Xơ - đăng ở Việt Nam của Đặng Nghiêm Vạn (1998) là

những công trình có giá trị về tư liệu, từ đó đi đến những nhận định về lịch sử tộcngười, địa bàn cư trú, không gian xã hội và văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng vànghi lễ,…

Các công trình còn lại chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể của nghi lễnhư: các nghi lễ vòng đời người, nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ cộng đồng, Đặc biệt,những nghiên cứu từ sau năm 2000 đến nay chủ yếu theo hướng nghiên cứu trườnghợp tại một địa bàn và đối tượng cụ thể Chính vì có sự kế thừa lịch sử nghiên cứutrước đó, nên các công trình nghiên cứu trường hợp này tùy theo từng phương diện mà

đã có sự đối sánh với các đặc điểm chung và tổng kết được những nhận định cơ bản vềtính chất, đặc trưng cơ bản cũng như vai trò của tín ngưỡng và nghi lễ trong đời sốngcủa người Xơ - đăng nói chung và nhóm Xơ teng nói riêng Các công trình này, dù ởgóc độ nào và lĩnh vực nghiên cứu là phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian, nghi lễ

cá nhân, gia đình hay cộng đồng… cho đến các yếu tố nghệ thuật liên quan đều lànhững tư liệu tham khảo hết sức cần thiết giúp NCS nhận diện và tìm hiểu sâu hơn vềtín ngưỡng của nhóm Xơ teng ở Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum

- Về những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu: Qua quá trình điểm luận các công

trình trên cho thấy, những công trình nghiên cứu trước 1975 còn có những ý kiến khácnhau về phân loại các nhóm địa phương, đến nay vấn đề này vì nhiều lý do khác nhauvẫn tiếp tục được đặt ra Nhìn ở góc độ khoa học có thể thấy cơ sở của các ý kiến tráichiều trên là bởi vẫn còn thiếu những nghiên cứu đầy đủ hơn về các nhóm địa phương,

Trang 30

thiếu sự so sánh để rút ra những nhận định khoa học thuyết phục về tính tương đồngvà

Trang 31

khác biệt trong văn hóa của các nhóm địa phương, Thiết nghĩ, mọi chính sách dân tộc

và công tác dân tộc để đạt được hiệu quả như mục tiêu đặt ra không thể thiếu nhữngluận cứ khoa học cụ thể của ngành Dân tộc học/Nhân học về các cộng đồng các DTTStại chỗ Tây Nguyên nói chung và người Xơ - đăng nói riêng, cũng như các nhóm địaphương của từng dân tộc Trong nhiều khoảng trống đối với nghiên cứu khoa học vềcác DTTS tại chỗ ở Kon Tum, thì tín ngưỡng vẫn là vấn đề cấp thiết cần được chútrọng Trong điều kiện diễn biến phức tạp của các vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng hiện naythì việc tìm hiểu một cách đầy đủ và khoa học về các hình thức tín ngưỡng truyềnthống và những nghi lễ liên quan cũng như sự biến đổi của chúng để nhận diện các nhucầu thiết thực trong đời sống tâm linh của người Xơ - đăng nói riêng hay các DTTS tạichỗ nói chung là rất cần thiết

Mặt khác, đứng trước yêu cầu phát triển bền vững hiện nay thì văn hóa là mộttrong những thành tố cần được coi trọng đúng mức, trong đó vấn đề tín ngưỡng truyềnthống cần được xem xét một cách khoa học, bởi tín ngưỡng là một bộ phận quan trọngcủa văn hóa, tín ngưỡng cung cấp cho con người “linh hồn” còn văn hóa góp phần pháttriển và hoàn thiện “linh hồn” ấy Tuy vậy, đa số các công trình và bài viết đã công bốmới chỉ giới thiệu sơ lược về một số hình thức tín ngưỡng và nghi lễ của người Xơteng Do đó, việc tiếp tục thực hiện công trình nghiên cứu tổng quát và có hệ thống vềtín ngưỡng của từng nhóm địa phương của dân tộc Xơ - đăng như đề tài luận án này làcần thiết

1.2.Cơ sở lý thuyết

1.2.1.Một số khái niệm cơ bản

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, có nhiều khái niệm liên quancần giới thuyết, như: tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ, văn hóa tín ngưỡng, Tuy vậy,trong phạm vi luận án này, NCS tập trung trình bày một số khái niệm được xác định là

chính yếu gồm tín ngưỡng và nghi lễ, tín ngưỡng linh hồn, tín ngưỡng đa thần.

- Về "tín ngưỡng": Trong nguyên ngữ Hán - Việt, “tín ngưỡng” là sự hợp thành từ

hai thành tố "tín" và "ngưỡng" Trong đó, “tín” nghĩa là lòng tin, niềm tin và “ngưỡng”

là sự ngưỡng vọng, ngưỡng mộ hướng về một lĩnh vực tâm linh hay một thế lực siêu

nhiên Nhiều nhà nghiên cứu, dùng thuật ngữ tôn giáo bình dân (popular religion)

Trang 32

để biểu đạt các yếu tố tâm linh không mang tính tôn giáo chính thống (không có

Trang 33

giáo lý, kinh kệ và hệ thống tổ chức) Một số nhà nghiên cứu lại sử dụng thuật ngữtôn giáo sơ khai hay tôn giáo nguyên thủy để chỉ các hình thức tín ngưỡng TheoNgô Đức Thịnh (2001), cơ sở của mọi tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin của conngười vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên; hay nói gọn lại là niềm tin,ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục” hiện hữu mà con người cóthể quan sát được Ông cũng phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, khi sử dụng kháiniệm tín ngưỡng với tư cách là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêngcủa con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển cụ thể vớihình thức biểu hiện và trình độ tổ chức cụ thể [91, tr.18, 19] .

Như vậy, khái niệm tín ngưỡng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau,trong đó có hai luồng quan điểm chủ đạo là: Thứ nhất, cho rằng tín ngưỡng và tôngiáo là đồng nhất, tín ngưỡng là niềm tin, ý thức và đạo đức tôn giáo, là một trongnhững yếu tố cơ bản tạo thành và không thể tách rời tôn giáo; trong khi quan điểmthứ hai lại cho rằng, tín ngưỡng là hình thức phát triển sớm hơn và sơ khai hơn tôngiáo - tức “tiền tôn giáo” vì chưa đạt đến các trình độ phát triển như những tôngiáo chính thống

Điều 2, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, số 02/2016/QH14, giải thích nghĩa của

tín ngưỡng như sau: tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua

những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an

về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờcúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công vớinước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị văn hóa, lịch

sử, đạo đức xã hội Như vậy, hoạt động tín ngưỡng ở đây đã bao gồm cả niềm tin

và các nghi thức biểu hiện cho niềm tin đó và cách lý giải của Luật đã phản ánhnội hàm khái niệm tín ngưỡng

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về tín ngưỡng, nhưng trong quá trình

nghiên cứu đề tài này, NCS vận dụng quan điểm cho rằng: “Tín ngưỡng là lòng

tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào lực lượng siêu nhiên nào đó tác động một cách sâu sắc đến đời sống của con người, được con người tin là có thật và tôn thờ”.

Trang 34

- Tín ngưỡng linh hồn: Có nhiều cách quan niệm khác nhau về khái niệm

này gắn với cách gọi tên khác nhau như: “Linh hồn giáo”, “vật linh giáo”, hay

“tín ngưỡng vạn vật hữu linh”, Một số nhà nghiên cứu cho rằng linh hồn giáo làmột hình thái tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo sơ khai Một số nhà nghiên cứukhác, mà tiêu biểu là Tokarev, nhà dân tộc học tôn giáo mặc dù thừa nhận sự tồntại của thuyết vật linh, nhưng ông cho rằng niềm tin về linh hồn không phải làhình thức tôn giáo mà là đặc tính của mọi tôn giáo Và tùy vào sự phát triển củatừng tôn giáo mà sự biểu hiện của niềm tin về linh hồn có sự đơn giản hay phứctạp khác nhau

Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên trên cơ sở khái niệm tínngưỡng tôn giáo đã nêu trên, NCS tiếp cận tín ngưỡng linh hồn với cách hiểu “làniềm tin cho rằng trong mọi sinh vật và vật vô tri đều trú ngụ một linh hồn có khảnăng điều chỉnh sự tồn tại của nó và ảnh hưởng đến đời sống con người” [61,tr.180] Trên cơ sở niềm tin đó đã hình thành các ứng xử tâm linh liên quan đếnthờ cúng các linh hồn hầu mong sự phò trợ hay lượng thứ cho con người

- Về “Tín ngưỡng đa thần”: Thuyết đa thần là một tín ngưỡng liên quan đến

hình thức thờ cúng và sự công nhận nhiều thần linh khác nhau cùng tồn tại trongmột vũ trụ quan tôn giáo Trong đó, mỗi vị thần tiêu biểu cho một sức mạnh, mộthiện tượng nhất định của thiên nhiên, xã hội và tâm lý con người

- Về “nghi lễ”: Theo Từ điển Nhân học: Nghi lễ là những hành động nghi

thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo - ví dụ một đại lễ Thiên chúa giáohay một buổi hiến tế cho tổ tiên, Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan khôngchỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà với toàn bộ khía cạnh hoạt độngcủa con người Trong chừng mực nào đó nó chuyển tải các thông điệp địa vị vănhóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ một hành động nào có khía cạnh nghi lễ Một

số nhà Nhân học cho rằng nghi lễ có bốn yếu tố chính: 1) Nghi lễ là một hoạt động

xã hội lặp đi lặp lại, gồm một loạt các động tác có tính chất biểu tượng dưới dạngmúa, ca hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số các đồ vật ; 2) Nghi lễ táchriêng khỏi các hoạt động thường ngày trong xã hội; 3) Nghi lễ theo đúng một môhình

Trang 35

nhất định do văn hóa đặt ra; 4) Nghi lễ liên quan đến một số tư tưởng về bản chất cáixấu, cái ác, về quan hệ giữa con người và thế giới thần linh [31, tr 222 - 223] Trongnghi lễ, hành động hiến tế chính là cách con người dâng lễ vật tới các thế lực siêunhiên mà con người không thể nhìn thấy với mục đích trông chờ vào sự che chở vàbảo vệ của các thần linh.

Khi bàn về nghi lễ, Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Nghi lễ tôn giáo được thực

hành thường gắn liền với một thực thể siêu linh hay một thế giới vô hình nào đó liên quan đến niềm tin tôn giáo hoặc do tôn giáo quy định và thường biểu hiện chức năng tâm lý trong đời sống của tín đồ Nghi lễ có thể dùng để giải tỏa những nỗi bất an của con người ở cuộc sống trần tục, cũng có thể đưa con người đến gần hơn với thế lực siêu nhiêu mà họ tin tưởng” [121, tr 130] Nguyễn Văn Minh cho rằng nghi lễ “là một

tập hợp các yế tố cơ bản gồm hành động, lễ nhạc, cầu khấn, hiến tế, nhịn ăn, địnhhướng và tẩy uế… mang tính lặp đi lặp lại từ đời này qua đời khác, con người thựchành chúng và mang truyền thống về hiện tại Nghi lễ là quá trình xuyên thời gian vàkhông gian theo đúng chu trình của nó Nghi lễ không chỉ là quá khứ, mà còn là hiệntại và tương lai” [61, tr 363]

Từ những quan niệm về nghi lễ nêu trên, NCS cho rằng, nghi lễ là hành vi củacon người bao gồm tập hợp một cách có hệ thống các lễ thức trong một không gianthiêng nhằm biểu hiện niềm tin tín ngưỡng; được thực hiện với tư cách cá nhân hoặcdưới hình thức cộng đồng; nghi lễ tạo điều kiện cho con người liên hệ với đối tượng họthờ cúng và ngược lại Qua đó, con người mong muốn nhận được sự phù trợ của đốitượng thờ cúng Một số nghi lễ ở dạng thức là mối liên hệ của tập thể đối với đốitượng tin thờ, thông qua các động tác có tính tập thể như múa, ca hát, lời nói, điệu

bộ gắn với việc cầu mong, cảm tạ thường đi cùng các trò diễn biểu đạt ước muốncủa cộng đồng Nghi lễ dạng này thường nảy sinh phần hội Phần hội một mặt vẫn làhành vi mà cộng đồng bày tỏ mong muốn liên hệ với đối tượng tín ngưỡng, mặtkhác, cũng là môi trường con người giao lưu, tăng cường tính cố kết cộng đồng.Phần hội trong nghi lễ thường là môi trường thăng hoa của nhiều giá trị văn hóa độcđáo của các tộc người Vì vậy, khi nghiên cứu nghi lễ, NCS lưu ý đến những ý nghĩatrong biểu tượng

Trang 36

lẫn hành động nghi thức để cử hành nghi lễ; đặt nghi lễ trong mối quan hệ với xã hộivăn hóa mà nó nảy sinh, tồn tại và những ảnh hưởng của nó để xem xét.

