1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiên sĩ: Nghiên cứu so sánh dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang .

247 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu so sánh dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
Tác giả Sầm Thị Dương
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Quang Hoan, PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà
Trường học Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành Nhân học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 40,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tiên sĩ: Nghiên cứu so sánh dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang .Luận án tiên sĩ: Nghiên cứu so sánh dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang .Luận án tiên sĩ: Nghiên cứu so sánh dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang .Luận án tiên sĩ: Nghiên cứu so sánh dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang .

Trang 1

HÀ NỘI - 2019

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

SẦM THỊ DƯƠNG

NGHIÊN CỨU SO SÁNH DÒNG HỌ CỦA NHÓM HMÔNG TRẮNG VÀ HMÔNG HOA

Ở XÃ BẠCH NGỌC, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

SẦM THỊ DƯƠNG

NGHIÊN CỨU SO SÁNH DÒNG HỌ CỦA NHÓM HMÔNG TRẮNG VÀ HMÔNG HOA

Ở XÃ BẠCH NGỌC, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

Ngành: Nhân học

Mã số: 9 31 03 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Phạm Quang Hoan

2 PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu điều tra, kết quả trong luận án là trung thực, chưa từng được ai công bố trongbất kỳ một công trình nào khác Đối với những quan điểm mà luận án kế thừa của cáctác giả đi trước, đều được trích yếu ghi rõ xuất xứ và tên tác giả đã đưa ra luận điểmđó

Hà Nội, tháng 03 năm 2019

Nghiên cứu sinh

Sầm Thị Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án tiến sỹ được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội, với sự giúp

đỡ quý báu của nhiều tổ chức, tập thể cơ quan và cá nhân

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Học viện Khoa học

Xã hội, Khoa Nhân học và Dân tộc học, các thầy, cô giáo, các nhà khoa học đã trựctiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho tác giả trongnhững năm tháng qua

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh Hà Giang,đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã khích lệ, động viên, tạo điều kiện về thời gian,vật chất tinh thần, cung cấp tư liệu… trong quá trình thực hiện luận án từ năm 2015đến 2019

Tác giả cũng xin gửi lời cảm tạ tới lãnh đạo và người dân địa phương xãBạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp sốliệu, tư liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài trong suốt quá trình tác giả điền

dã, khảo sát tại địa bàn nghiên cứu

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới PGS.TS Phạm QuangHoan và PGS TS Nguyễn Thị Song Hà đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡvới những chỉ dẫn khoa học quý giá và tạo động lực, khơi dậy niềm say mê nghiêncứu, học tập trong suốt quá trình triển khai và hoàn thành luận án

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 03 năm 2019

Nghiên cứu sinh

Sầm Thị Dương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 21

1.3 Một số câu hỏi nghiên cứu 30

1.4 Khái quát xã Bạch Ngọc và người Hmông tại địa bàn nghiên cứu 31

1.5 Một số điểm tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa hai nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa 41

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM DÒNG HỌ CỦA NHÓM HMÔNG TRẮNG VÀ HMÔNG HOA 50

2.1 Sự phân bố của các dòng họ thuộc các nhóm Hmông 50

2.2 Quan niệm về dòng họ 50

2.3 Sự hình thành các dòng họ 51

2.4 Các dấu hiệu nhận biết dòng họ 53

2.5 Tổ chức dòng họ 81

2.6 So sánh đặc điểm dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa 85

2.7.Sự biến đổi của đặc điểm dòng họ nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa 90

Chương 3: VAI TRÒ VÀ QUAN HỆ DÒNG HỌ CỦA NHÓM HMÔNG TRẮNG VÀ HMÔNG HOA 97

3.1 Vai trò của dòng họ 97

3.2 Quan hệ dòng họ 118

3.3 So sánh vai trò và quan hệ dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa .124 Chương 4: GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA DÒNG HỌ NHÓM HMÔNG TRẮNG VÀ HMÔNG HOA, MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 130

4.1 Những giá trị dòng họ của người Hmông Trắng và Hmông Hoa 130

4.2 Những hạn chế của dòng họ người Hmông Trắng và Hmông Hoa 139

4.3 Một số vấn đề đặt ra đối với dòng họ các nhóm Hmông hiện nay và công tác quản lý 144

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 152

TÀI TIỆU THAM KHẢO 153

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 So sánh một số thuật ngữ về thân tộc của hai nhóm Hmông Trắng và

Hmông Hoa 42Bảng 1.2 So sánh một số đặc trưng văn hóa truyền thống giữa nhóm Hmông

Trắng và Hmông Hoa 46Bảng 1.3 So sánh một số đặc trưng văn hóa giữa nhóm Hmông Trắng và

Hmông Hoa vẫn duy trì tín ngưỡng truyền thống và nhóm Hmông Trắng

và Hmông Hoa đã cải đạo theo Tin Lành 47Bảng 2.1: So sánh sự giống và khác nhau về đặc điểm dòng họ của nhóm

Hmông Trắng và dòng họ của nhóm Hmông Hoa còn duy trì tín ngưỡng truyền thống 85Bảng số 2.2: So sánh sự giống và khác nhau về đặc điểm dòng họ người Hmông

còn duy trì tín ngưỡng truyền thống và dòng họ người Hmông cải đạo

theo

Tin Lành 88Bảng 3.1: So sánh sự giống và khác nhau về vai trò và quan hệ dòng họ của

nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa duy trì tín ngưỡng truyền thống 124Bảng 3.2: So sánh sự giống/ khác nhau về vai trò, quan hệ dòng họ của

nhóm người Hmông duy trì tín ngưỡng truyền thống và nhóm cải đạo theo Tin Lành 126

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1 Cách bố trí các bát trong lễ cúng ma trâu của họ Giàng nhóm Hmông Hoa 74

Sơ đồ 2 Cách bố trí các bát trong lễ cúng ma trâu của họ Thào nhóm Hmông Trắng74

Sơ đồ 3 Cách bố trí các bát trong lễ cúng ma trâu của họ Thào nhóm Hmông Hoa .75

Sơ đồ 4 Cách bố trí các bát trong lễ cúng ma trâu của họ Vàng nhóm Hmông Trắng 75

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người Hmông là tộc người thiểu số trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.Với đặc thù về nguồn gốc lịch sử tộc người, tâm lý, văn hóa, người Hmông đã vàđang là mối quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ chức, nhiều ngành khoa học ở trong

và ngoài nước, trong đó có ngành Dân tộc học và Nhân học Trên địa bàn tỉnh HàGiang, người Hmông phân bố khắp ở 11/11 huyện, thành phố với bốn nhóm gồm:Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Xanh và Hmông Đen, trong đó đông nhất lànhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa Tổng dân số người Hmông của tỉnh là 255.329người [8], chiếm tỷ lệ 1/3 dân số, người Hmông là tộc người có dân số đông nhấttỉnh

Khi nghiên cứu về văn hóa người Hmông, thì dòng họ là một trong nhữngvấn đề cốt lõi Mỗi dòng họ người Hmông là một cộng đồng văn hóa với sắc tháiriêng và giữa các nhóm địa phương khác nhau lại có những đặc thù, nhưng vẫnmang trong mình những yếu tố văn hóa đặc trưng của tộc người Nghiên cứu dòng

họ người Hmông theo từng nhóm địa phương, để nhận diện bản sắc văn hóa, tìm ranhững điểm tương đồng và khác biệt, đề xuất các biện pháp phù hợp đối với vấn đềphát huy vai trò thiết chế dòng họ, quản lý xã hội theo từng nhóm tộc người trongbối cảnh hiện này là rất cần thiết và hữu ích

Một trong những đặc thù của dòng họ người Hmông là tâm lý cố kết mạnhđến mức có thể liên/xuyên biên giới, xuyên quốc gia Đó là ưu điểm đồng thời cũng

là yếu điểm dễ bị kẻ xấu lợi dụng Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, sự giaolưu, tiếp biến văn hóa, sự tiếp nhận tôn giáo mới, nhất là đạo Tin Lành trong một bộphận người Hmông, đã tác động đến các mối quan hệ dòng họ truyền thống, tạo nênnhững thay đổi lớn trong nội bộ tộc người, dòng họ trong một nhóm và giữa cácnhóm Hmông theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Sự cố kết và phân ly tộcngười, dòng họ diễn ra đan xen và ngày càng phức tạp Chúng ta biết rằng, ngônngữ nhóm Hmông Trắng có sự tương đồng với tiếng Hmông quốc tế, nhưng đối vớitỉnh Hà Giang, nhóm Hmông Trắng lại có tỷ lệ theo đạo Tin Lành ít hơn nhómHmông Hoa Như vậy, việc nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân cốt lõi, lý giải vấn đề

có tính chất thời sự như những hiện tượng trên trong từng nhóm địa phương, cũng làmột trong những nhiệm vụ quan trọng đối với công tác vùng người Hmông

Ngày nay, khi xem xét các nguồn lực phát triển xã hội, thì văn hóa được coi

là nguồn lực “mềm” Từ quan điểm này, thì dòng họ chính là một nguồn vốn xã hội

Trang 10

Bản thân dòng họ các tộc người nói chung, trong đó có tộc người Hmông luôn hàmchứa những giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định Do vậy, cần có những nghiêncứu về dòng họ, làm rõ nguồn vốn xã hội và giá trị nguồn lực này Kết quả nghiêncứu là minh chứng và cơ sở khoa học, thúc đẩy các cấp quản lý đổi mới tư duytrong việc huy động và xã hội hóa các nguồn nội lực, để phát triển KT-XH của địaphương vùng đồng bào Hmông theo hướng bền vững.

Cho đến nay, mặc dù đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về những khía cạnhkhác nhau của tộc người Hmông, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đi sâu so sánh

sự tương đồng và khác biệt về thiết chế dòng họ các nhóm Hmông khác nhau tại địabàn một xã Vì thế, nghiên cứu so sánh dòng họ người Hmông thuộc các nhóm khácnhau theo tính chất điểm, dưới góc độ chuyên ngành Nhân học là một đề tài mới,vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc

Từ những lý do trên, NCS quyết định chọn vấn đề Nghiên cứu so sánh dòng

họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang làm đề tài luận án tiến sĩ.

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

* Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu đặc điểm, vai trò, mối quan hệ, giá trị dòng họ của nhóm HmôngTrắng và Hmông Hoa trên địa bàn xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang;

so sánh để nhận diện sự tương đồng và khác biệt của dòng họ giữa hai nhóm

- Nhận diện sự biến đổi bản sắc văn hóa dân tộc Hmông thông qua nghiêncứu về dòng họ của hai nhóm Hmông tại địa bàn nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trongquản lý nhà nước đối với công tác dân tộc - tôn giáo tại vùng người Hmông

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ sự tương đồng và khác biệt về dòng họ của nhóm Hmông Trắng vàHmông Hoa

- Làm rõ sự tương đồng và khác biệt dòng họ của nhóm người Hmông vẫnduy trì tín ngưỡng truyền thống và dòng họ nhóm Hmông đã cải đạo theo Tin Lành

- Đề xuất các vấn đề đối với công tác quản lý nhà nước về dân tộc – tôn giáo,nhất là trong công tác phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộcthiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo Chỉ thị 06/CT-TTg; Công

Trang 11

cuộc xây dựng nông thôn mới; Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa, góp phần bảo tồn văn hóa tộc người Hmông.

