Chương trình SGK ở lớp 3 xây dựng ba dạng bài tính giá trị biểu thức cơbản, rõ ràng và có cách tính cho từng dạng bài: Biểu thức chỉ có dấu cộng trừhoặc nhân chia; biểu thức có dấu cộng
Trang 1SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN TRIỆU SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 3
KĨ NĂNG TÍNH GIÁ TRỊ BIỂU THỨC
Người thực hiện: Lê Thị Tình
Trang 2MỤC LỤC
2.1 Những tồn tại của HS trong từng dạng bài tính giá trị biểu thức: 3
3.1 Biện pháp 1: Phân loại đối tượng HS để nâng cao chất lượng dạy học: 63.2 Biện pháp 2: Ôn tập, củng cố kiến thức về các biểu thức đơn 73.3 Biện pháp 3: Ôn tập các dạng bài tính giá trị biểu thức trong chươngtrình SGK toán lớp 3 ( Biểu thức có 2 dấu phép tính):
9
3.4 Biện pháp 4: Tìm hiểu các dạng bài tính giá trị biểu thức mở rộng: 14
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Môn Toán ở lớp 3 là một bộ phận trong chương trình môn Toán ở Tiểuhọc Trên cơ sở kế thừa và phát huy những mạch kiến thức trong chương trìnhmôn Toán ở lớp 1, 2 song chương trình môn Toán ở lớp 3 mở rộng và nâng caodần theo từng mạch kiến thức về số học, đại lượng, hình học và giải toán,…
"Tính giá trị biểu thức " ở Tiểu học là phần kiến thức về các yếu tố đại số.
Biểu thức không được định nghĩa bằng khái niệm cụ thể mà chỉ giới thiệu "hình
thức thể hiện" là các số, các chữ liên kết bởi dấu các phép tính Vấn đề biểu thức
được giới thiệu ngay từ lớp 1 thông qua phép cộng, trừ Ở cuối lớp 2 dạy học vềphép nhân, phép chia Tuy nhiên, đến lớp 3 mới hình thành biểu tượng về biểuthức Chương trình SGK ở lớp 3 xây dựng ba dạng bài tính giá trị biểu thức cơbản, rõ ràng và có cách tính cho từng dạng bài: Biểu thức chỉ có dấu cộng trừhoặc nhân chia; biểu thức có dấu cộng trừ nhân chia; biểu thức có dấu ngoặc.Tuy nhiên, thực tế còn nhiều dạng bài mới về tính giá trị biểu thức đòi hỏi họcsinh phải tư duy cao hơn, phải có kĩ năng vận dụng thành thạo các dạng cơ bản
đã học để thực hiện yêu cầu như: Biểu thức chỉ có một dấu phép tính nhưngnhiều số, viết thành biểu thức rồi tính, tìm số, đều là những dạng bài có nhiều
số hoặc nhiều phép tính
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 3, tôi thấy tính giá trị biểu thức là
cơ sở để học các mạch kiến thức khác như: hình học, giải toán và vận dụng tínhtoán trong đời sống thực tế Tuy nhiên, do kĩ năng tính toán của HS hạn chế nênnhiều em đã sai ngay từ những biểu thức đơn với 1 phép tính Đến các biểu thức
2 phép tính trở lên, đa số HS lúng túng, nhầm lẫn khi thực hiện thứ tự các phéptính trong biểu thức, nhầm lẫn cách làm các dạng bài dẫn đến sai kết quả tính.Một mặt do giáo viên chưa hệ thống các kiểu bài tập đa dạng, khác nhau về 1dạng bài để các em được luyện tập và nâng cao kĩ năng Tính giá trị biểu thức Vìvậy, làm cách nào để HS lớp 3 nói chung, HS Tiểu học nói riêng học tốt cácdạng bài tính giá trị biểu thức là một vấn đề trăn trở đối với mỗi giáo viên Tiểuhọc Do đó, trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, đúc kết kinh
nghiệm muốn chia sẽ cùng các bạn đồng nghiệp: “Một số biện pháp rèn cho học sinh lớp 3 kĩ năng Tính giá trị biểu thức”.
Mong rằng với kinh nghiệm dạy học của mình, tôi sẽ nhận được sự góp ýchân thành của các cấp quản lí và các bạn đồng nghiệp để góp phần nâng caochất lượng giáo dục nước nhà
2 M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Mục đích nghiên cứu là tìm ra những biện pháp rèn cho HS lớp 3 kĩ năngtính giá trị biểu thức góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong năm học2020- 2021
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
Đối tượng nghiên cứu là kĩ năng tính giá trị biểu thức cho HS lớp 3A dotôi chủ nhiệm , trường Tiểu học Dân Lý trong năm học 2019- 2020
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Để thực hiện đề tài này tôi đã vận dụng những phương pháp để nghiên
Trang 4cứu như sau:
+ Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
+ Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
+ Phương pháp thống kê sử lý số liệu
II NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Trong chương trình toán Tiểu học, học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 được họccác kiến thức liên quan đến biểu thức và được phát triển dần theo vòng số nhưsau:
+ Lớp 1: Học về các số đến 10, phép cộng, trừ các số trong phạm vi 10.Đọc, đếm, viết các số đến 10 Nhận biết quan hệ số lượng (nhiều hơn, ít hơn,bằng nhau) Bảng cộng, trừ trọng phạm vi 10 Đọc, viết, đếm các số đến phạm vi
100 Phép cộng, trừ (không nhớ) trong phạm vi 100 Tính giá trị biểu thức số cóđến hai dấu phép tính cộng, trừ (trường hợp đơn giản) Giải toán có lời văn
+ Lớp 2: Học về phép cộng, trừ các số trong phạm vi 100; Các số đến 1000,phép cộng, trừ các số trong phạm vi 1000 Các bảng nhân, chia từ 2- 5 Tính giá trịbiểu thức có đến 2 dấu phép tính cộng, trừ hoặc nhân, chia xong chưa đưa ra quy tắctính Tìm thành phần chưa biết Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị Giải toán
có lời văn
+ Lớp 3: Củng cố bảng nhân, chia từ 2 đến 5 Bổ sung cộng, trừ các số có bachữ số (có nhớ 1 lần) Lập bảng nhân, chia 6, 7, 8, 9 Nhân, chia ngoài bảng trongphạm vi 1000 Tìm thành phần chưa biết của phép tính Tính chu vi một số hình.Đặc biệt, ở lớp 3 HS được làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức, giới thiệuthứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến hai dấu phép tính, có dấungoặc Tiếp theo, HS được làm quen với vòng số lớn hơn: phép cộng, trừ có nhớ(không nhớ liên tiếp và không quá 2 lần trong phạm vi 10 000) Phép nhân, chiacác số trong phạm vi 10 000 Tính diện tích một số hình Phép chia hết, phép chia
có dư Nhận biết các số trong phạm vi 100 000, phép cộng, trừ có nhớ các số có 5chữ số Nhân, chia các số có 5 chữ số với (cho) các số có 1 chữ số Tiếp tục tính giátrị của biểu thức có đến 2 dấu phép tính Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị
và làm quen với chữ số La Mã, giải toán,…
Đối với dạng bài tính giá trị biểu thức ở lớp 3, ngoài 3 dạng cơ bản trong SGK
đã cung cấp, tôi mở rộng và cung cấp thêm cho HS một số dạng bài về tính giá trịbiểu thức có nhiều hơn 2 dấu phép tính nhưng vừa sức với HS, giúp các em vậndụng tốt các dạng bài đã học và nâng cao kĩ năng tính giá trị biểu thức Cụ thể có cácdạng như sau:
* Biểu thức yêu cầu tính thông thường, có nhiều hơn 2 phép tính vận dụng
mô hình Grap(tích cực hóa hoạt động của học sinh, phát huy năng lực nhận thức của HS):
* Biểu thức dạng yêu cầu tính nhanh, tính thuận tiện, hợp lý:
+ Dạng biểu thức là một tổng các số hạng cách đều
+ Dạng biểu thức có dấu cộng, trừ đan xen có quy luật
+ Dạng biểu thức tính nhanh bằng việc nhóm thành các cặp số tròn trăm, trònnghìn
Trang 5+ Dạng biểu thức (vận dụng tính chất, ý nghĩa phép nhân).
+ Dạng biểu thức là tích của các biểu thức trong ngoặc, mà một trong cácbiểu thức trong ngoặc có giá trị bằng 0, bằng 1
Đa số HS làm sai hoặc lúng túng khi gặp các dạng bài chưa có quy tắcnày
2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
Thưc tế, tính giá trị biểu thức là mạch kiến thức quan trọng, vận dụngthường xuyên trong quá trình học tập môn Toán và trong đời sống như mua,bán,
Tâm lý các em đều thích học môn Toán hơn các môn học khác Tuy nhiên, lênđến lớp 3, với vòng số lớn hơn, yêu cầu tính biểu thức từ 2 đến 3 phép tính vàcác dạng bài tập đa dạng, HS hay làm sai thậm trí bỏ qua những bài khó khônggiống các dạng cơ bản SGK khi được giao trong đề ôn tập hoặc kiểm tra Vậy,nguyên nhân vì đâu? Để tìm hiểu nguyên nhân tôi đã căn cứ vào thực tế việc dạyhọc trên lớp khi dạy xong 3 dạng bài tính giá trị biểu thức trong chương trìnhSGK Toán 3( trang 79,80,81) tuần 16,17 đồng thời tiến hành khảo sát với sốlượng HS của lớp 3A là 34em trong tháng 12 năm học 2019- 2020 như sau:
§Ò KIÓM TRA (Thêi gian: 40phót)
Bài 1: Tính giá trị của biểu thức:
2.1 Những tồn tại của HS trong từng dạng bài tính giá trị biểu thức:
* Đối với các biểu thức đơn: (Biểu thức chỉ có 2 số và 1 dấu phép tính)
+ Đối với biểu thức đơn có 1 phép tính: cộng, trừ, nhân có nhớ đa số HSsai do quên không nhớ khi thực hiện tính hoặc do không thuộc các bảng cộng,trừ, nhân, chia đã học nên tính sai kết quả:
Ví dụ: Đặt tính rồi tính:
a) 881 – 129 157 + 266 126 x4
Có những HS đã có kết quả tính như sau:
Trang 6c)
126 4 1086
…
+ Câu a: HS sai do trừ có nhớ nhưng các em đã không nhớ để trừ sang lần trừtiếp theo
+ Câu b: HS sai do không nhớ bảng cộng nên cộng sai
+ Câu c: HS sai do chưa nhớ bảng nhân, phép nhân có nhớ nhưng HSkhông nhớ để cộng vào kết quả của lần nhân tiếp theo
+ Đối với biểu thức có phép tính chia, HS đã thực hiện sai ở một sốtrường hợp sau:
Với phép chia, HS sai theo rất nhiều cách khác nhau như:
+ Câu a: HS sai vì thấy chữ số đầu tiên ở số bị chia bé hơn số chia nên viết 0 ởthương
+ Câu b: HS sai khi ở các lượt chia thứ 3 có 2 chữ số ở số bị chia thì HSchỉ lấy 1 chữ số mới hạ xuống để chia
+ Câu c: HS sai khi chia để số dư lớn hơn hoặc bằng số chia
+ Câu d: Khi thực hiện phép chia, mỗi một lần hạ 1 chữ số ở số bị chia làmột lượt chia nhưng khi hạ chữ số ở số bị chia nhỏ hơn số chia, HS không viết 0
ở thương mà lấy thêm 1 chữ số nữa ở số bị chia để chia
…
* Đối với các biểu thức có 2 dấu phép tính:
+ Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ hoặc nhân chia:
Ví dụ: Tính giá trị biểu thức sau:
và chia; cộng và trừ các em không thực hiện tính theo thứ tự từ trái sang phải màthực hiện tính phép nhân trước rồi đến phép chia, phép cộng trước trước rồi đếnphép trừ
+ Biểu thức chỉ có dấu cộng, trừ , nhân ,chia:
Ví dụ: Tính giá trị của biểu thức:
Trang 7a) 253 + 10 4 = 263 x 4 b) 122 - 80 : 2 = 42 : 2
= 1052 = 21
HS làm sai vì nhầm lẫn chỗ thực hiện phép tính từ trái sang phải mà quên
là thực hiện các phép tinh phải nhân, chia trước ; rồi thực hiện các phép tínhcộng, trừ sau
+ Biểu thức có dấu ngoặc:
+ HS làm sai vì cho rằng tính trong ngoặc trước thì viết kết quả trước
+ Đối với toán giải :
Ví dụ : Mẹ hái được 60 quả táo, chị hái được 35 quả táo Số táo của cả mẹ và chịđược xếp đều vào 5 hộp Hỏi mỗi hộp có bao nhiêu quả táo ?