1.2.2.Cơ sở lý thuyết

1.2.2.1 Lý thuyết chức năng

Thuyết chức năng do Bronislaw K Malinowski (1884 - 1942) và Radcliff Brow(1881-1955) đề xuất và được các thế hệ tiếp sau phát triển thêm Lý thuyết chức năngxem xã hội như một cơ thể sống có các chức năng và mối quan hệ hữu cơ với nhau[26, tr 25 - 26] Vận dụng lý thuyết này vào quá trình nghiên cứu đảm bảo nguyên tắccác hiện tượng xã hội được xem xét trong tính chỉnh thể, hệ thống, trong đó mỗi thành

tố có một chức năng và vai trò riêng, đồng thời có những mối quan hệ tương tác nhấtđịnh Vì vậy, khi nghiên cứu các vấn đề xã hội nói chung và tín ngưỡng nói riêng cầnphải xem xét, phân tích, đánh giá từng vai trò, vị trí của các thành tố tạo thành, đồngthời đặt chúng trong mối liên hệ qua lại trong một hệ thống chỉnh thể Dựa theo đó, cácnhà khoa học xác định tôn giáo, tín ngưỡng có một số chức năng cơ bản như: chứcnăng thế giới quan; chức năng bù đắp nhờ sự hư ảo; chức năng điều chỉnh hành vi, ứng

xử của con người; chức năng tập hợp, liên kết và phân hoá; chức năng giao tiếp;chức năng sản sinh, tích hợp và chuyển giao văn hoá; Đồng thời tôn giáo, tínngưỡng có một số vai trò như: góp phần sáng tạo các giá trị văn hoá nghệ thuật,hướng con người tới các giá trị đạo đức và xã hội tốt đẹp nhưng cũng làm tăng tínhthụ động của họ vào các tín điều có sẵn, phản ánh khát vọng của con người nhưngcũng kìm hãm quá trình hiện thực hoá khát vọng đó của họ,

Nhiều nghiên cứu dân tộc học/nhân học theo thuyết chức năng đã quan tâm bànluận về chức năng của nghi lễ Trong đó, nhà xã hội học Durkheim - một trong nhữngngười đặt nền móng cho thuyết cấu trúc chức năng - đã xem xét chức năng tái sản sinhtrật tự xã hội của nghi lễ và cho rằng: nghi lễ được hình thành qua việc người đứng đầukinh qua vai trò thành viên của mình trong xã hội duy trì kính cố kết cộng đồng Trongnghi lễ, con người thường hành động giống như các huyền thoại của họ về nguồn gốc

xã hội và tuyên thệ tính hợp pháp của trật tự được thiết lập Còn nhà nhân họcMalinsowki lại tập trung xem xét chức năng tâm lý của nghi lễ và đánh giá: nghi lễ bảnthân nó tạo ra một khung nhận thức và tâm lý cho các khía cạnh bất định hướng trong

Trang 37

cuộc sống loài người như ốm đau, nguy hiểm, các biến đổi của cuộc sống hàng ngày,tạo cho con người một ý nghĩa kiểm soát đối với việc phân chia và đe dọa các sự kiện.Nghi lễ tạo ra cách thể hiện tình cảm, như nghi lễ tang ma là thể hiện sự đau buồn,tưởng nhớ người đã khuất Trong một số trường hợp thì nghi lễ cho phép con người thểhiện tình cảm của mình mà trong các dịp bình thường thể hiện như thế lại đe dọa trật tự

xã hội, như: tạo thành một diễn đàn quan trọng cho những ai muốn thay đổi trật tự xãhội Trong nghi lễ, những nhóm người nghèo bị áp bức có thể bày tỏ sự bất mãn củamình công khai, bằng cách trình bày các hiểu biết của họ về chính họ và về trật tự xãhội