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: Dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở

xã Bạch Ngọc Luận án tập trung nghiên cứu 6 dòng họ gồm 3 họ Giàng, 2 dòng họThào và 1 dòng họ Vàng

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Thiết chế dòng họ, các nghi lễ dòng họ như:

tang ma, tín ngưỡng, cưới xin, vai trò, quan hệ và giá trị dòng họ nhóm HmôngTrắng và Hmông Hoa Trên cơ sở đó tiến hành so sánh sự giống và khác nhau giữadòng họ của hai nhóm

- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu tổ chức dòng họ của hai nhóm

Hmông Trắng và Hmông Hoa tại 05 thôn có người Hmông sinh sống tập trung gồm:Khuổi Vài, Khuổi Dò, Minh Thành, Ngọc Lâm và Ngọc Sơn Xã Bạch Ngọc là địabàn nghiên cứu có tính chất mẫu đại diện, đảm bảo thực hiện được mục tiêu vàphạm vi nghiên cứu của đề tài Bởi xã có cả hai nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoacùng sinh sống, đồng thời có cả bộ phận cải đạo và không cải đạo trong hai nhóm.Những địa bàn tiếp giáp với xã Bạch Ngọc đều có người Hmông sinh sống và một

có bộ phận người Hmông theo đạo Tin Lành

Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay,bởi sau Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đất nước bước vào thời kỳ đổimới Đồng thời kể từ khi đổi mới, quản lý nhà nước về công tác dân tộc được quantâm toàn diện Bên cạnh đó, chiến tranh biên giới Việt - Trung kết thúc, đồng bàocác dân tộc nói chung, trong đó có người Hmông cư trú ở vùng biên giới của tỉnh

Hà Giang có cuộc sống ổn định hơn

4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật lịch sử, đối tượngnghiên cứu luôn đặt trong hoàn cảnh cụ thể trên cả phương diện lịch đại và đồngđại Bên cạnh đó, các vấn đề nghiên cứu còn được luận giải trên cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, đặt đối tượngnghiên cứu trong mối liên hệ tương tác qua lại với môi trường tự nhiên, kinh tế - xãhội và luôn xem xét theo chiều hướng vận động, biến đổi không ngừng, nhằm tìm rabản chất của vấn đề, tránh tư duy siêu hình, chủ quan, duy ý chí Đồng thời, các

Trang 12

phân tích của đề tài luận án cũng được giải quyết trên quan điểm của Đảng, Nhànước ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hóa, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án đã sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

* Phương pháp thu thập tổng hợp tài liệu hiện có: NCS tiến hành thu thập, hệthống hóa và xử lý các nguồn tài liệu đã có từ các sách, báo, tạp chí; Các đề tài, luận

án nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài; Báo cáo của các cơ quan trung ương vàđịa phương liên quan đến đề tài luận án Trên cơ sở tài liệu thu thập được, NCSphân tích, chọn lọc, tham khảo, vận dụng, kế thừa các kết quả đó để làm sáng tỏ vấn

đề nghiên cứu Các tài liệu được sử dụng trong luận án, đều được trích nguồn, liệt

kê rõ ràng, với 120 tài liệu tham khảo

* Phương pháp điền dã dân tộc học: đây là phương pháp chủ đạo của luận án,được sử dụng trong khai thác, thu thập các nguồn tư liệu về dòng họ của nhómHmông Trắng và nhóm Hmông Hoa, ở 05 thôn trên địa bàn xã Bạch Ngọc gồm:Minh Thành, Khuổi Dò, Khuổi Vài, Ngọc Lâm và Ngọc Sơn NCS vận dụng cácthao tác của phương pháp nghiên cứu này như: quan sát trực tiếp, quan sát tham dự,phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm để thu thập tư liệu, cụ thể như sau:

- Quan sát trực tiếp: NCS xuống cộng đồng, thôn bản, gia đình các dòng họthuộc hai nhóm người Hmông Trắng và Hmông Hoa, quan sát kỹ lưỡng cảnh quan,nhà cửa, các sinh hoạt đời sống hàng ngày, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáocủa dòng họ như: ăn, ở, mặc, đi lại, lao động sản xuất, các nghi lễ tang ma, ma trâu,

ma lợn, các nghi lễ cưới xin, sinh hoạt đạo Tin Lành NCS vừa quan sát, vừa ghichép nhật ký Đồng thời sử dụng các kỹ thuật như chụp ảnh, vẽ sơ đồ để lưu làm tưliệu Thao tác này, thường được NCS sử dụng trong dịp đầu mới đến làm quen địabàn, mới gặp gỡ, tiếp cận đối tượng hoặc mới phát hiện vấn đề nghiên cứu Kết quảcủa thao tác quan sát trực tiếp làm cơ sở để chọn lọc những vấn đề cần nghiên cứutiếp theo trên thực địa trong thời gian tới, cũng như việc lựa chọn vận dụng phươngpháp, thao tác nghiên cứu phù hợp

- Quan sát tham dự: Quá trình thực hiện đề tài luận án, NCS đã thiết lập đượcmối quan hệ thân thiết với cộng đồng nhóm Hmông Trắng và nhóm Hmông Hoa tạiđịa bàn nghiên cứu NCS thường được các hộ gia đình, dòng họ mời dự các sinhhoạt nghi lễ quan trọng như: đám cưới, hay các nghi lễ tín ngưỡng, trong trườnghợp có

Trang 13

đám tang cộng đồng cũng thông tin để NCS biết và đến dự NCS đã quan sát tham

dự các nghi lễ như: Lễ cúng ma trâu, lễ cưới truyền thống, lễ cúng cho trẻ nhanhbiết đi, lễ giải hạn, lễ gọi hồn của họ dòng Giàng, nhóm Hmông Hoa, thôn MinhThành Lễ mừng thọ của hộ gia đình ông Lý Văn Minh (nhóm Hmông Trắng, thônKhuổi Dò); Lễ giải hạn của hộ gia đình ông Vàng Mý Sỳ (nhóm Hmông Trắng, thônKhuổi Dò); Đám cưới của hộ gia đình họ Giàng, người Hmông Trắng theo đạo TinLành ở thôn Khuổi Vài Dịp tết âm lịch năm 2017, NCS tham dự tại một số hộ giađình nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở thôn Minh Thành Với phương châm “3cùng” là “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc”, khi tham dự các sinh hoạt nghi lễ tạicộng đồng, dòng họ, hộ gia đình của hai nhóm Hmông, NCS được đồng bào coi nhưthành viên/khách thân thiết NCS cũng thực hành các nghi thức trong các nghi lễtheo hướng dẫn của đồng bào, Với sự hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục tập quánngười Hmông, đồng thời với mối quan hệ gần gũi với cộng đồng, nghiên cứu sinh

đã dần tiếp cận được đối tượng nghiên cứu từ cái nhìn “bên trong” – “chủ thể”, hạnchế dần tư duy, lối quan sát từ cái nhìn “bên ngoài” – “khách thể”

- Phỏng vấn sâu: Để thu thập tài liệu phục vụ đề tài luận án, NCS đã sử dụngthao tác phỏng vấn sâu Trên cơ sở nhiệm vụ của đề tài, NCS phỏng vấn nhiều đốitượng với tiêu chí và nội dung cụ thể như sau:

+ Đối tượng phỏng vấn gồm: Trưởng dòng họ, những người có uy tín trongdòng họ (người cao tuổi là bậc cha, chú, bà cô, ông cậu, người cầm quyền ma quyềnkhách); già làng, trưởng thôn, những người là cán bộ đã nghỉ hưu hoặc đang thamgia công tác, chủ hộ gia đình, những người hoạt động tín ngưỡng (thầy cúng, thầykèn, thấy trống, thầy chỉ đường); Trưởng điểm nhóm Tin Lành, một số chức sắc,chức việc của các nhóm đạo của các dòng họ ở cả hai nhóm Hmông Trắng vàHmông Hoa Trong các đối tượng phỏng vấn có nam, nữ, người già, người trẻ, có

độ tuổi, nghề nghiệp khác nhau

+ Tiêu chí: Đối tượng phỏng vấn phải là người Hmông của hai nhóm HmôngTrắng và Hmông Hoa; sinh sống hoặc có quan hệ anh em với 06 dòng họ mà đề tàiluận án chọn làm đối tượng nghiên cứu ở 5 thôn của xã Bạch Ngọc Đồng thời họphải là những người am hiểu phong tục tập quán dòng họ, tộc người

+ Nội dung phỏng vấn: Tập trung vào các nhóm vần đề về quan niệm, sự hìnhthành, các dấu hiệu nhận biết, truyền thuyết, kiêng kỵ của các dòng họ; Một số sinhhoạt dòng họ như: tập tục trong đời sống, cưới xin, tang ma, tín ngưỡng, tôn giáo;

Trang 14

Sinh hoạt đạo Tin Lành; Các mối quan hệ dòng họ; Quá trình thực hiện phỏng vấnsâu, để trả lời các câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận án, NCS đặt những câu hỏinhỏ, chi tiết để tìm hiểu và giải thích rõ nguyên nhân, lý do, ý nghĩa của các nộidung phỏng vấn Từ đó giải mã những vấn đề ẩn sâu bên trong sự vật, hiện tượng,câu chuyện đồng thời tìm ra điểm tương đồng và khác biệt của dòng họ giữa nhómHmông Trắng và nhóm Hmông Hoa tại địa bàn nghiên cứu Kết quả, NCS đã thựchiện được trên 30 cuộc phỏng vấn sâu Thời gian cuộc phỏng vấn thường là 1 buổihoặc 1 ngày, cuộc dài nhất có trường hợp kéo dài 2-3 ngày/cuộc, có những đốitượng, NCS phỏng vấn sâu nhiều lần.

- Thảo luận nhóm: NCS thường tranh thủ sử dụng thao tác thảo luận nhóm,mỗi khi có dịp thích hợp Cơ cấu cuộc thảo luận nhóm phụ thuộc vào điều kiện hoàncảnh từng lúc, từng nơi Với các dịp sinh hoạt nghi lễ có nhiều người tham dự, thì sẽ

cố gắng thảo luận nhiều người (5 đến 7 người/nhóm) hoặc tối thiểu là 3 người/nhóm

Có nhóm nam, nhóm nữ, nhóm hỗn hợp nam - nữ, hỗn hợp độ tuổi, thuần nhómHmông (nghĩa là riêng nhóm Hmông Trắng hoặc nhóm Hmông Hoa); hỗn hợp hainhóm (có cả nhóm Hmông Trắng và nhóm Hmông Hoa) Thao tác này được sửdụng rất linh hoạt, thường thảo luận theo một chủ đề nhất định NCS đặt vấn đề, đểcác thành viên tự trao đổi, đồng thời đặt câu hỏi gợi mở và thúc đẩy niềm tự hào, sựhiểu biết của mỗi cá nhân, để họ thảo luận với tinh thần cởi mở nhất Thao tác nàygiúp NCS thu thập được nhiều thông tin giá trị hữu ích, và làm rõ những vấn đề màkhi thực hiện phỏng vấn sâu, đối tượng phỏng vấn chưa giải thích rõ hoặc chưacung cấp đầy đủ thông tin Thảo luận nhóm còn là cách kiểm chứng để đảm bảo độchính xác các thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu Chính vì vậy, NCSthường xuyên sử dụng thao tác này để làm rõ những vấn đề còn chưa hiểu rõ vàthiếu thông tin Kết quả, NCS đã thảo luận nhóm được trên 20 cuộc

* Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ các tư liệu thu thập được thông quacác phương pháp nghiên cứu trên, NCS tiến hành phân tích để làm rõ các nội dungcủa đề tài luận án Qua phân tích giúp NCS luận giải các vấn đề nghiên cứu rõ ràng,đảm bảo tính khoa học, chính xác Lập luận có lôgic luận cứ, luận chứng đầy đủ.Đồng thời với việc phân tích NCS tổng hợp lại toàn bộ tư liệu một cách hệ thống,theo từng vấn đề Làm cơ sở đánh giá nguồn từ liệu nào đã đầy đủ, tư liệu nào cònthiếu, mức độ quan trọng, độ chính xác từ đó đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu thu thập

tư liệu trong thời gian tiếp theo

Trang 15

* Phương pháp so sánh: để làm rõ vấn đề của đề tài luận án đó là sự giống vàkhác nhau giữa dòng họ của nhóm Hmông Trắng và nhóm Hmông Hoa, NCS tiến hành

so sánh từng vấn đề, cụ thể gồm: So sánh tên gọi, ngôn ngữ, văn hóa vật chất (nhà ở,trang phục), văn hóa tinh thần (sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, cưới xin, tang ma), tổchức dòng họ, đặc điểm dòng họ So sánh trên các phương diện: về thời gian và lịchsử; về không gian và địa lý; giữa các nguồn tư liệu; giữa các vùng, nhóm người Hmôngkhác nhau, nhằm đảm bảo cho việc nghiên cứu đạt mục đích đề ra Qua so sánh, tìm rađược nguyên nhân và lý giải sự tương đồng và khác biệt dòng họ của hai nhóm

