Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc của Mây nếp - Đánh giá
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Khoa : Lâm Nghiệp Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Khoa : Lâm Nghiệp Khóa học : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Thái
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu khác, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
TS Nguyễn Văn Thái
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Người viết cam đoan
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Mỗi sinh viên khi ra trường đều cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng Như vậy việc thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên trong nhà trường qua đó giúp sinh viên
hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và vận dụng vào lý thuyết thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện về mặt kiến thức luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất, nghiên cứu khoa học
Từ những cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, tôi đã tiến hành thực tập tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên với đề tài: “Nghiên cứu công nghệ bảo quản Mây nếp
(Calamus tetradactylus Hance, 1975) bằng thuốc Cislin 2.5EC và chế phẩm chiết suất từ Sả Java phục vụ sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ”
Trong thời gian thực tập ngoài sự cố gắng và nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Văn Thái đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu để hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa, bạn bè
đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành
đề tài tốt nghiệp của mình
Do trình độ và thời gian có hạn và là bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu mới nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những kiến thức đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Trang
Trang 5iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Lượng thuốc thấm của Mây nếp chẻ sợi 35Bảng 4.2 Lượng thuốc thấm của Mây nếp nguyên đoạn 36Bảng 4.3 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp chẻ sợi sau 1 tuần khảo nghiệm 40Bảng 4.4 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp chẻ sợi sau 2 tuần khảo nghiệm 41Bảng 4.5 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp chẻ sợi sau 3 tuần khảo nghiệm 44Bảng 4.6 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp chẻ sợi sau 4 tuần khảo nghiệm 47Bảng 4.7 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp nguyên đoạn sau 1 tuần khảo nghiệm 50Bảng 4.8 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp nguyên đoạn sau 2 tuần khảo nghiệm 53Bảng 4.9 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp nguyên đoạn sau 3 tuần khảo nghiệm 56Bảng 4.10 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản đối với Nấm mốc hại
Mây nếp nguyên đoạn sau 4 tuần khảo nghiệm 59
Trang 6iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Mây nếp nguyên đoạn 29
Hình 3.2 Mây nếp chẻ sợi 29
Hình 3.3 Pha chế dung dịch thuốc Cislin 31
Hình 3.4 Ngâm mẫu vào dung dịch thuốc và chế phẩm đã pha 31
Hình 3.5 Hong phơi mẫu sau khi ngâm 32
Hình 3.6 Hiện trường khảo nghiệm 32
Hình 4.1 Biểu đồ lượng thuốc thấm của Mây nếp 37
Hình 4.2 Theo dõi nấm mốc sau 1 tuần khảo nghiệm 39
Hình 4.3 Theo dõi nấm mốc sau 2 tuần khảo nghiệm 41
Hình 4.4 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 2 tuần khảo nghiệm 42
Hình 4.5 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 2 tuần khảo nghiệm 42
Hình 4.6 Theo dõi nấm mốc sau 3 tuần khảo nghiệm 43
Hình 4.7 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 3 tuần khảo nghiệm 45
Hình 4.8 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây chẻ sợi sau 3 tuần khảo nghiệm 45
Hình 4.9: Theo dõi nấm mốc sau 4 tuần khảo nghiệm 46
Hình 4.10 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 4 tuần khảo nghiệm 48
Hình 4.11 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây nếp chẻ sợi sau 4 tuần khảo nghiệm 48
Hình 4.12 Theo dõi nấm mốc sau 1 tuần khảo nghiệm 49
Hình 4.13 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây nếp nguyên đoạn sau 1 tuần khảo nghiệm 51
Trang 7v
Hình 4.14 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây
nếp nguyên đoạn sau 1 tuần khảo nghiệm 51Hình 4.15 Theo dõi nấm mốc sau 2 tuần khảo nghiệm 52Hình 4.16 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây
nếp nguyên đoạn sau 2 tuần khảo nghiệm 54Hình 4.17 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây
nếp nguyên đoạn sau 2 tuần khảo nghiệm 54Hình 4.18 Theo dõi nấm mốc sau 3 tuần khảo nghiệm 55Hình 4.19 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây
nếp nguyên đoạn sau 3 tuần khảo nghiệm 57Hình 4.20 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây
nếp nguyên đoạn sau 3 tuần khảo nghiệm 57Hình 4.21 Theo dõi nấm mốc sau 4 tuần khảo nghiệm 58Hình 4.22 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến TLNM ở Mây
nếp nguyên đoạn sau 4 tuần khảo nghiệm 60Hình 4.23 Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ và thời gian đến CSNM ở Mây
nếp nguyên đoạn sau 4 tuần khảo nghiệm 60
Trang 86 P1 Khối lượng mẫu trước khi ngâm
7 P2 Khối lượng mẫu sau khi ngâm
Trang 9vii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC vii
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Bảo quản lâm sản và tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản 3
2.1.2 Phương pháp bảo quản lâm sản 4
2.2.Cơ sở lý luận về bảo quản Mây 8
2.2.1.Nấm hại mây 8
2.2.2.Thuốc bảo quản mây 11
2.3 Tài nguyên mây và tình hình sử dụng để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam 19
2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới và ở Việt Nam 21
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
Trang 10viii
2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc bảo quản của Mây nếp 27
3.4.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm thuốc đến khả năng phòng chống nấm mốc của Mây nếp 28
3.4.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 32
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc bảo quản của Mây nếp 34
4.2 Ảnh hưởng của của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm thuốc đến khả năng phòng chống nấm mốc của Mây nếp 38
4.2.1 Hiệu lực của thuốc và chế phẩm bảo quản phòng, chống nấm mốc hại Mây nếp chẻ sợi 38
Mẫu đối chứng 39
4.2.2 Hiệu lực của thuốc bảo quản phòng, chống nấm mốc hại Mây nếp nguyên đoạn 49
Trang 11ix
4.3 Đề xuất giải pháp bảo quản Mây nếp phục vụ sản xuất đồ thủ công
mỹ nghệ 61
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC
Trang 121
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance, 1975) là nguồn Lâm sản ngoài
gỗ có đặc tính dẻo dai, dễ uốn, màu trắng đẹp Với bàn tay khéo léo của người
thợ thủ công đã tạo ra các mặt hàng gia dụng, các sản phẩm mỹ nghệ được thị
trường trong nước và thế giới ưa chuộng, đem lại giá trị kinh tế lớn cho nền
kinh tế quốc dân Do đặc điểm thuận lợi về khí hậu, đất đai đã tạo cho Việt
Nam nguồn nguyên liệu tre, trúc, song, mây rất đa dạng về chủng loại và phân
bố ở hầu hết các tỉnh Đông Bắc và Bắc Trung Bộ như: Yên Bái, Bắc Giang,
Lào Cai, Hiện nay một số loài Mây có giá trị kinh tế cao được gây trồng tại
một số tỉnh đồng bằng như Thái Bình, Nam Định và trồng dưới tán rừng ở các
tỉnh miền núi
Tuy nhiên, mây có độ bền tự nhiên kém, dễ bị mốc, mối, mọt phá hoại,
làm giảm chất lượng nguyên liệu ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình gia
công và sử dụng sản phẩm nếu không có biện pháp xử lý thích đáng, kịp thời
Hiện nay, các cơ sở sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ thường áp dụng các biện
pháp cổ truyền như: ngâm xuống ao bùn, nước vôi, sấy diêm sinh, luộc dầu,
Các biện pháp trên đã phần nào hạn chế được sư gây hại của sinh vật đối với
các sản phẩm, tuy nhiên với điều kiện môi trường có độ ẩm cao hoặc quá
trình xử lý chưa kỹ càng nên các sản phẩm từ mây vẫn bị mốc, mối, mọt xâm
nhập và gây hại dẫn đến nhiều lô hàng bị loại bỏ, gây tổn thất về tiền của và
công sức của người dân Mặt khác, tại các làng nghề sản xuất với mật độ lớn,
lò sấy diêm sinh đã là nguồn gây ô nhiễm nặng cho môi trường sống
Để khắc phục nhược điểm từ các phương pháp cổ truyền và đáp ứng
yêu cầu đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đã có nhiều đề tài nghiên
cứu bảo quản mây được thực hiện và đem lại kết quả cao Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các thành tựu nghiên cứu về các chế phẩm bảo quản cũng như
các kỹ thuật tác động xử lý, bảo quản, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Trang 132
“Nghiên cứu công nghệ bảo quản Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance, 1975) bằng thuốc Cislin 2.5EC và chế phẩm chiết suất từ Sả Java phục vụ sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ”
1.2 Mục đích, mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ thuốc, chế phẩm và thời gian
ngâm tẩm đến khả năng bảo quản gỗ
1.2.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc của Mây nếp
- Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng phòng chống nấm mốc của Mây nếp
- Đề xuất giải pháp bảo quản Mây nếp phục vụ sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài
1.2.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài là cơ sở khoa học trong việc lựa chọn được loại thuốc có tính hiệu quả cao
- Không gây ô nhiễm môi trường
- Không làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người
1.2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài được thông qua quá trình thực hiện sử dụng thuốc Cislin 2.5EC và chế phẩm chiết suất từ Sả Java để bảo quản Mây nếp sẽ là cơ sở khách quan nhất để biết được tác dụng của thuốc trong việc bảo quản Mây nếp khỏi nấm mốc
- Làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp bảo quản thích hợp nhất tại các cơ sở chế biến thủ công mỹ nghệ
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho các phương pháp bảo quản khác
Trang 143
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Bảo quản lâm sản và tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản
2.1.1.1 Bảo quản lâm sản
Bảo quản lâm sản là biện pháp tổng hợp giữ gìn nhằm kéo dài thời gian
sử dụng, chống sự xâm nhập phá hoại của mối mọt, nấm mốc, hạn chế tác động không tốt của môi trường Bao gồm:
1) Bảo quản kỹ thuật: Là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: cách li gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao
2) Bảo quản bằng hoá chất: Là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ, tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lí trực tiếp sinh vật hại gỗ
3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: Dùng một số loài nấm, côn trùng để diệt sinh vật hại gỗ [5]
2.1.1.2 Tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản
Gỗ và lâm sản ngoài gỗ được sử dụng phổ biến để làm nguyên liệu trong xây dựng, làm đồ nội thất và đồ gia dụng thiết yếu khác
Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm ra các biện pháp hạn chế sự tấn công này như: chặt tre, gỗ vào mùa đông để giảm lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre gỗ dưới ao hồ để phá hủy một phần lượng dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói,… Đặc điểm nổi bật là chúng ta sống trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật nói chung song đối sinh vật gây hại cũng hoạt động mạnh quanh năm Công nghệ bảo quản bằng các loại chế phẩm
tự nhiên ra đời chính là đã kế thừa các thành tựu của việc nghiên cứu cơ bản về sinh vật học
Trang 154 Việc áp dụng chế phẩm bảo quản lâm sản nhằm mục đích: Kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên Nhằm tăng giá trị sử dụng của các sản phẩm, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật hại gỗ như mối mọt, nấm mục,… gây ra
kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng
Bằng các biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và các công trình sử dụng lâm sản
Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật của thế kỷ XX Nó không những đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân [4]
2.1.2 Phương pháp bảo quản lâm sản
2.1.2.1 Phương pháp ngâm thường
Đặc điểm chung: Ngâm gỗ hoặc lâm sản ngoài gỗ vào chế phẩm bảo quản trong điều kiện bình thường là một trong những phương pháp cổ điển nhất Khi ngâm gỗ hoặc lâm sản ngoài gỗ trong một chất lỏng có hiện tượng sau: Sự dịch chuyển của các phần tử trong chế phẩm bảo quản vào trong gỗ nhờ hiện tượng thẩm thấu và sự chuyển động của dung dịch bảo quản vào gỗ nhờ áp dụng lực mao quản Hiện tượng thẩm thấu thường xảy ra ở gỗ hoặc Tre có độ ẩm cao trên điểm bão hòa và ngâm trong dung dịch Các màng tế bào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần tử thuốc từ ngoài vào Đồng thời với quá trình thấm thuốc vào gỗ thì có một số phần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở ra vào dung dịch thuốc Tốc
độ chuyển động của hai chiều ngược nhau này phụ thuộc vào độ ẩm gỗ, nồng
độ dung dịch, loại gỗ [10]
Trang 16Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, nồng độ dung dịch phải cao hơn gấp 2 - 3 lần so với nồng độ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phương pháp khác [10]
2.1.2.3 Phương pháp nóng - lạnh
Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bị nóng dần và dãn nở thể tích Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy áp suất trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nước
sẽ thoát ra khỏi gỗ
Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lại trong gỗ sẽ bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúng chiếm chỗ sẽ nhỏ hơn Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ
bị giảm, thấp hơn áp suất môi trường xung quanh Do sự chênh lệch áp suất này, dung dịch chế phẩm lạnh sẽ dễ dàng thấm vào gỗ [10]
2.1.2.4 Phương pháp chân không áp lực
Phương pháp này gồm hai quá trình:
Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép chế phẩm thấm vào gỗ, trị số áp lực thông thường 6 - 12.105pa
Hút chân không: Độ sâu chân không thường là 600 – 650 mmHg Cụ thể hút chân không ở các thời điểm: Chân không trước khi tăng áp lực, chân không giữa các quá trình áp lực, chân không sau quá trình áp lực
Trật tự của hai quá trình cơ bản này thay đổi tùy theo quy trình, tức phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Khả năng thấm chế phẩm của các loại gỗ, độ ẩm gỗ, loại
Trang 176 chế phẩm, lượng thấm chế phẩm cần thiết,…Sự thay đổi của hai quá trình đã tạo nên nhiều phương pháp tẩm gỗ như: Phương pháp tế bào đầy, phương pháp tế bào rỗng, phương pháp bán dẫn [10]
2.1.2.5 Phương pháp bóc vỏ cây
Phương pháp này để hạn chế sự xâm nhập của mọt hại gỗ tươi và mối hại vỏ cây, sau khi khai thác thường được bóc vỏ ( trừ một số loại gỗ chuyên dùng cần giữ vỏ) Bóc vỏ làm gỗ ráo mặt nhanh, ẩm độ giảm xuống tạo điều kiện bất lợi cho các sinh vật hại gỗ tươi xâm nhập [10]
2.1.2.6 Phương pháp phơi, sấy gỗ
Gỗ phơi sấy là một biện pháp bảo quản lâm sản khỏi một số loại côn trùng hại gỗ tươi Gỗ có độ ẩm cao được xếp thành chồng lên nhau hoặc được xếp lên đà kê để ngoài không khí hoặc cho vào lò sấy
Với phương pháp này, ngoài loại bỏ được những yếu tố gây hại do sinh vật gây ra còn hạn chế được tác nhân phi sinh vật như cong vênh, nứt nẻ ở gỗ
Trong việc xếp đống gỗ để hong phơi tránh hiện tượng để ánh sáng chiếu hoặc gió lùa trực tiếp vào đầu của cây hoặc tấm ván gỗ Khi đó làm cho
độ ẩm thoát ra quá nhanh dẫn đến hiện tượng gỗ bị nứt đầu
Việc xếp thanh kê phải đúng kỹ thuật: kích thích các thành kê, khoảng cách giữa các thanh kê phải đều nhau, các thanh kê giữa các trồng ván phải thẳng hàng Khoảng cách giữa các thanh kê phụ thuộc vào loại gỗ, chiều dày tấm ván, kích thước thanh kê thường dày 2.5 cm, rộng 5 - 6 cm [10]
2.1.2.7 Phương pháp hun khói, ngâm
Phương pháp này áp dụng theo kinh nghiệm dân gian Phương pháp hun khói trên bếp giúp cho tre, nứa, song, mây khô nhanh, chống được mốc Mặt khác trên bề mặt sẽ có một lớp bồ hóng có thành phần hóa học tương tự như sản phẩm dầu nhựa có khả năng phòng được nấm mốc và mọt
Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế được mọt mốc Phương pháp này sẽ
Trang 187 làm biến đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường
và tinh bột có trong tre, gỗ giảm đi [10]
2.1.2.8 Phương pháp tẩm cây đứng
Phương pháp này có tên là tẩm cây sống (cây chưa bị chặt hạ) Lợi dụng đặc điểm của cây phải hút nước, muối khoáng từ đất qua hệ thống rễ, theo các mạch dẫn lên lá để sau quá trình quang hợp tạo thành nhựa luyện nuôi cây Phương pháp này sẽ tác động chặn dòng nhựa luyện và thay bằng dung dịch chế phẩm bảo quản, chế phẩm sẽ đi theo mạch dẫn và phân bố trong cây [10]
2.1.2.9 Phương pháp thay thế nhựa
Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trang thái lỏng sẽ dịch chuyển được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ
Lợi dụng đặc điểm này, người ta dùng dung dịch chế phẩm tiếp vào một đầu của khúc gỗ (phía gốc), nhờ sự chênh lệch áp lực của dung dịch ở đầu gốc và đầu ngọn khúc gỗ, dung dịch tẩm sẽ ép vào các mạch, dồn dần nhựa về một phía và sẽ thay thế vị trí của nhựa vào các khoảng trống
Thời gian ngâm tẩm tùy thuộc vào từng loại gỗ, bình quân 5 - 12 ngày Sau khi kết thúc quá trình tẩm một tuần lễ có thể tiến hành bóc vỏ và tùy theo thời gian hong phơi tương ứng với yêu cầu về độ ẩm ta có thể đem
sử dụng
Lượng thuốc tiêu hao cho phương pháp này khoảng 400 - 500kg/m3 dung dịch thuốc nước Có nồng độ dung dịch thuốc tẩm tùy thuộc vào từng loại thuốc mà sử dụng [10]
2.1.2.10 Phương pháp quét
+ Phương pháp quét
Là phương pháp bảo quản thô sơ nhất, thường gặp trong thực tế sản xuất, như trong các khâu bảo quản tạm thời gỗ ở các bãi bến trong một thời gian ngắn và bảo quản lớp mặt các vật dụng bằng gỗ [10]
Trang 198 + Phương pháp phun
Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp quét tuy vậy do lượng hao phí của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sử dụng ít
Tác dụng bảo quản: mang tính tạm thời, bảo quản lớp mặt Nó cũng có tầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sung những vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trần nhà các chỗ khe ngóc ngách quét [10]
2.2 Cơ sở lý luận về bảo quản mây
2.2.1 Nấm hại mây
Mây là loại cây mọc nhanh, do đó lượng đường và tinh bột cao Đây là nguồn thức ăn rất hấp dẫn đối với nấm mốc.Trong thực tế cho thấy mây chỉ sau chặt hạ vài ngày đã bị nấm mốc xâm nhập, gây biến màu mây Theo hệ thống phân loại thực vật thì nấm là loài thực vật bậc thấp xếp ngang hàng với
hệ tảo, nhưng khác với tảo ở đặc điểm nấm không có diệp lục tố, nên không
tự quang hợp được mà phải ký sinh trên một giá thể khác để sống
Hiện nay trên thế giới đã ghi nhận có khoảng trên 80.000 loài nấm khác nhau được chia ra ở các lớp như sau:
Lớp Archimycetes (Nấm sơ cấp)
Lớp Phycomycetes (Nấm tảo)
Lớp Asomycetes (Nấm túi)
Lớp Basidiomycetes (Nấm đảm)
Lớp Fungi imperfecti (Nấm bất toàn)
Nấm xâm nhập vào mây bằng các phương thức sau :
Sợi nấm từ phần mây đang bị mục lây lan sang phần còn tốt
Bào tử rơi trên bề mặt mây rồi nảy mầm phát triển thành sợi, xâm nhập vào mây
Trong thành mây, nấm sinh trưởng, phát triển và duy trì mọi hoạt động
Trang 209 sống, chính quá trình này dẫn đến sự biến mầu và phân huỷ mây Tuỳ loài nấm mà các quá trình trao đổi chất diễn biến khác nhau [5]
Sự xâm nhập của nấm vào mây có thể chia thành các giai đoạn sau:
Khi mây mới được chặt hạ có độ ẩm cao, các loài nấm tiên phong bắt đầu xuất hiện trong các tế bào sống và chết, từ đó phát triển loang ra các tế bào bên cạnh và đi sâu vào bên trong thân mây Tuy nhiên, các loài này thường chỉ sử dụng chất đường, bột chứa trong mây, làm chất dinh dưỡng và chỉ gây biến màu mà không có khả năng phá hại vách tế bào
Khi độ ẩm mây giảm đi một lượng đáng kể là điều kiện thuận lợi cho các loài nấm có sức phá hại yếu xuất hiện Các loài nấm này thường sử dụng các chất chứa mà nấm tiên phong không sử dụng đến và phá vách tế bào nhưng ở mức
độ yếu, chúng không có khả năng phá huỷ hoàn toàn vách tế bào Độ ẩm của mây càng giảm, trong các tế bào có nhiều khoảng trống chứa không khí, tức là lượng ôxy lớn Đây là điều kiện bất lợi cho hai nhóm nấm trên nhưng lại thuận lợi cho nhóm nấm thứ ba xuất hiện Đó chính là các loài nấm có khả năng phá hoại mạnh xenluloza và lignin làm mất hoàn toàn tính cơ học của mây [5]
Từ sự phân tích về quá trình xâm nhập và phá mây của các loài nấm có thể chia nấm phá hại thành 2 nhóm chính:
Nhóm nấm mốc: Xâm nhập khi độ ẩm mây cao, bao gồm một số loài chủ
yếu Penicillium glaucum, Coniosporium bamboosea, Coniosporium shiraianum, Asperginus niger
Nhóm nấm mục: Xâm nhập khi độ ẩm trong mây đã giảm, thường gây hại các kết cấu mây sử dụng ngoài trời, tiếp xúc trực tiếp với đất Một số loài nấm
mục hại mây thường thấy có nấm chân chim Schizophyllum commune, nấm gây mục hỗn hợp Hirschioporus flavus, Pleurotus osTreatus, Auriculeria Polytricha [5]
Như vậy, độ ẩm mây và không khí giữ vai trò quyết định cho việc sinh trưởng và phát triển của nấm Các nhóm nấm hại lâm sản kể trên chỉ có thể
Trang 2110 tồn tại và phát triển ở các ngưỡng độ ẩm nhất định Đối với sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ , mây nguyên liệu trong quá trình tập kết tại kho bãi, chưa đưa vào sản xuất kịp thời cũng rất dễ bị nâm mốc gây biến màu mây Hàng hoá trong quá trình lưu kho hoặc vận chuyển, khi điều kiện môi trường không khí
có ẩm độ cao, các sản phẩm mây hút ẩm trở lại cũng rất dễ bị nấm mốc [5] Mỗi nhóm nấm hại lâm sản đòi hỏi điều kiện sinh thái khác nhau, do đó nghiên cứu về nấm hại lâm sản là công việc hết sức phức tạp So với những nghiên cứu về côn trùng hại lâm sản thì các kết quả nghiên cứu về nấm hại mây còn rất ít Padmanabhan cho biết tại Ấn Độ một số loài nấm hại lâm sản chủ yếu
đó là: Corilus versicolor, Polystictus sanguineus, Coriolellus palustris, Postia placenta, Aspergillus niger, Penicillium sp, Alternaria sp, Fungi imperfECti Phòng thí
nghiệm bảo quản lâm sản của Trường Đại học Lâm nghiệp Philippin thường dùng bốn loài nấm hại lâm sản điển hình để thử hiệu lực thuốc bảo quản đó là:
Aspergillus niger, Botryodiplodia theobromate, Fungi imperfECti, Penicillium sp [5]
Nguyễn Thu Hoài (1994), Bước đầu tìm hiểu về một số loài nấm mốc xuất hiện trên mây nguyên liệu Tác giả đã xác định trên mây nguyên liệu có
độ ẩm cao thường xuất hiện một số loài nấm gây hại bao gồm: Coniosporium bamboosea, Rhyopus micrasporus, Aspergillus clavatus, Aspergillus Ochraceus [3]
Phòng nghiên cứu bảo quản lâm sản phối hợp với trung tâm Công nghệ sinh học của trường Đại học Quốc gia đã xác định ba loài nấm phá hoại lâm sản điển hình sử dụng để thử hiệu lực của thuốc bảo quản lâm sản trong điều
kiện phòng thí nghiệm đó là: Nấm mục Pleurotus oTreatus, Nấm mục Deadalea elegans và Nấm mốc Aspergillus niger Kết quả thử hiệu lực với
các loài nấm nêu trên sẽ cho phép xác định nồng độ, liều lượng tối thiểu của thuốc có khả năng chống lại sự xâm nhập và phát triển của nấm hại mây
Với các tài liệu khoa học nghiên cứu về nấm hại lâm sản đã công bố, tuy số lượng còn hạn chế, song đã cung cấp những thông tin cần thiết về những điều kiện gây hại mây của các nhóm nấm
Trang 2211
2.2.2 Thuốc bảo quản mây
Thuốc bảo quản lâm sản là những chế phẩm hoá học, sinh học có khả năng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào lâm sản nhằm ngăn cản, tiêu diệt các tác nhân gây hại
2.2.2.1 Các dạng thuốc bảo quản có thể áp dụng bảo quản mây
Thuốc bảo quản có thể áp dụng để ngâm tẩm mây có thể chia ra làm 2 loại chính sau:
- Chế phẩm dạng dầu và hoà tan trong dầu: Từ đầu thế kỷ 19, tính chất bảo quản gỗ của các loại dầu nhựa than đá đã được phát hiện Dầu Creosote được Bethell đăng ký bản quyền và được dùng để tẩm gỗ theo phương pháp chân không áp lực Vào thời điểm đầu thế kỷ 20, loại dầu này nhanh chóng được sử dụng phổ biến để bảo quản gỗ ở các nước Châu Âu và Mỹ Năm
1988 Sulthoni đã sử dụng dầu điezen để thử nghiệm bảo quản tre và được đánh giá có hiệu lực chống lại sự tấn công của mối Tuy nhiên, do Creosote ảnh hưởng nhiều đến mầu sắc tự nhiên của lâm sản và mùi hắc nên loại chế phẩm bảo quản này không được sử dụng nhiều [4]
- Từ năm 1930, các loại hoá chất hoà tan trong dầu có độ độc đảm bảo hiệu quả bảo quản gỗ xuất hiện, tuy giá thành đắt song đã được sử dụng nhiều trong thời gia chiến tranh thế giới thứ II đó là Pentachlorophenol, cho đến nay loại hoá chất này đang dần hạn chế sử dụng Từ năm 1937, DDT và 666 hoà tan trong dung môi hữu cơ được sử dụng bảo quản gỗ ở nhiều nước dưới các tên thương phẩm khác nhau như Hylotox, Duotex, đây là 2 loại hoá chất có độ độc cao với côn trùng hại gỗ nhưng không có tác dụng chống mốc Năm 1960, Wu
và Shinh đã thử nghiệm dùng DDT, gamma – BHC, dielrin sữa, Tanalit để chống mọt tre Tewari và Singh (1979) cho biết DDT 7- 10 % trong dầu hoả có hiệu lực bảo quản Mây rất tốt chống lại côn trùng hại tre DDT và Lindan là những chất tồn tại lâu trong đất, gây độc hại cho môi trường, cho người, động vật và các côn trùng có ích nên đã bị cấm trên toàn cầu Tuy nhiên, đối với
Trang 2312 mây làm hàng thủ công mỹ nghệ rất ít sử dụng các chế phẩm dạng dầu này [12]
Vào đầu những năm 80 của thế kỷ 20, dựa vào kinh nghiệm sử dụng hoa cúc dại tạo thuốc trừ sâu, các nhà khoa học đã nghiên cứu xác định được trong
hoa cúc dại chứa các hoạt chất có tính sát trùng rất tốt như Chrysamthemun cinerariaefolium, Chrysamthemun roseum và có 6 este độc với côn trùng của axit Xiclopropancacboxylic là Pyrethrin I và II, Cienrin I và II, Jasmolin I
và II trong bột hoa cúc dại, các este Pyrethrin chiếm tới 73% [4]
Rất nhiều nước trên thế giới đã sử dụng dịch chiết từ hoa cúc dại làm thuốc trừ sâu trong nông nghiệp đạt hiệu quả tốt Tuy nhiên, nguồn cung cấp hoa cúc dại trong tự nhiên có số lượng hạn chế, để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với khối lượng lớn, đã có nhiều công trình nghiên cứu cấu trúc của các ette Xiclopropancacboxylat đặc biệt là Pyrethrin để tổng hợp được bằng con đường hoá học Chính bằng con đường này đã tạo ra rất nhiều dẫn xuất pyrethrin, những dẫn xuất đó được gọi là các hợp chất Pyrethroit có hiệu lực cao đối với sâu và có nhiều ưu điểm hơn các este tự nhiên [9]
Hiện nay, một số hoạt chất được tổng hợp thuộc nhóm Pyrethroit như Deltamethrin, Cypermethrin, tribromphenol hoà tan trong dung môi hữu cơ với các tên thương mại như Cislin, Antiborer, Celcide, InjECtaAB là các loại chế phẩm bảo quản lâm sản được giới thiệu có độ an toàn cao với môi trường, đang được dùng phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới
- Chế phẩm hoà tan trong nước:
Thuốc bảo quản dạng này thường là hỗn hợp của hai hay nhiều hợp chất là muối của kim loại như: kẽm, đồng, crôm, arsenic… Sau khi ngâm tẩm các hoá chất này có thể phản ứng với nhau tạo thành hợp chất bền vững, ổn định có hiệu lực chống sinh vật hại gỗ tốt hơn Sau đây là các loại thuốc muối điển hình:
+ HgCl: Được sử dụng sớn nhất, do Homberg giới thiệu từ năm 1705, đến đầu thế kỷ 19 loại thuốc này mới được sử dụng rộng rãi ở châu Âu và
Trang 2413
Mỹ Trong kỹ thuật bảo quản HgCl thường được dùng phối hợp với một số muối khác như K2Cr2O7, Na2CO3… Đến nay loại hoá chất này không được dùng để bảo quản gỗ nữa do có độ độc cao đối với người và động vật [6]
+ CuSO4: Được sử dụng để ngâm tẩm gỗ từ năm 1767, khi phương pháp tẩm Boucherie ra đời CuSO4 được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để bảo quản cột điện, cột điện thoại CuSO4 có độ độc với nấm, côn trùng và hà biển nhưng không trừ được các loài nấm tiết ra axit oxalic như nấm Poria vaporaria Do CuSO4 có tính ổn định, dễ rửa trôi và bị các hoá chất khác tác dụng làm mất hiệu lực với sinh vật hại gỗ, nên sun phát đồng thường được bổ sung thêm một
số thành phần khác để khắc phục những nhược điểm kể trên Sulthoni (1988),
đã bảo quản tre bằng dung dịch CuSO4 nồng độ 7% và kết quả khảo nghiệm ngoài bãi thử tự nhiên cho biết tre tẩm có hiệu quả chống lại sự tấn công của mối Singh và Tewari đã xử lý tre tươi bằng dung dịch CCA 10% và tre khô 5%, tre tẩm đạt tuổi thọ 15 năm trong điều kiện sử dụng ngoài trời [6]
+ NaF và các hỗn hợp có NaF: Vào năm 1926, Wolman người Đức đã đăng ký bản quyền sử dụng hỗn hợp NaF và Na2SiF6 là thuốc bảo quản gỗ Thành phần hoạt chất NaF có tác dụng chống nấm và hạn chế hoặc phòng ở mức độ thấp đối với côn trùng hại gỗ Ưu điểm nổi bật của NaF là có độ độc thấp ở người và động vật, không ăn mòn kim koại, rẻ tiền, dễ kiếm Tuy nhiên nhược điểm của NaF là dễ rửa trôi
+ Các hợp chất của Bo: Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các hợp chất của Bo được sử dụng chống cháy cho gỗ Tuy nhiên trong số các hợp chất của
Bo thì axit Boric và Borax được đánh giá là có khả năng chống lại các sinh vật hại gỗ Năm 1945, Wimbrush đã dùng borac nồng độ 4% để bảo quản tre, tác giả cho biết thuốc đã có tác dụng hạn chế sự phá hoại của mọt tre Hiện nay borac, boric được dùng rộng rãi làm thuốc bảo quản lâm sản [6]
Ngày nay, với mục đích bảo vệ môi trường, xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới là sử dụng các hoạt chất sich học làm thuốc bảo
Trang 2514 quản lâm sản Năm 2002 các nhà khoa học Trường Đại học Kyushu và Trường Đại học Quốc gia Đài Loan đã tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng phòng chống các sinh vật hại lâm sản bằng hoạt chất tanin chiết xuất từ thực vật hỗn hợp với amoniac - đồng, mẫu gỗ tẩm có hiệu lực phòng mối tốt
Trường Đại học Quốc gia Delta của Nigera (2001) nghiên cứu chiết xuất
phenolic từ lá của loài cây Acalypha hispida, với hàm lượng 10- 14 mg/ml
dung dịch có khả năng hạn chế sự phát triển của hai loài nấm hại gỗ
Tại Ấn Độ, Thái Lan, Mỹ từ nguồn nguyên liệu dầu hạt Neem đã chế tạo ra rất nhiều chế phẩm trừ sâu hại nông nghiệp như Neen Bonda A, Neem Oil, Neem AZal…
Tại Indonesia, Jain – Narayan và Gazwal (1989) đã nghiên cứu thăm dò khả năng sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản Các tác giả so
sánh hiệu lực phòng chống mối đất Odontotermes của dầu vỏ hạt điều với
Creosote thông thường
Ở nước ta, thuốc bảo quản lâm sản có nguồn gốc từ thực vật mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu Theo những nghiên cứu của Đặng Đình Luyến và Đỗ Hồng Sâm đã đánh giá khả năng triển vọng của dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo vệ thực vật
Năm 2004 Bùi Văn Ái đã tiến hành nghiên cứu sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản Tác giả đã đánh giá sơ bộ hiệu lực của dầu vỏ hạt điều đối với côn trùng hại lâm sản, sau đó tiến hành nghiên cứu nâng cao hiệu lực của dầu vỏ hạt điều bằng phương pháp sục khí Clo Kết quả đã xác định được 2 loại thuốc bảo quản lâm sản từ dầu vỏ hạt điều có hiệu lực phòng chống côn trùng gây hại lâm sản tốt và đảm bảo các chỉ tiêu về an toàn môi trường [1]
Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn chí Thanh, Lê văn Nông (2007) đã bước đầu đánh giá hiệu lực phòng chống côn trùng gây hại lâm sản của một
số chất chiết từ nguyên liệu thực vật Kết quả bước đầu cho biết dầu Neem và
Trang 2615 tanin củ nâu có hiệu lực phòng chống mối ở nồng độ dung dịch từ 4% trở lên Đây là một cơ sở khoa học để mở rộng khả năng sử dụng các hoạt chất sinh học làm thuốc bảo quản lâm sản, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay [6]
Ngoài ra, Phòng nghiên cứu bảo quản lâm sản cũng đã phối hợp với Trung tâm kiểm định thuốc bảo vệ thực vật phía Bắc khảo nghiệm hiệu lực một số loại thuốc bảo quản gỗ nhập nội trước khi cho phép đăng ký sử dụng tại Vịêt Nam như: KAA - Antiblu 55SC, Cislin 2.5EC, Celcide 10EC, Celbrite TC, Mapboxer 30EC…
Trên đây là một số hoá chất vô cơ và hữu cơ được các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam dùng phổ biến để bảo quản lâm sản trong suốt thể
kỷ qua Ở từng nước khác nhau tỷ lệ của thành phần các hoạt chất của chế phẩm có thể thay đổi tạo ra những tên thương mại khác nhau, nhưng tựu chung vẫn dựa trên một số hoá chất cơ bản kể trên Xu hướng phát triển thuốc bảo quản lâm sản hiện nay sử dụng hoá chất mô phỏng các hợp chất từ thiên nhiên, có khả năng phân giải nhanh hơn và an toàn với môi trường
2.2.2.2 Cơ chế tác dụng của thuốc bảo quản đối với nấm gây hại mây
Thuốc bảo quản hiện nay rất phong phú về số lượng, cơ chế tác dụng bảo quản cũng rất khác nhau Thuốc có thể được xử lý trực tiếp lên cơ thể sinh vật hại lâm sản (như đối với mối) hoặc được tẩm sâu vào gỗ, hoặc xông hơi, nhưng dù cách xử lý thế nào cũng đều nhằm phòng ngừa hoặc tiêu diệt các tác nhân sinh vật gây hại lâm sản với các tác động như sau:
Thuốc bảo quản đã được tẩm vào mây, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với mây không tẩm, nó tước bỏ những điều kiện tối ưu hoặc
ít ra là không thuận lợi cho việc nảy mầm của các bào tử nấm, hơn thế nữa nó phá hoại ngay các bào tử nấm Các chất thấm vào các bào tử, phản ứng với các thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không thể nảy mầm được
vì trong thành phần cấu tạo của bào tử có nhiều nhóm có hoạt tính hoá học như nhóm Hydroxin, Photphatamin, Cacbonxin, Sunfrin, Amidzol trong đó
Trang 2716 nhóm nào cũng có khả năng phản ứng với hoá chất tích luỹ trong bào tử Mặt khác, các hoá chất khi đã xâm nhập được vào nấm, chúng có khả năng tạo thành các lực liên kết Vanderval, liên kết hydro, liên kết ion, liên kết bán phân cực hoặc liên kết đồng hoá trị với các axit amin, protein và các chất khác trong quá trình cơ bản trao đổi chất của nấm, ức chế sự phân chia tế bào, làm biến đổi cấu trúc bên trong của tế bào Tuỳ loại hoá chất mà một số men của
tế bào bị ức chế làm rối loạn các hoạt động dinh dưỡng như hút nước, hút glucose quá nhiều, làm ngưng kết hoặc biến tính protit Kết quả tổng hợp của các tác động nói trên của chế phẩm bảo quản sẽ làm cho nấm biến dạng về hình thái hoặc bị tiêu diệt ngay trên mây đã tẩm [5]
2.2.2.2 Cơ chế thấm thuốc bảo quản vào mây
Thuốc bảo quản dùng để xử lý lâm sản theo các phương pháp tẩm sẽ thấm sâu vào mây theo các cơ chế khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện mây nguyên liệu, loại thuốc và pháp pháp tẩm
Mây là một trong những loại vật liệu xốp – mao mạch, bao gồm các bó mạch phân bố rải rác trên nền các tế bào nhu mô Các tế bào mây hầu hết xếp song song với trục dọc thân cây Với đặc điểm cấu tạo như vậy khi ngâm trong dung dịch thuốc bảo quản, quá trình thẩm thấu tự nhiên của thuốc vào mây là một quá trình vật lý gồm hai giai đoạn:
- Quá trình mao dẫn
Với cấu tạo giải phẫu của mây có thể phân định rõ ràng hệ thống mao mạch có kích thước lớn bao gồm có ống mạch, hệ thống này được liên hệ với các thành phần cấu tạo khác bởi các lỗ thông ngang Hệ thống mao mạch có kích thước rất nhỏ bao gồm khoảng không gian giữa các vách tế bào và giữa các mao mạch nhờ hiện tượng mao dẫn Việc nghiên cứu động lực học của quá trình nâng cao chất lỏng trong mao mạch không phụ thuộc vào vật liệu đã được Ostvald (1908) nghiên cứu, tác giả kết luận rằng khối lượng chất lỏng chuyển động trong mao mạch là đại lượng thay đổi Tuy nhiên, do cấu trúc
Trang 2817 phức tạp, không đồng nhất của mây nên việc xác định độ lớn thực của các bán kính mao mạch cho dòng chất lỏng chảy qua không có khả năng thực hiện
Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc cho biết độ thấm của mây biểu thị bằng hệ số thấm không phụ thuộc vào độ xốp của vật liệu, mà nó phụ thuộc bởi cấu tạo giải phẫu đặc biệt của mỗi loài riêng biệt và bởi trạng thái các phần từ dẫn của mây Để giảm bớt tính toán một số tác giả như Stone, Onach đã đưa ra giả thiết thay thế tiết diện của các phần tử dẫn chất lỏng mây bằng khái niệm bán kính hiệu quả của hệ thống mao mạch Với giả thiết như vậy, cho phép nghiên cứu độ thấm của mây từ đại lượng lưu lượng chất lỏng thu được bằng thực nghiệm và tìm được sự biểu diễn định lượng bán kính hiệu quả của hệ thống mao mạch [5]
Ngoài ra, cũng vận dụng định luật Puazeil để thấy rằng lượng thuốc bảo quản thấm vào các mao mạch mây phụ thuộc vào độ chênh lệch áp suất giữa đầu vào và đầu ra của ống mạch, vào độ nhớt của thuốc bảo quản và kích thước của mao mạch Tuy nhiên, trong trường hợp vật liệu có cấu tạo phức tạp, quy luật thấm không hoàn toàn tuân theo mao dẫn
Quá trình thấm do khuếch tán
Bản chất của quá trình khuếch tán là quá trình truyền làm cho dung dịch đồng nhất về khối lượng riêng và áp suất Do vậy, các phần tử hoặc ion chất hoà tan trong nước sẽ có chuyển động với một động năng trung bình của chuyển động tịnh tiến
p = n0.k.T Trong đó: n0 là số phân tử chất hoà tan trong một đơn vị thể tích
T là nhiệt độ tuyệt đối
k là hằng số Bolzmanm
k = R
N A
R là hằng số khí lý tưởng
Trang 2918
NA là hằng số Avogadro
Áp suất p còn gọi là áp suất thẩm thấu Vận tốc chuyển động của các ion hoặc phân tử chế phẩm còn phụ thuộc vào nhiệt độ Khi nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển dịch tăng lên
Khi ngâm Mây có độ ẩm cao trong dung dịch chế phẩm bảo quản, vách
tế bào gỗ được coi là màng bán thấm, các phân tử hoặc ion chế phẩm sẽ khuếch tán vào trong mây Như vậy, quá trình thấm mao dẫn và quá trình thấm khuếch tán cũng có nhiều điểm giống nhau Đó là quá trình thấm mao dẫn là sự dịch chuyển của chất lỏng do sự chênh lệch áp suất, còn quá trình khuếch tán là sự vận động của phân tử chất hoà tan do có sự chênh lệch về nồng độ
Quá trình khuếch tán của thuốc bảo quản vào mây chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Trong đó độ ẩm mây là yếu tố cần đề cập trước tiên, do nước
là xúc tác trung gian nên khi độ ẩm mây càng cao sẽ làm tăng tốc độ khuếch tán Các thí nghiệm của Viden (1984) đã chững minh được rằng khi độ ẩm gỗ thấp hơn 50% thì quá trình khuếch tán diễn ra rất chậm Bởi với độ ẩm mây thấp nước tự do trong khoang rỗng các tế bào không liên tục làm cho quá trình khuếch tán bị cản trở Nồng độ và nhiệt độ của dung dịch có quan hệ tỷ
lệ thuận với tốc độ khuếch tán Quá trình khuếch tán còn chịu ảnh hưởng của phản ứng giữa các ion điện tích và vách tế bào Xenluloza, mỗi một gốc đường gluco có 3 nhóm OH tự do, các nhóm OH này có thể tạo ra nhiều liên kết hoá học với các ion mang điện tích dương và có xu hưóng đẩy các ion mang điện tích âm Khi hoá chất bảo quản hoà tan trong dung môi nước cũng sẽ phân ly thành các ion mang điện tích Các ion này sẽ có liên kết với gốc OH của phân tử xenluloza tạo thành hiện tượng “nhị điện” và hiện tượng này sẽ dãn đến một số thành phần của thuốc bảo quản cố định vào vách tế bào, làm cho nồng độ ion tham gia khuếch tán giảm xuống do đó quá trình khuếch tán bị chậm lại [6]
Trang 30liệu "Thực vật chí tổng quát của Đông Dương” tập VI năm 1937 và những kết
quả điều tra gần đây của các nhà khoa học, mây của Việt Nam có 6 chi và 30 loài được phân bố rộng khắp toàn quốc và chiếm 55,5% số loài đặc hữu của vùng Đông Nam Á Nguồn nguyên liệu mây của Việt Nam hiện nay tập trung ở
3 vùng chủ yếu Tây Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, Trung và Nam Trung Bộ Ngoài
ra mây cũng mọc rải rác trong các rừng cây gỗ lá rộng xen tre, nứa Ở những khu rừng thứ sinh sau khai thác chọn, độ tàn che còn 0.4 – 0.5, mây mọc và phát triển mạnh, vừa phong phú về thành phần loài, vừa nhiều về số lượng (Vũ Văn Dũng
và Lê Huy Cường, 1996) Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance, 1975) là loài
mây phổ biến nhất của Việt Nam, cả trong hoang dã và trong trồng trọt Có thể gặp Mây nếp từ ven biển đến miền núi cao dưới 800m [13]
Đến năm 2010, đã phát hiện ở Việt Nam có thêm 15 loài mới phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau, nâng tổng số các loài mây ở Việt Nam lên khoảng 4 – 5 loài, nhiều nhất ở các tỉnh ven biển Hiện nay ở khu vực Đông Nam Á cũng như ở nước ta, mây được xác định là sản phẩm thương mại quan trọng đứng thứ 3 sau gỗ và tre, trúc Tuy nhiên, đến những năm cuối của thế
kỷ trước các sản phẩm này chủ yếu được khai thác ở trong rừng tự nhiên, do chúng phân bố rất rải rác ở trong rừng tự nhiên nên không thể thống kê được diện tích và dự đoán được trữ lượng Những năm đầu của thế kỷ 21 phần lớn sản phẩm này đã được khai thác từ rừng trồng nên có thể thống kê được diện tích Diện tích trồng mây đến hết năm 2009 Theo Nguyễn Quốc Dựng và các cộng sự (2010), tính đến hết năm 2009 cả nước có 12 tỉnh trồng được hơn 3.031ha mây gồm 3 loài chủ yếu là: Mây nếp (Calamus tetradactylus), Mây nước (Daemonorops poilanei) và Mây đắng (Calamus walkeri), nhưng phần
Trang 3120
lớn diện tích này là Mây nếp Ngoài ra, một số tỉnh khác đã trồng tới hàng chục hecta nhưng chưa thống kê được như: Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh,…[13]
Mây nếp được sử dụng từ rất lâu đời và rất quen thuộc ở nước ta Cách đây hàng trăm năm, Mây nếp đã được trồng làm hàng rào ở nhiều gia đình thuộc các tỉnh đồng bằng sông Hồng như: Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Mây có độ dài lóng của sợi thay đổi từ 10 – 30 cm, khối lượng riêng 0,432, lực căng kéo 38,0 N/mm2 Hàm lượng lignin 18,17%, chất lượng sợi mây phụ thuộc vào tuổi cây, độ ẩm trong sợi, điều kiện môi trường sống, độ dài và đường kính của lóng Mây nếp có độ bền, dẻo và chịu lực kéo tốt, cấu tạo đồng đều, mặt ngoài có mầu trắng ngà, bóng rất đẹp, dễ uốn, kết hợp tốt với kim loại và vật liệu khác như gỗ, da, nhựa để làm bàn ghế, đồ dùng mỹ nghệ cao cấp Do đó, Mây nếp là một trong những loài mây được dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ, đan lát, tạo mặt bàn ghế cao cấp có giá trị ở thị trường trong nước và xuất khẩu [13], [14]
Việt Nam có khoảng trên 1.000 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% tổng
số các làng nghề trong cả nước Đến nay, các sản phẩm mây, tre đan đã xuất khẩu tới hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu trung bình đạt trên 200 triệu USD/năm, chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong cả nước Thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho thấy: Kể từ đầu năm 2017 đến hết ngày 15/11/2017, tổng giá trị xuất khẩu nhóm hàng mây, tre, cói đạt trên 230,16 triệu USD Mặc dù đã có sự gia tăng xuất khẩu mặt hàng mây tre đan sang các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Song điểm đáng lưu ý trong xuất khẩu mây tre đan là Việt Nam hiện đang chiếm một thị phần rất nhỏ trên thị trường thế giới Cụ thể, theo thống kê của Trademap (hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật về tình hình thương mại của các nước): Thị phần mây, tre đan Việt Nam trên thị trường thế giới mới đạt khoảng 3,37% Trong đó, thị trường chủ đạo Nhập khẩu mây, tre lá của Việt Nam là Mỹ, chiếm đến 20% và Nhật Bản
Trang 3221
chiếm 16% tổng giá trị xuất khẩu [8]
Một số chuyên gia đánh giá, cơ hội phát triển cho ngành mây tre đan của Việt Nam còn khá rộng mở Khả năng nâng con số 3,37% thị phần thế giới lên khoảng 8-10% trong tương lai hoàn toàn khả thi Cùng với đó, kim ngạch xuất khẩu của ngành này có thể đạt tới 1 tỷ USD chứ không chỉ mãi đì đẹt với vài trăm triệu USD mỗi năm như hiện nay Những năm gần đây, một
số thị trường mới nổi như Trung Quốc, Tây Ban Nha, Australia, đang có xu hướng nhập khẩu mặt hàng mây tre đan từ Việt Nam Cụ thể, Trung Quốc và Tây Ban Nha đã gia tăng nhập khẩu mặt hàng mây tre đan Việt Nam với mức tăng lần lượt là 40% và 13,2% một năm [13]
Theo kết quả điều tra của Cục chế biến thương mại Nông lâm thuỷ sản và nghề muối của Bộ NN&PTNT đến năm 2006 thì hầu hết các cơ sở sản xuất mây, tre đan xuất khẩu đều thiếu tới 50% nguyên liệu đầu vào
Vì vậy, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt “Đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006 – 2020” Nội dung bảo tồn và phát triển LSNG đã được lồng ghép trong chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020 Khái quát về tài nguyên mây và tình hình sử dụng ở nước ta trên đây, đã khẳng định vai trò to lớn của mây nói riêng và nguồn LSNG nói chung trong đời sống kinh tế xã hội [2]
2.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới và
ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Năm 1945, Wimbush đã thực nghiệm bảo quản tre tươi bằng cách dựng tre tươi mới chặt hạ còn giữ nguyên lá vào thùng đựng dung dịch Wolman 2.5% hoặc dung dịch Borac 4% trong 24 giờ Tác giả cho biết tre tẩm có khả năng chống lại sự xâm nhập của mọt tre rất tốt
Singh và Tewari (1980) đã thí nghiệm bảo quản tre tươi sau khi chặt hạ, tre được dựng đứng trong thùng chứa dung dịch thuốc bảo quản, phần gốc ở dưới, phần ngọn phía trên Dung dịch thuốc chỉ cần ngập khoảng 25cm kể từ
Trang 3322 dưới lên Thời gian xử lý từ 7-10 ngày, phụ thuộc vào chiều dài của khúc tre, khi quan sát thấy những giọt thuốc xuất hiện trên các đốt là được [12]
Một số phương pháp bảo quản như phun, nhúng, quét cũng được Tewari và Singh thực hiện với một số loại thuốc bảo quản dạng sữa như: Dieldrin 0.03%, aldrin 0.015% Wu và Shinh đã phun một số loại thuốc như DDT, gamma – BHC, diedrin sữa, PCP Na để chống mọt tre Đây là các phương pháp bảo quản tạm thời khi tre được lưu giữ trong kho hoặc trước khi
áp dụng các phương pháp ngâm tẩm [12]
Một số thí nghiệm ngâm tẩm tre theo phương pháp nóng - lạnh đã được thực hiện tại Viện nghiên cứu lâm nghiệp Dehra Dun, Ấn Độ Tre được ngâm trong creosote nóng 900 C với thời gian 3 giờ, sau đó để nguội
12 giờ đạt lượng thuốc thấm ở tre nguyên ống là 54kg/m3 và 57kg/m3 ở tre chẻ thanh Tuy nhiên do lý do về kinh tế nên phương pháp này không được ứng dụng rộng rãi để bảo quản tre [12]
Ở Indonesia, năm 1974, Rachman tiến hành bảo quản song, mây bằng cách vùi sâu trong bùn, nung nóng trong 24 giờ, dùng sơ dừa để làm sạch, phơi nắng trong khoảng 1 tuần, rồi phân loại và bó thành từng bó Tác giả cũng đã luộc song, mây trong dầu nhằm loại bỏ lớp sáp và các chất gôm, loại bớt nước hay giảm độ ẩm, vì thế giúp song, mây tránh được nấm mốc và nấm mục tấn công, đồng thời cải thiện được màu sắc cho song, mây [12]
Bước quan trọng trong quá trình luộc dầu là giữ cho song, mây ngập trong dầu ở dưới điểm sôi trong một khoảng thời gian nhất định từ 5 - 10 phút, 30 - 40 phút, tùy thuộc vào loài cây và đường kính Trong quá trình này, các chất sáp, gôm và nhựa sẽ bị hòa tan và loại bỏ, độ ẩm trong thân sẽ giảm Phần dầu bám trên bề mặt song, mây phải được loại bỏ ngay sau khi luộc Các vật liệu như mùn cưa, vỏ bao tải, rẻ rách, xơ dừa, bông thép hoặc cát mịn được dùng để làm sạch dầu bám trên bề mặt song, mây Tuy nhiên, mùn cưa
là thích hợp hơn cả bởi nó không chỉ làm sạch bề mặt dễ dàng, nhanh hơn, mà
Trang 3423
còn thấm hết toàn bộ lượng dầu dư bám trên bề mặt Có thể kết hợp các biện pháp chống nấm mốc và côn trùng phá hoại trong quá trình luộc dầu Cụ thể
là thêm hóa chất chống nấm mốc và côn trùng vào trong bể dầu Tuy nhiên,
để tránh cho hóa chất bị phân hủy do nhiệt, nên nhúng các sợi mây đã luộc dầu còn đang nóng vào dung dịch thuốc bảo quản được đựng trong một bể chứa khác [12]
Ở Ấn Độ người ta thường dùng dung dịch NaPCP 1%; ZnCl25%; CuSO4 để phun, nhúng, quét, ngâm nguyên liệu và các sản phẩm từ tre, nứa, song, mây
Trường Đại học Lâm nghiệp Nam Kinh (Trung Quốc) đã dùng các hợp chất có acid boric + muối B, phương pháp này không gây ô nhiễm, giá rẻ, không làm mất màu mẫu tẩm
Trong những năm gần đây người ta đã biến tính song, mây, gỗ bằng các chất hoá học như ankyl anhyđrit, isoxyanat, focmadehyt tác dụng với nhóm hyđroxyl của polysacarit để tạo ra các nhóm chức bền vững, có liên kết công hoá trị và ít ưa nước hơn song, mây, tre, gỗ sau khi xử lý sẽ chịu được nước
và khó bị mủn Ngoài ra còn có thể dùng sóng viba để sấy nóng và làm biến tính song, mây, tre Phương pháp này nhanh và tương đối rẻ tiền Hiện nay phương pháp này được sử dụng phổ biến để bảo quản gỗ hơn so với song, mây
Một số phương pháp hoá sinh cũng đã được sử dụng để bảo quản song, mây người ta đã sử dụng các chất ức chế enzym giúp sinh vật hại không biến đổi và chuyển hoá được thức ăn là song, mây Cũng có thể sử dụng một loại nấm khác, diệt loại nấm hại song, mây Đối với côn trùng có hại, người ta sử dụng các chất kìm hãm rối loạn sinh trưởng, không làm cho chúng sinh trưởng và phát triển bình thường [9]
Một số hoá chất như: NaOH, H2O2, Ca(OH)2, NH3, Oxalicaxit, H2SO4, thuốc tím, HCl và HClO, cũng được sử dụng ở dạng đơn lẻ hoặc pha chộn
Trang 3524
lẫn theo các thang nồng độ khác nhau để tẩy trắng cho gỗ đồng thời hạn chế được nấm mốc xâm nhập [12]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trước những năm 90 đã có một số công trình nghiên cứu bảo quản tre, nứa, song, mây bằng các phương pháp hoá học Lê Văn Nông đã nghiên cứu khả năng thấm thuốc của Luồng Thanh Hoá khi ngâm tẩm bằng phương pháp ngâm thường và phương pháp Boucherie Tác giả cho biết khi ngâm tre bằng thuốc CuSO4 và LN2, thuốc có thể thấm vào tre theo cả 4 chiều, tuy nhiên chiều dọc thớ thấm tốt nhất Tre ngâm 60 giờ trong dung dịch thuốc LN2 4%
và CuSO4 5% có khả năng ngăn ngừa sự phá hại của mọt tre và hạn chế sự phá hại của Nấm chân chim ở mức độ nhất định [7]
Lê Văn Nông (1994) đã nghiên cứu phòng chống mốc cho song, mây Kết quả nghiên cứu đã xác định được loại thuốc PBB với nồng độ 5% xử lý song, mây không vỏ luộc trong dầu và song, mây không luộc trong dầu đều có hiệu lực chống mốc tốt [7]
Phương pháp sấy diêm sinh cũng được sử dụng phổ biến trong thực tế sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở nước ta và một số nước nhiệt đới như: Indonesia, Philipin,…Trong phương pháp này, người ta thường đốt lưu huỳnh trong buồng kín, khi đốt sinh hơi của lưu huỳnh sẽ len lỏi vào các phần rỗng của sợi mây, giang, tạo ra môi trường độc hại đối với sinh vật và có tác dụng tẩy trắng sản phẩm mây, tre đan Phương pháp này có nhược điểm rất lớn là gây độc cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người do khí lưu huỳnh Hiện nay ở các nước Châu Âu đã không sử dụng phương pháp này [12]
Gần đây, một số đề tài nghiên cứu của sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp cũng đã bước đầu nghiên cứu xử lý chống mốc kết hợp tẩy trắng cho
cây Mây nước (Deamonorops pierreanus BECc) bằng dung dịch H2O2 Kết quả mới xác định được hiệu quả xử lý sơ bộ do chưa có đánh giá hiệu lực chống mốc, mọt trong điều kiện chuẩn [11]
Trang 3625 Trên đây là các kết quả nghiên cứu sơ lược về kỹ thuật bảo quản mây nói riêng và LSNG nói chung trong và ngoài nước trong suốt thế kỷ qua Ngày nay, mặc dù các thiết bị ngâm tẩm có hiện đại hơn, song vẫn dựa trên các nguyên lý cơ bản của từng phương pháp Trong thực tế, tuỳ thuộc vào điều kiện của từng đối tượng bảo quản và phạm vi áp dụng mà chúng ta có thể lựa chọn phương pháp này hay phương pháp khác Tuy nhiên, đối với nguyên liệu mây là một trong những đối tượng nghiên cứu khác với tre, gỗ, vì vậy việc áp dụng các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực bảo quản gỗ để bảo quản cho Mây dùng trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là rất cần thiết
Các loại thuốc dùng để bảo quản mây rất khác nhau Một số hoá chất có hiệu lực chống mốc tốt song đã bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia Chính vì vậy, việc nghiên cứu tuyển chọn loại thuốc bảo quản thích hợp cho cây mây
để làm hàng thủ công mỹ nghệ cần thiết được đặt ra Với yêu cầu các công thức thuốc tuyển chọn vừa phải đảm bảo hiệu lực bảo quản, vừa không ảnh hưởng tới các tính chất cơ vật lý của mây và các quá trình xử lý khác như tẩy trắng, trang sức bề mặt và thuốc không chứa các thành phần hoá chất bị cấm
sử dụng trong nông nghiệp
Trang 3726
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng kháng nấm mốc của thuốc hóa học Cislin 2.5EC và chế phẩm bảo quản chiết suất từ Sả Java
- Thuốc hóa học Cislin 2.5EC có nồng độ: 1%, 2%, 3%
- Chế phẩm chiết suất từ Sả Java nồng độ 10%, 15% và 20%
- Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm: Sử dụng các trang thiết bị có trong phòng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và tự trang bị dụng cụ cần thiết
- Phương pháp: Phương pháp ngâm thường
- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm thuốc, chế phẩm đến: Khả năng phòng trừ nấm mốc
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm: Tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2018 đến tháng 5/2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc của Mây nếp
Trang 3827
- Ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin 2.5EC, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng phòng chống nấm mốc của Mâynếp
- Đề xuất giải pháp bảo quản Mây nếp phục vụ sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm tẩm đến khả năng thấm thuốc bảo quản của Mây nếp
- Quy cách mẫu:
Mây chẻ sợi: 10 sợi (có kích thước 1000mm/sợi) cuộn thành một mẫu, tổng số mẫu thí nghiệm: 18 mẫu
Mây nguyên đoạn: 18 mẫu (kích thước 1000mm/ mẫu)
- Pha thuốc và chế phẩm theo nồng độ và tỷ lệ như sau:
Thuốc hóa học Cislin 2.5EC
Nồng độ (%) Lượng thuốc (ml) Lượng nước
Lượng dầu điezen (ml)
Trang 3928
- Phương pháp xử lý mẫu:
Bước 1: Cân khối lượng mẫu trước khi ngâm
Bước 2: Sau khi cân, ngâm mẫu trong dung dịch thuốc bảo quản và chế phẩm theo các cấp nồng độ đã pha, dùng vật nặng nén chống nổi, thời gian ngâm 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày
Bước 3: Vớt mẫu, để ráo mặt
Bước 4: Cân khối lượng mẫu sau khi ngâm và đánh giá
P1 khối lượng mẫu trước khi ngâm
P2 khối lượng mẫu sau khi ngâm
C nồng độ dung dịch thuốc, chế phẩm
3.4.2 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nồng độ thuốc hóa học Cislin, chế phẩm chiết suất từ Sả Java và thời gian ngâm thuốc đến khả năng phòng chống nấm mốc của Mây nếp
Để đánh giá ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm thuốc, đề tài
tiến hành xác định hiệu lực của chế phẩm và thuốc bảo quản đối với nấm mốc hại Mây
Áp dụng theo hướng kỹ thuật của Cục Bảo vệ Thực vật khảo nghiệm hiệu lực của thuốc đối với nấm mốc hại gỗ Đề tài có điều chỉnh về quy cách mẫu cho phù hợp với nguyên liệu
Trang 4029
- Quy cách mẫu
Mẫu khảo nghiệm có kích thước:
+ Mẫu Mây nếp nguyên đoạn : 1000 (mm)
Số lượng mẫu: 180 mẫu tẩm và 10 mẫu đối chứng không tẩm thuốc + Mẫu Mây nếp chẻ sợi: 1000 (mm)
Số lượng mẫu: 18 mẫu (10 sợi cuộn thành 1 mẫu) tẩm thuốc và 3 mẫu đối chứng không tẩm thuốc
- Nồng độ dung dịch bảo quản
+ Thuốc bảo quản Cislin 2.5EC nồng độ dung dịch thuốc là 1%, 2% và 3% + Chế phẩm chiết suất từ Sả Java nồng độ dung dịch thuốc 10%, 15%
+ Mẫu sau khi xử lý thuốc bảo quản được kê xếp, hong tự nhiên tại nơi có không khí lưu thông tốt trong 1 tuần, sau đó đưa vào hiện trường khảo nghiệm