Lý thuyết chức năng được NCS vận dụng trong quá trình nghiên cứu này nhằmphân tích làm sáng tỏ vai trò, vị trí chức năng của tín ngưỡng nói chung và nhữngthành tố hợp thành tín ngưỡng của người Xơ teng Đồng thời tìm lời giải thích chocác câu hỏi nghiên cứu như: Tín ngưỡng của nhóm Xơ teng bao gồm những yếu tốnào? Đặc điểm của từng tín ngưỡng đó là gì? vai trò của các hình thức tín ngưỡngtrong đời sống người dân như thế nào? Đặc biệt, các nhà nghiên cứu theo trườngphái chức năng luận không thực sự chú tâm nhiều đến việc tìm hiểu nguồn gốc, quátrình hình thành của các yếu tố được nghiên cứu, điều mà họ tập trung làm sáng tỏ làviệc các yếu tố văn hóa này vận hành như thế nào và lý do tại sao nó lại tồn tại trongmỗi cộng đồng Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải hòa nhập cùng nền vănhóa được nghiên cứu đề khám phá cơ sở tồn tại của chúng trong chính cộng đồngtộc người Đây là nguyên tắc góp phần định hướng cho NCS khi tìm hiểu về tínngưỡng của người Xơ teng, từ đó xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất một

số khuyến nghị trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của tín ngưỡngngười Xơ teng trong bối cảnh hiện tại

1.2.2.2 Thuyết phát triển bền vững văn hóa

Với quan điểm biến đổi là thuộc tính của thế giới, Harry Spelling đề xuất thuyếtphát triển bền vững văn hóa [90, tr.40] Sự bền vững của văn hóa luôn gắn với quátrình biến đổi Sự thay đổi của văn hóa thường gắn với sự truyền bá tư tưởng mới, kỹthuật mới hoặc sự thay đổi về kinh tế, sinh thái Trên cơ sở phân tích các mô hình tácđộng đến sự thay đổi về văn hóa, Harry Spelling nhận định, sự bền vững văn hóa có

Trang 38

nghĩa là mọi người có sự lựa chọn tập thể để duy trì nền văn hóa của họ Cũng chính

từ sự phân

Trang 39

tích các mô hình tác động đến phát triển văn hóa, Harry Spelling cho rằng bền vữngvăn hóa gắn với quyền lựa chọn sự biến đổi; đồng thời đề xuất 05 nguyên tắc đảmbảo bền vững văn hóa: đa dạng văn hóa, biến đổi văn hóa, tính tổng thể của văn hóa,chủ quyền văn hóa và tương đối văn hóa [78, tr 44] Nguyên tắc này cần đượchướng dẫn để lựa chọn trong tiếp cận về phát triển Văn hóa phải được đặt trong sựphát triển và đặt sự bền vững văn hóa vào mục tiêu của sự phát triển Harry Spellingcũng khuyến nghị về áp lực và nghịch lý trong nguyên tắc của sự phát triển bềnvững là làm sao để vừa đảm bảo các giá trị truyền thống lại vừa đảm bảo sự đổi mới;làm sao để vừa tôn trọng chủ quyền văn hóa, lại vừa đảm bảo sự công bằng, rộng

mở trong giao lưu tiếp biến của các nền văn hóa? Vì lẽ đó, lý thuyết bền vững vănhóa yêu cầu sự nhận chân được đâu là giá trị cần gìn giữ, đâu là những hiện tượng cầnthay đổi Và để đảm bảo sự bền vững trong phát triển văn hóa, không ai khác ngoàichủ thể văn hóa là người có quyền quyết định

Vận dụng một số quan điểm nêu trên của thuyết phát triển bền vững văn hóa có

ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc trong tiếp cận tìm hiểu sự biến đổi trong quanniệm và thực hành tín ngưỡng truyền thống của người Xơ teng để trả lời cho câu hỏinghiên cứu như: Quan niệm về thế giới quan, về hệ thống thần linh và các linh hồn,các tô tem và vật linh của người Xơ teng biến đổi như thế nào? Nguyên nhân kháchquan và chủ quan của sự biến đổi trên? Đây cũng chính là những cơ sở định hướngcho quá trình tìm kiếm thông tin cần thiết để trả lời cho việc xây dựng các khuyếnnghị khoa học nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tích cực cũng như khắc phục một

số hạn chế còn tồn tại trong tín ngưỡng của người Xơ teng hiện nay phù hợp vớinhận thức của chủ thể văn hóa và chính sách phát dân tộc, chính sách phát triển kinh

tế - xã hội ở địa phương của Đảng và Nhà nước ta

1.2.2.3 Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation)

Lý thuyết này được các nhà dân tộc học/nhân học phương Tây đề xuất vào cuốithế kỷ XIX Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa dùng để chỉ để chỉ sự tiếp xúc trựctiếp, lâu dài giữa hai hoặc nhiều nền văn hóa độc lập và hệ quả của cuộc tiếp xúc này

là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa của một hoặc cả các nền vănhóa đó [109, tr 12] Như vậy, theo lý thuyết này, sự giao lưu tiếp biến văn hóa là quá

Trang 40

trình một

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngọc Anh (1960), “Sơ lược giới thiệu dân tộc Xơ - đăng”, Tập san Dân tộc (13) , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược giới thiệu dân tộc Xơ - đăng”, "Tập san Dân tộc
Tác giả: Ngọc Anh
Năm: 1960
2. Toan Ánh - Cửu Long Giang (1974), Cao nguyên miền thượng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao nguyên miền thượng
Tác giả: Toan Ánh - Cửu Long Giang
Năm: 1974
3. Anne De Hautecloque – Howe (2004), Người Ê Đê một xã hội mẫu quyền, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Ê Đê một xã hội mẫu quyền
Tác giả: Anne De Hautecloque – Howe
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
4. A.Ph. A –mi-xi-mốp (1976), Sinh hoạt tinh thần của xã hội nguyên thủy (tài liệu dịch lưu tại Thư viện Viện Dân tộc học), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt tinh thần của xã hội nguyên thủy
Tác giả: A.Ph. A –mi-xi-mốp
Năm: 1976
5. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Tu Mơ Rông (2012), Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân huyện Tu Mơ Rông (1930 – 2005), Kon Tum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân huyện Tu Mơ Rông (1930 – 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Tu Mơ Rông
Năm: 2012
7. Ngô Vĩnh Bình (1981), Truyện cổ Xơ - đăng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Xơ - đăng
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1981
8. Trần Văn Bính (chủ biên, 2004), Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, thực trạng và những vấn đề đặt ra
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
9. Bộ Quân lực Hoa kỳ (1966), Các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu lưu trữ tại Thư viện Viện Dân tộc học (TLd 774), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng Hòa
Tác giả: Bộ Quân lực Hoa kỳ
Năm: 1966
10. Trần Mạnh Cát (1979), "Những nghi lễ có liên quan đến cây lúa của đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum", Tạp chí Dân tộc học, số 03, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghi lễ có liên quan đến cây lúa của đồng bào cácdân tộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum
Tác giả: Trần Mạnh Cát
Năm: 1979
11. Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đỗng Chi (1937), Mọi Kon Tum, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mọi Kon Tum
Tác giả: Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đỗng Chi
Năm: 1937
12. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1996
13. G. Condominas (1969), Sơ lược lịch sử Tây Nguyên, tài liệu dịch, Thư viện Viện Dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược lịch sử Tây Nguyên
Tác giả: G. Condominas
Năm: 1969
14. G.Condominas (1997), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian xã hội vùng Đông Nam Á
Tác giả: G.Condominas
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1997
15. G. Condominas (2003), Chúng tôi ăn rừng, Nxb. Thế giới và Bảo tàng Dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng tôi ăn rừng
Tác giả: G. Condominas
Nhà XB: Nxb. Thế giới và Bảo tàng Dân tộc học
Năm: 2003
16. Võ Chuẩn (1993), "Kon tum tỉnh chí", Tạp chí Nam Phong, số 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kon tum tỉnh chí
Tác giả: Võ Chuẩn
Năm: 1993
17. Võ Chuẩn (1934), "Kon tum tỉnh chí", Tạp chí Nam Phong, số 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kon tum tỉnh chí
Tác giả: Võ Chuẩn
Năm: 1934
18. Dambo (2003), Miền đất huyền ảo, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền đất huyền ảo
Tác giả: Dambo
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2003
19. Phan Hữu Dật (1995), "Trở lại vấn đề tín ngưỡng dân gian", Tạp chí dân tộc học, (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại vấn đề tín ngưỡng dân gian
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1995
20. Nguyễn Trắc Dĩ (1970), Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trắc Dĩ
Năm: 1970
21. J. Dournes (2002), Rừng, Đàn bà, Điên loạn, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng, Đàn bà, Điên loạn
Tác giả: J. Dournes
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w