* Phương pháp chuyên gia: NCS đã gặp gỡ một số chuyên gia am hiểu về nộidung đề tài luận án để trao đổi, phỏng vấn, xin ý kiến tư vấn, chỉ dẫn Đó là các nhàkhoa học, các bậc lão thành, các cán bộ, lãnh đạo là người Hmông đã nghỉ hưu hoặcđang tham gia công tác, những người có uy tín am hiểu về văn hóa tộc ngườiHmông Thông qua phương pháp chuyên gia, NCS đã kế thừa được rất nhiều kết quả,kinh nghiệm nghiên cứu và nhiều chỉ dẫn khoa học hữu ích, qua đó tiết kiệm đượcthời gian và tranh thủ được trí tuệ, kiến thức của chuyên gia vận dụng vào đề tài luậnán

Để thực hiện các phương pháp nghiên cứu trên có hiệu quả, NCS luôn chú ýviệc lựa chọn các mẫu quan sát, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, theo nguyên tắcđảm bảo tính đại diện cơ cấu xã hội như: lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính, thànhphần, học vấn, điều kiện kinh tế đó là các yếu tố đảm bảo cho kết quả nghiên cứumang tính khách quan và có độ tin cậy Quá trình vận dụng các phương pháp nghiêncứu là một nghệ thuật, mỗi đối tượng, vấn đề nghiên cứu đều phải tiếp cận một bằngphương pháp, thao tác cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trường hợp nghiên cứuphải vận dụng kết hợp nhiều phương pháp mới có thể thu được hiệu quả cao nhất

4.3 Nguồn tài liệu của luận án

Luận án được hoàn thành chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu mà tác giả thu thậpđược qua các đợt điền dã từ năm 2014 đến cuối năm 2018 ở xã Bạch Ngọc, để phântích và tìm hiểu những nét tương đồng và khác biệt giữa dòng họ của hai nhómHmông Trắng và Hmông Hoa vẫn duy trì các yếu tố văn hóa truyền thống, hay đãcải đạo theo văn hóa Tin Lành Ngoài ra, tác giả luận án còn tham khảo ý kiến củacác chuyên gia, các nhà khoa học hiểu biết về vấn đề dòng họ, đồng thời tham khảocác tài liệu liên quan đến đề tại luận án được thống kê và lưu trữ của các cơ quan,đơn vị ở Trung ương và địa phương

5.Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trang 16

- Cung cấp các tư liệu khoa học mới, góp phần làm phong phú thêm hệ thống

tư liệu liên quan đến người Hmông và dòng họ người Hmông

-Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của dòng họ ở cả bộ phận vẫnduy trì văn hóa truyền thống và cải đạo thuộc hai nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoatại một địa bàn nghiên cứu cụ thể là xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

-Làm rõ những biến đổi về đặc điểm dòng họ sau khi cải đạo

- Nhận diện được bản sắc văn hóa dân tộc Hmông thông qua nghiên cứu vềdòng họ trong xã hội đương đại

-Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học trong quản lý nhà nước đốivới công tác dân tộc - tôn giáo tại vùng người Hmông ở tỉnh Hà Giang Đề xuất quanđiểm, giải pháp hữu hiệu trong việc xây dựng và thực hiện chính sách bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hóa dòng họ người Hmông

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Dân tộchọc và Nhân học với các lý thuyết phù hợp Nguồn tài liệu được sử dụng là kết quảnghiên cứu khoa học của nhiều học giả trong và ngoài nước về khoa học xã hội và nhânvăn Bên cạnh đó luận án còn được bổ sung tài liệu điền dã Dân tộc học tại địa bànnghiên cứu Vì vậy, bên cạnh ý nghĩa cung cấp tài liệu tham khảo về tư liệu, thông tin,luận án còn mang ý nghĩa khoa học chuyên ngành, do được viết theo cách đưa lýthuyết, phương pháp nghiên cứu Dân tộc học và Nhân học vào trường hợp cụ thể trênthực địa

Nội dung đề tài luận án nghiên cứu đặt dòng họ các nhóm Hmông Trắng vàHmông Hoa trong phạm vi, thời gian cụ thể Đồng thời gắn với việc tìm hiểu việcthực hiện các cơ chế, chính sách dân tộc – tôn giáo tại địa bàn Vì vậy, luận án cógiá trị trong việc cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản lý đánh giá, tổng kết cácchủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã và đang áp dụng triển khai thực hiện

ở vùng đồng bào dân tộc Hmông

Trang 17

nhóm Hmông, đồng thời cũng nêu rõ những tồn tại, hạn chế cần được xóa bỏ, thayđổi trong đời sống sinh hoạt văn hóa đồng bào, thúc đẩy phát triển văn hóa tộcngười và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.

-Kết quả nghiên cứu luận án mang giá trị thực tiễn đối với cơ quan quản lý vềcông tác dân tộc – tôn giáo và cấp ủy, chính quyền địa phương nơi có người Hmông

cư trú Thực tế thời gian qua đã cho thấy, việc ứng xử với bộ phận người Hmôngtheo đạo Tin Lành, dưới góc độ quản lý nhà nước trong từng giai đoạn có quanđiểm chỉ đạo và cách giải quyết khác nhau, chủ yếu từ góc độ chính trị mà chưaquan tâm nhiều đến việc giải quyết vấn đề này từ văn hóa Với cách tiếp cận và giảiquyết vấn đề từ góc độ văn hóa, luận án bổ sung tư liệu để các nhà quản lý có cơ sởkhoa học tham khảo trong xây dựng và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước có hiệuquả về công tác đối với đồng bào Hmông

- Luận án còn làm tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu Dân tộchọc, nhân học, văn hóa, tôn giáo…

7.Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, danh mục công trình của tácgiả đã công bố và Phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về địa bàn

và tộc người nghiên cứu

Chương 2 Đặc điểm dòng họ của nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa.Chương 3 Vai trò và quan hệ dòng họ của nhóm Hmông Trắng và HmôngHoa

Chương 4 Giá trị, hạn chế của dòng họ nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa,một số vấn đề đặt ra

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI

QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Từ thế kỷ XVII, các nhà khoa học Phương Tây đã bắt đầu nghiên cứu về dòng

họ, những người đi đầu đặt nền móng nghiên cứu về dòng họ phải nói đếnBacophen, Mac Lennan và L.Morgan Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của họ là một

số tộc người sinh sống ngoài các nước Phương Tây Khi nghiên cứu về lịch sử củagia đình nguyên thủy, các tác giả này đã phát hiện mối quan hệ thân tộc, quan hệhôn nhân và sự phát triển của hình thái gia đình Các phát hiện trên được tổng hợp

trong tác phẩm kinh điển Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước [54] của Ph.Ănghen Ông đã trình bày kết quả nghiên cứu của L.Morgan theo

quan điểm duy vật lịch sử L.Morgan đã phát hiện tính thân tộc và đặc điểm (tục lệ)của thị tộc (dòng họ) khi nghiên cứu về thị tộc Irôqua (mẫu hệ) và thị tộc Hy Lạp(phụ hệ) Đó là những tục lệ về bầu và bãi miễn tù trưởng, nguyên tắc hôn nhân, sởhữu tài sản, quan hệ tương trợ, tín ngưỡng tôn giáo, tên gọi, quyền lực và bước

đầu, ông đã đưa ra khái niệm về thân tộc (gens) Tuy nhiên, trong khuôn khổ nội

dung tác phẩm L.Morgan mới chỉ luận giải một vài vấn đề liên quan đến dòng họ vàchế độ thân tộc ở một số tộc người cổ đại, nên chưa mang tính hệ thống Nhưngnhững nghiên cứu của L.Morgan đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển củamột số môn khoa học sau này, trong đó có Dân tộc học và Nhân học

Các học giả phương Tây khi nghiên cứu về mô hình quan hệ dòng họ trong

hệ thống thân tộc cho rằng: Các dòng họ được xác định bằng mối quan hệ tổ tiên, vìvậy chúng có một bề dày thời gian Nguyên tắc quan hệ dòng họ bao gồm sự truyềnlại và kết hợp; tư cách thành viên được truyền qua mối liên hệ cha mẹ - con cái vàliên kết những người này thành một nhóm xã hội Trong một số xã hội, tư cáchthành viên trong một dòng họ sẽ quyết định cách thức người ta được huy động đểphục vụ cho hành động xã hội Có hai cách chính mà người ta thiết lập nên dòng họ:Cách thứ nhất, dòng họ được thiết lập bởi những người tin rằng, họ liên hệ với nhaubằng một quan hệ như nhau thông qua bên mẹ và bên cha Điều này có nghĩa là, họtin rằng, những mối quan hệ họ có với phía bên cha cũng giống như những mốiquan hệ họ có với phía bên mẹ Các nhà nhân học gọi cách tính dòng họ như thế là

Trang 19

song hệ Cách thứ hai, được gọi là dòng họ đơn hệ, được xây dựng trên giả định

rằng, những mối quan hệ thân thuộc quan trọng nhất phải được tính qua hoặc phíacha hoặc phía mẹ Những dòng họ này gồm những người có liên hệ với nhau chỉthông qua những người nam hoặc chỉ thông qua những người nữ Đây là loại dòng

họ thông thường nhất trên thế giới hiện nay Các dòng họ đơn hệ hình thành từnhững quan hệ thông qua phía cha thì được gọi là dòng họ phụ hệ và những dòng họdựa trên những quan hệ thông qua phía mẹ thì được gọi là dòng họ mẫu hệ [18]

Những quan điểm trên được trình bày trong cuốn sách Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh Tuy nhiên chủ yếu được luận giải chuyên sâu về lý thuyết, nên

chỉ có thể tham khảo làm cơ sở nền tảng trong nhận thức về vấn đề dòng họ và thântộc ở góc độ lý thuyết Nhân học

Công trình nghiên cứu Bức khảm văn hóa Châu Á [20] của Grant Evans, đã

trình bày một cách hệ thống về lý thuyết cũng như những vấn đề chung và các vấn

đề cụ thể của ngành Nhân học, được phân tích trên cơ sở của các dẫn liệu dân tộchọc thu thập từ thực địa ở Châu Á Cuốn sách giành riêng chương 5, phân tích về tổtiên và bà con thông gia, quan hệ họ hàng bên ngoài gia đình Từ tư liệu nghiên cứu

về các gia đình Châu Á, các nhà khoa học phương Tây thấy rằng, có hai loại họhàng được tạo ra: họ hàng sinh học hoặc là huyết tộc và họ hàng tạo ra qua hôn nhânhoặc là quan hệ thân thuộc với họ nhà vợ hay họ nhà chồng Họ đã sử dụng lýthuyết dòng họ và lý thuyết thông gia để phân tích về hôn nhân và thông gia đối vớitrường hợp người Hmông ở Trung Quốc và Đông Nam Á Khi phân tích về cácquan hệ hôn nhân cư trú bên chồng, các tác giả này chỉ ra bốn loại dòng họ: (1).Dòng họ thuộc cùng một thị tộc (không thể tiến hành hôn nhân trong thị tộc do cóquy tắc ngoại hôn); (2) Dòng họ cho vợ đi, người vợ ra khỏi dòng họ; (3) Dòng họnhận vợ về, người vợ chuyển về dòng họ; (4) Những dòng họ khác không có quan hệ

gì đặc biệt Cuốn sách viết theo hình thức đưa lý thuyết Nhân học vào phân tích cáctrường hợp cụ thể, qua đó chúng ta học được cách vận dụng lý thuyết để luận giải cáctrường hợp nghiên cứu Tuy nhiên, do nội dung tự liệu bao trùm diện rộng - toànChâu Á, nên các phân tích về dòng họ và thân tộc mặc dù có những ví dụ cụ thể vềngười Hmông nhưng cũng chỉ mang tính điểm qua

Nhà Nhân học người Mỹ, Robert Lowie với công trình Luận về xã hội học nguyên thủy [63], gồm 15 chương, đã tập trung trình bày về các vấn đề như: hôn

nhân, gia đình, thị tộc, quan hệ họ hàng, tài sản, tổ chức xã hội, chính quyền, phápluật Mặc dù, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các thổ dân Da Đỏ ở châu Mỹ và

Trang 20

khảo cứu các xã hội nguyên thủy Nhưng với cách tiếp cận bằng phương phápnghiên cứu chuyên ngành và vận dụng lý thuyết chức năng để làm rõ các quan hệdòng họ, họ hàng hai bên (họ nội, họ ngoại) Công trình thực sự có giá trị đối vớiluận án trong việc vận dụng lý thuyết Nhân học vào quá trình nghiên cứu.

Đối với các nghiên cứu về người Hmông, tác giả luận án thừa kế các công

trình nghiên cứu: Lịch sử người Mèo [19] của F.M Savina, trình bày về nguồn gốc,

sự hình thành tộc người Hmông Đây là một trong những tài liệu hiếm hoi có sự sosánh, tác giả đã so sánh thuyết hình hành vũ trụ của người Hmông với một số dântộc cổ đại, thấy giống hệt truyền thuyết của người Chaldéc, người Lô Lô và có điểmtương đồng với những câu truyện kể trong chương đầu của cuốn sách “sáng tạo thếgiới” (Genèse) Ngoài ra, F.M Savina còn so sánh về trang phục giữa nhóm HmôngTrắng với các nhóm Hmông khác

Tác giả Guy Morechand, trong công trình Những đặc điểm của thuật saman của người Mèo Trắng ở Đông Dương [22], đã mô tả chi tiết về đặc điểm thuật

saman của nhóm Hmông Trắng, với những nghi lễ như lên đồng, bói toán và gọihồn Tác giả phát hiện thuật ra sa man của người Hmông Trắng có sự tương đồngvới đặc điểm cấu trúc của thuật sa man Châu Á, đồng thời nhận định rằng, nguồngốc của người Hmông Trắng có mối liên quan đến vùng Trung Á Khi phân tích tổchức chính trị của người Hmông, tác giả đã đề cập đến vấn đề dòng họ, quan hệ củanhững người cùng họ và bước đầu đưa ra khái niệm dòng họ với tên gọi là

“Xeem” Tuy nhiên, do nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thuật sa man nên vấn đề

dòng họ chưa được đề cập sâu Nhưng tài liệu lại có giá trị đối với luận án khi tiếnhành nghiên cứu so sánh, do tập trung nghiên cứu sâu về nhóm Hmông Trắng, nêntrở thành tư liệu để so sánh với nhóm khác Hơn nữa, việc phát hiện một số đặcđiểm văn hóa của các nhóm Hmông, nhất là về tên gọi của mỗi nhóm được phânbiệt theo trang phục của nữ giới, là cơ sở để tham khảo trong việc so sánh văn hóagiữa các nhóm Hmông [22, tr.4]

Nghiên cứu về Một làng người Hmông Xanh ở Thượng Lào [36] của Jacques

Lemoine đã mô tả về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, gia đình, hôn nhân, hệ thống thânthích của người Hmông Xanh ở làng Pha hok Trong đó, vấn đề dòng họ được trìnhbày riêng và phân tích khá tỷ mỷ, từ cách nhận anh em, một số kiêng kỵ, đến cácmối quan hệ, cũng như nguyên tắc ứng xử Để làm rõ các thuật ngữ chỉ quan hệdòng họ, tác giả đã liệt kê hệ thống thuật ngữ thân thích, đồng thời so sánh hệ thốngthuật ngữ này giữa phương ngôn Hmông Xanh và Hmông Trắng Mặc dù cuốn sách

Trang 21

chủ yếu nghiên cứu về nhóm Hmông Xanh tại một làng, nhưng lại có giá trị đối vớivấn đề nghiên cứu so sánh về mặt thuật ngữ thân thích, cũng như vấn đề dòng họđối với đề tài luận án.

Cuốn sách Hmong: History of a people (Hmông: Lịch sử một dân tộc) của

Keith Quincy [39] là một nghiên cứu được phân tích tổng hợp từ nhiều tư liệu liênquan đến người Hmông trên thế giới Nội dung được chia làm 11 chương, phán ánh

về nguồn gốc và những biến cố quan trọng trong tiến trình lịch sử tộc người này.Tuy chưa đề cập sâu đến vấn đề dòng họ, nhưng việc phân tích về truyền thuyết đãcung cấp tư liệu tham khảo cho luận án ở góc độ tìm hiểu sự hình thành các dòng

họ Đặc biệt ở truyền thuyết lý giải về sự phân nhóm địa phương (05 nhóm) củangười Hmông, mà cách thức để phân biệt nhóm thông qua trang phục, có ý nghĩatrong việc khẳng định chức năng của trang phục đối với việc phân loại nhóm vàcũng là cơ sở để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm địa phương

Một nghiên cứu có tính tổng hợp khác của Gary Lee và Nick Tapp với bài

viết Các vấn đề về dân tộc Hmông hiện nay: 10 điểm chính [20], đã đưa ra các vấn

đề cần làm sáng tỏ về người Hmông Mặc dù các phân tích rất khái quát, nhưngcũng đã đề cập đến vấn đề dòng họ (luận điểm 5), chỉ ra cách thức người ta xác địnhmối quan hệ họ hàng Đồng thời làm rõ mặt tiêu cực của tâm lý cố kết dòng họngười Hmông, điểm mà người bên ngoài dễ lợi dụng gây tổn hại tới tộc người Năm

2010 hai tác giả đồng chủ biên một công trình chuyên khảo, đề cập tới những khíacạnh khác nhau về người Hmông ở nước Úc [106]

Nixholas Tapp với cuốn sách Chủ quyền và nổi loạn người Hmông Trắng ở miền Bắc Thái Lan [49] Với mục đích nghiên cứu quá trình đồng hóa

của người Hmông trở thành thành viên của các nền văn hóa khác nhau Tác giả

đã trình bày về tình trạng tiến thoái lưỡng nan về kinh tế, chính trị, tôn giáovùng người Hmông Trắng ở miền Bắc Thái Lan; Sự phản kháng của ngườiHmông Trắng và cuộc nổi loạn vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XX Vấn đềdòng họ người Hmông được mô tả và phân tích khá sâu, tại làng tiêu điểm cótên là Nomya, các mối quan hệ họ hàng được phác họa bằng giản đồ cây phả

hệ Mặc dù tài liệu chỉ tập trung nghiên cứu điểm - một nhóm địa phương,nhưng đã làm rõ những vấn đề nổi cộm trong đời sống người Hmông nói chung

ở các nước Đông Dương Nhất là về vấn đề sản xuất và phá bỏ cây thuốc phiện,hay quá trình người Hmông trở thành tộc người của một quốc gia, sự xâm nhậpcủa các tôn giáo mới (Công Giáo, Tin Lành) Với cách tiếp cận chuyên ngành

Trang 22

Dân tộc học, cuốn sách thực sự có giá trị tham khảo đối với luận án về mặt phươngpháp nghiên cứu và tư liệu so sánh giữa các nhóm Hmông.

Prasit Leepreecha với nghiên cứu chuyên sâu về Dòng họ và bản sắc của người Hmông ở Thái Lan [113], đã phân tích khá cụ thể về thiết chế xã hội mà

người Hmông gọi là “xênhv” và cho rằng, xã hội Hmông cả trong truyền thống

và hiện nay được điều tiết bởi các mối quan hệ có tính cố kết rất bền chặt, đó là

tổ chức dòng họ

Người Hmông từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Trung Quốc Tác giả Nhan Ân Tuyền với bài viết Trang phục truyền thống và cách tân của người Hmông tỉnh Vân Nam, cho rằng hàng ngàn năm nay, người

Hmông từ lưu vực sông Hoàng Hà vượt qua núi cao Sông sâu, tiến vào vùngđất Tây Nam và Trung Nam – Trung Quốc, trong đó có một bộ phận di cư sangcác nước láng giềng như Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma…[50] Cũng trong

công trình đồ sộ này tác giả Cổ Văn Phượng với bài viết Văn hóa và kỹ thuật dệt lanh của người Hmông – Vân Nam đã giới thiệu một cách ấn tượng về một

số tập tục liên quan đến vải lanh và quần áo vải lanh trong tang lễ của ngườiHmông Các bài viết này có giá trị đối với đề tài luận án trong việc so sánh vềtrang phục giữa các nhóm Hmông, đặc biệt còn thấy được điểm tương đồngtrong văn hóa dệt vải lanh đối với tộc người Hmông ở Trung Quốc và ở ViệtNam [50]

Bên cạnh đó còn có một số công trình đã được công bố về người Hmông

có liên quan đến vấn đề tôn giáo, chẳng hạn như: Vayong Moua, Hmông Christianity: Conversion, Consequnence and Conflict, (người Hmông Thiên Chúa: Chuyển đổi, hậu quả và xung đột) [119] Đây là công trình được tác giả công bố dựa

trên kết quả nghiên cứu nhiều năm về người Hmông ở Lào, chuyển đổi tín ngưỡng

sang Thiên Chúa Hay như James Flewis, đã công bố công trình Messianism as A Factor in Vietnam’s Hmông Mass Conversion to Christianity (Cứu thế như một nhân tố đổi mới của người Hmông Việt Nam chuyển sang Thiên Chúa giáo: từ 1990-2005) [109].

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu chung về dòng họ của một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Trang 23

Nghiên cứu về dòng họ điển hình có các nhà nghiên cứu như Ngô Đức Thịnh

với bài viết Dòng họ trong đời sống xã hội hiện nay [78], đã phân tích sâu về bản

chất của dòng họ và khẳng định sự phát triển “phục hưng” của dòng họ trong nhữngthập niên gần đây, đồng thời chỉ ra những tác động tích cực, tiêu cực đối với conngười và xã hội Tuy không đề cập nghiên cứu riêng về tộc người nào, nhưng bàiviết đã cung cấp kiến thức chung nhất về lý luận và thực tiễn để tiếp cận nghiên cứu

về vấn đề dòng họ trong bối cảnh xã hội hiện nay

Nhà nghiên cứu Phan Đại Doãn có bài viết Cơ sở kinh tế và thể chế tông pháp của dòng họ người Việt [9], trong đó đã tập trung phân tích về thể chế dòng họ

của người Việt, với các quy tắc ứng xử, quan hệ họ hàng (trách nhiệm/nghĩa vụ),phân biệt ngôi thứ trong quan hệ huyết thống các quy định trong việc thực hiện

Thọ Mai Gia Lễ Đồng thời, trong công trình này đã so sánh thể chế dòng họ người

Việt với Trung Quốc, Nhật Bản thông qua một số bộ luật của các triều đại phongkiến, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt Sự tồn tại, phát triển của thể chếdòng họ được tác giả luận giải một cách biện chứng từ việc chia và kế thừa tài sản,cho thấy vấn đề nghiên cứu được vận dụng chặt chẽ quan điểm của C.Marx (mọivấn đề đời sống xã hội đều chịu sự chi phối của kinh tế) Do đó, bên cạnh giá trị vềmặt tư liệu, bài viết còn mang giá trị về mặt phương pháp luận để tham khảo nghiêncứu về dòng họ các tộc người ở Việt Nam

Nhà dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn có những nghiên cứu tiêu biểu sau:

Bài viết Bàn về dòng họ người Việt [95], nội dung xoay quanh khái niệm, cách

hiểu về họ và quan niệm ba họ (họ nội, họ ngoại, họ vợ) Mặc dù, đối tượng nghiêncứu là người Việt, nhưng bài viết được tác giả tiếp cận bằng phương pháp nghiêncứu dân tộc học, các mối quan hệ thân tộc được phân tích chi tiết với ví dụ cụ thể vàminh họa bằng sơ đồ Qua đó cung cấp kiến thức cơ bản về nghiên cứu thân tộc,dòng họ

Một nghiên cứu khác của Đặng Nghiêm Vạn về Dòng họ, gia đình các dân tộc ít người trước sự phát triển hiện nay [94] Bài viết đã phản ánh một cách tổng

quát, về thực trạng tình hình gia đình và dòng họ các dân tộc thiểu số nước ta từ nửacuối thế kỷ XIX Dưới tác động của bối cảnh lịch sử, quá trình giao lưu tiếp biến vănhóa làm cho chức năng xã hội và giá trị truyền thống của gia đình và dòng họ cácdân tộc thiểu số ở nước ta có những biến đổi, xáo trộn mạnh mẽ, theo cả hai chiềuhướng tích cực và tiêu cực Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan điểm đối với việc cảitạo gia đình và dòng họ các DTTS, với nguyên tắc phải tôn trọng các giá trị nền tảng

Trang 24

về đạo đức, bình đẳng giới, tính

Trang 25

nhân văn Mục tiêu hướng đến là xây dựng gia đình, dòng họ thành đơn vị ổn định,tạo động lực phát triển xã hội, góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mặc

dù bài viết mang tính tổng quát, nhưng có giá trị về cả lý luận và thực tiễn trong quanđiểm phát triển và cải tạo chức năng gia đình và dòng họ đồng bào DTTS

Công trình Tàn dư văn hóa nguyên thủy liên quan đến dòng họ, gia đình, hôn nhân người Khơ Mú [93] của Đặng Nghiêm Vạn là một trong những công trình

hiếm hoi nghiên cứu về tộc người Khơ Mú thời điểm trước cách mạng Tháng Tám.Qua phân tích các tên họ của người Khơ mú, tác giả phát hiện có nhiều tên họ bắtnguồn từ các loài động vật hoặc thực vật nào đó Mỗi tôtem dòng họ đều có huyềnthoại để lý giải và những kiêng kỵ riêng Mặc dù bài viết có phạm vi nghiên cứudòng họ người Khơ Mú, nhưng với việc đi sâu phân tích về tôtem và phát hiện dấuvết liên minh ba thị tộc trong quan hệ dòng họ, đã cung cấp cho chúng ta phươngpháp tiếp cận khi nghiên cứu dòng họ, luôn cần phải xem xét đến yếu tố lịch đại

Công trình Tín ngưỡng dòng họ với cố kết tộc người ở các dân tộc Hmông và Khơ Mú [80] của Nguyễn Văn Toàn đi sâu tìm hiểu về tín ngưỡng dòng họ với sự cố

kết tộc người của hai tộc người trên, tác giả nhận thấy rằng: các dòng họ của ngườiKhơ Mú không được tổ chức chặt chẽ như ở người Hmông Tuy nhiên, tín ngưỡngdòng họ là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì sự cố kết tộc người Mặc

dù, đây là một nghiên cứu chuyên đề mang tính chất điểm về người Hmông vàngười Khơ Mú tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An Nhưng với việc so sánh chỉ ra sựthống nhất và khác biệt trong tín ngưỡng dòng họ hai tộc người này, góp phần làm

rõ hơn tín ngưỡng dòng họ người Hmông nên có giá trị tham khảo đối với luận án

Luận án tiến sĩ của Lê Minh Anh với đề tài Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình [1], là một nghiên cứu điểm tại xã Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Cùng

với việc làm rõ quan niệm, đặc điểm và cấu trúc dòng họ người Nùng Phàn Slình,luận án đã phân tích sâu các mối quan hệ dòng họ Mặc dù đối tượng nghiên cứu làngười Nùng, nhưng công trình có giá trị về mặt phương pháp và cách tiếp cận khinghiên cứu về dòng họ dưới góc độ chuyên ngành Nhân học

1.1.2.2 Các nghiên cứu về dòng họ người Hmông

Tác giả Phạm Quang Hoan có nhiều công trình nghiên cứu sâu về dòng họ

của người Hmông, trong đó phải kể đến các bài viết: Vai trò của thiết chế xã hội truyền thống trong việc quản lý nguồn tài nguyên cộng đồng của người Hmông

[31], tập

Trang 26

trung trình bày hai loại hình tổ chức xã hội truyền thống cơ bản là bản làng và dòng

họ, phân tích sâu vai trò của các thiết chế xã hội đó đối với việc quản lý xã hội và

các nguồn tài nguyên; Một số nghi lễ liên quan đến dòng họ người Hmông huyện Kỳ Sơn, Nghệ An [32]; Một số nghi lễ phản ánh bản sắc và tính cố kết dòng họ của người Hmông [34] giới thiệu về một số nghi lễ quan trọng của dòng họ người Hmông như: lễ cúng thi su (lễ đuổi tà ma), nhu đa (lễ cúng ma bò) Các nghiên cứu

chuyên đề này góp phần làm rõ đặc điểm văn hóa và thiết chế dòng họ ngườiHmông Một nghiên cứu khác mang tính tổng hợp của Phạm Quang Hoan và một số

tác giả là Đặc trưng văn hóa và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn – Nghệ An [33] Trong nghiên cứu này, các tác giả giành riêng một chương để giới

thiệu về dân tộc Hmông trên các lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa vật chất, tổchức xã hội, tổ chức dòng họ, nghi lễ vòng đời Công trình nghiên cứu mang tínhtổng hợp này đã cung cấp thêm tư liệu về người Hmông và dòng họ người Hmông ởcác địa phương trên các vùng miền khác nhau của nước ta

Tác giả Vương Duy Quang có những nghiên cứu tiêu biểu sau: Quan hệ dòng họ trong xã hội người Hmông [57] đã phản ánh sâu sắc quan niệm, triết lý và chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế về dòng họ người Hmông; Công trình Văn hóa tâm linh của người Hmông ở Việt Nam: truyền thống và hiện đại [59], đã khảo cứu

sâu về tín ngưỡng truyền thống và những biến đổi của nó trong đời sống tâm linhngười Hmông Tác giả trình bày mục riêng để giới thiệu về dòng họ qua hệ thốngthân tộc, tổ chức dòng họ, các mối quan hệ dòng họ và các lễ nghi tín ngưỡng liênquan đến dòng họ Công trình có giá trị tham khảo đối với luận án ở cả lĩnh vựcdòng họ và đời sống tâm linh

Nhà dân tộc học Nguyễn Ngọc Thanh với bài viết Những quy ước của người Hmông [70], đã giới thiệu chi tiết vệ các quy ước trong tục lệ của cộng đồng dòng

họ người Hmông như: sử dụng đất đai, nguồn nước, bảo vệ mùa màng và chăn nuôi,

xử phạt tội trộm cắp, ngoại tình và ly hôn Mặc dù, nghiên cứu chỉ tập trung giớithiệu về các quy ước, nhưng những phân tích đã làm rõ giá trị của thiết chế dòng họ,

làng bản trong quản lý xã hội Công trình Thiết chế xã hội và vai trò của người có

uy tín ở người Hmông tỉnh Sơn La [25] nghiên cứu về gia đình, dòng họ, những tổ

chức quan phương và phi quan phương trong xã hội truyền thống, để tìm hiểu vaitrò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc Hmông Những nghiên cứu này, đã

bổ sung tư liệu tham khảo cho luận án, khi tìm hiểu về thiết chế dòng họ truyềnthống của người Hmông Trắng và người Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc

Trang 27

Một số tài liệu về tổ chức dòng họ của dân tộc Mèo ở Bắc Hà – Lào Cai [5]

của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lào Cai, đã cung cấp những tư liệu rất chi tiết vàthực tế về quan niệm, tổ chức, các quan hệ, vai trò, kiêng kỵ của một số dòng họngười Hmông Tài liệu hữu ích trong việc so sánh với dòng họ truyền thống giữacác nhóm Hmông

Cư Hoà Vần – Hoàng Nam, với cuốn sách Dân tộc Hmông ở Việt Nam [96]; Công trình Người Hmông đôi nét về sinh hoạt tộc người [97] của Từ Ngọc Vụ; Chu Thái Sơn (chủ biên) cuốn sách Người Hmông [66] là những công trình nghiên cứu

mang tính tổng hợp chung nhất giới thiệu về tộc người Hmông ở Việt Nam Tuynhiên, trong nội dung của các công trình này đều giành riêng một phần giới thiệu về

tổ chức dòng họ của người Hmông, qua đó cho thấy vị trí, cũng như tầm quan trọngcủa thiết chế dòng họ đối với tộc người này Các nghiên cứu trên đã cung cấp tưliệu và những vấn đề chung nhất khi tìm hiểu về người Hmông và dòng họ ngườiHmông ở nước ta

Nghiên cứu về người Hmông trên từng địa bàn cụ thể có các công trình: Văn hóa người Hmông ở Nghệ An [41], của Hoàng Xuân Lương Đây là một nghiên cứu

mang tính ứng dụng, không chỉ giới thiệu về các khía cạnh văn hóa của ngườiHmông, mà còn đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa ngườiHmông ở tỉnh Nghệ An Với đối tượng nghiên cứu chính là nhóm Hmông Trắng(chiếm 95% người Hmông ở Nghệ An), cuốn sách cung cấp tư liệu so sánh giữanhóm Hmông Trắng ở Nghệ An và các địa phương khác

Công trình Văn hoá Hmông [65] của Trần Hữu Sơn, giới thiệu về người Hmông ở tỉnh Lào Cai, chủ yếu là nhóm Hmông Hoa (Hmông Lềnh) Trong đó tập

trung mô tả chi tiết các đặc điểm về văn hóa tinh thần của tộc người Tác giả giànhriêng một mục để phân tích về tổ chức và quan hệ xã hội, trong đó có vấn đề dòng

họ Đây là một trong những tài liệu hiếm hoi viết chủ yếu về nhóm Hmông Hoa, cógiá trị tham khảo đối với luận án, nhất là trong việc so sánh giữa hai nhóm HmôngTrắng và Hmông Hoa

Tập thể tác giả Trường Lưu – Hùng Đình Quý với cuốn sách Văn hoá dân tộc Hmông Hà Giang [44], đã cho thấy diện mạo văn hóa, lịch sử, phong tục, tập quán,

đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc Hmông ở tỉnh Hà Giang, nhưng chủ yếutập trung ở nhóm Hmông Trắng Vấn đề dòng họ được phân tích gắn với các quan hệtrong đời sống xã hội, giúp người đọc hiểu rõ người Hmông Trắng nơi đây

Trang 28

Đậu Tuấn Nam có cuốn sách chuyên khảo Di cư tự do của người Hmông từ đổi mới đến nay [48], đã trình bày khái quát về lịch sử, sự phân bố tộc người, thực

trạng, nguyên nhân và ảnh hưởng của vấn đề di cư tự do đối với người Hmông từnăm 1986 đến nay Khi trình bày về nguyên nhân di cư, tác giả đề cập đến vấn đềquan hệ gia đình, dòng họ của tộc người Hmông ở địa bàn miền núi hai tỉnh ThanhHóa và Nghệ An

Gần đây, Võ Thị Mai Phương và nhóm tác giả đã xuất bản cuốn sách Biến đổi văn hóa tinh thần của người Hmông di cư ở Đăk Lắk [53], trong đó tập trung

làm rõ bức tranh về đời sống văn hóa của người Hmông, di cư từ các tỉnh phía Bắcvào tỉnh Đắk Lắk trong truyền thống và quá trình biến đổi các khía cạnh của đờisống văn hóa tinh thần Nhóm tác giả đã cho thấy những đặc điểm văn hóa đặctrưng của tộc người, chỉ ra các yếu tố tác động và xu hướng biến đổi văn hóa tinhthần của người Hmông thời gian tới Trên cơ sở đó, đã đề xuất những kiến nghị vàgiải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa của người Hmông trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay Tuy cuốn sách không đề cập trực tiếp đếnvấn đề dòng họ của người Hmông, nhưng đây là nguồn tư liệu có giá trị để tác giảluận án có những đánh giá và so sánh trong nghiên cứu của mình

Nguyễn Văn Minh và Hồ Ly Giang có bài viết Một số vấn đề thực tiễn về đạo Tin Lành ở các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc hiện nay [45], khái quát về thực

trạng, nguyên nhân và những ảnh hưởng của đạo Tin Lành tới các dân tộc thiểu sốvùng Tây Bắc, trong đó có người Hmông, đồng thời cũng phân tích ảnh hưởng củađạo Tin Lành tới quan hệ cộng đồng, dòng họ và gia đình

Một số bài viết của Nguyễn Thị Song Hà, Hồ Xuân Định, Nghi lễ chu kỳ đời người của người Hmông [27], Rites in the lifimte of Hmong people [28]; Nguyễn Thị Song Hà, Tác động của luật tục đối với quản lý xã hội người Hmông ở vùng Tây Bắc Việt Nam [29], trong đó miêu tả một số sự khác biệt trong văn hóa, nghi lễ

của một số dòng họ và vị trí, vai trò của dòng họ trong quản lý xã hội ở cộng đồngngười Hmông vùng Tây Bắc

Nguyễn Văn Thắng có một số đề tài như: Sự phân chia bên trong ở người Hmông [72] với đối tượng nghiên cứu là các nhóm Hmông Hoa, Hmông Đen,

Hmông Trắng tại một thôn thuộc tỉnh Đắc Lắk Tác giả đưa ra các dạng phân chiatrong nội bộ tộc người Hmông, từ những năm 1980 trở lại đây, gồm các hình thức:

sự phân tách tộc người – văn hóa, sự phân tầng kinh tế - xã hội và sự phân chia tôngiáo, đã dẫn tới những biến đổi trong bản sắc văn hóa tộc người Nghiên cứu có giá

Trang 29

trị đối với việc tìm hiểu nguyên nhân phổ quát, dẫn đến những biến đổi văn hóa củacác nhóm địa phương người Hmông, dưới tác động của qua trình hiện đại hóa/toàn

cầu hóa Cuốn sách Giữ “Lý cũ” hay theo “Lý mới” bản chất của những cách phản ứng khác nhau của người Hmông ở Việt Nam với ảnh hưởng của đạo Tin Lành [73],

đã phân tích tác động của đạo Tin Lành đối với đời sống văn hóa, xã hội truyềnthống của người Hmông thông qua nghiên cứu điểm, tại một số tỉnh có đông ngườiHmông cư trú ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Hà Giang Các phântích đều gắn liền với nghi lễ dòng họ truyền thống (lý cũ) và vấn đề cải đạo theo TinLành (lý mới) Nghiên cứu là tư liệu để so sánh giữa dòng họ truyền thống và dòng

họ cải đạo theo Tin Lành trong các nhóm người Hmông ở xã Bạch Ngọc

Tác giả luận án có các nghiên cứu như: Dòng họ của người Hmông Trắng ở

xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang [12], trong đó tập trung khảo cứu sâu

về 5 dòng họ, đồng thời làm rõ các mối quan hệ và vai trò của dòng họ người

Hmông Trắng tại điểm nghiên cứu; Bài viết Vai trò của người có uy tín trong dòng

họ Mông Trắng [11], Trống và khèn của người Mông [10], nội dung các bài viết đều

phản ánh các vần đề liên quan đến dòng họ người Hmông ở Hà Giang Luận án tiến

sĩ Nhân học về Dòng họ của người Hmông Trắng tỉnh Sơn La [26] của Hồ Ly

Giang, đã phân tích làm rõ các mối quan hệ và vai trò của dòng họ trong đời sốngcộng đồng người Hmông Trắng ở xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La,đồng thời có so sánh với một số địa phương khác Luận văn thạc sỹ của Mua Hồng

Sinh với đề tài Tang ma dòng họ Giàng người Hmông Trắng, xã Sủng Trà, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang [64], đã tập trung trình bày về các nghi lễ trong tang ma

của một dòng họ và có so sánh với dòng họ khác trong nhóm Hmông Trắng trên địabàn nghiên cứu Các nghiên cứu trên có đối tượng là người Hmông Trắng, nên đãgóp phần bổ sung thêm nguồn tư liệu để so sánh với các nhóm Hmông khác

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án cho thấy rằng,vấn đề dòng họ của một số tộc người trên thế giới và dòng họ của các tộc người ởViệt Nam, trong đó có người Hmông ở một số địa phương thuộc các tỉnh miền núiphía Bắc, đã được nghiên cứu một cách độc lập và tổng thể Trong đó một số nghiêncứu đi sâu vào trình bày và phân tích những vấn đề cấu thành thiết chế dòng họ củatộc người Hmông hay một nhóm cụ thể của tộc người này Qua đó cung cấp chochuyên ngành Dân tộc học/ Nhân học bức tranh tương đối toàn diện, về dòng họ củangười Hmông trong xã hội truyền thống, cũng như vai trò của nó trong đời sống tộcngười Những vấn đề được đề cập trong các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài

Trang 30

liệu tham khảo có giá trị cho đề tài luận án Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu sosánh dòng họ giữa các nhóm Hmông khác nhau ở Việt Nam và tại một địa bàn cụthể còn là một khoảng trống, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyênsâu nào trên cả góc độ truyền thống và biến đổi.

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

* Dòng họ

Theo Đặng Nghiêm Vạn, dòng họ có thể hiểu theo 3 nghĩa sau: (1) Là nhữngngười cùng mang một tên họ, mà không chắc gì hay có một chứng cớ gì có chung mộtnguồn gốc; (2) Là những thành viên mang cùng tên họ, được biết chắc chắn là cócùng nguồn ngốc từ một thủy tổ chung; (3) Là những người thuộc một tông tộc, tức là

cùng thuộc về một ông tổ 5 đời gọi nôm na là chi họ [95].

Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh cho rằng, dòng họ là một thực thể xã hộimang tính phổ quát của loài người, nó hình thành trên cơ sở quan hệ huyết thốngcủa một quần thể người nhất định thể hiện qua ý niệm về dòng dõi từ một ông tổchung, do vậy dòng họ là một thực thể vừa mang tính sinh học vừa mang tính xã hội[78]

Dòng họ là một đơn vị xã hội trường tồn mà các thành viên của nó tự cho làxuất thân từ một tổ tiên xác định căn cứ vào quan hệ phả hệ và con cháu được nhậnbiết rõ ràng [37, tr 258]

Mặc dù trên thực tế có nhiều loại hình dòng họ khác nhau và mỗi loại hình cóquy tắc liên kết riêng, nhưng cũng có những đặc điểm chung nhất là bản chất hợpnhất của dòng họ đó là: (1) Một dòng họ là một nhóm hợp nhất duy trì từ thế hệ nàyqua thế hệ khác cho dù các thành viên của nó có được sinh ra thêm hay là qua đời

Về mặt biểu đồ, một dòng họ có khuynh hướng tạo thành một kim tự tháp, vì khi sốlượng các thế hệ hậu sinh gia tăng thì số người họ hàng vì vậy cũng tăng lên Tổ tiêncủa dòng họ, nhân vật để từ đó xác lập phả hệ của dòng họ, phải là nhân vật có thật

và được xác định; (2) Dòng họ có tầm quan trọng trong thực tiễn và tâm lý to lớntrong cuộc sống thành viên Nó đóng vai trò liên kết các cá nhân có mối quan hệhuyết thống chung lại với nhau và chi phối mạnh mẽ đối với mối quan hệ hôn nhân

và gia đình Không những thế dòng họ còn xác định trách nhiệm và những ràngbuộc, theo những quy tắc nhất định giữa các thành viên Trong đó, tiêu biểu nhất lànhững nguyên tắc về sở hữu tài sản và nguyên tắc hôn nhân; (3) Thường thì tất cảcác thành viên trưởng thành cùng một giới trong một dòng họ có cùng một dạngthức cư trú

Trang 31

Hoặc là họ sống cùng địa phương hoặc là sống phân tán Dòng họ sống cùng địaphương sẽ có được lợi thế hơn Nếu tính theo phụ hệ thì những người đàn ông sẽgắn bó với nhau ở trên cùng mảnh đất của tổ tiên, luôn chung tay trong việc ngănchặn các dòng họ khác xâm chiếm hay là khai thác các nguồn lợi tự nhiên thuộclãnh thổ của mình Những lợi thế của các nhóm dòng họ cùng địa phương theo mẫu

hệ thì không to lớn lắm, vì thông thường không phải phụ nữ mà là nam giới mới làngười quản lý đất đai, chiến đấu và điều hành công việc chính trị Tuy nhiên, nhữngngười phụ nữ sống cùng địa phương có thể mang lại lợi ích cho dòng họ của mìnhtrong việc họ có thể đóng góp trách nhiệm duy trì truyền thống của nhóm (điều nàythể hiện rất rõ đối với người Hmông, đặc biệt vai trò của bà cô, mặc dù đã đi lấychồng và cư trú bên gia đình nhà chồng, song bà cô vẫn có tham gia và có quyềnquyết định thay đổi một số tập tục trong tang ma); (4) Dòng họ có nguyên tắc hônnhân và thông thường là theo nguyên tắc ngoại hôn Vì dòng họ là một nhóm hợpnhất, nên các thành viên của dòng họ không thể kết hôn với nhau mà phải tìm bạnđời ở bên ngoài nhóm [13, tr 36, 37]

Tác giả Clark W.Sorensen nhận định: Dòng họ được xác định bằng di duệđơn hệ từ một tổ tiên chung và những nhóm họ hàng đơn hệ mà thành viên có thểvạch được phả hệ, qua những người mà thành viên biết được, đến một tổ tiên thủy

tổ thì gọi là dòng họ (lineage) [21].

Theo Vương Duy Quang, dòng họ người Hmông được hiểu như sau: xét trên

hệ thống thân tộc, khái niệm dòng họ của người Hmông bao gồm những người đànông thuộc các thế hệ khác nhau sinh ra từ một ông tổ và vợ con của họ Cụ thể hơn,

đó là tất cả những người theo trực hệ tính từ chắt của Ego (xinhz nzưr) Như vậy, người Hmông tính dòng họ theo hệ cha (phụ hệ) – pênhx chuôz Để diễn tả hình tượng từ một ông tổ sinh ra ấy, đồng bào dùng thuật ngữ iz trôngs Hmôngz – “cùng một cây người” Theo tiếng Hmông, trôngs có nghĩa là cây, ở đây hàm ý chỉ một cộng đồng Từ trôngs lại phân ra thành nhỏ hơn Tiếp đó, thuật ngữ chêl (cành) gắn với cấp độ cộng đồng dòng họ thứ hai Ông tổ của cộng đồng chêl là một trong những ông tổ trong cộng đồng trôngs Chêl tiếp tục phát triển trên tuyến trực hệ, các

bàng hệ song song, bàng hệ chéo Ở cấp độ nhỏ hẹp hơn nữa người Hmông có thuật

ngữ phangx (mái) Ông tổ của cộng đồng phangx là một trong những ông tổ trong cộng đồng chêl Phangx là đơn vị nhỏ nhất trong các cấp độ cấu trúc của cộng đồng

dòng họ người Hmông [59, tr.76]

Trang 32

Tác giả luận án cho rằng, dòng họ bao gồm: Họ bên nội (quan hệ huyết thốngtính theo dòng cha); Họ bên ngoại (quan hệ huyết thống tính theo dòng mẹ); Họ bên

vợ (là quan hệ tính theo họ của vợ) Đối với dòng họ người Hmông là một cố kếtcộng đồng huyết thống theo dòng cha Tiêu chuẩn để nhận biết dòng họ là các vị tổtiên mà thành viên dòng họ thờ phụng Ông tổ là người đã chết mà người già ở thế

hệ cao nhất trong phả hệ còn nhớ Những người này được xem như “cùng họ, cùng

ma” (thồng xểnh thồng đang), có chung một ông tổ, có nghi lễ cúng ma và các

kiêng kỵ giống nhau

- Chi họ:

Trong bài viết “Bàn về dòng họ người Việt”, Đặng nghiêm Vạn cho rằng,một chi hay một tông tộc thường chỉ tính theo trực hệ đến đời thứ năm; Từ đời thứsáu các nhánh bàng hệ thường tách ra một chi riêng Thành viên thuộc mỗi chiriêng, tuy vẫn hiểu biết có những thành viên các chi khác, còn ở trong làng hay cưtrú ở làng khác; Các chi còn biết chung là thuộc về một thủy tổ [95]

Quan niệm về chi họ của người Hmông được nhà nghiên cứu Phạm QuangHoan lý giải ở phạm trù “Cố kết hẹp” như đã nêu ở trên, được tính theo dòng cha,thường từ 3 đến 4 đời

Tác giả luận án cho rằng, khái niệm chi họ có phạm vi hẹp hơn khái niệm dòng họ Tư liệu điền dã thu thập được về một số dòng họ của người Hmông cho

thấy, các thành viên trong một chi họ có quan hệ huyết thống tính theo bên nam vàthường trong phạm vi 3 đời

- Quan hệ dòng họ:

Hai tác giả Emily A Schultz và Robert H.Lavenda cho rằng, những quan hệ

dựa trên sinh đẻ được gọi là quan hệ dòng họ và quan hệ dòng họ là phạm trù có

tính chất chọn lọc Một phần quan trọng của hệ thống thân tộc là quan hệ dòng họ nguyên tắc văn hóa quy định các phạm trù xã hội thông qua những mối liên hệ cha

-mẹ - con cái được văn hóa thừa nhận [18]

Clark W Sorensen khi phân tích về các gia đình Châu Á đã luận giải, nếu tabắt đầu từ bản thân ta, rồi vạch các mối liên lạc huyết thống như thể trên một sơ

đồ họ hàng với bố mẹ, ông bà và di duệ của họ cả về đằng mẹ lẫn đằng bố của ta,

ta có thể xác định được một nhóm mà các nhà nhân học gọi là họ hàng bà con haiphía [21, tr.153]

Tác giả luận án quan niệm rằng, quan hệ dòng họ phải được xác định trên baphương diện chính bao gồm: (1) Quan hệ dòng họ tính theo dòng cha – bên nội;

Trang 33

(2) Quan hệ họ hàng tính theo dòng mẹ - bên ngoại; (3) Quan hệ dòng họ tính theo

họ bên vợ/chồng Như vậy, quan hệ dòng họ không chỉ trên phương diện huyếtthống, mà còn có các dạng như: quan hệ liên minh dòng họ dựa trên hôn nhân –thông gia và quan hệ dòng họ theo ma (cùng ông tổ) Đối với người Hmông, quan

hệ dòng họ vừa là một thực thể mang tính sinh học vừa mang tính xã hội, đó là cácmối quan hệ cố kết con người – các thành viên dòng họ với nhau và cũng có sự biếnđổi qua thời gian

- Thân tộc:

Thân tộc là tổ chức xã hội cơ bản mà trong đó mối quan hệ của các thànhviên được xác lập thông qua hệ thống huyết tộc bao gồm mối quan hệ dòng tộc, hônnhân và gia đình [37, tr 251]

Khái niệm thân tộc dùng để chỉ những người có cùng quan hệ huyết thống,

có thể là trực hệ hoặc cũng có thể là bàng hệ, có thể theo dòng bố (nếu lấy tôi làmtrung tâm thì bao gồm bố tôi, ông nội, cụ nội, cố nội, con và cháu của tôi, hoặc concủa chú và bác anh em trai của bố tôi), có thể tính theo dòng mẹ (bao gồm mẹ, bàngoại, cụ ngoại, con gái, cháu ngoại) [51, tr 46]

Thân tộc là những thuật ngữ dùng để gọi những người có quan hệ thân tộcvới chủ thể Ví dụ: trong hệ thống thân tộc của người Việt, tôi gọi người sinh ra tôi

thuộc giới nam là cha, người em trai của cha là chú, người vợ của chú là thím Tôi gọi người sinh ra tôi thuộc giới nữ là mẹ, người em gái của mẹ là dì, người chồng của dì là chú hay dượng Tất cả các từ cha, mẹ, chú, thím, dì, dượng là thuật ngữ

thân tộc Các thuật ngữ thân tộc là một nhóm hoàn chỉnh các thuật ngữ mang ýnghĩa về mối quan hệ thân thuộc tồn tại trong một xã hội, để nhận biết và phân biệt

họ hàng Đó là cách mà một nền văn hóa đặt ra trật tự trong xã hội của những người

có quan hệ họ hàng thân thích với nhau Những từ chúng ta vẫn gọi thường ngàynhư cha, mẹ, anh, em, chú, bác, cô, dì không chỉ là thể hiện sự tôn kính của nhữngngười có đối thoại mà từ lâu nó thể hiện ý niệm về mức độ xa hay gần, tính chấtgiống nhau hay khác nhau trong quan hệ thân tộc Những từ đó còn hàm chứa nhữngquyền lợi và nghĩa vụ rất cụ thể của những người trong mối quan hệ thân tộc đó, nóhợp thành một bộ phận chủ yếu của quan hệ xã hội [13, tr 4,5]

Đối với nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc, thuật ngữ thântộc cũng được xác định rõ ràng Ví dụ đối với nhóm Hmông Hoa, anh ta gọi người

Trang 34

sinh ra anh ta thuộc giới nam là trớ (cha), người sinh ra bố anh ta là zở (ông nội), vợ của ông nội là pù (bà nội); Anh trai của cha là zở lâu (bác), vợ của anh trai của bố là

pù lâu (bác gái); Em trai của cha là trí zở (chú), vợ của chú là nả zở (thím); Chị, em gái của bố là pù nhắng (cô), chồng của cô gọi là sớ cứ zì (chú); Anh ta gọi người sinh ra anh ta thuộc giới nữ là nả (mẹ), người cha sinh ra mẹ anh ta là zở trớ (ông ngoại), vợ của ông ngoại là nả tai (bà ngoại), anh và em trai của mẹ được gọi là tsớ tlắng (cậu, bác), vợ của anh, em trai của mẹ gọi là nả tlắng (mợ), chị và em gái của

mẹ là tai lua (dì), người chồng của dì là tsớ lua (chú).

Theo tác giả luận án, thân tộc là để chỉ mối quan hệ dòng họ, bao gồm nhữngquan hệ cơ bản như huyết thống, hôn nhân, gia đình Đồng thời thân tộc còn để xácđịnh mức độ xa gần của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với cá nhân khác như sinhthành hay di duệ, huyết thống hay thông gia và tất cả được thể hiện bằng nhữngthuật ngữ xác định cụ thể

1.2.2 Cách tiếp cận

Đề tài luận án được tiếp cận trên cơ sở phương pháp nghiên cứu chuyênngành Dân tộc học và Nhân học Có phương pháp luận và bộ công cụ lý thuyết phùhợp để luận giải các vấn đề trong phạm vi luận án Hướng nghiên cứu tập trung vàodòng họ truyền thống và dòng họ cải đạo của hai nhóm Hmông Trắng và HmôngHoa Đặt trong tương quan so sánh giữa hai nhóm về đặc điểm, sinh hoạt, quan hệdòng họ, nhằm phát hiện điểm tương đồng và khác biệt, từ đó nhận diện xu hướngbiến đổi bản sắc văn hóa tộc người

Bối cảnh và không gian của đề tài nghiên cứu cũng được tiếp cận theo haichiều lịch đại và đồng đại, nhằm đảm bảo cho việc so sánh được bao quát nhất và

có cái nhìn xuyên suốt, về sự thay đổi của dòng họ các nhóm người Hmông nơi đây

từ truyền thống đến hiện đại

Mặt khác, với góc độ là cán bộ làm quản lý công tác dân tộc tại địa phương,tác giả cố gắng tư duy một cách khách quan nhất trong tiếp cận đề tài Các quanđiểm chỉ đạo cũng như chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã và đang triểnkhai, thực hiện tại địa bàn nghiên cứu luôn được đánh giá và nhìn nhận theo góc độnhà nghiên cứu Dân tộc học/Nhân học Từ đó, có những nhận định khách quan, chỉ

ra những điểm phù hợp cũng như mặt hạn chế trong công tác quản lý, cách ứng xử

Trang 35

của cấp ủy, chính quyền đối với các vấn đề nảy sinh trong đời sống của ngườiHmông nơi đây và có những đề xuất, kiến nghị mang giá trị khoa học và thực tiễn.

1.2.3 Lý thuyết nghiên cứu

1.2.3.1 Lý thuyết chức năng - cấu trúc

Các đại biểu của trường phái lý thuyết chức năng - cấu trúc mà tiêu biểu làMalinowski và Ridcliffe – Brown đã phát triển luận điểm của mình trên cơ sở kếthừa quan điểm của các nhà khoa học đi trước

Các nhà lý thuyết chức năng nhìn vào bên trong những đơn vị mà Durkheimtrước đó gọi là những “xã hội đa hợp” Họ tìm hiểu cấu trúc bên trong của những bộphận xã hội, xem xét những quan hệ xã hội gắn kết các bộ phận này với nhau và cốgắng giải thích sự ổn định có thể thấy được của những xã hội phân nhánh.Durkheim quan niệm, sự tương tác xã hội phải được hiểu một cách có hệ thống,không phải bằng cách lấy những tập tục riêng lẻ ra khỏi bối cảnh của chúng và ônglập luận rằng mọi hành vi xã hội được học hỏi mà có và được quyết định bởi nhữngtập tục truyền thừa bên trong truyền thống xã hội Các lý thuyết chức năng dùng bađịnh nghĩa khác nhau về khái niệm chức năng: (1) Mọi tập tục đều có tương quanvới tất cả tập tục khác trong cộng đồng, vì vậy mỗi tập tục quy định tình trạng củanhững tập tục kia; (2) Chức năng của các tập tục này là để thỏa mãn những nhu cầusinh học chủ yếu từ cá nhân thông qua phương tiện văn hóa; (3) Chức năng mỗi tậptục là vai trò mà nó nắm giữ trong việc duy trì sự toàn vẹn của hệ thống xã hội

Không giống như C.Marx, cả Malinowski và Ridcliffe – Brown đều khôngquan niệm rằng những quan hệ kinh tế chi phối các khía cạnh khác của đời sống xãhội Khi không có một lịch sử thành văn hay những bằng chứng khảo cổ học chitiết, thì việc suy diễn về lịch sử của những xã hội có quy mô nhỏ là việc làm vô ích.Khi Malinowski điền dã ở vùng dân đảo Trobriand, ông chứng minh mục đíchnghiên cứu của mình qua quan sát, nghi chép để thấy những tập tục khác nhau tùythuộc lẫn nhau như thế nào về mặt chức năng, tìm ra những cơ sở xã hội và tâm lý

mà trên đó các thể chế xã hội được xây dựng Theo sự đánh giá của Malinowski,

“người bản xứ” tuân theo những “sức mạnh và mệnh lệnh của pháp luật bộ lạc” màkhông hiểu về chúng, điều này thấy rõ trong quan hệ dòng họ người Hmông, mọithành viên tự giác thực hiện luật tục tộc họ và có thể trong đó sẽ có nhưng ngườikhông hiểu về nó một cách thấu đáo

Ridcliffe – Brown cho rằng, chức năng của một tập tục là sự đóng góp của

nó vào đời sống liên tục của “cơ thể xã hội” và định nghĩa sự thống nhất chức năng

Trang 36

là “một tình trạng trong đó tất cả mọi thành phần của một hệ thống xã hội cùng làmviệc với nhau ở mức độ hài hòa hoặc thống nhất nội bộ đủ (để tiếp tục như một hệthống), tức là không tạo ra những xung đột kéo dài mà không giải quyết hoặc điềuchỉnh được” Khi nghiên cứu về cơ cấu xã hội, Ridcliffe – Brown đã đưa ra khái

niệm nổi tiếng liên quan đến dòng họ, đó là “nhóm dòng họ đơn hệ” Phương pháp

mà Ridcliffe – Brown sử dụng chính là “Thuyết chức năng cấu trúc”, thuyết này chútrọng đến cơ cấu của những quan hệ xã hội và gán cho thể chế những chức năngnhất định, đồng thời căn cứ vào sự đóng góp của chúng để duy trì cơ cấu đó

Các nhà lý thuyết chức năng quan niệm về cơ cấu xã hội như một mạng lướinhững vị thế được kết nối bởi những vai trò có liên quan và họ minh họa khái niệm

vị thế và vai trò bằng các nghiên cứu về hệ thống xã hội cụ thể ở bốn nhóm người

gồm: người Sarakatsani là cư dân chăn cừu ở miền Bắc Hy Lạp, người Samburu ởKenya là cư dân chăn nuôi đồng cỏ, người Asante ở Ghana và Los Peloteros – mộtkhu ổ chuột ở Puerto Rico Bốn minh họa cho lý thuyết chức năng cấu trúc, qua cáckhái niệm vị thế và vai trò, đã phân tích các yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống xã hội

từ quan hệ sở hữu, thừa kế tài sản, hôn nhân, những kiêng kỵ đến quyền lực… tất cảđều liên quan đến vấn đề quan hệ thân tộc và quan hệ dòng họ, kể cả dòng họ song

hệ và đơn hệ, mẫu hệ và phụ hệ [62]

Trong nghiên cứu này, tác giả luận án sử dụng lý thuyết chức năng cấu trúc đểgiải thích sự tồn tại lâu bền của thiết chế dòng họ người Hmông, tính cố kết tộc ngườivới những quan hệ dòng họ được xem là cơ sở cấu thành hệ thống xã hội trong truyềnthống cũng như hiện nay, trong đó từng mối quan hệ xã hội đều khoác lên mình chứcnăng nhất định, đồng thời có giá trị chi phối ở một khía cạnh nào đó để đóng góp choviệc duy trì cấu trúc xã hội mà ở đây chính là quan hệ dòng họ

1.2.3.2 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa

Từ cuối thể kỷ XIX, các nhà nhân học Phương Tây bắt đầu đề cập đến kháiniệm giao lưu tiếp biến văn hóa, để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nềnvăn hóa khác nhau Sản phẩm của quá trình tiếp xúc, tương tác là sự thay đổi củamột số loại hình văn hóa của một hoặc cả hai nền văn hóa đó

Tiếp biến văn hóa là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai

hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả là làm cho chúng ngày càng trở nên giốngnhau hơn Tiếp biến văn hóa bao gồm một số các quá trình khác nhau gồm khuếchtán, thích nghi mang tính ứng phó Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa là quá trình mộtnền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng từ một nền văn hóa khác bằng cách vay mượnnhững nét

Trang 37

đặc trưng của nền văn hóa ấy Vì thế, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là một cơchế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi của những đặc tính văn hóa nảysinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục [81, tr.12].

Trong trường hợp tộc người Hmông, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa trước tiênphải kể đến sự ảnh hưởng của văn hóa Hán Mặc dù lịch sử tộc người là những cuộcgiao tranh với người Hán và thiên di để tránh khỏi sự truy sát, nhưng ở một mức độnào đó, văn hóa Hmông vẫn có sự giao lưu tiếp biến văn hóa Hán, nhất là trong ngônngữ, người Hmông đều công nhận ngôn ngữ của mình có sự vay mượn của tiếngHán

Gần đây, trong bộ phận cộng đồng người Hmông ở xã Bạch Ngọc và một sốđịa phương khác đã có sự tiếp biến về tín ngưỡng, tôn giáo, đó là sự chuyển đổi từtín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin Lành, bắt đầu từ giữa thập niên 80 của thế kỷtrước Cải đạo chỉ phát sinh trong thời gian ngắn, nhưng đã làm nảy sinh nhiều vấn

đề trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc – tôn giáo đối với vùng ngườiHmông Trên phương diện văn hóa tộc người, cải đạo theo Tin Lành đã dẫn đến sựbiến đổi cấu trúc dòng họ truyền thống của tộc người Hmông ở một số nơi, trong đó

có người Hmông ở xã Bạch Ngọc

Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường,giao lưu và tiếp biến văn hóa tộc người là một xu hướng tất yếu Song quá trình giaolưu, tiếp biến đó phải đặt trong tương quan tác động từ hai phía: Thứ nhất, đó là sựtác động mang tính chất “chính thống” (được Nhà nước và pháp luật công nhận,bằng các chủ trương, chính sách cụ thể); Thứ hai là những tác động “phi chínhthống (có thể hiểu là bao hàm cả những tác động trái pháp luật), được thực hiện chủyếu bằng âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc – tôn giáo đểchống phá sự nghiệp cách mạng nước ta Sự du nhập của các luồng văn hóa ngoạilai, hay tôn giáo ngoại sinh đã và đang tác động mạnh mẽ đến đồng bào các dân tộc,trong đó có người Hmông ở xã Bạch Ngọc Vì thế, áp dụng lý thuyết tiếp biến vănhóa để nghiên cứu người Hmông sẽ cho phép chúng ta giải thích một cách khoa học

về sự biến đổi văn hóa nói chung và dòng họ nói riêng ở tộc người này

1.2.3.3 Lý thuyết về mạng lưới xã hội

Lý thuyết về mạng lưới xã hội được các học giả phương Tây bắt đầu đề cập

từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX Tiêu biểu có Bourdieu, Coleman, Putnam,Fukuyama, Na Lin

Trang 38

Thuật ngữ “mạng lưới” liên quan đến chuỗi các vật thể, điểm mấu chốt, vàbản đồ miêu tả về mối quan hệ giữa các vật thể Theo cách thức của mạng lưới xãhội thì các vật thể liên quan đến con người hoặc những nhóm con người Ví dụ, mộtmạng lưới có thể bao gồm một con người và quan hệ của người đó với mỗi ngườibạn cũng như người thân của anh/chị đấy Mối quan hệ đó có thể định hướng mộtchiều hoặc hai chiều Do vậy, định nghĩa một cách đơn giản, mạng lưới xã hội gồmtập hợp các đối tượng (trong toán học: giao điểm) và một lược đồ hoặc sự miêu tảcủa mối quan hệ giữa các đối tượng đó Mạng lưới đơn giản nhất bao gồm hai đốitượng, A và B và một mối quan hệ kết nối giữa chúng, khi có nhiều hơn một mốiquan hệ, mạng lưới xã hội được gọi theo thuật ngữ là quan hệ đa thành phần Mộttrong những lý do mà thuyết về mạng lưới xã hội được nghiên cứu là bằng sự hiểubiết về mối quan hệ giữa một cá nhân đối với người khác, chúng ta có thể đánh giáđược vốn xã hội của cá nhân đó Bởi vì vốn xã hội liên quan đến vị trí mạng lướicủa khách thể và bao gồm khả năng đạt được các nguồn lực có trong các thành viêncủa mạng lưới xã hội đó [79].

Thuật ngữ mạng lưới xã hội liên quan chặt chẽ tới thuật ngữ vốn xã hội Chođến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn xã hội Tựu trung lại đều có điểmtương đồng trong cách hiểu và luận giải như sau: Thứ nhất: vốn xã hội gắn vớimạng lưới xã hội, quan hệ xã hội; Thứ hai: nhiều tác giả dùng khái niệm nguồn lực

để định nghĩa vốn xã hội; Thứ ba: Vốn xã hội được tạo ra bằng cách thông qua việcđầu tư vào các mối quan hệ và mạng lưới quan hệ xã hội, các cá nhân có thể sửdụng nguồn vốn xã hội đó để tìm kiếm lợi ích riêng cho mình; Thứ tư: Vốn xã hội

là sự tin cậy và duy trì sự có đi có lại với nhau [2]

Lý thuyết mạng lưới xã hội được vận dụng để luận giải các vấn đề về giá trị,vai trò của tổ chức và các mối quan hệ dòng họ Bởi lẽ, vốn xã hội sẽ hữu dụngtrong việc phân tích vai trò của tổ chức dòng họ, nhưng ở trạng thái “độc lập”, cònmạng lưới xã hội lại có giá trị bổ trợ trong việc giải thích và làm rõ mối quan hệ của

tổ chức dòng họ ở trạng thái “tương tác” Ví dụ như, khi nói về quyền lực của ngườitrưởng họ chẳng hạn, trên thực tế trưởng họ là người đứng đầu dòng họ và có quyềnquyết định nhiều việc lớn, nhưng ông ta sẽ chẳng thể nào sử dụng quyền lực củamình nếu không đặt trong mối quan hệ với các thành viên và luật tục tộc họ Ngườitrưởng họ chỉ có thể được tín nhiệm khi ông có đủ năng lực (am hiểu phong tục) và

có trách nhiệm (sẵn sàng giúp đỡ) – vốn xã hội Các thành viên tộc họ đều có thểđánh giá năng lực của ông ta thông qua hành động, việc làm đối với cộng đồng(mạng lưới xã

Trang 39

hội) Trong cộng đồng dòng họ người Hmông, mối quan hệ giữa một cá nhân và cácthành viên luôn gắn liền với vị trí, vai trò nhất định khi đặt trong quan hệ thân tộc(vốn xã hội) và quyền lợi, nghĩa vụ dàng buộc trong mối quan hệ qua lại (mạng lưới

xã hội) với các thành viên trong dòng họ Như vậy, lý thuyết này là cơ sở để làm rõvai trò của cá nhân trong tổ chức dòng họ người Hmông và luận giải về nghĩa vụ,quyền lợi của cá nhân đó trong mối quan hệ dòng họ, đồng thời còn lý giải về sự

“vươn dài” xuyên vùng/ biên giới/ quốc gia của dòng họ khi đã “cùng họ, cùng ma”,cũng như quan hệ đồng tộc

1.3 Một số câu hỏi nghiên cứu

Luận đề tài luận án đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu chính như sau:

Thứ nhất, dòng họ các nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc,

Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang có đặc điểm gì? Có những điểm tương đồng và khácbiệt như thế nào? Đã và đang biến đổi ra sao?

Thứ hai, Dòng họ nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa ở xã Bạch Ngọc,

Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang có vai trò và quan hệ dòng họ như thế nào? cónhững điểm tương đồng và khác biệt nào?

Thứ ba, dòng họ các nhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa có những giá trị và

hạn chế như thế nào? Cần thiết có những giải pháp gì để phát huy các giá trị dòng

họ các nhóm người Hmông?

Từ các câu hỏi nghiên cứu trên, với việc áp dụng các lý thuyết nghiên cứu,quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề văn hóa, dân tộc, tôn giáo các tộcngười thiểu số, luận án cố gắng đạt được các kết quả sau:

- Nhận diện được bản sắc văn hóa dân tộc Hmông thông qua nghiên cứu vềdòng họ

- Phân tích những đặc điểm, vai trò, giá trị và hạn chế của dòng họ thuộc hainhóm Hmông Trắng và Hmông Hoa

- Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học trong quản lý nhà nước đốivới công tác dân tộc, tôn giáo tại vùng người Hmông ở Hà Giang, cụ thể:

+ Đề xuất quan điểm, giải pháp trong việc xây dựng và thực hiện chính sáchvăn hóa – dân tộc – tôn giáo ở vùng người Hmông tại Hà Giang thông qua nghiêncứu so sánh về dòng họ của hai nhóm

+ Cung cấp tư liệu khoa học mới, góp phần làm phong phú thêm hệ thống tưliệu liên quan đến người Hmông và dòng họ người Hmông

Trang 40

1.4 Khái quát xã Bạch Ngọc và người Hmông tại địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Khái quát xã Bạch Ngọc

Xã Bạch Ngọc nằm ở phía Đông của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, cáchtrung tâm huyện lỵ 20 km và là xã vùng sâu, vùng xa thuộc diện đặc biệt khó khăn.Phía Bắc giáp xã Ngọc Linh, phía Nam giáp xã Đồng Tiến và xã Thượng Bình(huyện Bắc Quang), phía Tây giáp xã Trung Thành, phía Đông giáp xã Ngọc Minh.Tổng diện tích tự nhiên của xã là 11.255,53 ha, với 9 thôn, bản

Địa hình của xã chủ yếu là đồi núi đất và núi đá vôi, với nhiều thung lũngnhỏ hẹp Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt.Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Độ ẩmtrung bình 80% Lượng mưa trung bình từ 1.400-1.600mm Nhiệt độ trung bình

270c Nhiệt độ trung bình mùa đông 160c, lượng mưa ít, song có tháng rét đậm kéodài nhiệt độ xuống dưới 50c Những năm gần đây do biến đổi khí hậu đã gây ảnhhưởng xấu đến sản xuất, chăn nuôi và đời sống sinh hoạt của nhân dân

Hệ thống sông, suối của xã Bạch Ngọc khá phong phú Trên địa bàn xã cóthượng nguồn, trung lưu ngòi Sảo chảy qua, hợp lưu với sông Lô Đó là nguồn cungcấp nước tưới, xây dựng đập thủy lợi phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất củangười dân

Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở về trước, xã có diện tích rừng nguyênsinh và rừng tạp rất lớn với nhiều loài thực vật như: tre, nứa, vầu, giang, mây,song ; các loại gỗ quý hiếm như đinh, lim, sến tấu, trai, lát ; các lâm thổ sản quýhiếm như mật ong, nấm rừng ; các động vật quý như: hổ, báo, gấu, sơn dương, khỉ,các loài chim, gà rừng Tuy nhiên, trong quá trình lao động sản xuất, sinh sống vàcông tác khai thác, quản lý tài nguyên thực vật, động vật bị buông lỏng Tình trạngkhai phá đốt rừng làm nương rẫy nên diện tích rừng đã bị thu hẹp, các loài động vậtcũng ít đi, thậm chí một số loài không còn Những năm gần đây, thực hiện chủtrương của Đảng, Nhà nước về công tác tu bổ, tái tạo rừng, diện tích rừng của xãđược mở rộng, giúp điều hòa khí hậu, tạo nguồn nước ổn định Tài nguyên khoángsản của xã cũng khá phong phú, như cát, vàng sa khoáng [17]

1.4.2 Khái quát về dân tộc , dân cư và các nhóm Hmông ở xã Bạch Ngọc

Xã Bạch Ngọc có 7 dân tộc cùng chung sống gồm: Hmông, Tày, Dao, Nùng,Hán, Cờ Lao và Kinh Tổng dân số tính đến 31/12/2018 là 4.249 người/916 hộ,trong đó dân tộc Tày là 1.754 người/409 hộ, chiếm 41,2%; dân tộc Hmông có 1.732

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w