1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến khả năng nhân giống cam sành không hạt lđ6 tại xuân mai chương mỹ hà nội

72 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu mầm ghép cây cam sành không hạt LĐ6 .... Ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến tỷ lệ cây ghép sống sau ghép của cam sành không h

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠI XUÂN MAI – CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠI XUÂN MAI - CHƯƠNG MỸ - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

TS NGUYỄN MINH TUẤN

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự

hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường Đại học đến nay em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè.Với lòng biết ơn sâu sắc nhất em xin được gửi đến quý thầy cô ở Khoa Nông học – Trường Đại học Nông Lâm đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tâp Và đặc biệt trong học kỳ vừa qua Khoa đã tổ chức cho em cùng với các bạn làm đề tài để chuẩn bị

ra trường Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Đào Thanh Vân cùng thầy giáo TS Nguyễn Minh Tuấn đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua từng buổi

học trên lớp cũng như những buổi nói chuyện, thảo luận về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì

em nghĩ bài thu hoạch này của em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa,

em xin chân thành cảm ơn thầy Bài thu hoạch được thực hiện trong khoảng thời gian gần 3 tuần Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy cô trong khoa Nông học và thầy Hiệu trưởng thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Trân trọng !

Thái Nguyên ngày 18 tháng 02 năm 2017

Sinh viên Hoàng Thị Hồng Nhung

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 11

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới 18

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam 19

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2014 20

Bảng 4.1 Tỷ lệ bật mầm của cam sành không hạt LĐ6 36

Bảng 4.2 Tỷ lệ cây ghép sống của cam sành không hạt LĐ6 37

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến chiều cao mầm ghép cây cam sành không hạt LĐ6 38

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến số lá/mầm ghép cây cam sành không hạt LĐ6 41

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu mầm ghép cây cam sành không hạt LĐ6 43

Bảng 4.6 Tỷ lệ xuất vườn của cam sành không hạt LĐ6 45

Bảng 4.7 Mức độ sâu bệnh hại trên cam sành không hạt LĐ6 47

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn 4

2.2 Nguồn gốc và phân loại cam quýt 8

2.2.1 Nguồn gốc 8

2.2.2 Phân loại 10

2.3 Đặc điểm thực vật học cam quýt 11

2.3.1 Rễ 11

2.3.2 Thân, cành, lá 12

2.3.3 Hoa, quả, hạt 13

2.4 Yêu cầu ngoại cảnh của cam quýt 13

2.4.1 Nhiệt độ 13

2.4.2 Ánh sáng 14

2.4.3 Nước 15

2.4.4 Đất và dinh dưỡng 15

2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt 17

2.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 17

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam 18

2.6 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 21

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

2.6.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 23

2.7 Một số thành tựu chọn tạo, nhân giống cây 25

2.7.1 Trên thế giới 25

Trang 7

2.7.2 Ở Việt Nam 27

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30

3.2 Nội dung nghiên cứu 30

3.3 Phương pháp nghiên cứu 31

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32

3.5 Xử lý số liệu 33

3.6 Kỹ thuật tiến hành 33

3.6.1 Chọn cây, chọn cành để lấy mắt ghép 33

3.6.2 Kỹ thuật ghép 34

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến tỷ lệ bật mầm và thời gian từ ghép đến bật mầm của cam sành không hạt LĐ6 35

4.2 Ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến tỷ lệ cây ghép sống sau ghép của cam sành không hạt LĐ6 37

4.3 Ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến chiều cao mầm ghép cây cam sành không hạt LĐ6 38

4.4 Ảnh hưởng của kiểu ghép và gốc ghép đến số lá/mầm ghép cam sành không hạt LĐ6 41

4.5 Ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu mầm ghép cây cam sành không hạt LĐ6 42

4.6 Ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ xuất vườn cây cam sành không hạt LĐ6 45

4.7 Ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến mức độ sâu bệnh hại trên cam sành không hạt LĐ6 46

Trang 8

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

5.1 Kết luận: 48

5.2 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Khí hậu Việt Nam là khí hậu nóng ẩm nhiệt đới rất thuận lợi cho các loại cây trồng khác nhau sinh trưởng và phát triển Trong nhiều loại cây trồng khác nhau ấy thì cây có múi là một chủng loại cây ăn trái chiếm vị thế quan trọng Thật vậy, ngoài vai trò cung cấp một lượng vitamin dồi dào cho sức khỏe con người, cây có múi còn là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao và làm tăng ngoại tệ đáng kể nhờ xuất khẩu

Cây ăn quả có múi (Citrus) là loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và

kinh tế cao Các nước sản xuất cam chính niên vụ 2009/2010 trên thế giới là Brazil tăng lên 17,750 triệu tấn so với niên vụ 2007/2008 là 16,850 triệu tấn,

ở Mỹ niên vụ 2009/20010 đạt 7,444 triệu tấn thấp hơn so với niên vụ 2007/2008 là 9,141 triệu tấn, còn ở Trung Quốc niên vụ 2009/2010 đạt 6,350 triệu tấn cao hơn so với niên vụ 2007/2008 là 5,450 tiếp theo là Ai cập, Mexico, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ (FAO, 2009/2010) [35] Còn đối với mức tiêu thụ quả tươi trung bình hàng năm ở một số nước như Trung Quốc là ít hơn 1 kg/người/năm, trong khi đó ở Nhật Bản lên đến 18 kg/người/năm, tại Mỹ và Đức đạt 45 kg/người/năm so với mức trung bình trên thế giới khoảng 7kg/người/năm (FAO, 2010) [35]

Việt Nam là một trong những nước bản địa của vùng phát sinh cây có múi, và đến nay cây có múi giữ vị trí quan trọng trong nghành sản xuất trái cây Cùng với sự phân hoá của độ cao địa hình tạo nên những tiểu vùng sinh thái đa dạng, có thể phát triển được nhiều giống cây ăn quả có múi đặc sản Diện tích trồng cây ăn quả có múi ở nước ta năm 2008 tăng mạnh, lên tới 87.500 ha, diện tích cho sản phẩm 64.000 ha, năng suất cây ăn quả có múi đạt 117,3 tạ/ha và sản lượng quả đạt 683.300 tấn Tuy nhiên những năm gần đây,

Trang 10

dịch bệnh vàng lá greening cùng nhiều loại bệnh truyền nhiễm khác đã lây lan

mạnh làm suy yếu cây, từ đó làm giảm năng suất và phẩm chất quả

Để có giống tốt cung cấp cho các nhà vườn, công tác giống có vai trò

rất quan trọng trong việc cung cấp giống cho các nhà vườn Để có được giống

sạch virus cũng như sạch các bệnh khác, thỏa mãn yêu cầu cấp thiết về chất

lượng thì việc ghép cây nhân giống là điều cần thực hiện trong sản xuất cây

có múi hiện nay

Giống cam sành không hạt LĐ6, được Viện Cây ăn quả miền Nam chọn

tạo nhằm mục đích làm giảm số lượng hạt/quả, gia tăng giá trị quả cam sành

trên thị trường đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và

ngoài nước

Tính trạng không hạt có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất quả chất

lượng cao ở cam, quýt, bưởi, chanh Tính trạng có hạt và nhiều hạt làm giảm giá

trị thương mại của công nghiệp chế biến quả có múi

Nhận thấy được tầm quan trọng cũng như nhu cầu của thực tế nên tôi thực hiện đề tài :Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến khả

năng nhân giống cam sành không hạt LĐ6 tại Xuân Mai - Chương Mỹ -

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ nảy mầm

và thời gian từ ghép đến bật mầm của cam sành không hạt LĐ6

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ sống của

cam sành không hạt LĐ6

Trang 11

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến chiều cao mầm ghép của cam sành không hạt LĐ6

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến số lá/mầm ghép của cam sành không hạt LĐ6

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu mầm ghép của cam sành không hạt LĐ6

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ xuất vườn của cam sành không hạt LĐ6

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và kiểu ghép đến mức độ sâu bệnh hại trên cam sành không hạt LĐ6

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn

Mô của thân cây hay cây cùng loài gần nhau có thể tiếp hợp với nhau

nhờ sự hoạt động của tượng tầng Ghép là sự kết hợp của cơ quan dinh dưỡng của cùng một cây hay là các phần thân của giống cam sành không hạt LĐ6 (cành ghép) lên thân (gốc cây khác: chấp, bưởi ) Sau này ở cây ghép mới, phần trên mặt đất phát triển từ cành ghép, còn bộ rẽ từ gốc ghép Cây con có thể gồm ba phần: cành ghép, đoạn nối và gốc ghép (Vũ Công Hậu, 1990; Vũ Công Hậu, 2000) [9], [10]

Sau khi áp sát phần tượng tầng của gốc ghép và cành ghép với nhau, trước tiên những tế bào bị thương tổn của hai mặt cắt hình thành lớp ngăn cách màu nâu, sau đó các tế bào nhu mô dưới lớp ngăn cách ấy phân chia rất nhanh, hình thành mô liên hợp giữa cành ghép và gốc ghép, đồng thời lớp ngăn cách dần dần biến mất, các tế bào mới sinh sản của cành ghép và gốc ghép liên hệ với nhau, do đó chất dinh dưỡng của cành ghép chịu ảnh hưởng của tế bào bên cạnh của gốc ghép mà phân hóa thành mô tương tự (Vũ Công Hậu, 2000; Hoàng Ngọc Thuận, 2001) [10], [22]

Những tế bào mới sinh của cành ghép tương ứng với mạch dẫn cứ như thế sẽ làm cho các loại ô tế bào của cành ghép và gốc ghép có mối liên hệ tương ứng và hình thành của một thể cộng sinh mới, cành ghép và gốc ghép

có kết hợp chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối liên hệ dẫn truyền của chúng quyết định Cành ghép và gốc ghép hình thành lớp tiếp hợp càng chặt chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự tiếp hợp càng được củng cố, sự trao đổi giữa chất dinh dưỡng vô cơ của gốc ghép và chất dinh dưỡng hữu cơ của cành ghép càng dễ dàng; hay nói cách khác: khi nhân giống bằng phương pháp ghép người ta cũng lấy được một cành của cây mẹ, nối cành ghép vào cây khác gọi là gốc ghép và cắt bỏ hết những cành lá bên trên của gốc ghép để

Trang 13

cho bộ phận rễ của gốc ghép chỉ còn chức năng nuôi sống cành ghép (Phạm Văn Côn, 1997; Vũ Công Hậu, 1990) [1], [9]

Sở dĩ cành ghép có thể nối và sống được trên gốc ghép là vì cả cành và gốc ghép đều có mô phân sinh đó là những tế bào non, khi bóc vỏ một phần dính vào với vỏ một phần còn lại phủ trên trục gốc trắng dưới vỏ Khi ghép bằng cành hoặc ghép bằng mắt một phần của mô phân sinh của cành ghép tiếp xúc với một phần của mô phân sinh của gốc ghép và tạo nên một loại mô mới gọi là mô tiếp hợp nhờ đó mà việc trao đổi nhựa giữa cành ghép và gốc ghép diễn ra liên tục và tạo nên một cây ghép hoàn chỉnh (Vũ Công Hậu, 1990; Hoàng Ngọc Thuận, Trần Thế Tục, 1993) [9], [19]

Trong lịch sử nghề làm vườn, hàng loạt giống đã được trồng bằng phương pháp ghép: vải, nhãn, mơ, cam ở nước ta từ những năm 60 của thế

kỷ trước ở các Nông trường Quốc doanh (Vũ Mạnh Hải, 1995; Vũ Công Hậu, 2000) [8], [10]

Nghề trồng cam ở Brazil và một số nước Nam Mỹ một thời điêu đứng

về sự tàn phá có tính hủy diệt của bệnh Tristera, nhờ công trình nghiên cứu về gốc ghép chống bệnh và chọn được các tổ hợp ghép, gốc ghép sạch bệnh Virus đã phục hồi lại nghề trồng cam ở Brazil

Cơ sở khoa học của phương pháp ghép

Ghép là phương pháp nhân giống theo đó người ta lấy từ một hoặc nhiều cây mẹ, giống tốt, đang sinh trưởng, những phần như đoạn cành, khúc rễ, mầm ngủ… rồi nhanh chóng và khéo léo lắp đặt vào vị trí thích hợp trên cây khác gọi là cây gốc ghép; sau đó chăm sóc để phần ghép và gốc ghép liền lại nhau, tạo ra một cây mới Trong đó, cây gốc ghép thông qua bộ rễ có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có chức năng sinh trưởng và tạo ra sản phẩm Có các phương pháp ghép cơ bản như sau: ghép cành, ghép mắt, ghép đỉnh sinh trưởng, ghép rễ… (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Trang 14

Sự phát triển của khoa học hóa nông nghiệp, công nghệ chất dẻo, sự phát triển công nghệ sinh học, sinh lý thực vật và di truyền học thực vật đã ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kĩ thuật ghép cây Hiện nay có thể ghép trong ống nghiệm (vi ghép) để tạo nên cây sạch bệnh Kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng (Microshoot tip grafting) được Murashige áp dụng lần đầu tiên vào năm 1972 sau đó được cải tiến hoàn chỉnh hơn bởi Navarro 1975,

1976, 1980, 1981 và Hong Ji Su 1984 Kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng bao gồm các giai đoạn: chuẩn bị gốc ghép, chuẩn bị đỉnh sinh trưởng, vi ghép nuôi cây trong ống nghiệm và sau đó đem trồng ra chậu

Khi ghép, bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và mắt ghép liền với nhau Sau đó các mô mềm ở chỗ tiếp xúc giữa phần ghép và gốc ghép do tượng tầng sinh ra phân hóa thành các hệ thống mạch dẫn (bó libe và bó mạch gỗ) do đó nhựa nguyên và nhựa luyện lưu thông, cây ghép phát triển bình thường (Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Long Định, 1999; Nguyễn Văn Võ, 2015) [26], [27]

Để ghép thành công, các cây gốc ghép và phân ghép phải có quan hệ họ hàng gần gũi và trong khi ghép bắt buộc tường tầng của gốc ghép và phần ghép phải tiếp xúc với nhau, nghĩa là các tế bào tượng tầng phải xen kẽ vào nhau Như vậy, cấu tạo của các lớp tế bào phải tương đồng, sự hoạt động phải đồng pha với nhau Ngoài kĩ thuật ghép, điều kiện môi trường, sức sinh trưởng và hình thái của cây cũng là những yếu tố quyết định đến khả năng ghép sống (Wakara, 1998) [32]

Giữa gốc ghép và cành ghép có sức hợp sinh học do có quan hệ ảnh hưởng qua lại với nhau và do đó cũng có hiện tượng bất hòa hợp giữa gốc ghép và phần ghép Sức hợp sinh học có thể xảy ra không chỉ trong cùng loài, hay trong cùng một giống mà cũng có thể đạt được khi ghép các cây khác nhau cả về bộ và họ thực vật

Trang 15

Phần ghép và gốc ghép có kết hợp chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp

và mối quan hệ dẫn truyền của chúng quyết định Cây ghép sinh trưởng tốt là nhờ gốc ghép cung cấp nước, muối khoáng và dinh dưỡng vi lượng khác cho các quá trình trao đổi chất trong cây Phần ghép được duy trì trên mặt đất tạo nên khung tán và bộ lá đóng vai trò chủ yếu trong quá trình quang hợp tạo nên dòng nhựa luyện nuôi cây

Lợi dụng tính cộng sinh này, để tạo nên một cây ghép khỏe thì việc chọn lựa tổ hợp gốc ghép - phần ghép là hết sức quan trọng Việc chọn được tổ hợp ghép tốt sẽ cho những tác dụng cộng hưởng, việc chọn được tổ hợp ghép không phù hợp sẽ có tác dụng ngược lại (Hoàng Ngọc Thuận, 2001) [22]

Có nhiều cây dùng làm gốc ghép cho cây có múi Ở miền Nam dùng cam Mật,

ở miền Bắc dùng bưởi, gần đây dùng quýt và một số gốc ghép mới Quan hệ qua lại giữa gốc ghép và phần ghép là sâu sắc và toàn diện trong mọi quá trình sinh lý của cây nhưng không thay đổi tính di truyền của nhau Về mặt di truyền, phần ghép sao chép đầy đủ đặc tính di truyền của cây mẹ cần nhân giống Mặc dù sự tác động qua lại giữa gốc ghép và phần ghép sẽ làm cho phần ghép chịu ảnh hưởng ít nhiều của gốc ghép như: tuổi thọ, quá trình phân hóa hoa sớm hay muộn, sinh trưởng mạnh hay yếu, tính chịu hạn, chịu úng, chịu mặn, năng suất và phẩm chất, không di truyền lại cho thế hệ sau… gốc ghép càng khỏe, càng thích ứng với điều kiện sinh thái địa phương và tiếp hợp tốt với cành hoặc mắt ghép sẽ cho

cá thể ghép có tuổi thọ và sản lượng cao Đôi khi ta gặp trường hợp sau ghép, nhất là ở vùng lạnh với kiểu ghép mắt, cây ghép thay đổi nhiều về hình thái bên ngoài như lá, hình dạng và chất lượng quả Hiện tượng này được giải thích do quá trình đột biến tự nhiên của mắt ghép dưới tác động của các yếu tố bên ngoài, hoàn toàn không phải do tác động tương hỗ giữa gốc ghép và phần ghép tạo nên (Trần Thế Tục, 1998) [24]

Trang 16

2.2 Nguồn gốc và phân loại cam quýt

2.2.1 Nguồn gốc

Cam quýt có lịch sử trồng trọt từ lâu đời sau cây nho trong các loài cây ăn quả Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya, Trung Quốc, vùng quần đảo Philipine, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo dài đến lục địa Úc Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn có nhiều loài cam quýt hoang dại (Davies, 1986) [28]

Trước đây có vài bài báo cáo cho rằng loài chanh Yên (Citrus medica L.), phật thủ (Citrus medica Var.), có thể có nguồn gốc ở Địa Trung Hải hoặc Bắc Phi Nhưng hiện nay minh chứng được sáng tỏ, Citrs medica có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc (Shozo Kobayashi et.al., 1979) [31]

Cam ngọt (Citrus sisnensis Osbeck ), được xác định có nguồn gốc ở miền

Nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonesia, sau đó cũng giống như các loài

Citrus media được mang đến trồng ở châu Âu và Địa Trung Hải, châu Phi vào cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 (Nagai, Tanigawa 1928) [29] Giống cam nổi tiếng thế giới “Washington Navel”, ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là đang đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1928, ở Frorida (Mỹ) năm 1983, ở California

năm 1970 và nó rất nổi tiếng ở Washington (Pinhos Spiegel - Roy et.al., 1998 )

[30]

Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo có nguồn gốc ở Malaysia,

Ấn Độ Một thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở Caribe, sau đó giống bưởi này được giới thiệu ở Palestin vào năm

900 sau công nguyên và ở châu Âu sau thời gian đó (Wakana, 1998) [32] Bưởi

chùm (Citrus paradisis) được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên

ở bưởi, nó xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền Tây Ấn Độ và được trồng

Trang 17

lần đầu tiên ở Florida Mỹ năm 1809 và trở thành một trong những loại quả chất lượng cao ở châu Mỹ

Tóm lại, cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quý đến thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các thuyền buôn,

di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

Tính trạng không hạt có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất quả chất lượng cao ở cam, quýt, bưởi, chanh Tính trạng có hạt và nhiều hạt làm giảm giá trị thương mại của công nghiệp chế biến quả có múi

Giống cam sành không hạt LĐ6 có nguồn gốc từ xử lý chiếu xạ tia gamma trên mầm ngủ của giống cam sành thương phẩm Giống này đã được

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ từ tháng 12 năm 2010 Hiện giống cam sành không hạt đang được Viện Cây ăn quả miền Nam nhân giống đưa vào sản xuất

Cây cam sành không hạt LĐ6 sinh trưởng khá mạnh, cành, lá có hình dạng và màu sắc rất giống cam sành thương phẩm, hoa có tỉ lệ hạt phấn bất dục cao > 70% Cây có khả năng ra hoa mạnh và cho hoa sớm (một năm sau khi trồng ở cây ghép, gốc ghép Volka), hoa có khả năng tạo quả tự nhiên Thời gian từ khi trồng đến khi thu quả đầu tiên 15 - 18 tháng, thời gian ra hoa chính vụ từ tháng 03 - 05 và thời gian thu hoạch quả từ tháng 11 - 02 dương lịch

Quả có trọng lượng trung bình 230 - 240 g, vỏ quả màu xanh sáng, khá bóng, ít sần hơn giống cam sành thương phẩm Thịt quả có màu cam đậm, vị ngọt chua nhẹ, độ Brix trung bình 8%, nước quả nhiều (40 – 42%), số hạt/quả < 2

Trang 18

Cây có khả năng cho quả 15 - 18 tháng sau khi trồng, năng suất có thể đạt 5 kg/cây/năm ở cây 3 năm tuổi và 20 - 25 kg/cây/năm ở cây 5 năm tuổi (Trần Thế Tục, 1980) [23]

Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều giống

(Cultivars ) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids), hiện

tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa phôi cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt Hiện nay tồn tại hai hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng, theo Tanaka (Nhật Bản) (Phạm Văn Côn, 1997) [2]

Cam quýt gồm 100 đến 160 loài (Specias) khác nhau, Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống (Cultivars) cam quýt quả trong quá trình trồng trọt

đã biến dị trở thành giống mới Ông quan sát ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị này và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới có tên khoa học với tên khoa học được bắt đầu bằng tên giống hoặc loài đã sinh ra chúng

và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka, Swingle đã phân chia cam quýt ra

thành 16 loài tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng giống Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm

True Citrus group và nhóm con lai được liệt kê ở bảng biểu sau và một số

Trang 19

nhóm con lai phổ biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, có thể được mô tả như sau (Vũ Công Hậu, 2000; Đường Hồng Dật, 2003) [10], [5]

Bảng 2.1 Các loài cam quýt thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

1 C.sisnensis Osbereck Sweets Orange Cam ngọt

Nguồn: Phạm Văn Côn (1997) [2]

2.3 Đặc điểm thực vật học cam quýt

2.3.1 Rễ

Nhìn chung cam quýt có bộ rễ ăn nông Theo Ekimop (Nga) thì biểu bì của rễ non có nấm cộng sinh Nấm có tác dụng tốt cho rễ cam quýt như vai trò của lông hút với các cây trồng khác Sự phân bố của rễ cam quýt phụ thuộc vào đặc tính của giống, mực nước ngầm, chế độ canh tác, chăm bón nhưng nhìn chung rễ cam quýt

ăn nông từ 0 - 30 cm Bộ rễ cam quýt hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ:

Trước khi ra cành Xuân (từ tháng 2 đến tháng 3)

Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc cành Hè xuất hiện (từ tháng 6 đến tháng 8)

Sau khi cành mùa Thu đã sung sức (khoảng tháng 10) (Trần Như Ý và cs,

Trang 20

- Một năm cam quýt ra nhiều đợt cành

+ Cành Xuân: ra vào tháng 2, 3, 4 là cành mang hoa và quả, cành thường ngắn, mật độ lá dầy thích hợp để lấy mắt ghép, ghép vào vụ Thu

+ Cành Thu: ra vào tháng 8, 9 phát sinh ra chủ yếu từ cành Xuân và cành

Hè cùng năm

+ Cành Đông: ra vào tháng 11, 12 thường sinh ra trên cành quả vô hiệu, là cành yếu nhất trên các loại cành

- Cành cam quýt được phân chia làm 3 loại:

+ Cành mẹ: là cành sinh ra cành quả Nó có thể là cành Xuân, Hè, Thu năm trước Qua theo dõi cho thấy tùy theo giống, thường cành thu hoặc cành hè làm cành mẹ thì số cành quả nhiều và tỉ lệ đậu quả cao

+ Cành dinh dưỡng: cành không ra hoa, quả, chỉ có lá xanh, có nhiệm vụ quang hợp, thực ra giữa cành mẹ và cành dinh dưỡng không có giới hạn rõ, năm nay là cành dinh dưỡng, sang năm có thể là cành mẹ Thuộc loại cành dinh dưỡng

có một loại cành đặc biệt thường mọc vào mùa hè đó là “cành vượt” Cành này mọc từ trong thân chính đâm thẳng ra, dài 30 cm đến 1,5 m, có gai dài và to, đốt lá dài, lá to màu xanh nhạt Khi còn nhỏ có thể lợi dụng loại cành này để tạo tán hoặc khi cây già yếu cần phục tráng cho cây Còn đối với cam kinh doanh thì cắt bỏ tránh cho cây khỏi rụng quả và bớt sâu bệnh

+ Cành quả: tùy giống cam quýt mà cành quả có độ dài từ 3 - 25 cm, thông thường từ 3 - 9 cm Cành quả có lá thường đậu quả tốt hơn cành quả không có lá

Cành quả phần lớn ra trong mùa xuân (Trần Như Ý và cs, 2000) [16]

Trang 21

* Lá: theo quan điểm tiến hóa thì cam quýt vốn có lá kép Dấu vết còn lại là

eo lá dưới gốc lá đơn Eo lá là đặc điển để phân biệt các giống Tuổi thọ của lá thay đổi tùy điều kiện khí hậu và điều kiện dinh dưỡng của cây Ở Việt Nam trung bình tuổi thọ của lá là từ 15 - 24 tháng, ở vùng Á nhiệt đới có thể kéo dài hơn Những lá hết thời kỳ sinh trưởng sẽ rụng rải rác trong năm, ở nước ta rụng nhiều vào mùa Đông Tùy theo giống và mùa lá thể khác nhau về hình dạng, độ lớn, màu sắc Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lượng, nhất là với khối lượng quả Theo nghiên cứu trên cam Washington Navel (Mỹ) thấy: nếu có 10 lá/quả thì quả nặng

70 g, nếu có 35 lá/quả thì quả nặng 120 g, nếu có 50 lá/quả thì quả nặng 180 g

(Trần Như Ý và cs, 2000) [16]

2.3.3 Hoa, quả, hạt

* Hoa cam quýt có công thức là K5C5A(20-40)G(8-15) Là loại hoa đầy đủ, hoa thường ra đồng thời với cành non và thường ra rộ Một cây cam có thể nở tới 60.000 hoa nhưng chỉ còn 1% đậu quả là có thể đạt sản lượng 100 kg/cây Vì vậy hoa quả thường rụng nhiều, có giống yêu cầu thụ phấn nhưng có giống không thu phấn cũng đậu quả như cam Navel Thông thường tỷ lệ đậu quả của cam quýt là 3

- 11% (Bùi Đình Đáp, 1960) [7]

* Quả : thuộc loại quả mọng khi còn xanh chứa nhiều axit đến khi chín thì lượng axit giảm, hàm lượng đường và chất tan tăng lên Cấu tạo quả gồm 2 phần: vỏ quả và vỏ giữa

- Phần vỏ quả: gồm lớp biểu bì trên là biểu bì của tử phòng do các tế bào có chất sừng dày hình thành xen kẽ các khí khổng

Trang 22

chịu lạnh tốt như cam mật Ôn Châu, Washington Navel dưới - 11 - 12oC cây mới chết, do đó các giống này có thể trồng được ở vĩ độ cao, hoặc dùng giống

kháng lạnh như Poncirus trifoliata để làm gốc ghép (Trần Thế Tục, 1998) [24]

Tổng tích ôn trung bình hàng năm cần cho cam là 2.600 - 3.400oC, cho bưởi là 6.000oC Tổng tích ôn có ảnh hưởng đến thời gian chín của quả Ở nhiệt đới lượng tổng tích ôn cần thiết cho cam quýt đạt sớm hơn nhiều nên thời gian ra hoa đến quả chín ngắn hơn vùng á nhiệt đới

Nhiệt độ còn ảnh hưởng quan trọng đến phẩm chất và sự phát triển của quả Thường ở nhiệt độ cao, quả chín sớm, ít xơ và ngọt, nhưng khả năng cất giữ kém và màu sắc quả chín không đẹp (ở nhiệt độ thấp các sắc tố hình thành nhiều hơn) Ở miền Nam thường có biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không cao nên khi chín vỏ quả thường còn màu xanh, tuy nhiên yếu tố tạo sắc màu khi chín còn ảnh hưởng bởi giống trồng (Trần Thế Tục, 1998) [24]

2.4.2 Ánh sáng

Cây cam quýt thích hợp với ánh sáng có cường độ 10.000 - 15.000 lux (tương ứng với 16 - 17 h trong ngày mùa Hè ở nước ta), cam quýt ưa ánh sáng tán xạ, không ưa ánh sáng trực xạ Nhưng không nên trồng dưới các bóng cây

to, bởi vì trong điều kiện này cam quýt thường bị nhiều loài sâu bệnh gây hại Muốn có ánh sáng tán xạ cho chúng cần bố trí mật độ trồng dày hợp lý và vườn cam quýt cần bố trí những nơi thoáng và tránh nắng Đặc biệt ở các vùng Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc nước ta cần chú

ý đến điều này vì các vùng này sâu bệnh thường gây hại nặng cho cam quýt Các giống cam quýt khác nhau có yêu cầu khác nhau về ánh sáng: cam cần nhiều ánh sáng hơn quýt, quýt cần nhiều ánh sáng hơn chanh (Trần Thế Tục, 1998) [24]

2.4.3 Nước

Ẩm độ không khí là một yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cam quýt, khi ẩm độ không khí cao làm cây ít thoát hơi nước, ít

Trang 23

tiêu hao năng lượng cho quá trình hút nước Nếu ẩm độ quá cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh hại phát triển như bệnh thối gốc, bệnh ghẻ, bệnh rám quả do nấm, ẩm độ quá cao sẽ hấp thu nhiều tia tử ngoại làm màu sắc cam quýt ít tươi thắm hơn, nhiệt độ cùng với ẩm độ quá cao làm quả phồng xốp chất lượng kém Ẩm độ không khí phù hợp nhất vào khoảng 70 – 75% (Trần Thế Tục, 1998) [24]

Nước rất cần cho cam quýt đặc biệt vào các giai đoạn ra chồi, ra hoa và quả đang đậu vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 và giai đoạn phình quả đến khi quả chuẩn bị chín Lượng mưa thích hợp cho trồng cam quýt là từ 1000 -

2400 mm/năm, tối thuận là 1200 mm/năm Các vùng trồng cam quýt trên thế giới để có sản lượng cao đều có các phương pháp tưới hợp lý không phụ thuộc vào nước trời Ở những vùng trồng cam quýt có kỹ thuật cao người ta

có thể dùng biện pháp tưới nước để điều khiển sự phân hoá hoa, tỷ lệ nở hoa, hoa nở sớm hoặc muộn và đặc biệt là chất lượng quả (Trần Thế Tục, 1998) [24]

2.4.4 Đất và dinh dưỡng

- Đất đai: các yếu tố đất đai quan trọng khi lựa chọn đất trồng cam quýt

đó là tầng sâu đất, đất rễ thoát nước, mực nước ngầm sâu hoặc mực nước ngầm ổn định Mực nước ngầm trong đất nếu hơi cao một chút nhưng ổn định không lên xuống thất thường thì cũng ít ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cam quýt Mực nước ngầm đảm bảo an toàn cho cây phải tối thiểu sâu 1,5 m dưới mặt đất Độ pH thích hợp với sinh trưởng của cam quýt từ 5,5 - 6,5, đất quá chua sẽ có nhiều dinh dưỡng bị rửa trôi và cũng có thể gây ngộ độc một

số nguyên tố như đồng (Cu) Đất quá kiềm làm cây khó hút một số nguyên tố nên có biểu hiện thiếu kẽm (Zn), sắt (Fe) Nhìn chung đất phù hợp với cam quýt là đất phù sa, phù sa cổ, đất bồi tụ, đất đỏ bazan, đất mùn đá vôi (Trần Thế Tục, 1998) [24]

Đất có hàm lượng mùn cao, tỷ lệ khoáng cân đối sẽ là loại đất phù hợp với trồng cam quýt

Trang 24

- Dinh dưỡng: để phát triển tốt cam, quýt cần được cung cấp đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K cũng như các nguyên tố

vi lượng Cu, Mg, B (Trần Thế Tục, 1998) [24]

+ Đạm (N): là nguyên tố có vai trò quyết định đối với năng suất và phẩm chất quả Đạm xúc tiến sự phát triển thân cành lá, thúc đẩy việc hình thành lộc mới trong năm Nhiều đạm quá mức có ảnh hưởng xấu đến chất lượng quả: quả to, vỏ dày, phẩm chất kém, quả lên mã chậm, màu sắc quả đậm hơn bình thường, hàm lượng vitamin C trong quả giảm Thiếu đạm lá mất diệp lục ngả sang màu vàng, nhánh quả nhỏ mảnh, lá bị rụng, nhánh dễ chết khô, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất cây giảm Ở nước ta cây hấp thu đạm quanh năm nhưng mạnh nhất là vào những tháng trời ấm từ tháng 2 đến tháng

12 (Trần Thế Tục, 1998) [24]

+ Lân (P): rất cần cho quá trình phân hoá mầm hoa Thiếu lân cành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, rễ không phát triển được Lân có tác dụng làm giảm hàm lượng axit trong quả, nâng cao tỷ lệ đường/axit làm cho hương vị quả thơm ngon, giảm hàm lượng vitamin C, vỏ quả mỏng, trơn, lõi quả chặt không rỗng, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển mã nhanh (Trần Thế Tục, 1998) [24]

+ Kali (K): rất cần cho cam, quýt khi cây ra lộc non và vào thời kỳ quả phát triển mạnh Kali có ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất quả Cây được bón đủ kali quả to, ngọt, chóng chín, chịu đựng cao trong khi cất giữ

và vận chuyển Tuy nhiên nếu thừa kali trong lá, trong cây thì cành lá sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây không lớn được Trong đất nếu có nhiều kali sẽ ngăn trở quá trình hấp thu Ca, Mg làm cho quả tuy to nhưng mẫu mã xấu, vỏ dày, thịt quả thô (Trần Thế Tục, 1998) [24]

+ Magiê (Mg): có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây có múi Các nguyên tố vi lượng khác nhau B, Fe, Cu, Zn, Mn ít nhiều đều có ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất quả Tuỳ thuộc vào loại đất, mức độ thiếu hụt của

Trang 25

các nguyên tố vi lượng nói trên mà mức độ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả nhiều hay ít Bón đầy đủ phân chuồng và phân hữu cơ có thể khắc phục được tình trạng thiếu các nguyên tố vi lượng trong đất (Trần Thế Tục, 1998) [24]

2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt

2.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới

Hiện nay cam quýt được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các

vùng cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp

ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cam quýt cũng sớm phát triển và ngược lại

Năm 2010 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 4127,0 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 168,4 tấn/ha, sản lượng đạt 69516,0 nghìn tấn Đến năm 2014 tổng diện tích giảm xuống còn 3885,9 nghìn ha nhưng năng suất lại tăng lên 182,3 tấn/ha, sản lượng tăng lên 70856,3 nghìn tấn

So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2014, châu Á có tổng diện tích lớn nhất (1562,2 nghìn ha) sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 19,2 nghìn ha

Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất được ổn định từ năm 2010 đến năm 2014 năng suất đạt từ 195,9 đến 203,8 tấn/ha Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc, Ấn

Độ, Inđônêia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất năm 2014 là 1562,2 nghìn ha, chiếm 40,2% tổng diện tích toàn thế giới So với châu Mỹ sản lượng châu Á các năm từ 2000 đến 2014 thấp hơn châu Mỹ Nguyên nhân là do tổng diện tích châu Á lớn nhưng năng suất lại thấp hơn so với chau Mỹ Tuy châu

Á có tổng diện tích trồng cam đến năm 2014 là cao nhất thế giới (chiếm 40,2%)

Trang 26

nhưng lại có năng suất trung bình thấp nhất

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới Chỉ tiêu Năm

Các châu lục trên thế giới

Thế giới Châu Phi Châu Mỹ Châu Á Châu Âu Châu Đại

Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2017 [35]

Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cam quýt, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam quýt Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của FAO về tình hình sản xuất cam quýt ở một số nước châu Á năm 2017 như sau:

2.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam

Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước

Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến

Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như Sông

Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùng

Trang 27

trồng cam chính ở nước ta

Vùng Nghệ An khoảng 1.000 ha, vùng Tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha và các vùng còn lại khác

2 Diện tích cho thu hoạch (ha) 56,300 55,600 56,600 58,300

3 Năng suất (tạ/ha) 118,00 118,64 126,46 127,64

4 Sản lượng (tấn) 702,1 704,1 706,0 736,1

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2017) [34]

Với số liệu thống kê ở bảng 2.3 thì diện tích sản xuất cam quýt giảm nhẹ

từ năm 2011 là 68,800 ha đến năm 2012 là 67,500 ha Từ năm 2012 đến năm

2013 tăng vọt lên từ 67,500 ha lên 70,300 ha Từ năm 2013 đến năm 2014 tăng vọt lên từ 70,300 ha lên 75,600 ha Cùng với tổng diện tích thì diện tích cho thu hoạch sản phẩm cũng thay đổi qua các năm Từ năm 2011 đến năm

2012 diện tích cho thu hoạch giảm từ 56,300 ha xuống 55.600 ha, tuy nhiên đến năm 2014 diện tích cho thu hoạch tăng lên 58,300 ha

Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam quýt, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2014 là 75,600

ha Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam

Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long 39,200 ha, vùng Trung du và miền núi phía bắc 15,700

Trang 28

ha và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 8,100 ha

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2014

Tình hình sản xuất Tổng diện

tích (nghìn ha)

Diện tích cho thu hoạch (nghìn ha)

Tổng sản lượng (nghìn tấn)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2017) [34]

Tổng diện tích cây cam cao nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 39,2 nghìn ha chiếm 51,8% toàn quốc, thấp nhất là vùng cam Tây Nguyên có tổng diện tích là 1,0 nghìn ha chiếm 1,3% diện tích toàn quốc Tổng sản lượng cam năm 2014 đạt 736,1 nghìn tấn, riêng vùng cam của Đồng bằng sông Cửu Long đạt 496,0 nghìn tấn chiếm 67,4% tổng sản lượng, cao nhất trong 8 vùng trồng cam trên cả nước Thấp nhất là vùng Tây Nguyên đạt 4,5 nghìn tấn chiếm 0,6% tổng sản lượng

2.6 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.3.1.1 Sự sinh trưởng của gốc ghép

Đường kính gốc ghép ở các độ tuổi khác nhau, có độ lớn của gốc ghép cũng khác nhau Ở kiểu ghép khảm và kiểu ghép chữ T gốc ghép có cùng độ tuổi gốc ghép thì tương đương nhau về độ lớn nên không có sự khác biệt nhau

Trang 29

qua phân tích thống kê Điều này cho thấy gốc ghép ở cùng độ tuổi có đường kính gốc là như nhau

Tương tự như ở thời điểm trước khi ghép, sau khi ghép 4 tháng, đường kính của gốc ghép ở các tuổi gốc ghép khác nhau có sự gia tăng về độ lớn, nhưng cũng không khác biệt qua phân tích thống kê giữa các kiểu ghép trong thí nghiệm ở cùng độ tuổi gốc ghép (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Như vậy, độ lớn của gốc ghép phụ thuộc vào tuổi của gốc ghép

2.3.1.2 Sự sinh trưởng và phát triển của mắt ghép cam sành không hạt

Tỷ lệ sống của mắt ghép là kết quả của việc chọn lựa độ tuổi gốc ghép phù hợp để nhân giống các loại cây trồng Qua kết quả thực hiện cho thấy tỷ lệ sống của mắt ghép ở nghiệm thức gốc ghép 7 tháng tuổi được áp dụng kiểu ghép khảm có tỷ lệ mắt ghép sống cao nhất đạt đạt (57,5%) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê so với nghiệm thức gốc ghép 8 tháng tuổi được ghép kiểu ghép chữ T, nhưng không khác biệt với các nghiệm thức khác trong thí nghiệm Với tỷ lệ sống của mắt ghép giống cam sành không hạt thấp hơn nhiều so với tỷ

lệ sống của cam sành truyền thống có hạt Điều này, có thể do cam sành không hạt có xuất xứ từ xử lý đột biến chiếu xạ tia Gamma nên tỷ lệ sống của mắt ghép không cao so với cam sành có hạt (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Qua 2 kiểu ghép: kiểu ghép khảm và ghép chữ T có tỷ lệ mắt ghép sống

là như nhau, nhưng kiểu ghép khảm dễ thực hiện, thao tác ghép nhanh hơn kiểu ghép chữ T (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Như vậy, tỷ lệ sống của mắt ghép cam sành cao nhất đạt 57,5% ở gốc ghép 7 tháng tuổi được áp dụng kiểu ghép khảm, kiểu ghép khảm dễ thực hiện

hơn kiểu ghép chữ T (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép ở thời điểm 28 ngày sau khi ghép, cho thấy: kiểu ghép khảm có tỷ lệ mắt ghép nảy chồi (86,35%) cao hơn so với kiểu ghép chữ T (72,71%) nhưng không khác biệt qua phân tích thống kê

Trang 30

Công thức gốc ghép 7 tháng tuổi được ghép kiểu ghép khảm có tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép cao nhất (93,75%) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê so với nghiệm thức gốc ghép 5, 6 tháng tuổi được ghép kiểu ghép chữ T (65%, 69,17%), nhưng không khác biệt so với các công thức khác còn lại trong thí nhiệm (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Đường kính của gốc ghép phụ thuộc vào tuổi của gốc ghép, sự tích lũy dưỡng chất trong gốc ghép phụ thuộc vào độ lớn của gốc ghép, gốc ghép càng lớn sự nẩy mầm và bung chồi của mắt ghép càng nhanh hơn nên tỷ lệ mắt ghép bung chổi của mắt ghép tỷ kệ thuận với tuổi độ tuổi của gốc ghép Đến thời điểm 35 ngày sau khi ghép, tỷ lệ bung chồi của các nghiệm thức trong thí nghiệm là như nhau đạt 100% (Vũ Công Hậu, 2000) [10] Như vậy, gốc ghép càng lớn mắt ghép nảy chồi càng sớm

Sự gia tăng chiều cao của chồi ghép thể hiện sự chăm sóc, ảnh hưởng đến thời gian và tỷ lệ xuất vườn của cấy giống cam sành không hạt sau này Tương tự như tỷ lệ nảy chồi của mắt ghép, chiều cao chồi của cành ghép ở thời điểm 2 tháng sau khi ghép cho thấy chiều cao của chồi ghép phụ thuộc vào tuổi của gốc ghép khi gốc ghép càng lớn chiều cao của chồi ghép càng cao và ngược lại (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Để cây giống đủ điều kiện xuất vườn, chiều cao của cây phải ≥ 60 cm tính từ mặt bầu Ở thời điểm 4 tháng sau khi ghép, chiều cao của chồi ghép đạt 43,5 - 49,75 cm trong đó nghiệm thức gốc ghép 5 tháng tuổi có chiều của chồi ghép thấp nhất chỉ đạt 43,5 cm chưa đạt tiêu chuẩn xuất vườn của cây giống (Vũ Công Hậu, 2000) [10] Như vậy, để cây giống cam sành không hạt

có tỷ lệ cây xuất vườn cao nên chọn gốc ghép có tuổi gốc ghép từ 6 tháng tuổi trở lên

Đường kính của chồi ghép là một trong những chỉ tiêu quan trọng của cây ghép, nó thể hiển sự sinh trưởng của giống cây trồng, ở thời điểm 2 tháng sau khi ghép, gốc ghép 5 tháng tuổi có đường kính chồi ghép nhỏ nhất Tương

Trang 31

tự như sự sinh trưởng chiều cao của chồi ghép, đường kính của chồi ghép phụ thuộc vào tuổi của gốc ghép (Vũ Công Hậu, 2000) [10]

Thời điểm 4 tháng sau khi ghép, đường kính của chồi ghép trên gốc ghép ở các độ tuổi và các kiểu ghép khác nhau có đường kính tương đương nhau, có thể ở giai đoạn này chồi ghép tập trung dinh dưỡng để phát chiều ngang để chồi ghép vững chắc hơn, cân đối hơn để chuẩn bị xuất vườn (Vũ Công Hậu, 2000) [10] Như vậy, đường kính chồi ghép ở các độ tuổi gốc ghép khác nhau thì tương đương sau khi ghép 4 tháng

Tỷ lệ % cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn phụ thuộc vào tỷ lệ sống của mắt ghép, tỷ lệ mắt ghép bung chồi, đường kính chồi và chiều cao của chồi ghép Gốc ghép 7 tháng tuổi được ghép mắt theo kiểu ghép khảm có tỷ lệ cây cam sành đạt tiêu chuẩn xuất vườn cao nhất đạt 57,5% (Vũ Công Hậu,

2000) [10] Như vậy, gốc ghép 7 tháng tuổi áp dụng kiểu ghép khảm là có hiệu quả nhất

2.6.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.3.2.1 Về cải tiến giống và nhân giống

Nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước có nghề trồng cam quýt phát triển, công tác chọn tạo giống được đặc biệt chú ý, trong đó tập trung theo hướng tuyển chọn từ nguồn biến dị trong tự nhiên, chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính, phương pháp xử lý đột biến tác nhân vật lý, hoá học và ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống

Để tạo ra các giống quýt mới người đã áp dụng nhiều phương pháp khac nhau như: chọn lọc cây phôi tâm trong quá trình lai xa, chọn lọc từ các đột biến mầm Các nhà chọn giống người Nga đã chọn được hàng loạt giống cam chịu lạnh tốt, năng suất cao và phẩm chất không thua kém các giống ban đầu bằng phương pháp lai xa (Hoàng Ngọc Thuận, 1990) [21]

Ở Nhật Bản, Trung Quốc và Tây Ban Nha những năm gần đây có xu hướng chọn tạo những giống quýt có thời gian chín kéo dài hơn giống

Trang 32

Satsuma gốc Điển hình là tại Nhật Bản đã tạo ra giống mới có thời gian chín

quả sớm hơn Satsuma như Miyagawa và Okitsu Wase, Clauselina Tại Trung

Quốc các giống mới chọn tạo ra như Xinjin, Gongchuan và Nangan đã có thời gian chín quả kéo dài hơn Satsuma Giống Wenzho của Trung Quốc và giống Owaisi của Nhật Bản đều cho thu hoạch sớm từ tháng 11 - tháng 12 Hai giống đều

có phẩm chất quả tốt, ít hạt và khối lượng quả trung bình 100 - 140 gr/quả

Lựa chọn Hướng nghiên cứu chọn tạo cây cam quýt kháng bệnh virus tristeza (CTV) bằng chuyển nạp gen CTV cũng đang được một số nước như

Trung Quốc, Nhật Bản thực hiện Beatriz et.al., 2001 đã tạo được 5 cây lai

soma có khả năng chống chịu bệnh do vi khuẩn và virus tristeza gây ra bằng

dung nạp tế bào trần giữa Caipira sweet orange (Citrus sinensis L Osbeck) với Volkamer lemon (C Volkameriana Pasquale), Cleopatra mandarin (C Reticulata Blanc) và Rough lemon (C jambhiri Lushington)

Về gốc ghép cho cam quýt, đã có nhiều công trình nghiên cứu, chọn tạo được các giống gốc ghép thích hợp với từng giống, có khả năng thích ứng tốt với những điều kiện bất thuận như: hạn, mặn, lạnh, kháng bệnh virus Những gốc ghép lùn được đặc biệt quan tâm để tạo cây giống lùn có khả năng tăng mật độ trồng và hạn chế ảnh hưởng của gió bão Một số giống gốc ghép quan trọng cho cam quýt hiện nay đang được sử dụng tại nhiều nước là: Troyer và Carrizo và Carrizo Trifoliata (Cam Ba Lá), Swingle Citrumelo (dạng lai giữa

Bưởi Chùm và Cam Ba Lá), Volkameriana (Chanh Volkamer); Rough lamon

(Citronella), quýt Cleopatra, cam Ngọt, Benton Citrange, C – 35 Citrange, quýt lai Mỗi giống gốc ghép trên đều có những ưu thế về đặc điểm sinh trưởng, tính chống chịu riêng và cũng có một số hạn chế cho từng trường hợp cụ thể khi ghép với các loài cam quýt khác nhau, vì vậy khi lựa chọn gốc ghép phải căn cứ vào điều kiện sinh thái vùng trồng và loài, giống cây ghép để cây gốc ghép phù hợp

2.3.2.2 Cải thiện giống gốc ghép

Trang 33

Tạo ra con lai tế bào giúp nâng cao khả năng kháng bệnh, tạo kích thước tối ưu cho cây gốc ghép, kéo dài tuổi thọ của vườn cây (Grosser,

Gmitter, 1990; Grosser et.al., 1996) Cây lai soma giữa cam Chua và Carrizo

citrange có khả năng kết hợp được tính kháng bệnh lụi cây của cam Chua và

tính kháng bệnh do virus Tristeza của Carrizo citrange (Grosser et.al., 1996, 2000) Lee và cs (1990) lần đầu tiên báo cáo cây gốc ghép tứ bội có khả năng

làm giảm kích thước cây Cây gốc ghép siêu lùn và bán lùn có thể có lợi thế đối việc thu hoạch và chịu lạnh (Zhang, 1981; Davies, 1986) [33], [28]

2.7 Một số thành tựu chọn tạo, nhân giống cây

2.7.1 Trên thế giới

Đối với các nước có nền sản xuất cây ăn quả phát triển như Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Đài Loan, Australia, Tây Ban Nha, Thái Lan,… công tác nghiên cứu chọn tạo giống, nhân giống và đưa ra sản xuất đã được quan tâm

từ rất lâu và tiến hành có hệ thống với các hướng đi cơ bản bao gồm:

- Thu thập, lưu giữ, đánh giá và tuyển chọn giống, dòng ưu tú từ nguồn quỹ gen sẵn có

- Sử dụng ưu thế lai thông qua con đường tạp giao (lai hữu tính): đối với việc chọn tạo cam quýt, tỷ lệ số lượng các giống được tạo ra bằng lai hữu tính có phần cao hơn so với tỷ lệ chung, có tới gần 90% các loại giống được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính

Lai hữu tính cho kết quả rất phong phú, có thể lai giữa các dòng giống đơn bội, nhị bội, và các thể đa bội để tạo ra con lai có số lượng nhiễm sắc thể rất khác nhau như: thể đơn bội (x), thể nhị bội (2x), thể tam bội (3x), thể tứ bội (4x) và các thể dị bội như 2x + 1, 2x - 1, 4x + 1, 4x - 1, 4x - 2…)

Một số các giống, loài quả có múi lai phổ biến (Phạm Văn Côn, 1997) [2]:

+ Bưởi Chùm (Graperfruit, Citrus paradisi) được xác định là con lai giữa bưởi Pummelo và cam Ngọt (C maxima x C cinensis)

Trang 34

+ Các giống quýt thuộc nhóm Tangelo là con lai giữa quýt và bưởi

Phương pháp lai đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo ra các gốc

ghép mới có giá trị như: Carrizo và Troyer citrange (là con lai giữa Navel và cam Ba Lá), gốc ghép Swingle Citrumelo (con lai giữa bưởi Chùm và cam Ba

Lá (Phạm Văn Côn, 1997) [2]

- Chọn tạo từ biến dị tự nhiên và nhân tạo:

Nhiều giống cây có múi quan trọng là giống có hạt Phương pháp gây tạo đột biến bằng chiếu xạ hoặc chọn lọc các biến dị tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong chọn tạo giống không hạt (Wakana, 1998) [32]

+ Giống cam Cara Navel là giống đột biến tự nhiên từ giống

Washington Navel được phát hiện ở Venezuela năm 1976

+ Các nhà khoa học Mỹ đã tạo được 3 giống không hạt từ các giống có hạt bằng chiếu xạ 5.0 Krad lên mắt ghép là: Encore, Murcott, Kinnow

+ Ở Trung Quốc đã công nhận 10 giống Citrus mới chủ yếu được tạo ra

bằng chọn lọc các biến dị tự nhiên và đột biến chiếu xạ

- Sử dụng công nghệ sinh học để tạo giống (lai soma, cứu phôi, sử dụng hiện tượng tự bất hợp): đến nay người ta đã tạo được trên 200 dòng cây lai F1 bằng lai tế bào soma giữa 200 cặp bố mẹ khác nhau, trong đó đã thu nhận được nhiều dòng tam bội, tứ bội rất có triển vọng trong sản xuất (Pinhos

Spiegel - Roy et.al., 1998) [30]

- Nhập nội và trao đổi quỹ gen

Từ nguồn quỹ gen phong phú và đa dạng, nhiều giống cây ăn quả quý

và nổi tiếng trên khắp thế giới đã được chọn lọc, giới thiệu và đóng góp rất

Trang 35

quan trọng cho nền sản xuất nông nghiệp, ví dụ như cam Washington Navel, quýt Clementin, Satsuma, bưởi Ruby Star, …

2.7.2 Ở Việt Nam

Theo Phạm Thị Chữ (1998) [4], qua 3 năm tuyển chọn giống bưởi Phúc Trạch (1993 - 1995) đã chọn được 3 dòng tiêu chuẩn là M4, M1 và M5, đặc biệt là M4 với các đặc điểm sau (đối với cây 20 năm tuổi): sinh trưởng tốt, năng suất đạt 253 quả/cây, tỷ lệ phần ăn được đạt 54,5%, hàm lượng vitamin

C đạt 53,56 mg/100 g, đường đạt 9,3%

Hội thi Giống tốt do Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam tổ chức, cùng với việc điều tra nghiên cứu của các trung tâm và các nhà khoa học trong nhiều năm đã tuyển chọn được một số giống quýt và bưởi có triển vọng như cam sành (C58), quýt Tiều (QT12), bưởi Năm Roi,… Các giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là các giống tốt theo quyết định số 2767NN - KHCN/QD ngày 27/10/1997 (Trần Thế Tục, 1980) [23] Trần Thế Tục (1998) [25] tiến hành nghiên cứu 8 giống bưởi (Đoan Hùng, bưởi Ngọt Như Quỳnh, Pumello, bưởi Đường Yên Phong, Phú Thọ đã đưa ra đặc điểm hình thái, cấu tạo, tỷ lệ từng phần trong quả và thành phần hoá học trong nước ép của các giống bưởi nghiên cứu này

Trong quá trình tuyển chọn các giống bưởi ở một số tỉnh Nam Bộ (Phạm Ngọc Liễu, Nguyễn Ngọc Thi (1999) [14] có kết luận: từ năm 1995 -

1998 đã xác định được 67 giống bưởi được trồng trong vườn thuộc các tỉnh Nam Bộ, 54 giống đã được thu thập và lưu giữ tại nhà lưới của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam Các cá thể bưởi Năm Roi (BNR03, BNR05) cá thể bưởi Đường Lá Cam (BC12), cá thể bưởi Da Xanh (BDX30) và cá thể bưởi Đường Bến Tre (BĐ340) có thể dùng làm cây mẹ để nhân giống cho nhu cầu trồng bưởi hiện nay

Theo kết quả điều tra khảo sát tập đoàn giống bưởi tại Biên Hòa (Đồng Nai) do Trung tâm Nghiên cứu Cây ăn quả miền Đông Nam Bộ thực hiện

Trang 36

năm 2003 đã ghi nhận 25 giống bưởi Trong đó 14 giống trồng phổ biến nhiều nhất là bưởi Đường Lá Cam, bưởi Thành Trà, bưởi Đường Da Láng

Theo Phạm Văn Côn (1997) [1] thì những cây có múi được nghiên cứu sớm nhất trong các cây ăn quả ở nước ta Hiện nay, nước ta có rất nhiều giống bưởi Bưởi Đoan Hùng nhiều nước, hương vị thơm ngon bảo quản được 4 - 5 tháng nhưng nhiều hạt, thịt nát, ít róc vỏ Bưởi Phúc Trạch có nhiều ưu điểm hơn Bưởi Năm Roi trái to mẫu mã đẹp, dễ bóc múi và vỏ, hương vị thơm, ít hạt, bưởi Biên Hòa, bưởi Da Xanh (Bến Tre), bưởi Hồng (Tiền Giang) và bưởi Thanh Trà (miền Trung)

Theo Phạm Thị Chữ (1998) [4], bưởi Đoan Hùng gồm 3 giống được trồng chủ yếu là bưởi Sửu, bưởi Kinh và bưởi Khả Lĩnh Bưởi Sửu và bưởi Khả Lĩnh có các chỉ tiêu vượt trội về năng suất, phẩm vị và đặc điểm cấu tạo quả vì vậy có thể tiến hành tuyển chọn cây đầu dòng để nhân giống và phổ biến sản xuất

Viện Di truyền Nông nghiệp đã nghiên cứu quy trình cứu phôi hạt lép trên một số giống cây ăn quả có múi, tạo ra nguồn thực liệu phong phú cho công tác chọn tạo giống ít đến không hạt, đã thu được một số kết quả ban đầu

về phương pháp tạo cây tứ bội và xử lý hóa chất trên một số giống cây có múi nhằm mục đích phục vụ cho công tác lai tạo các dòng không hoặc ít hạt Từ năm 1998, Trung tâm Phát triển VAC - Trường Đại học Nông nghiệp I (nay

là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã tiến hành xây dựng một tập đoàn nghiên cứu các giống cây có múi thông qua hợp tác khoa học, trao đổi nguồn gen với các đơn vị trong và ngoài nước Trong đó, đã tuyển chọn được một

số dòng có triển vọng đang khảo nghiệm sinh thái tại các vùng sinh thái miền Bắc và miền Trung Việt Nam (Trần Thế Tục, 1998) [24]

Năm 2009 Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam đã phối hợp với Sở Khoa học - Công nghệ tỉnh Bến Tre vừa tuyển chọn được một giống bưởi Da Xanh chất lượng cao, gần như không hạt (mỗi quả chỉ có từ 3 - 4 hạt), độ Brix

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm