1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến tình hình sâu bệnh hại giống đậu tương đt51 trong vụ thu đông năm 2016 tại thái nguyên

66 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến tình hình sâu bệnh hại giống đậu tương đt51 trong vụ thu đông năm 2016 tại thái nguyên
Tác giả Nông Thị Bằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NÔNG THỊ BẰNG Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT51 TRONG VỤ THU - Đ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THỊ BẰNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT51 TRONG

VỤ THU - ĐÔNG NĂM 2016 TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THỊ BẰNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT51 TRONG

VỤ THU - ĐÔNG NĂM 2016 TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là quá trình rất quan trọng giúp cho mỗi sinh viên hoàn thiện kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp làm việc, tiếp thu thêm kiến thức và kỹ năng thực tế nhằm đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, nhu cầu nhân lực ngày càng cao của xã hội

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lươ ̣ng phân đạm đến tình hình sâu, bệnh hại giống đậu tương ĐT51 trong vụ Thu – Đông năm 2016 tại Thái Nguyên", sau một thời gian làm việc nghiêm túc và hiệu

quả cho đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành

Để đạt được kết quả như ngày hôm nay tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học

tập, đặc biệt là sự chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng,

người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Đồng thời tôi cũng xin trân thành cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người luôn hỗ trợ, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế nên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài của tôi có thể được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Nông Thị Bằng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG v

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa học tập 3

1.3.2 Ý nghĩa khoa học 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Nguồn gốc cây đậu tương 4

2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 8

2.2.3 Tình hình sản suất đậu tương ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2010 - 2014 9

2.3 Nhu cầu về đạm và tình hình sử du ̣ng đa ̣m cho cây đâ ̣u tương 10

2.3.1 Nhu cầu về đạm của cây đâ ̣u tương 10

2.3.2 Tình hình sử dụng đạm cho cây đậu tương 12

2.4 Tình hình nghiên cứu sâu, bệnh hại đậu tương trên thế giới và Việt Nam 13

2.4.1 Tình hình nghiên cứu sâu, bệnh hại trên thế giới 13

2.4.2 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh ở Việt Nam 18

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng 23

Trang 5

3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.2 Nội dung 23

3.3 Phương pháp theo dõi 23

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23

3.3.2 Quy trình kỹ thuật 24

3.3.3 Phương pháp điều tra 25

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 30

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân đa ̣m đến các giai đoạn sinh trưởng, phát

triển của giống đâ ̣u tương ĐT51 vụ Thu – Đông năm 2016 tại Thái Nguyên 31

4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân đa ̣m đến chiều cao cây đậu tương

ĐT51 vụ Thu- Đông năm 2016 tại Thái Nguyên 32

4.3 Thành phần sâu bệnh hại trên giống đậu tương ĐT51 vụ Thu- Đông

năm 2016 tại Thái Nguyên 33

4.3.1 Thành phần sâu hại 33

4.3.2 Thành phần bệnh hại đậu tương ĐT51 vụ Thu- Đông năm 2016 tại

Thái Nguyên 35

4.4 Diễn biến sâu hại đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh trưởng

phát triển 36

4.4.1 Diễn biến sâu cuốn lá ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh trưởng, phát triển 36

4.4.2 Diễn biến ruồi đục thân ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh trưởng, phát triển 37

4.4.3 Diễn biến sâu đục quả ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh trưởng và phát triển 39

4.5 Diễn biến bệnh ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh trưởng và phát triển 40

Trang 6

4.5.1 Diễn biến bệnh lở cổ rễ ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh

trưởng, phát triển 40

4.5.2 Diễn biến bệnh gỉ sắt ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh trưởng và phát triển 41

4.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm tớ i năng suất của giống đâ ̣u

tương ĐT51 vụ Thu – Đông năm 2016 tại Thái Nguyên 43

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHI ̣ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

I Tiếng Việt 46

II Tài liệu tiếng Anh 48

III Tài liệu internet 48

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình sản suất đậu tương trên thế giới giai đoạn

từ năm 2010 - 2014 5

Bảng 2.2: Tình hình sản suất đậu tương của các nước đứng đầu thế giới

năm 2014 6

Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đậu tương của Hoa Kỳ giai đoa ̣n 2010-2014 7

Bảng 2.4: Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam giai đoạn

từ năm 2010 - 2014 8

Bảng 2.5: Tình hình sản suất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên

giai đoa ̣n 2010 - 2014 10

Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ Thu- Đông năm 2016 tại Thái Nguyên 31

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng phân đa ̣m đến chiều cao cây đậu

tương ĐT51 33

Bảng 4.3 Thành phần sâu hại đậu tương ĐT51 vụ Thu- Đông năm 2016

tại Thái Nguyên 34

Bảng 4.4 Thành phần mức độ bệnh hại đậu tương ĐT51 vụ Thu- Đông

năm 2016 tại Thái Nguyên 35

Bảng 4.5 Diễn biến sâu cuốn lá ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n sinh trưởng và phát triển 36

Bảng 4.6 Diễn biến ruồi đu ̣c thân ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n

sinh trưởng và phát triển 38

Bảng 4.7 Diễn biến sâu đu ̣c quả ha ̣i đâ ̣u tương qua các giai đoa ̣n sinh

trưởng và phát triển của cây 39

Trang 8

Bảng 4.8 Diễn biến bê ̣nh lở cổ rễ ha ̣i đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n

sinh trưởng và phát triển 40 Bảng 4.9: Diễn biến bê ̣nh gỉ sắt ha ̣i đâ ̣u đâ ̣u tương ĐT51 qua các giai đoa ̣n

sinh trưởng và phát triển 42 Bảng 4.10: Ảnh hưởng của phân đạm tới năng suất của giống đâ ̣u tương

ĐT51 vụ Thu – Đông năm 2016 tại Thái Nguyên 43

Trang 9

DANH MỤC CÁC TƢ̀ VIẾT TẮT

CT : Công thứ c

FAOSTAT : Số liệu thống kê của FAO

N : Đạm nguyên chất NSLT : Năng suất lý thuyết NSTT : Năng suất thực thu TLB : Tỷ lệ bệnh

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) là cây trồng cổ xưa của nhân

loại Lịch sử của cây đậu tương gắn liền với lịch sử nông nghiệp của hầu hết quốc gia trên thế giới Càng ngày đậu tương càng khẳ ng định được vị trí của

nó trong hệ thống cây trồng nông nghiệp của bất kỳ quốc gia nào Đặc biệt trong những năm gần đây với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật

đã phát hiện ra những giá trị vô cùng to lớn và không thể thay thế của đậu tương Điều đó giúp nó chở thành cây trồng mũi nhọn chiến lược trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung

Đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng về rất nhiều mặt

và có giá trị kinh tế cao Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hyđratcacbon từ 15 - 16%

và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống Hạt đậu tương

là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit Protein của hạt đậu tương không những có hàm lượng cao mà còn có đầy đủ và cân đối các axit amin cần thiết Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60 -70%), có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52- 65%, axit oleic chiếm 25 - 36%, axit lonolenoic chiếm 2 - 3% Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2

Với giá trị dinh dưỡng cao như vậy nên người ta có thể chế biến đậu tương ra nhiều sản phẩm khác nhau như: đậu phụ, thịt nhân tạo, các loại bánh

và nước uống … Chính vì vậy mà đậu tương được gọi là người đầu bếp thế kỷ vàng trên đất hay con bò sữa của vùng nhiệt đới

Trang 11

Bên cạnh đó đậu tương còn có giá trị quan trọng về mặt sinh học: rễ đậu

tương cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium japonicum tạo nốt sần, có khả năng

cố định đạm từ khí quyển Vì vậy trồng đậu tương là biện pháp hiệu quả để cải tạo đất

Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [4] Từ đó làm tăng hệ số sử dụng đất và tăng hiệu quả kinh tế, có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thâm canh tăng vụ Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất (6.942 ha) chiếm 37,10% tổng diện tích đậu tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,30 tạ/ha (Cục Trồng Trọt, 2006) [3] Nguyên nhân dẫn đến đậu tương có năng suất thấp như vậy là do chưa đủ giống, giống chưa tốt cho từng vụ và chưa thích hợp cho từng vùng sinh thái khác nhau Cùng với đó, quy trình kỹ thuật canh tác không phù hợp đặc biệt là vấn đề sử dụng phân bón chưa hợp lý cho cây đậu tương ở từng vụ và từng giống khác nhau Hơn nữa việc sử dụng tùy tiện thuốc bảo vệ thực vật độc hại, với thời gian cách ly không đảm bảo , không những gây ô nhiễm môi trường và sản phẩm mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người Chính vì vậy việc nghiên cứu và lựa chọn các biện pháp

kỹ thuật canh tác thích hợp đáp ứng được đòi hỏi trong thực tiến sản xuất đậu tương an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất là vấn đề cấp thiết hiện nay

Vì vậy, phải căn cứ vào điều kiện từng địa phương, đặc điểm sinh học của từng giống để lựa chon biện pháp kỹ thuật thích hợp cho đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn

này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng cu ̉ a liều lượng phân đạm đến tình hình sâu, bệnh hại giống đậu tương ĐT51 trong vụ Thu

- Đông năm 2016 tại Thái Nguyên”

Trang 12

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề ta ̀i

- Xác định được liều lượng phân đạm thích hợp đến khả năng chống chịu sâu bệnh hại đậu tương trong vụ Thu - Đông năm 2016 tại Thái Nguyên

1.2.1 Yêu cầu cu ̉ a đề tài

- Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại ở các công thức thí nghiệm

- So sánh và sơ bộ kết luận liều lượng phân đa ̣m có khả năng ch ống chịu sâu bệnh tốt nhất cho đậu tương ĐT51

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa học tập

- Giúp cho sinh viên sau khi ra trường nắm chắc được lý thuyết cũng như làm quen với tay nghề, vận dụng vào trong sản xuất

- Biết cách thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học như: cách thu thập

xử lí số liệu, trình bày báo cáo của một đề tài tốt nghiệp

- Trên cơ sở kiến thức nắm được sẽ là hành trang phục vụ cho công việc của sinh viên ra trường

1.3.2 Ý nghĩa khoa học

- Đề tài là một trong những cơ sở quan trọng để chọn được liều lượng phân đa ̣m tốt cho đậu tương phù hợp với điều kiện sinh thái của Thái Nguyên cũng như tại khu vực miền núi phía Bắc nước ta

- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là luận cứ quan trọng phục vụ cho học tập và nghiên cứu đối với câu đậu tương.

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc cây đậu tương

Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) là một cây trồng mà loài người

đã biết sử dụng trồng trọt từ lâu đời, là cây trồng cổ xưa của nhân loại, có nguồn gốc ở phương Đông (Đông Á), nguồn gốc cụ thể và lịch sử xa xưa của cây đậu tương chưa được xác định chính xác

Căn cứ vào tác phẩm Thần Nông Bản Thảo Kinh và một số di tích cổ như: hình khắc trên đá, mai rùa, xương súc vật ….thì cây đậu tương được con người biết đến cách đây 5.000 năm và được trồng vào thế kỷ XI trước công nguyên

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, cây đậu tương xuất hiện đầu tiên ở lưu vực sông Trường Giang (Trung Quốc) Phân tích cổ cho răng: chữ soi-a củ a nhiều nước trên thế giới (Nga, Anh, Pháp, Đức…) có xuất sứ từ chữ “shu” của Trung Quốc Có một học giả viết ghi chú đầu tiên về loại cây trồng này nằm trong cuốn “bản thảo dương mục” Cuốn sách mô tả những cây trồng ở Trung Quốc của vua Thần Nông viết năm 2838 trước công nguyên

Cây đậu tương được xem là một trong 5 loài cây lấy hạt quan trọng nhất: lúa nước, đậu tương, lúa mì, đại mạch, cao lương quyết định đến sự tồn tại của văn minh Trung Quốc

Trong lịch sử thì đậu tương phát triển ở Trung Quốc cho tới chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895) Sau đó Nhật bắt đầu nhập khô dầu đậu tương để làm phân bón Chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) làm cho đậu tương và công dụng của nó được mở rộng nhiều hơn Vào khoảng năm 1908 đậu tương

và sản phẩm của nó được đưa vào Châu Âu và thu hút sự chú ý của thế giới Tuy đặc trưng là một loại cây cổ xưa nhất, nhưng cũng được xem là cây trồng mới nhất Vì trên thực tế cuối thế kỷ XIX đậu tương mới chỉ được trồng ở

Trang 14

Trung Quốc và sau 30 năm đầu thế kỷ XX, sản xuất đậu tương chỉ tập trung ở vùng Viễn Đông như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên

Ở Việt Nam cây đậu tương được biết đến sớm qua tư liệu lịch sử thời đại Hùng Vương các công trình nghiên cứu cho biết ngoài lúa là cây lương thực chính của cư dân Văn Lang còn biết trồng cây đậu tương Sau đó cây đậu tương được thuần hóa và trồng như cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao

2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Mă ̣c dù có nguồn gốc ở vùng Viễn Đông - châu Á nơi loa ̣i cây này được trồng lâu đời và là cây trồng chủ yếu , nhưng cho tới nay tình hình sản xuất

đâ ̣u tương ở châu Mỹ đã vượt xa châu Á

Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiê ̣n qua bảng 2.1

Bảng 2.1: Tình hình sản suất đậu tương trên thế giới giai đoạn từ năm

2010 - 2014

(triê ̣u ha)

Năng suất (tấn /ha)

Sản lượng (triê ̣u tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2017)[21]

Qua bảng 2.1 ta thấy diê ̣n tích trồng đâ ̣u tương trên thế giới trong giai đoa ̣n từ 2010 - 2014 liên tu ̣c tăng Năm 2010 thế giới có 102,84 triê ̣u ha, đến năm 2014 diê ̣n tích trồng đậu tương đạt 117,54 triê ̣u ha tăng 14,7 triê ̣u ha so với năm 2010

Trang 15

Năng suất đậu tương có nhiều biến đô ̣ng cao nhất là năm 2014 đa ̣t 2,60 tấn/ha, thấp nhất là năm 2012 chỉ đạt 2,30 tấn/ha Do năng suất biến đô ̣ng nên sản lượng đâ ̣u tương cũng có nhiều biến đô ̣ng , cao nhất là 2014 sản lượng đạt 306,5 triệu tấn và so với năm 2012 sản lượng chỉ đạt 241,7 triê ̣u tấn Kết quả trên có được là nhờ ứng du ̣ng những thành tựu mới trong c họn tạo giống đâ ̣u tương và cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho từng giống , từng vùng có điều kiê ̣n khí hâ ̣u khác nhau

Hiê ̣n nay tình hình sản xuất đâ ̣u tương lớn nhất trên thế giới gồm 05 nước là : Hoa kỳ, Brazin, Argentina, Trung Quốc và Ấn Đô ̣ Sản lượng đậu tương củ a 05 nước này đa ̣t 269,67 triê ̣u tấn so với thế giới (306,5 triê ̣u tấn), chiếm 87,9% sản lượng đậu tương của toàn thế giới

Tình hình sản xuất đậu tương của cá c nước đứng đầ u thế giới năm 2014 được thể hiê ̣n qua bảng 2.2

Bảng 2.2: Tình hình sản suất đậu tương của các nước đứng đầu thế giới

năm 2014

(triê ̣u ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triê ̣u tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2017) [21]

Qua bảng 2.2 ta thấy: năm 2014 Hoa Kỳ là nước có diện tích lớn nhất , năng suất cao nhất thế giới theo đó là sản lượng đâu t ương cũng cao nhất thế giới diê ̣n tích lên tới 33,42 triê ̣u ha, năng suất là 3,19 tấn/ha và sản lương lên tới 106,86 triê ̣u tấn

Trang 16

Diê ̣n tích trồng đâ ̣u tương của Trung Quốc là thấp nhất trong 5 nước trồng đâ ̣u tương ch ính chỉ đạt 6,8 triê ̣u ha thấp hơn 5 lần so với diê ̣n tí ch trồng đâ ̣u tương của Hoa Kỳ là 33,42 triê ̣u ha

Năng suất đâ ̣u tương trong năm 2014 Ấn Độ là nước có năn g suất thấp nhất chỉ đa ̣t 0,96 tấn/ha so với năng suất của Hoa Kỳ là 3,19 tấn/ha

Sản lượng đậu tương của Ấn Độ cũng là nướ c thấp nhất chỉ đa ̣t 10,5 triê ̣u tấn, thấp hơn nhiều so với Hoa Kỳ là 96,36 triê ̣u tấn, sản lượng của Hoa Kỳ đạt 106,86 triê ̣u tấn

Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới v ề sản xuất đậu tương trong những năm gần đây đã vượt xa các nước khác trên thế giới về diê ̣n tích , năng suất và sản lượng Sản xuất đậu tương của Hoa Kỳ có được kết quả như vậy là do có nhiều tiến bô ̣ khoa ho ̣c về kỹ thuâ ̣t di truyền cho ̣n giống, khai thác và sử du ̣ng

ưu thế lai ở đâ ̣u tương trong quá trình cho ̣n ta ̣o , kết hợp với các các biện pháp

kỹ thuật tiên tiến cơ giới hóa

Tình hình sản xuất đậu tương của Hoa Kỳ giai đoạn 2010 - 2014 được thể hiê ̣n qua bảng 2.3

Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đâ ̣u tương của Hoa Kỳ giai đoa ̣n 2010-2014

Năm Diê ̣n tích

(triê ̣u ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triê ̣u tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2017)[21]

Qua bảng 2.3 ta thấy: Trong giai đoa ̣n từ năm 2010 - 2014 trở la ̣i đây diê ̣n tích, năng suất và sản lượng của Hoa Kỳ cũng có biến động nhưng không đáng kể

Trang 17

Năm 2010 diê ̣n tích của Hoa Kỳ tăng từ 31,00 triê ̣u ha lên đến 33,42 triê ̣u ha (2014) tăng 7,8%

Năng suất đâ ̣u tương của Hoa Kỳ luôn cao hơn năng suất bình quân của thế giới trong giai đoa ̣n năm 2010 - 2014 là 0,46 tấn/ha, năng suất bình quân của thế giới là 2,49 tấn /ha còn năng suất của Hoa Kỳ là 2,95 tấn/ha

Năng suất của Hoa Kỳ tăng từ 2,92 tấn/ha năm 2010 lên tới 3,19tấn/ha năm 2014 tăng 37,41%

Do diê ̣n tích, năng suất tăng nên sản lượng đâ ̣u tương của Hoa Kỳ cũng tăng lên, năm 2010 là 90,6 triệu tấn đến năm 2014 là 106,8 triê ̣u tấn tăng 17,88%.

2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Đậu tương được trồng ở Việt Nam từ lâu đời và được trồng ở nhiều vùng

khác nhau, trồng được nhiều vu ̣ trong năm.

Việt Nam có nhiều tiềm năng để mở rộng diện tích, nhưng hiện nay diện tích gieo trồng đậu tương của cả nước đang có xu hướng giảm, kéo theo sản lượng giảm dần

Tình hình sản suất đậu tương ở Việt Nam giai đoan từ năm 2010 - 2014 được thể hiê ̣n qua bảng 2.4

Bảng 2.4: Tình hình sản xuất đâ ̣u tương ở Viê ̣t Nam giai đoa ̣n từ năm

2010 - 2014

(1000 ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

Trang 18

Qua bảng số liê ̣u 2.3 ta thấy diê ̣n tích , năng suất và sản lượng từ năm 2010- 2014 giảm dần qua các nă m Diện tích năm 2010 là 197,8 nghìn ha đến năm 2014 giảm xuống còn có 109,3 nghìn ha

Năng suất đâ ̣u tương của Việt Nam vẫn còn rất thấp so với năng suất bình quân của thế giới Năm 2013 và 2014 năng suất của Viê ̣t Nam chỉ đa ̣t 1,43 tấn/ha và thấp hơn rất nhiều bình quân của thế giới

Sản lượng đậu tương của nước ta giả m mạnh, năm 2010 sản lượng là 298,6 nghìn tấn đến năm 2014 giảm xuống còn 156,5 nghìn tấn

Nguyên nhân chủ yếu là điều kiê ̣n thời tiết không thuâ ̣n lợi , có sự cạnh tranh củ a các cây nông nghiê ̣p khác ví du ̣ như cây ngô , mặt khác là do sự nhâ ̣p khẩu đ ậu tương từ các nước khác nhất là Hoa Kỳ cho ngành chăn nuôi

và nuôi trồng thủy sản

Để khắc phu ̣c những khó khăn các nhà khoa học Việt Nam đang tiếp tu ̣c nghiên cứu để cho ra giống đâ ̣u tương thích nghi với điều kiện khí hậu và có sản lượng cao hơn mà chi phí sản suất thấp hơn

2.2.3 Tình hình sản suất đâ ̣u tương ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm

2010 - 2014

Cây đậu tương là mô ̣t trong những cây xóa đói giảm nghèo nên chính

quyền đi ̣a p hương rất quan tâm và đầu tư Cây đâ ̣u tương là cây trồng ngắn ngày, trồng được nhiều vu ̣ trong năm , làm tăng hiệu quả sử dụng đất và giá thành cao Tình hình sản suất đâ ̣u tương của tỉnh Thái Nguyên từ giai đoa ̣n

2010 - 2014 được thể hiê ̣n qua bảng 2.5

Trang 19

Bảng 2.5: Tình hình sản suất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn

2010 - 2014

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lươ ̣ng (1000 tấn)

(Nguồn: Tổng cu ̣c thống kê, 2016)[17]

Qua bảng 2.5 ta thấy : diện tích trồng đâ ̣u tương của tỉnh Thái Nguyên giảm năm 2010 là 1,6 nghìn ha đến năm 2014 còn 1,2 nghìn ha , giảm 0,4 nghìn ha

Năng suất đâ ̣u tương củ a tỉnh Thái Nguyên có nhiều biến đô ̣ng , năng suất cao nhất là năm 2013 đa ̣t 15,3 tạ/ha, năng suất thấp nhất là năm 2014 đa ̣t 14,2 tạ/ha

Sản lượn g đâ ̣u tương của tỉnh Thái Nguyên giảm xuống đáng kể , năm

2010 là 2,3 nghìn tấn đến năm 2014 giảm xuống còn 1,7 nghìn tấn

2.3 Nhu cầu về đa ̣m và tình hình sử du ̣ng đa ̣m cho cây đâ ̣u tương

2.3.1 Nhu cầu về đa ̣m của cây đậu tương

Bón đạm với lượng nhỏ 10 - 25kg N/ha ở giai đoạn 10 - 15 ngày sau khi gieo sẽ giúp cây đậu tương tăng trưởng tốt vì kích thích sự phát triển của nốt sần Lượng phân bón trong đất cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nốt sần và lượng đạm cố định được ở cây đậu tương Trần Yến Thảo (1996) trong công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả cố định của giống đậu tương HL2 trồng trên đất đỏ và đất xám miền Đông Nam Bộ đã

nhận xét hoạt động cố định đạm của Rhizobium chỉ có hiệu quả khi lượng

Trang 20

đạm cung cấp cho cây ở liều lượng thấp (20ppm) và trong các dạng phân lân Thermophosphat tỏ ra có hiệu quả cho việc tăng số lượng đạm tích lũy được trên cây đậu tương Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trên đất đỏ và đất xám

vùng Đông Nam Bộ hoạt động cố định đạm của Rhizobium có thể thay thế

một phần phân đạm hóa học mà vẫn duy trì năng suất đậu tương

Nói chung là để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây đậu tương cần phải bón đủ phân, công thức phân bón thay đổi tùy theo từng vùng

Đậu tương là cây trồng có khả năng cố định đạm, để cung cấp đạm cho cây và cải tạo đất Trong sản xuất hiện nay, người dân thường bón một lượng đạm rất nhỏ hoặc không bón đạm cho đậu tương Trong thực tế, nhu cầu về đạm của đậu tương là rất lớn

Theo Cattelan và Hungria (1994), để ruộng đậu tương đạt năng suất 25 tạ/ha đã lấy đi từ đất khoảng 200kg N, trong đó 67 - 75% lượng đạm được hấp thu vào hạt

Cây đậu tương ở thời kỳ đầu đạm chưa được tích lũy nhiều, nhu cầu đạm tăng nhiều nhất vào thời kỳ ra hoa và kết quả, đặc biệt là từ khi hoa rộ đến khi hạt mẩy Cây thiếu đạm lá sẽ chuyển màu xanh vàng, bị rụng khi có gió, phiến lá hẹp, diện tích lá nhỏ, cằn cỗi, lá kép sau nhỏ hơn hoặc bằng lá kép trước Nếu cây thiếu đạm vào thời kỳ ra hoa và tạo quả thì hoa quả rụng nhiều, quả lép, trọng lượng hạt giảm Nhiều nhà nghiên cứu trên Thế giới đã nhận xét rằng: “đậu tương cần một lượng đạm lớn để cho năng suất cao” Năng suất đậu tương có thể bị hạn chế nếu lượng đạm cung cấp không đủ Cây trồng có thể lấy đạm từ đất, từ phân bón, riêng cây đậu tương đạm còn được lấy từ quá trình rễ cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Trong đó hàm lượng đạm trong đất và từ phân bón có thể kích thích hoặc kìm hãm sự cố định đạm của nốt sần

Trang 21

Ying và cộng sự (1992) nhận xét: khi trồng đậu tương trên đất màu vụ trước đã được trồng lúa hoặc đậu tương có bón đạm thì hàm lượng đạm cố định được tới 122 kg N/ha Nếu bón 50kg N/ha cho cây trồng vụ trước thì hàm lượng đạm cố định lên 140kg N/ha Ngoài ra lượng đạm cố định ở một

vụ còn phụ thuộc vào việc canh tác và điều kiện môi trường

Ở môi trường Chiang Mai (Thái Lan), Vang (1990), Thongrd (1991), Ying và cộng sự (1992) đều tìm thấy trên cây đậu tương trồng lấy hạt đã cố định được 110 - 225 kg N/ha chiếm 38 - 85% đạm tổng số Tuy nhiên, tổng lượng đạm mà cây cố định được không thể đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng và phát triển

Theo Giller và Wilson (1993), dưới điều kiện môi trường tối thích ở Brazil thì đậu tương có thể cố định từ 88 - 154kg N/ha tương ứng với 70 - 80% tổng lượng đạm hấp thụ Ở Nigieria trong điều kiện tương tự, lượng đạm

cố định được tăng lên tới 114 - 188kg N/ha, tương đương với 84 - 87% tổng lượng đạm hấp thụ Muốn đạt năng suất cao thì cần bổ sung thêm đạm cho cây đậu tương bằng cách bón phân hóa học

2.3.2 Tình hình sử dụng đạm cho cây đậu tương

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tăng săng suất đậu tương thông qua việc bón phân đạm và đã đưa ra được những kết luận chứng minh vai trò của việc bón đạm là làm tăng năng suất đậu tương Theo Evans

và cộng sự (1951) đã chỉ ra rằng: số quả hữu hiệu của cây phụ thuộc vào sự sinh trưởng, phát triển của cây Thiếu đạm có thể là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ rụng hoa, rụng quả

Năm 1993, trong báo cáo về việc nghiên cứu điều khiển việc bón phân trên đậu tương của Gam cho biết: việc bón 75kg N/ha ở giai đoạn bắt đầu hình thành hạt làm tổng lượng đạm cố định lên 20% và tăng 22% năng suất hạt

Trang 22

Theo Vatanabe và cộng sự (1986): khi bón 60 - 120 kg N/ha vào 10 ngày sau khi ra hoa làm tăng năng suất từ 4,8 - 6,7%, năng suất tăng chủ yếu

do tăng khối lượng nghìn hạt (M1000 hạt) Theo Mengen (1987) thì bón đạm làm tăng năng suất, M1000 hạt và tỷ lệ Protein trong hạt

Năm 1996, tác giả Thin cho biết: lượng đạm trên đất vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam rất nghèo, chỉ từ 0,12 - 0,17%, nên khi bón 150kg N/ha làm tăng năng suất đậu tương lên tới 55% Nhưng bón đạm với lượng đạm cao như vậy lại làm ảnh hưởng đến sự hình thành nốt sần và khả năng cố định đạm của cây Kết quả là số lượng nốt sần chỉ đạt 60% và trọng lượng nốt sần thấp hơn so với không bón đạm

Bên cạnh việc bón bổ sung đạm cho cây đậu tương cần phải chú ý đến các loại phân khác nhau: lân, kali, canxi, magie, phân vi lượng và những nguyên tố khác có tác dụng hỗ trợ trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây

Như vậy có thể thấy rằng đậu tương là cây yêu cầu một lượng dinh dưỡng khá cao Muốn đạt năng suất cao cần nắm được các đặc điểm phát sinh, phát triển của nốt sần ở rễ cây đậu tương Từ đó có biện pháp sử dụng phân bón với liều lượng thích hợp cho từng loại đất và từng mùa vụ

2.4 Tình hình nghiên cứu sâu, bệnh hại đậu tương trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Tình hình nghiên cứu sâu, bệnh hại trên thế giới

2.4.1.1 Tình hình nghiên cứu sâu hại trên thế giới

Đậu tương là cây trồng có lượng sâu hại rất đa dạng và phong phú Chúng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của đậu tương, gây ra thiệt hại đáng kể cho người trồng trọt Vì vậy, công tác nghiên cứu sâu hại đậu tương đã được chú trọng và thu được những thành tựu đáng ghi nhận Sâu hại đậu tương trên đồng ruộng chủ yếu gồm 3 loại

Trang 23

Loại 1: loại ăn rộng (đa thực): ngoài cây họ đậu còn phá hoại trên cây trồng khác

Loại 2: loại ăn hẹp, chỉ ăn một số loại họ đậu và một số loại cây gần với

họ đậu

Loại 3: loại ăn rất hẹp, chỉ ăn cây họ đậu

Phần lớn những loại đa thực trên đậu tương là hại lá, từ những con ruồi trắng và bọ trĩ nhỏ tới những con bọ cứng và sâu róm lớn Hầu hết chúng gây hại bằng cách làm rụng lá hoặc một số loài chích hút nhựa cây làm cho cây yếu dần

Sâu xanh (Plathupena scabra F) là một trong những loại đạt tới ngưỡng

hại kinh tế ở Hoa Kỳ Nó là loại sâu hại nghiêm trọng thuộc miền trung Hoa Kỳ Tuy nhiên, ở vùng Đông Nam nó không phải là loại sâu quan trọng

Sâu đậu mèo (Anticarsia gemmatalis Hubner) là loại sâu hại lá nghiêm

trọng nhất ở Hoa Kỳ chỉ sau sâu xanh về tầm quan trọng trong kinh tế (Turnipseed và Kogan), 1993 sâu này chỉ sống qua mùa đông ở vùng nhiệt đới và có thể ở Nam Floriđa Khi thời vụ đến bướm di chuyển về phía Bắc và gây hại đậu tương, ít khi đạt tới ngưỡng hại kinh tế

Sâu đục quả: còn gọi là sâu xanh hại ngô hoặc sâu đục thân hại bắp ngô

(Helilthis zea Boddie) là loại sâu phá hoại nghiêm trọng nhất ở Hoa Kỳ, nó ăn

quả đang phát triển gây ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng

Côn trùng chích hút thì có các loại quan trọng nhất đó là: bọ xít, bọ xít

xanh (Nezera), ở Hoa Kỳ bọ xít xanh gây hại nghiêm trọng hơn các loài khác

(Kogan,1980), chúng phổ biến ở phía Nam và phía Bắc Missovi Hạt đậu bị

bọ xít chích hút thường dẫn đến tỷ lệ nảy mầm thấp, kích thước hạt nhỏ đi làm giảm hàm lượng dầu và khả năng bảo quản

Sâu hại thân có bọ nhảy (Spissistilus festinus Say) sâu đục thân ngô, hạt đậu tương Sâu đu ̣c thân (Dectestxanua leconte) Ruồi đục thân (Melanaglonyza spp)

Trang 24

là những loại phá hoại mạnh nhất Những loại này phổ biến ở các nước phương Đông, gây tổn thất lớn đến 90% cây mầm ở điều kiện thuận lợi

Điều kiện sinh thái, địa lý, giống, kỹ thuật canh tác ảnh hưởng lớn đến thành phần sâu hại Vì vậy, mỗi nước có đặc trưng riêng

Ở Hoa Kỳ theo một số nghiên cứu ghi nhận có 950 loài chân đốt trên cây đậu tương, trong đó có 19 loại (chiếm 5%) gây hại chính, đó là: hại quả (2 loài), hại lá (14 loài), hại thân, rễ (3 loài) Có dưới 2% gây hại mang tính chất nghiêm trọng như: sâu xanh, sâu đo, sâu ăn quả và bọ xít xanh Số còn lại (gần 95% ) thuộc các loại sâu nhất thời, ký sinh, ăn mồi Qua nghiên cứu cây đậu tương ở Hoa Kỳ có 10 loại sâu hại chính: sâu xanh ăn quả và hạt, các loại

bọ xít xanh, sâu đục thân họ ngài sáng, ruồi đục hạt, sâu khoang, bọ rùa và 2 loại nhện đỏ

Các nghiên cứu cho thấy ở 10 nước Đông Nam Á trên cây đậu tương

có 17 loại sâu hại chính trong đó các loại sâu đục thân và sâu cuốn lá rất phổ biến

Ở Ấn Độ theo thống kê của Bhattachrya (1986) thì có 60 - 100 loài côn trùng tấn công đậu tương và trong đó có 3 loại sâu hại chính, đáng chú ý nhất

là 3 loại đục thân, 5 loại ăn lá và 3 loại chích hút Trong đó, sâu đục thân là một trong những loài nguy hiểm nhất Sự gây hại của chúng làm khuyết mật

độ cây con, ảnh hưởng lớn đến năng suất cuối cùng

Ở Thái Lan các nhà nghiên cứu cho thấy một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất là do sâu hại Có hơn 30 loài tìm thấy ở trên ruộng đậu tương, trong đó có 10 loại sâu hại quan trọng làm giảm năng suất hạt

Theo các nhà nghiên cứu ở vùng khí hậu nhiệt đới thành phần sâu hại đậu tương phong phú hơn rất nhiều, có tới 70 loài hại trên tất cả các bộ phận cây đậu tương Sâu gây hại gồm 16 loài, trong đó chủ yếu là bộ 2 cánh (9 loài), bộ cánh cứng (6 loài ), bộ cánh nửa (1 loài) Sâu hại lá có số loài phong

Trang 25

phú nhất (25 loài) phần lớn thuộc bộ cánh vẩy (24 loài), bộ cánh cứng (1 loài) thuộc họ ban miêu Trong số sâu ăn lá có 7 loài gây hại nghiêm trọng: sâu ăn

lá đậu tương được ghi nhận là quan trọng nhất

2.4.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh hại đậu tương trên thế giới

Bên cạnh sâu hại thì bệnh hại cũng là một trong những trở ngại lớn nhất đến tình hình sản xuất đậu tương Thành phần bệnh hại trên cây đậu tương cũng rất phong phú và đa dạng

Bệnh gỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi Sydow) là bệnh phá hoại phổ biến ở

các vùng có khí hậu nhiệt đới và nhiệt đới gió mùa các nước vùng Nam Á, Ấn

Độ, Trung Quốc Có nhiều tác giả đề cập đến bệnh này, ngược lại các nước ôn đới hay cận nhiệt đới hầu như không xuất hiện và được xếp vào loại ít phổ biến, ít tác hại so với bệnh virut, tuyến trùng (Vũ Triệu Mân và cộng sự, 1998) [10]

Bệnh sương mai là bệnh phổ biến ở tất cả các vùng trồng đậu tương trên thế giới Bệnh đã được phát hiện ở Hoa Kỳ từ năm 1923 Bệnh gây tác hại đáng kể làm vàng khô, lá rụng sớm, quang hợp kém ảnh hưởng tới năng suất

Bệnh đốm lá mắt ếch (Frog eye leaf Spot) lần đầu tiên phát hiện trên cây

đậu tương vào năm 1915, ở Hoa Kỳ năm 1924 vùng Caronila, sau đó phát hiện thấy ở nhiều vùng khác nữa, bệnh phổ biến ở vùng phía Nam Hoa Kỳ với khí hậu nóng ẩm Bệnh này cũng thấy ở: Úc, Argentina, Brazil, Trung Quốc,

Ấn Độ, Canada, Colombia, Đức, Nhật Bản, Liên Xô (cũ), Đài Loan, Venezuela

Bệnh đốm vòng, bệnh này thường xuất hiện ở nhiều vùng trồng đậu của Hoa Kỳ và một số nước khác như: Úc, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Lan, Nam Mỹ, Đài Loan, Liên Xô (cũ), Nam Tư (cũ)

Bệnh thối rễ do nấm Phytophathora là một trong những bệnh gây hại

nhất đối với đậu tương Lần đầu tiên được phát hiện ở Tây Bắc Ohaio và ở

Trang 26

vùng Đông Bắc Indiana vào cuối những năm 1940 mặc dù nguyên nhân gây bệnh này chưa rõ, năm 1955 lần đầu tiên Suhovecky và Schmithner báo cáo

về việc này Từ đó bệnh được phát hiện ở hầu hết các diện tích trồng đậu tương ở Hoa Kỳ, Canada, Úc, Hungari, Nhật Bản Bệnh này xuất hiện trên đất thịt nặng kém thoát nước, nhiệt độ đạt 10 - 150C rất thuận lợi cho bệnh phát sinh Bệnh phát triển nhanh ở nhiệt độ không khí là 250C Bệnh gây thối rễ là chủ yếu, xong cũng có thể thối thân hoặc lá, cây con dễ nhiễm bệnh và chết Bệnh thán thư là bệnh phổ biến ở tất cả vùng trồng đậu tương ở Hoa Kỳ

và một số nước khác như: Argentina, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam Trướ c đây bệnh này coi là không nghiêm trọng, gần đây nó trở thành nghiêm trọng Độc canh và dùng thuốc trừ cỏ là 2 nguyên nhân dẫn đến bệnh phát triển mạnh Bệnh nặng có thể làm giảm năng suất 42 - 48% (Tachibana và cộng sự,1971), nhiệt độ 26 - 320C, độ ẩm đất >70% và PH >6,6

là điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển Nấm gây hại là Rhizoconia Solani Kuehn Ở vùng nhiệt đới ẩm ướt R.solani còn gây hại lá, quả và hạt

Bệnh thối thân (Slesotinia) lần đầu tiên phát hiện ở Hoa Kỳ vào năm

1924 nhưng không nghiêm trọng mấy trừ một số vùng Bệnh này cũng phổ biến ở Argentina, Brazil, Canada, Hungari, Nepal, Nam Mỹ và nhiều vùng trồng đậu tương khác

Bệnh virut hại đậu tương được phát hiện rất sớm, năm 1921 Gardner, Kendrick đã mô tả triệu chứng bệnh khảm lá Tới nay theo những thông báo của các nước trồng đậu tương đã có tới 15 bệnh virut gây hại phổ biến

Nhiều bệnh khá phổ biến như bệnh khảm lá, lùn cây…đều do virut gây

ra, nhiều virut hại ở các cây trồng khác cũng có khả năng ký sinh trên cây đậu tương Thiệt hại của bệnh rất lớn, ở nước ta sau bệnh gỉ sắt đậu tương do nấm gây ra, thì bệnh khảm lá là rất phổ biến trong vụ Thu và rải rác xuất hiện trong vụ Đông và vụ Xuân

Trang 27

2.4.2 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh ở Việt Nam

2.4.2.1 Tình hình nghiên cứu sâu ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực có thời tiết nóng ẩm mưa nhiều, bên cạnh

đó cùng với tập quán sản xuất đậu tương còn chưa tốt Điều đó khiến cho thành phần sâu hại trên cây đậu tương rất phong phú, đa dạng gây thiệt hại rất lớn đến người trồng trọt

Ở Việt Nam ta cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về sâu hại đậu tương của các viện, trường, các nhà khoa học và đã có những kết quả có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất

Theo kết quả điều tra cơ bản năm 1967 - 1968 của Viện Bảo vệ thực vật trên cây đậu tương có 88 loài sâu hại, thường xuyên xuất hiện 43 loại sâu hại, sâu hại chính 10 loài (chiếm 12,5%) như ròi đục thân, ròi đục lá và sâu đục quả - Eticllazin kennella

Theo Hà Minh Trung (1995) [16] có 112 loài côn trùng thu thập được trên cây đậu tương thì có 59 loài gây hại trong đó có trên 10 loại phổ biến Những loài phổ biến nhất có sâu đục thân, ròi đục lá và sâu đục quả

Kết quả nghiên cứu về sâu hại đậu tương trong các năm 1983 - 1984 của Lương Minh Khôi và cộng sự [9] trên vùng đất Hà Nội và Thanh Hóa đã thu thập được 35 loài sâu hại thuộc 6 bộ trong đó có 14 loài sâu hại chính chiếm 40% (rệp đậu, sâu xanh, sâu đục quả, bọ xít xanh, ban miêu đen, bọ phấn trắng, nhện đỏ) Một số loài phát triển nổ thành dịch, gây hại nặng nhất có sâu đục thân (mật độ 44 - 56 con /100 cây), sâu cuốn lá (mật độ 16 - 18con /100 cây) và 6 - 8 con/100 cây đối với sâu đục quả trong vụ Xuân

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thái Bình và cộng sự (1986) [2] thì sau

2 năm 1986 - 1987 phát hiện được 13 loài sâu hại chính trong đó loài sâu hại nhiều nhất là: rệp đậu, sâu cuốn lá, sâu đục thân Sâu đục quả đậu tương ở các

vùng phía Bắc Việt Nam chủ yếu là Etiella zuieaell, nó không những gây hại

Trang 28

cho cây đậu tương mà còn có trên tất cả cây họ đậu khác Mật độ thường cao trong vụ đậu tương Đông và cũng trong 2 năm đó Trung tâm giống cây trồng Việt - Xô đã nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại đậu tương và phát hiện 13 loại sâu hại đậu tương trong đó nghiêm trọng nhất là sâu cuốn lá, rệp đậu, sâu đục quả và nhiệt đỏ

Theo Nguyễn Công Thuật (1995) [13] trên cây đậu tương ở Miền Nam

có 6 loại sâu hại chủ yếu là: ruồi đục thân, sâu cuốn lá, sâu keo da láng, sâu đục quả, bọ xít xanh và rệp đậu cùng 10 loài sâu thứ yếu

Khi điều tra vụ đậu tương Xuân ở vùng Hà Nội và một số tỉnh lân cận vào năm 1996 Bùi Văn Duy và Phan Thanh Lam đã thu thập được 29 loài sâu hại trong đó bộ cánh vẩy có số lượng nhiều nhất 10 loài (chiếm 3,45%), các

bộ khác mỗi bộ chiếm 4 - 6 loài (bộ cánh cứng, bộ cánh nửa, bộ cánh thẳng,

bộ 2 cánh) Bộ cánh tơ có số lượng loài thu thập được ít nhất (1 loài) Vụ Hè - Thu 1997 thành phần sâu hại đậu tương phong phú hơn nhiều (48 loài) số lượng chiếm nhiều nhất vẫn là bộ cánh vẩy, sâu hại chủ yếu là sâu cuốn lá, sâu khoang và các loài bọ xít xanh

Theo Đặng Thi Dung (1997) [6] trên cây đậu tương vụ Hè - Thu xuất hiện 8 loại sâu chính sâu xám, ròi đục lá, sâu cuốn lá, sâu đậu xanh, sâu xanh

và các loại bọ xít thuộc họ Peltatomidae

Cũng theo Đặng Thị Dung (1999) [5] về sâu hại đậu tương trong điều kiện sinh thái vùng Hà Nội và các tỉnh phụ cận năm 1999 đã thu được 68 loài sâu hại thuộc 7 bộ, 21 họ côn trùng khác nhau Trong đó sâu hại chính có 7

loài: sâu cuốn lá đầu nâu (Lamprose indicata Falrr), sâu khoang (Spodoptera litra), sâu đục quả (Marucates tulalis), sâu xanh (Helicoverva armigera), ruồi

đục thân, ruồi đục lá đậu tương, bọ xít xanh và hại nặng nhất có 4 loại: ruồi đục thân, sâu cuốn lá, sâu xanh và các loài bọ xít xanh vai bạc

Theo Dương Tiến Việt (1988) [19], kết quả nghiên cứu thành phần sâu hại đậu tương Xuân - Hè tại vùng Mê Linh - Vĩnh Phúc thu thập được 24 loài

Trang 29

sâu hại trong đó bộ cánh đến 3 loài (chiếm 12,5%), bộ cánh vẩy có 10 loài (chiếm 41,67%), bộ cánh đều có 8 loài (chiếm 33,33%) Trong đó sâu cuốn lá đầu nâu, bọ xít xanh có số lượng nhiều nhất

Theo Trần Văn Trịnh (1999) [14], tại vùng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên năm 1999 đã thu thập được 16 loài trong đó có 6 bộ và 12 họ côn trùng khác nhau Trong đó phổ biến nhất là sâu xanh, sâu cuốn lá, rệp đậu vòi voi, bọ xít dài và sâu đục quả

Theo Dy Sam An và cộng sự (2000) [1], trên 3 cây đậu tương DT84, DT93, DT140, trong 2 vụ (vụ Xuân và vụ Hè - Thu năm 2000) cho thấy: tại

khu vực Gia Lâm - Hà Nội, 2 loài ruồi đục thân Melanargromyza sojae và Ophiomyrapha seoli đều xuất hiện rất sớm trên cây đậu tương Trong đó loài Ophiomyrapha seoli thường xuất hiện sớm hơn nhưng chỉ hoạt động đến giai đoạn đậu tương đạt 3-4 lá kép, sau thời điểm này trở đi thì trên cây đậu tương

còn duy nhất loài Melanargromyza sojae tiếp tục tồn tại và phát triển Như vậy Melanargromyza sojae là đối tượng gây hại chủ yếu trên cây đậu tương

từ khi cây có 2 lá đơn đến khi cây thu hoạch

Theo Lê Việt Dũng và cộng sự (2002) [7], về khảo sát lúc đầu đặc tính nông học, năng suất và thành phần năng suất của 92 giống cây dòng họ đậu nành nhập từ Úc vụ Xuân - Hè năm 2002 tại Cần Thơ, kết quả cho thấy xuất hiện một

số loài sâu phá hại ở tất cả các công thức, chủ yếu là sâu ăn lá tấn công ở giai đoạn trước bắt đầu ra hoa Các loài sâu chính trong quá trình thí nghiệm: sâu

xanh da láng (Spodoptera exigua) và sâu ăn tạp (Spodoptera litura): xuất hiện khoảng 15 - 25 ngày sau khi gieo, ròi đục thân (Melanargromyza phasaeali):

xuất hiện rải rác trong khoảng 12 ngày sau khi gieo đến khoảng 20 ngày nhưng chúng gây hại không đáng kể Ngoài những loa ̣i sâu hại kể trên thì các thí nghiệm còn xuất hiện một số loài khác, tuy nhiên chúng phá hại rất ít, không gây ảnh hưởng gì cho cây đậu tương và người trồng đậu tương

Trang 30

Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn (2002) [12] thì kết quả điều tra, so sánh một

số giống đậu tương Australia nhập nội trong điều kiện vụ Xuân 2001 - 2002,

vụ Hè - Thu năm 2002 cho thấy: vụ Hè - Thu 2002 mức độ sâu hại không đáng kể và không ảnh hưởng đến năng suất cây đậu tương Vụ Hè - Thu 2002: mức độ sâu,diễn biến khá phức tạp, có nhiều loại sâu phá hoại xong do phòng trừ kịp thời nên đa số các giống, dòng ở mức độ nhẹ hơn

2.4.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh hại đậu tương ở Việt Nam

Theo kết quả nghiên cứu của Viện cây công nghiệp - cây ăn quả (1986)

[8] cho thấy: trong quá trình sinh trưởng của cây đậu tương bệnh có thể gây

hại ngay ở thời kỳ 3 lá kép, phổ biến nhất là giai đoạn chớm nở hoa trở đi

Bệnh gỉ sắt gây hại vụ đậu tương Xuân và Đông là chủ yếu, trong các vụ Xuân và Hè là không đáng kể

Nhiệt độ thích hợp nhất để nấm xâm nhiễm và gây hại từ 18 - 220C, trong điều kiện ẩm độ lớn việc hình thành các hạt bụi trên nước và tán lá cây Trong vụ Xuân gieo sớm trước 20/2 bệnh xâm nhiễm càng muộn bệnh càng nhẹ(từ 25/2 trở đi)

Trồng cây đậu tương liên tục, không luân canh không xen canh bệnh dễ

và bệnh đốm nâu Trong đó, bệnh gỉ sắt phá hoại mạnh nhất trên cây đậu tương Châu Á cũng như ở Việt Nam Bệnh này đã phát sinh mạnh trong

Trang 31

những năm 80 gây thiệt hại đến năng suất, thậm chí có nơi có vụ bệnh hại nặng không cho thu hoạch, ví dụ như: vụ Xuân năm 1982 tại Hợp tác xã Phú Thọ - Hà Nội

Theo Nguyễn Thị Mão và cộng sự (2004) [11] trong vụ Xuân 2002, trên cây đậu tương ở Thái Nguyên có các bệnh hại chính sau: bệnh lở cổ rễ, bệnh sương mai và bệnh gỉ sắt Cây đậu tương ở các công thức dùng phân vô cơ NPK bị bệnh sương mai nhiều hơn so với không dùng Ngược lại với những công thức chỉ dùng phân canh tác tự nhiên mà không dùng phân NPK thì bệnh

gỉ sắt bị nặng hơn so với không dùng phân vô cơ NPK

- Theo Vũ Khắc Nhượng trong các vụ đậu tương gieo trồng ở nước ta thì

vụ Xuân đậu tương bị bệnh gỉ sắt rất nặng Theo đánh giá chung bệnh gỉ sắt gây cho tổn thất cho cây đậu tương Xuân 30 - 40% năng suất, có nơi bị mất trắng cục bộ, nếu không có các biện pháp phòng trừ thích hợp

- Theo Trịnh Đình Vũ (2007) [20] kết quả nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trên một số giống đậu tương vụ Thu - Đông năm 2007 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, có 6 loài sâu trong đó: sâu cuốn lá, ruồi đục thân và sâu đục quả xuất hiện phổ biến Về bệnh có 4 bệnh chính trong đó: bệnh gỉ sắt xuất hiện phổ biến nhất

Trang 32

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng

Thí nghiệm được tiến hành trên giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc từ tổ hợp lai giữa LS17 x DT2001

3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm tiến hành thí nghiệm tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Thu - Đông (từ tháng 8 năm 2016

3.3 Phương pháp theo dõi

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Áp dụng tiêu chuẩn ngành giống đậu tương về quy hạm khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng (10TCN 339 : 2006)

Bố trí thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thí nghiệm gồm 3 mức độ phân đạm khác nhau và 3 lần nhắc lại, được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

- Thời vụ trồng: 1/8/2016

Trang 33

CT2-III CT3-III CT1-III

Dải bảo vệ

3.3.2 Quy trình kỹ thuật

- Làm đất: đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại, chia khối thành các ô thí nghiêm và rạch hàng

- Gieo hạt ở độ sâu 3 - 5 cm và đảm bảo đủ ẩm

- Lượng phân bón: tùy theo từng công thức thí nghiệm

- Phương pháp bón:

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Dy Sam An, Khất Đăng Long (2002), “Mối quan hệ giữa giai đoạn sinh trưởng của các giống đậu tương và biến động số lượng 2 loài ruồi đục thân Melanagromyza và Ophiomyia phaseoli tại khu vực Gia Lâm Hà Nội”, Tạp chí BVTV (số 5), trang 4 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa giai đoạn sinh trưởng của các giống đậu tương và biến động số lượng 2 loài ruồi đục thân "Melanagromyza và Ophiomyia phaseoli" tại khu vực Gia Lâm Hà Nội”, "Tạp chí BVTV
Tác giả: Dy Sam An, Khất Đăng Long
Năm: 2002
2.Nguyễn Thái Bình và cộng sự (1986), Vụ đậu tương Đông tại Trung tâm giống cây trồng Viê ̣t - Xô (1986 - 1987l), Kết qua ̉ nghiên cứu khoa ho ̣c - ĐHNL.3. Cục trồng trọt (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vụ đậu tương Đông tại Trung tâm giống cây trồng Viê ̣t - Xô
Tác giả: Nguyễn Thái Bình và cộng sự
Năm: 1986
5. Đặng Thị Dung (1999), Côn trùng ký sinh và mỗi quan hê ̣ của chúng với sâu hại chính trên cây đậu tương , Kết quả nghiên cứu khoa học - ĐHNN I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng ký sinh và mỗi quan hê ̣ của chúng với sâu hại chính trên cây đậu tương
Tác giả: Đặng Thị Dung
Năm: 1999
6. ĐặngThị Dung (1997), Côn trùng ký sinh và mỗi quan hê ̣ của chúng với sâu hại chính trên cây đậu tương năm 1996 ở vùng Hà Nội và các vùng phụ cận, sâu hại chính trên cây đậu tương , Kết qua ̉ nghiên cứu khoa học- ĐHNN I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng ký sinh và mỗi quan hê ̣ của chúng với sâu hại chính trên cây đậu tương năm 1996 ở vùng Hà Nội và các vùng phụ cận, sâu hại chính trên cây đậu tương
Tác giả: ĐặngThị Dung
Năm: 1997
10.Vũ Triệu Mân , Lê Lương Tề (2001), Giáo trình bệnh cây nông nghiệp , Nxb NNHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh cây nông nghiệp
Tác giả: Vũ Triệu Mân , Lê Lương Tề
Nhà XB: Nxb NNHN
Năm: 2001
11. Nguyễn Thi ̣ Mão, Bùi Lan Anh (2001), “ Ảnh hưởng của phân bón đối với sing trưởng, phát triển và mức độ nhiễm sâu , bê ̣nh ha ̣i chính trên cây đâ ̣u tương”, Tạp chí bảo vệ thực vật 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phân bón đối với sing trưởng, phát triển và mức độ nhiễm sâu , bê ̣nh ha ̣i chính trên cây đâ ̣u tương”
Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Mão, Bùi Lan Anh
Năm: 2001
12. Đoa ̀n Thi ̣ Thanh Nhàn (2002), Kết quả so sánh một số dò ng giống đậu tương Austraylia nhập nội trong điều kiê ̣n vụ Xuân năm 2001 - 2002, vụ Hè -Thu 2002, Trươ ̀ ng ĐHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả so sánh một số dò ng giống đậu tương Austraylia nhập nội trong điều kiê ̣n vụ Xuân năm 2001 - 2002, vụ Hè -Thu 2002
Tác giả: Đoa ̀n Thi ̣ Thanh Nhàn
Năm: 2002
13. Nguyễn Công Thuâ ̣t (1995), Điều tra, nghiên cứu sâu, bê ̣nh hại cây trồng, nghiên cứu và ứng dụng , Nxb NNHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, nghiên cứu sâu, bê ̣nh hại cây trồng, nghiên cứu và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Công Thuâ ̣t
Nhà XB: Nxb NNHN
Năm: 1995
14. Trần Văn Tri ̣nh (1999), “Điều tra, nghiên cứu sâu, bê ̣nh ha ̣i và thiên địch của chúng trên đậu tương vụ Xuân 1999 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”, Luâ ̣n văn tốt nghiê ̣p ĐHNL Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, nghiên cứu sâu, bê ̣nh ha ̣i và thiên địch của chúng trên đậu tương vụ Xuân 1999 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tác giả: Trần Văn Tri ̣nh
Năm: 1999
15. Vũ Quang Trung (2002) “Điều tra tha ̀ nh phần diễn biến của các loài sâu bê ̣nh và thử nghiê ̣m mô ̣t số loa ̣i thuốc hóa ho ̣c phóng trừ chúng trong vụ đậu tương Xuân năm 2002 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”, Luâ ̣n văn tốt nghiê ̣p ĐHNL Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thà nh phần diễn biến của các loài sâu bê ̣nh và thử nghiê ̣m mô ̣t số loa ̣i thuốc hóa ho ̣c phóng trừ chúng trong vụ đậu tương Xuân năm 2002 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
19. Dương Tiến Viê ̣t (1998) “Điều tra thành phần sâu ha ̣i đâ ̣u tương và nghiên cứu đă ̣c điểm sinh ho ̣c , sinh thái của mô ̣t số loài sâu cuốn lá đâ ̣u tương tại vùng Mê Linh - Vĩnh Phúc - Hè 1998”, Kết quả nghiên cứu khoa học - ĐHNL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thành phần sâu ha ̣i đâ ̣u tương và nghiên cứu đă ̣c điểm sinh ho ̣c , sinh thái của mô ̣t số loài sâu cuốn lá đâ ̣u tương tại vùng Mê Linh - Vĩnh Phúc - Hè 1998
7. Lê Viê ̣t Dũng và cô ̣ng sự (2002), Bước đầu khảo sát các đặc tính sinh học , năng suất và thành phần năng suất của 92 giống dòng đậu nành nhập từ Úc vụ Xuân - Hè năm 2002 tại Cần Thơ Khác
8. Kết qua ̉ nghiên cứu cây công nghiê ̣p - cây ăn quả 1980-1984, Viê ̣n nghiên cứu cây ăn quả, Bô ̣ Nông Nghiê ̣p, Nxb NNHN, Hà Nội 1986 Khác
9. Lương Minh Khôi va ̀ cô ̣ng sự (1983 - 1984) “Trên vùng đất Hà Nô ̣i và Thanh Hóa đã thu thâ ̣p được 35 loài sâu thuô ̣c 6 bô ̣ trong đó có 14 loài sâu ha ̣i chính chiếm 40% (rê ̣p đâ ̣u, sâu xanh,sâu đu ̣c quả , bọ xít xanh Khác
16. Hà Minh Trung (1995), Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh cây trồng - Nghiên cứu ứng du ̣ng, Nxb NNHN, Hà Nội Khác
20. Trịnh Đình Vũ (2007), Kết qua ̉ nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trên mô ̣t số cây đâ ̣u tương vu ̣ Thu - Đông năm 2007 tại Trường Đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên, Luâ ̣n văn tốt nghiê ̣p ĐHNL Thái Nuyên.II. Tài liệu tiếng Anh 21. FAO STAT năm 2017 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w