HS giải như sau :
Số quả táo mỗi hộp là :
60: 5 + 35 =47 ( quả)
Ở đây HS chưa biết áp dụng quy tắc tính giá trị biểu thức vào giải toán, các em còn mơ màng cách giải
2.2 Nguyên nhân của những tồn tại:
Từ những tồn tại của các em khi thực hành các dạng bài tính giá trị biểu thức, tôi đã tìm ra một số nguyên nhân cơ bản như sau:
+ Một số em có lực học không ổn định và nhanh quên kiến thức, do đócác em không thể có kiến thức vững chắc ở lớp dưới làm cơ sở học tiếp ở lớptrên Bên cạnh đó, kĩ năng tính toán của một số em còn sai Vẫn còn tình trạng
HS chưa thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia hoặc thuộc một cách máy móc
+ Lên đến lớp 3, các em được thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân cónhớ nhưng khi thực hiện các em thường quên không nhớ hoặc cộng, trừ, nhânsai Do đó giá trị của cả biểu thức sai
+ HS chưa hiểu bản chất của từng quy tắc trong từng dạng bài tính giá trịbiểu thức
+ Chương trình SGK Toán lớp 3 mới cung cấp những dạng bài tập cơ bản
về tính giá trị biểu thức minh họa cho phần lý thuyết, chưa có hệ thống các kiểubài tập phong phú để HS được luyện tập và rèn cho các em kĩ năng về tính giátrị biểu thức sau mỗi dạng bài Do đó vẫn còn những HS thực hiện sai thứ tựphép tính và nhầm lẫn cách làm các dạng bài về tính giá trị biểu thức
Trang 8+ HS chưa được làm quen với các dạng bài tập mở rộng về tính nhanh(tính thuận tiện, tính hợp lý) giá trị biểu thức nên hầu hết các em tính sai hoặctính chưa hợp lý khi thực hiện yêu cầu
+ Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của HS tiểu học, các em còn nhỏ nên ngạingồi lâu tính toán với những con số lớn, trong khi các biểu thức ở lớp 3 đa sốđều có 2 dấu phép tính với các số từ 3 đến 5 chữ số, đòi hỏi học sinh phải có tínhkiên trì và cẩn thận mới thực hiện tốt được bài tập
+ Do hoàn cảnh gia đình các em hầu hết là gia đình nông nghiệp, nhiều em cóhoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn Có em phải ở với ông bà do bố mẹ đi làm xa Do đó,một số em đi học thiếu đồ dùng học tập, sức khỏe không tốt Đó là một trong các yếu
tố tác động đến khả năng tiếp thu bài học của các em trên lớp Các em cũng chưa cóđiều kiện mua thêm các sách tham khảo để học và mở rộng kiến thức về các dạngbài tính giá trị biểu thức
Từ thực trạng như trên, để học sinh có được các kĩ năng tính giá trị biểuthức một cách chắc chắn, tôi đã tích cực học tập, tham khảo các tài liệu mônToán và đã tìm ra cách hình thành kĩ năng tính giá trị biểu thức cho HS lớp 3.Vậy tôi đã làm thế nào? Sau đây tôi xin trình bày các giải pháp mà tôi đã thựchiện như sau
3 CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
3.1 Biện pháp 1: Phân loại đối tượng HS để nâng cao chất lượng dạy học:
Phân loại đối tượng HS là một trong những giải pháp có hiệu quả để nângcao chất lượng dạy học Do đó, tôi đã tiến hành như sau:
+ Ngay từ đầu năm học, khi nhận bàn giao lớp, tôi đã trao đổi với giáo
viên chủ nhiệm lớp dưới để nắm được lực học của từng em
+ Thông qua kết quả của cuộc thi kiểm tra chất lượng học kì 1 và thực tếdạy học các tháng đầu năm học, tôi tiến hành phân loại đối tượng HS về lực họctheo tinh thần thông tư 30 : hoàn thành tốt, hoàn thành, chưa hoàn thành
+ Thông qua cuộc họp phụ huynh HS đầu học kì 2, trao đổi với gia đìnhcác
em để nắm được hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm lý từng em Từ đó nhận biếtđược những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến lực học của các em
+Lớp 3A năm học 2019-2020 các em:“ An, Châu, Doanh, Nga,Thảo,Quỳnh, Bích.…”, là những học sinh làm toán còn yếu Các em không biếttính giá trị biểu thức sai, không nắm vững phương pháp làm bài… Tôi luônluôn quan tâm động viên các em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vàokhả năng của mình để suy nghĩ, tìm cách làm đúng
Trong khi chấm bài, chữa bài của học sinh khi cần cứu trợ, tôi ghi nhật kílại từng chi tiết lỗi sai của các em Tổng hợp tất cả những lỗi sai sót thường gặp
mà học sinh thể hiện phép tính, để chữa sai cho cá nhân, nhóm, cả lớp trong giờlên lớp, giờ phụ đạo, giờ học buổi chiều…, và cho học sinh tự chấm chữa theođôi bạn học tốt (học nhóm) dưới sự hướng dẫn của cô giáo.Vì phần bài học
“Tính giá trị của biểu thức có 3 quy tắc, khi truyền thụ kiến thức cho học sinhcác em tiếp thu được bài học Song các em chưa có sự sáng tạo, tư duy tốt nênđôi lúc làm bài vẫn còn sai nhiều Bởi vì, chỉ có 3 quy tắc trên, mà thực ra là 48biểu thức (dạng 2 phép tính) Vậy tôi phải phân ra từng nhóm biểu thức cụ thể,
Trang 9để truyền thụ kiến thức thực tế, có tính khoa học, lô- gic Nhằm đáp ứng với nhucầu của lứa tuổi học sinh lớp 3 và phù hợp tâm lý đồng đều với các đối tượnghọc sinh Từ đó các em dễ nhớ, khắc sâu được kiến thức và nắm được cách làmbài.Vậy giáo viên phải rèn luyện kỹ năng, kiến thức từ đơn giản đến phức tạp.
Từ việc nhận biết năng lực của HS, tôi chuẩn bị hệ thống bài tập có định hướngcho từng loại đối tượng HS trong từng buổi học chính khóa cũng như trong các tiết ôntập đảm bảo vừa sức đối với các em
Với việc thực hiện giải pháp trên, tôi đã xây dựng được công tác chủnhiệm lớp tương đối ổn định Đánh giá được sự tiến bộ của HS theo từng tuần,từng tháng một cách dễ dàng Đặc biệt tôi xây dựng được đội ngũ cán bộ lớp cónăng lực giúp đỡ các bạn cùng học tập tiến bộ Nâng cao được chất lượng đại trà
và giúp các em có hứng thú, tự tin trong từng buổi học
3.2 Biện pháp 2: Ôn tập, củng cố kiến thức về các biểu thức đơn:
Để HS học tốt được dạng bài tính giá trị biểu thức ở lớp 3, trước hết HS phảithực hiện thành thạo các bảng nhân, chia, cộng, trừ đã học Có kĩ năng thành thạocác phép tính về cộng, trừ, nhân, chia từ dễ đến khó theo các vòng số của chươngtrình SGK (gọi là các biểu thức đơn) Do đó tôi đã tiến hành ôn tập lại cho HS cácmạch kiến thức trên như sau:
+ Đối với các bảng cộng, trừ; bảng nhân chia từ 2 đến 9:
Ở lớp 2, các em đã được học các bảng cộng, trừ Ngoài ra các em còn họcbảng nhân, chia từ 2 đến 5 Do đó, tôi tổ chức cho các em ôn tập ngay từ đầunăm học, có kiểm tra nhắc lại thường xuyên trong quá trình học toán Để ôn tậpcho HS tôi tiến hành dưới 3 hình thức chủ yếu: Phát phiếu bài tập cho các emvới nhiều kiểu bài Tổ chức trò chơi sì điện, trò chơi đố nhau Tổ chức cho HShọc nhóm đôi kiểm tra nhau về các bảng cộng trừ, nhân, chia đã học, báo cáo kếtquả kiểm tra Các hình thức ôn tập trên tôi tiến hành vào 15 phút đầu của cácbuổi ôn Toán Tiến hành ôn tập tương tự cho HS với các bảng nhân, chia từ 6đến 9 các em được học ở lớp 3
+ Đối với phép cộng, trừ các số có 2, 3, 4, 5 chữ số:
Đối với các biểu thức cộng, trừ các số có 2, 3 chữ số Trước hết tôi giúp
HS nắm vững kiến thức theo chương trình SGK đã cung cấp Thường xuyên ôntập dưới hình thức phiếu bài tập Tiến hành kiểm tra nhanh bằng bảng con.Kiểm tra 15 phút bằng giấy thi Từ đó tôi phát hiện HS có kĩ năng chưa tốt để cóphương pháp bồi dưỡng kịp thời Tiến hành tương tự với phép cộng, trừ các sốtrong phạm vi 10 000; 100 000 các em học sau này Kết hợp giúp HS hiểu tínhchất giao hoán, kết hợp của phép cộng, vận dụng vào tính nhanh biểu thức ởmức độ cao hơn Sau dạng biểu thức này tôi thường chốt kiến thức cho HS, đặcbiệt lưu ý những kiến thức chưa nêu ở SGK như: Với phép cộng: Khi cộng, ởlần cộng nào có kết quả lớn hơn hoặc bằng 10, ta phải nhớ và cộng vào lần cộngtiếp theo Với phép trừ: Ở lần trừ nào phải mượn 1 chục ở hàng trước đó để trừ.Thì phải trừ đi ở lần trừ tiếp theo
+ Với các phép nhân các số có 2, 3, 4, 5 chữ số với số có 1 chữ số:
Với các biểu thức đơn là phép nhân các số có 2, 3 chữ số với số có 1 chữ số,tôi tiến hành các biện pháp tương tự như đối với các phép cộng, trừ ở trên Tiến hànhcung cấp kiến thức và ôn tập tương tự cho HS với phép nhân các số có 4, 5 chữ số
Trang 10với số có 1 chữ số các em được học sau này
+ Lưu ý HS: Khi nhân, lần nhân nào có kết quả lớn hơn hoặc bằng 10, ta nhớ vàcộng số nhớ vào kết quả của lần nhân tiếp theo
+ Với phép chia các số có 2, 3, 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số.
Với các biểu thức là phép chia các số có 2, 3 chữ số cho số có 1 chữ số,sau khi cung cấp đầy đủ kiến thức theo chương trình SGK, tôi cũng tiến hànhcho HS ôn tập vào buổi chiều dưới dạng phiếu, kiểm tra kĩ năng tính của HSthường xuyên bằng bảng con, giấy kiểm tra 15 phút Tiến hành ôn tập tương tựvới phép chia các số có 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số sau này Đặc biệt vớiphép chia hết và phép chia có dư trong bảng, tôi rèn cho HS kĩ năng nói nhanhkết quả tính bằng cách hỏi- đáp nhanh Với phép chia tôi lưu ý cho HS như sau:
+ Ta chia từ trái sang phải: lần lượt lấy chữ số từ hàng cao nhất đến chữ sốhàng thấp nhất của số bị chia để chia cho số chia Mỗi lượt chia, được mấy thì viếtchữ số đó vào thương Mỗi lượt chia còn dư bao nhiêu thì gộp với một chữ số ở hàngliền dưới ở số bị chia để chia lượt sau
+ Khi ở lượt chia trước không còn số dư, kể từ lượt chia thứ 2 trở đi, mỗilần hạ xuống là 1 lần chia Nếu hạ chữ số ở số bị chia bé hơn số chia thì phảiviết 0 vào thương rồi mới hạ thêm các chữ số ở hàng tiếp theo ở số bị chia đểchia
+ Nếu chữ số đầu tiên ở số bị chia bé hơn số chia thì ta phải lấy 2 chữ số
để chia, mỗi một lượt chia có 3 bước: chia, nhân ngược lại, trừ
+ Số dư trong mỗi lượt chia luôn bé hơn số chia
Sau khi cung cấp, ôn tập lại cho HS phần lý thuyết về các biểu thức đơn,tôi ra hệ thống bài tập vận dụng, giúp HS được rèn kĩ năng tính đúng và nhanh,đồng thời kiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức của HS Ôn tập tổng hợp và nhắclại các mạch kiến thức đã học luyện tập dưới dạng phiếu được tôi thực hiện tiếpvào tháng 11, trước khi học 3 dạng bài cơ bản về tính giá trị của biểu thức Hệthống bài tập như sau:
Phiếu bài tập minh họa.
Trang 11bao nhiêu gam sữa?
Bài 6: Một năm có 365 ngày, mỗi tuần lễ có 7 ngày Hỏi năm đó có bao nhiêutuần lễ và mấy ngày?
Qua việc thực hiện biện pháp trên, tôi thấy hầu hết các em học sinh tronglớp đã thuộc và hiểu được bản chất, ý nghĩa của các bảng cộng, trừ, nhân, chia.Đặc biệt, kĩ năng tính giá trị biểu thức đơn của các em nhanh và thành thạo Chỉ
số ít các em làm sai do tính toán chưa cẩn thận Các em đủ tự tin vận dụng kiếnthức vào làm các dạng bài khác Khi khảo sát bằng việc giơ tay HS yêu thíchhọc môn Toán, có 100% các em đã đủ tự tin học môn Toán Đó là kết quả khảquan giúp tôi vững tin áp dụng kinh nghiệm dạy học của mình về tính giá trịbiểu thức
3.3 Biện pháp 3: Ôn tập các dạng bài tính giá trị biểu thức trong chương trình SGK toán lớp 3 ( Biểu thức có 2 dấu phép tính)
Để rèn cho HS lớp 3 có kĩ năng tốt về tính giá trị biểu thức, cũng như vậndụng làm tốt các dạng bài toán khác, ngoài việc ôn tập lại các biểu thức đơn là cơ
sở để học tốt các dạng bài tính giá trị biểu thức ở lớp 3 (biểu thức có 2 dấu phéptính) thì HS phải nắm chắc cách làm từng dạng bài trong chương trình SGK đã xâydựng Vì vậy, để khắc phục những tồn tại đã nêu trong phần thực trạng sau khi họccác dạng bài tính giá trị biểu thức ở lớp 3, tôi tiến hành ôn tập củng cố lại kiến thức,lưu ý những lỗi sai trong quá trình làm bài và ra hệ thống bài tập củng cố giúp các
em nắm vững kiến thức từng dạng bài và rèn cho các em có kĩ năng tốt về tính giátrị biểu thức
Các dạng bài tính giá trị biểu thức được xây dựng trong chương trình SGK Toán 3 gồm có 3 dạng cơ bản như sau:
+ Dạng 1: Biểu thức chỉ có dấu (cộng, trừ) hoặc (nhân, chia)
+ Dạng 2: Biểu thức có dấu cộng, trừ, nhân, chia
+ Dạng 3: Biểu thức có dấu ngoặc
Đối với dạng bài này, tôi tiến hành ôn tập, củng cố lại theo các bước nhưsau:
+ Bước 1: Củng cố lại kiến thức cơ bản đã học, lưu ý cách làm dạng bài
sang phải được Còn biểu thức có phép tính: (- , +), ( + , +), (- , -), thì các em
lúng túng không biết cách tính Từ đó, tôi phân nhóm của từng cách tính giá trị của biểu thức cụ thể hơn, để hướng dẫn các em thực hiện dễ dàng:
Trang 12Vậy tôi cho học sinh thực hiện 4 cách (có 2 dấu phép tính/1 cách) tính giátrị biểu thức của (+, -), rèn luyện theo nhóm học tập, bảng con, kể cả học tập ởbảng nhóm Khi các bạn trong nhóm hổ trợ, giúp đỡ mà các em không thựchành được, các em mạnh dạn giơ bảng cứu trợ để cô giáo hướng dẫn các emchia sẻ sự hiểu biết và khắc sâu được kiến thức Đây là một biện pháp đơn giảnnhưng phải có tính kiên trì, nhẫn nại thì đối với lứa tuổi học sinh lớp 3 mới thựchiện được cách giải thành thạo Giáo viên hướng dẫn với học sinh rằng: Khôngchỉ có biểu thức (+ , -) mà cả (- , +), (+ , +), (- , -) Đều là 1 nhóm của qui tắc ,biểu thức (+ , -) trên Từ đó học sinh hiểu sâu về kiến thức và rèn luyện được kĩnăng thực hiện tính giá trị của biểu thức.
b) Trong biểu thức có phép tính nhân, chia
* Thực hiện theo thứ tự từ trái sang phải có 4 biểu thức:
Ví dụ: (x, : ), (: , x), (x , x), (: , :)
* Bốn cách trên cùng một quy tắc Tương tự như cộng và trừ, nên giáo viên táchtừng nhóm cụ thể để khắc sâu vào trí nhớ của học sinh, phân biệt, nhớ kĩ, nhớlâu và dễ dàng vận dụng vào luyện tập, rèn được kĩ năng thực hiện tính giá trịcủa biểu thức
+ Lưu ý HS: Nếu trong 1 biểu thức chỉ có 1 dấu phép tính ta vẫn thực hiện tính theo
thứ tự từ trái sang phải Biểu thức có dấu (nhân, chia) hoặc (cộng trừ) có thể dấu chiađứng trước dấu nhân, dấu trừ đứng trước dấu cộng ta vẫn thực hiện tính theo thứ tự
từ trái sang phải
Vận dụng vào giải toán:
Ví dụ: Người ta xếp 800 cái bánh vào các hộp, mỗi hộp 4 cái Sau đó xếp cáchộp vào thùng, mỗi thùng 5 hộp Hỏi có bao nhiêu thùng bánh?
Cách 1: Tính số hộp: 800:4 = 200 (hộp)
Sau đó tính số thùng bánh: 200 : 5 = 40 (thùng)
*Cách này hướng dẫn cho học sinh giải đúng
Cách 2: Tính số bánh được xếp trong mỗi thùng: 4 x 5 = 20 (bánh)
Phiếu bài tập minh họa.
Bài 1: Tính giá trị biểu thức:
a) 205 + 50 + 7 b) 352 – 30 + 27 c) 45 x 3 x 2 d) 55 : 5 x 7
Bài 2: Viết thành các biểu thức rồi tính:
a) 123 cộng với 146 trừ đi 98 b) 46 nhân với 5 chia cho 2
c) 578 trừ đi 99 cộng với 207 d) 648 chia cho 6 chia cho 3
Bài 3: Nối giá trị biểu thức với phép tính:
45 x 2 x 3
423
201 + 39 + 56 564: 4 x 3 324- 20 + 61
36
296
Trang 13Bài 4: Điền Đ/ S vào mỗi cách tính sau:
a) 21 3 : 7 = 63 : 7 21 3 : 7 = 21 : 7 3
b) 24: 3 2 = 24 : 6 24 : 3 x 2 = 8 2
= 4 = 16
Bài 5: Hà có 56 nhãn vở, em Minh có 37 nhãn vở Hai chị em đã dùng hết 44
nhãn vở Hỏi cả hai chị em còn lại bao nhiêu nhãn vở?
Sau khi ôn tập như trên, đa số HS lớp tôi đã hiểu được bản chất của quytắc và làm tốt dạng bài biểu thức chỉ có phép cộng trừ hoặc phép nhân, phépchia Điều đáng mừng là các em không nhầm lẫn với cách tính dạng bài thứ haitrong SGK
2) Biểu thức có dấu cộng, trừ, nhân, chia:
*Thực hiện nhân, chia trước cộng, trừ sau có 8 biểu thức:
(x , +), (+ , x), (: , +), (+ , :)
(x , - ), (- , x), (: , -), (- , :)
*Tám cách tính (biểu thức) trên cùng một quy tắc
Ngoài ra, nếu chúng ta không hướng dẫn cụ thể cho các em Nhiều em sẽghi kết quả thực hiện sai, kết quả đúng nhưng cách thực hiện sai hoặc khôngđúng kết quả
Ví dụ: 60 + 35 : 5 = 60 + 7
= 67 (Thực hiện tính giá trị biểu thức đúng)
60 + 35 : 5 = 7 + 60 = 67 (kết quả đúng nhưng bước thực hiện sai)
Nếu các em có thói quen thực hiện sai lệch này, về mặt toán học, lập luậngiải trình không đúng, lúng túng Vậy cần chú ý trường hợp này
Trường hợp này giáo viên phải hướng dẫn cụ thể như sau:
- Nếu biểu thức có nhân hoặc chia thì phải thực hiện nhân hoặc chia trước rồiphải viết đúng kết quả vừa tính và dấu phép tính còn lại (chưa thực hiện) sangbên phải dấu (=) đúng vị trí
- Còn phép tính (cộng hoặc trừ) chưa thực hiện thì phải viết lại đúng vị trí như ở
đề bài thì kết quả mới đúng Đồng thời cũng hướng dẫn, rèn luyện cách thựchành ở lớp bằng nhiều hình thức học tập như phiếu học tập, bảng con, trò chơi ainhanh hơn để học sinh thành thạo dạng biểu thức này
+ Vận dụng vào giải toán:
Ví dụ : Một cửa hàng buổi sáng bán được 432 l dầu, buổi chiều bán được gấp
đôi buổi sáng Hỏi cả hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu lít dầu?
- Thông thường HS giải bằng 2 phép
tính như sau:
Bài giải
- Đối với HS khá giỏi, các em có thể làm gộp 2 bước tính thành 1 bước như sau: