Từ thực tế giảng dạy ở Trường Tiểu học Cẩm Thạch, là một trường thuộcvùng cao của huyện, đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy họcsinh trong trường nói chung và học sin
Trang 12 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
Trang 21 Mở đầu
1.1.Lí do chọn đề tài.
Hứng thú có vai trò quan trọng và quyết định đầu tiên trong việc giúp họcsinh từng bước học tốt môn học Kinh nghiệm thực tế cho thấy hầu hết mọi họcsinh muốn học tốt môn học thì trước hết phải làm cho học sinh hứng thú, hamthích, say mê với môn học này
Môn Tiếng Việt ở trường Phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lựchoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiệntrong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng nghe, nói, đọc,viết Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữviết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thànhtiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩakhông có âm thanh (ứng với đọc thầm).[1]
Trong môn Tiếng Việt, Tập đọc là phân môn thực hành Nhiệm vụ quantrọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc đượctạo nên từ bốn kĩ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của đọc: đọcđúng, đọc nhanh( đọc lưu loát chôi trảy), đọc có ý thức( thông hiểu nội dungnhững điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay( mà mức độ cao hơn
là đọc diễn cảm) Bốn kĩ năng đọc được hình thành trong hai hình thức đọc: đọcthành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau.[1]
Vì vậy, nếu làm tốt một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cựcđến kĩ năng khác như để đọc nhanh thì trước hết phải đọc đúng từ đó giúpngười đọc thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại nếu không thông hiểu điềumình đang đọc thì không thể đọc nhanh và đọc hay được Vì vậy có thể nói nếucác em học tốt phân môn Tập đọc thì các em sẽ chiếm lĩnh được kiến thức TiếngViệt và cũng chính là tiền đề để các em học tốt môn học khác, làm cơ sở để các
em học cấp học kế tiếp
Từ thực tế giảng dạy ở Trường Tiểu học Cẩm Thạch, là một trường thuộcvùng cao của huyện, đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy họcsinh trong trường nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng kĩ năng đọc của các emcòn hạn chế về tốc độ đọc, sai lỗi, ngắt nghỉ chưa hợp lí Học sinh còn gặp khókhăn trong việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc nhanh, đọc có ý thức và đọchay và đặc biệt là các em chưa có sự hứng thú khi học tập đọc
Vậy làm thế nào để học sinh có hứng thú và say mê từ đó nâng cao chấtlượng dạy học trong phân môn Tập đọc? Quả thực đó là vấn đề khiến tôi suynghĩ rất nhiều
Xuất phát từ những trăn trở trên, tôi đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu nguyên
nhân và đưa ra: “Một số biện pháp tạo hứng thú học tập góp phần nâng cao
chất lượng phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 3A trường Tiểu học Cẩm Thạch, huyện Cẩm Thuỷ ” làm vấn đề nghiên cứu trong năm học 2020 -2021.
Trang 31.2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng từ đó đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú cho họcsinh khi học tập đọc góp phần nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc cho họcsinh lớp 3A trường Tiểu học Cẩm Thạch
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp tạo hứng thú trong phân môn Tập đọc cho học sinhlớp 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thu thập, xử lí, đánh giá số liệu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận:
Trong trường Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với học sinh bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thứccần thiết cho cuộc sống và quá trình giao tiếp hằng ngày Nó giúp các em pháttriển một cách toàn diện, hình thành ở các em những cơ sở của thế giới khoahọc, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đứctốt đẹp của con người mới
Tập đọc là một trong các phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, cónhiệm vụ là hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh Bên cạnh nhiệm
vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn giúp họcsinh làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, kiến thức về văn học và đời sống Từ đóbồi dưỡng ở các em lòng nhân hậu, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logiccũng như biết tư duy có hình ảnh…Như vậy dạy đọc không chỉ giáo dục tưtưởng, đạo đức mà còn giáo dục tính cách, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh
Ở lớp 3 Sách Tiếng Việt gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủđiểm học trong 2 tuần ( riêng chủ điểm “Ngôi nhà chung” học trong 3 tuần)
Nội dung dạy học Tập đọc gồm 62 bài trong đó có 16 bài thơ, 46 bài vănxuôi Nội dung tập đọc phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau, từ gia đình, nhàtrường, quê hương, vùng miền và các dân tộc anh em trên đất nước ta đến cáchoạt động văn hoá, khoa học, thể thao và các vấn đề lớn của xã hội như bảo vệhoà bình, phát triển tình hữu nghị, sự hợp tác giữa các dân tộc, bảo vệ môitrường sống, chinh phục vũ trụ, …[2]
Yêu cầu cần đạt về chuẩn kiến thức: Đối với học kì 1 tốc độ đọc cần đạtkhoảng 55- 60 tiếng/phút và trả lời được các câu hỏi theo yêu cầu Ở học kì 2tốc độ đọc cần đạt khoảng 65-70 tiếng/phút và trả lời được các câu hỏi theo yêucầu để nắm được nội dung bài
Trang 4Sách giáo khoa trình bày các bài tập đọc kênh chữ rõ ràng, chính xác.Tranh ảnh sinh động Tuy nhiên nội dung một số bài tập đọc khá dài dẫn đếnmất nhiều thời gian, học sinh cảm thấy nhàm chán, một số tranh ảnh chưa có tácdụng làm nổi bật được nội dung cần truyền đạt, màu sắc chưa đẹp, chưa lôicuốn, hấp dẫn học sinh.
Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc đòi hỏi giáo viêncần thay đổi hình thức, phương pháp dạy học Cần mạnh dạn, sáng tạo trong dạyhọc để gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em học tập hiệu quả hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
* Về phía giáo viên:
- Đội ngũ giáo viên của nhà trường đều có trình độ chuẩn, có kinh nghiệmtrong giảng dạy, nhiệt tình trong công tác
- Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạnchế, đó là:
- Việc đổi mới phương pháp dạy học chưa được thực hiện triệt để, còn phụthuộc vào hướng dẫn SGK, SGV mà chưa có sự vận dụng linh hoạt trong giảng dạy
pháp, thủ pháp dạy học Tập đọc
dạy, chưa phát huy hiệu quả của đồ dùng dạy học; các biện pháp luyện đọc cho
học sinh chưa hiệu quả Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, nhàm chán Vì
vậy, các giờ học thường chưa tạo được sự hứng thú, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh
* Về phía học sinh:
Năm học 2020 – 2021 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3 Lớp tôi chủnhiệm và giảng dạy có 27 học sinh Các em đều là học sinh dân tộc thiểu số,việc đọc, tiếp thu bài còn hạn chế Giờ học Tập đọc trầm, học sinh đọc còn sailỗi, ngắt nghỉ chưa hợp lí, đọc chưa đúng tốc độ, đọc có ý thức còn chậm, tiếpthu một cách thụ động, thiếu sự nhiệt tình, tích cực trong các hoạt động học tập.Nhiều em mức độ chú ý trong giờ học chưa cao, các em không hứng thú dẫn đếnkết quả học chưa tốt
Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh trong lớp về mức độ hứng thú tronghọc Tập đọc thông qua phiếu.( Phiếu để ở phần phụ lục)
+ Kết quả thu được về mức độ hứng thú:
Trang 5+ Khi bước vào năm học mới được 2 tuần tôi đã tiến hành khảo sát chất
Tổng
số
Nhóm học sinh đọc tốt
(Đọc đúng, trôi chảy,
biết nhấn giọng ởcác từ ngữ biểu cảm,Hiểu ND văn bản…)
Nhóm học sinh đọc đạt yêu cầu
(Đọc đúng, trôichảy đôi lúc đọcnhỏ.)
Nhóm học sinh đọc chưa đạt yêu cầu
(Đọc ê- a, ngắc ngứ,ngắt nghỉ sai, đọc sai
âm vần và dấuthanh )
Qua bảng thống kê trên tôi thấy: Số lượng học sinh có hứng thú với phânmôn Tập đọc còn thấp chỉ chiếm 11,1 %, đây là những học sinh có năng khiếuhọc Tập đọc, chăm chỉ học tập; 55,6% học sinh ít hứng thú với phân môn Tậpđọc Còn lại 33,3% học sinh không có hứng thú học phân môn này với nhiều lýdo: Giờ Tập đọc không hấp dẫn, ngại học, khó tiếp thu, khó nhớ
Từ những lí do trên đã dẫn đến kết quả học tập phân môn môn Tập đọccủa học sinh trong lớp chưa cao: Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 3 em tươngứng với 11,1% học sinh đọc tốt, số học sinh đọc chưa đạt yêu cầu còn tới 5 em,tương ứng với 18,5%
Với thực trạng nêu trên, để tạo hứng thú cho học sinh trong học phân mônTập đọc, góp phần nâng cao chất lượng môn học, trong quá trình dạy học tôi đãthực hiện một số các biệp pháp sau:
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Biện pháp 1: Tăng cường sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học Tập đọc
Phương pháp trực quan trong dạy học Tâp đọc ở tiểu học là phương phápdạy học trong đó giáo viên sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học trước trong vàsau khi học kiến thức mới, khi ôn tập, khi củng cố và kiểm tra kiến thức Từ đógiúp học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng cần đạt
Việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan sẽ giúp học sinh hứng thúhơn và tiếp thu bài dễ dàng hơn, giúp bài giảng của giáo viên thêm sôi động, hấpdẫn, phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học là từ “trực quan sinhđộng đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Vì vậy, Khi
sử dụng phương pháp trực quan thì không thể thiếu được các đồ dùng, phươngtiện dạy học, đó là chỗ dựa ban đầu cho hoạt động nhận thức của học sinh
Tuy nhiên khi sử dụng đồ dùng trực quan giáo viên cần lưu ý lựa chọn các
đồ dùng phù hợp với nội dung, mục tiêu của bài, đảm bảo thẩm mỹ và chínhxác, dễ kiếm dễ tìm; sử dụng đúng lúc đúng chỗ, tránh lạm dụng
Trang 6Phương tiện trực quan có thể là lời nói, giọng đọc mẫu, thiết bị sẵn có,hoặc do giáo viên và học sinh tự làm, vật thật trong cuộc sống; có thể là môhình, hình vẽ, tranh ảnh…
a.Trực quan qua giọng đọc mẫu của giáo viên.
Trong tiết dạy Tập đọc thì lời nói, giọng đọc mẫu của giáo viên là phươngtiện trực quan không thể thiếu Việc đọc mẫu của giáo viên có một vai trò vôcùng quan trọng trong việc giúp học sinh đọc đúng và hiểu nội dung văn bản Đểđọc diễn cảm, trước hết người giáo viên phải xác định nội dung, ý nghĩa của bàiđọc, sắc thái, tình cảm, cảm xúc, giọng điệu chung của bài Giáo viên thâm nhậpvào tác phẩm, thấm được vào máu thịt của bài văn, tái hiện được hình tượng của
tác phẩm Vì vậy để làm tốt được điều này giáo viên phải có lòng ham muốn đọc
hay và có ý thức tự điều chỉnh để mình đọc đúng hơn, hay hơn, có ý thức trauchuốt giọng đọc của mình Do đó, mỗi thầy cô giáo phải có sự chuẩn bị kĩ ở nhà
để khi lên lớp, trước học sinh họ sẽ là một chuẩn mực cho học sinh, đem đếncho học sinh mẫu hình đẹp nhất về mặt âm thanh của tiếng nói dân tộc
Ví dụ: Khi dạy bài “ Chú ở bên Bác Hồ” (SGK Tiếng Việt 3- Tập 2/
Trang 16)
ngây thơ, tự nhiên thắc mắc về người chú của bé Nga Khổ thơ cuối đọc với giọngtrầm buồn, xúc động nghẹn ngào của bố mẹ Nga khi nhớ đến người đã hi sinh
b Sử dụng đồ dùng dạy học để giới thiệu bài, giảng từ, tìm hiểu nội dung bài, luyện đọc.
Đồ dùng dạy học là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học, chúng
có tác dụng tích cực và là đông lực thúc đẩy quá trình dạy – học Tạo điều kiện
để học sinh tiếp thu bài một cách hào hứng có hiệu quả Đồ dùng dạy học có thể
là tranh, ảnh, vật thật,…do giáo viên, học sinh tự làm hay sưu tầm, chuẩn bị
Ví dụ 1: Khi dạy bài: “Các em nhỏ và cụ già” (SGK Tiếng Việt 3- Tập 1/
Trang 62)
- Phương tiện trực quan: Tranh trong Sách giáo khoa phóng to
- Sử dụng tranh ngay trong phần giới thiệu bài: HS nêu nội dung tranh,giáo viên kết hợp giới thiệu bài
- Sử dụng khi luyện đọc: Khi giảng từ “ u sầu” giáo viên hướng dẫn học
sinh quan sát vẻ mặt của ông lão trong tranh để kết hợp giải nghĩa từ
- Sử dụng khi tìm hiểu bài sau khi học sinh trả lời xong câu hỏi số 1,2giáo viên dùng tranh để giảng và chốt ý chính của đoạn
Trang 7
Hình ảnh sử dụng đồ dùng trực quan trong tiết dạy
Ví dụ 2: Khi dạy bài: “ Nhà Rông ở Tây Nguyên” (SGK Tiếng Việt
3-Tập 1/ Trang 127)
- Khi giải nghĩa từ “ già làng” giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát
hình ảnh người già vùng dân tộc để kết hợp giải nghĩa từ
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Hũ bạc của người cha” (SGK Tiếng Việt 3- Tập
1/Trang 121)
- Đồ dùng chuẩn bị: Một cái hũ bằng sành và đồng bạc ngày xưa bằng vật thật
- Giáo viên sử dụng vật thật để giải nghĩa từ “ hũ bạc” và “ đồng tiền”
thời xưa trong phần tìm hiểu bài
2.3.2 Biện pháp 2: Tạo hứng thú cho học sinh thông qua các trò chơi học tập
Trò chơi học tập trong phân môn Tập đọc là những trò chơi được đưa vàolớp học nhằm biến việc học tập trên lớp thành một cuộc chơi Thông qua các tròchơi có nội dung lí thú, phù hợp với việc nhận thức của học sinh, các em sẽ tiếpnhận kiến thức và rèn kĩ năng dễ dàng hơn, hào hứng hơn Trò chơi học tập cùnglúc đáp ứng cả hai nhu cầu của học sinh – nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập.Trò chơi học tập tạo nên hình thức “ Học mà chơi – chơi mà học” Mọi hoạtđộng trong tiết dạy đều có thể trở thành trò chơi học tập nếu mà giáo viên nắmbắt đúng thao tác, cái đích của hoạt động học sẽ truyền tải nội dung học tập đếnhọc sinh hoàn toàn tự nhiên khi nó tồn tại dưới dạng trò chơi Trong tiết dạy Tậpđọc giáo viên có thể tổ chức một số trò chơi như sau:
*Trò chơi 1: Trò chơi: Đọc tiếp sức
a Mục đích: Giúp học sinh rèn kĩ năng đọc đúng, đọc nhanh các bài văn,bài thơ trong sách giáo khoa, rèn luyện cho học sinh tác phong nhanh nhẹn, tậptrung chú ý để phối hợp nhịp nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọcthành từng câu nối tiếp
b Chuẩn bị: Lập các nhóm chơi có số người bằng nhau; cử 2 người làmtrọng tài, 1 đồng hồ
Trang 8c Thời điểm tổ chức: Phần luyện đọc lại
d Cách chơi: Khi nghe trọng tài hô “bắt đầu” người số 1 đứng đầu hàng,phải đọc câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh Dứt tiếngcuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 cạnh vị trí số 1 mới đọc tiếp câu thứ hai
Cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm Nếu chưa hết bài, câu tiếp lạiđến người số 1 đọc, người số 2 đọc …cho đến hết thì dừng lại
Trọng tài tính thời gian và ghi lại kết quả số phút toàn bài của từng nhóm,cùng các bạn theo dõi, nhận xét tính điểm của từng nhóm vừa đọc, công bố kếtquả về thời gian đọc và số điểm đọc của từng nhóm chơi
Nhóm được nhiều điểm nhất (ít lỗi) và có thời gian đọc ít nhất là nhómgiành phần thắng trong cuộc thi đọc tiếp sức
Ví dụ: Khi dạy bài “Ông ngoại” (SGK Tiếng Việt 3- Tập 1/Trang 34)
Chuẩn bị: 1 đồng hồ để bấm thời gian
Thời điểm tổ chức trò chơi: Hoạt động 3- Luyện đọc lại đoạn: " Ông chậm
rãi… của tôi sau này"
1 đứng đầu hàng, phải đọc câu thứ nhất của đoạn một cách rõ ràng, chính xác vànhanh Dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người số 2 mới đọc tiếp câu thứhai Cứ như vậy cho đến kết thúc đoạn Trọng tài tính thời gian và ghi lại kết quả
số phút đọc của từng nhóm, cùng các bạn theo dõi, nhận xét tính điểm của từngnhóm vừa đọc, công bố kết quả về thời gian đọc và số điểm đọc của từng nhóm Bước 2: Học sinh tham gia chơi
Bước 3: Tuyên bố đội thắng cuộc, tuyên dương tinh thần chơi của hai nhómMỗi khi tổ chức chò chơi này, tôi thường gọi những học sinh đọc chưa tốtlên chơi Các em rất tích cực và thích thú khi được tham gia trò chơi
*Trò chơi 2: Ghép các dòng thơ thành bài.
a Mục đích: Rèn kĩ năng đọc nhanh và thuộc các bài thơ đã học, cũngnhư luyện tác phong nhanh nhẹn khéo léo
b Chuẩn bị: Lập 2 nhóm chơi có số người bằng nhau; cử 1 người làmtrọng tài; giáo viên chuẩn bị hai bộ băng giấy một băng giấy ghi đầu bài và cácbăng giấy mỗi băng giấy ghi một dòng thơ
c Thời điểm tổ chức: Phần luyện đọc lại (học thuộc lòng)
Trang 9d Cách chơi: Trọng tài đặt trước nhóm chơi một bộ băng giấy đã sắp xếplẫn lộn úp mặt có chữ xuống bàn.
- Khi nghe trọng tài hô lệnh “ Bắt đầu” tất cả cùng lật băng giấy, đọc vàxếp đúng thứ tự các câu thơ trong bài, cần đặt giấy ngay ngắn, đúng hình thứctrình bày thể thơ như sách giáo khoa
- Nhóm thắng cuộc là nhóm xếp đúng nội dung bài, đúng hình thức trìnhbày và có thời gian ít nhất
Ví dụ: Khi dạy bài “Nhớ Việt Bắc” (SGK Tiếng Việt 3- Tập 1/Trang 115)
Chuẩn bị: Hai bộ băng giấy Mỗi bộ băng giấy gồm một băng giấy ghi
đầu bài và các băng giấy mỗi băng giấy ghi một dòng thơ.(10dòng)
Thời điểm tổ chức trò chơi: Luyện đọc học thuộc lòng ( 10 dòng thơ đầu)Cách tiến hành:
Bước 1: GV nêu tên trò chơi, luật chơi
- Trò chơi: Ghép các dòng thơ thành bài
- Luật chơi: Giáo viên lập hai đội chơi, mỗi đội có 4 Học sinh; cử 1 họcsinh làm trọng tài Trọng tài đặt trước mỗi đội chơi một bộ băng giấy đã sắp xếplẫn lộn úp mặt có chữ xuống bàn Khi nghe trọng tài hô lệnh “ Bắt đầu” tất cả cùnglật băng giấy, đọc và xếp đúng thứ tự các câu thơ trong bài, cần đặt giấy ngay ngắn,đúng hình thức trình bày thể thơ như sách giáo khoa Nhóm thắng cuộc là nhómxếp đúng nội dung bài, đúng hình thức trình bày và có thời gian ít nhất
Bước 2: Học sinh tham gia chơi, giáo viên và học sinh khác cổ vũ hoạtđộng của hai đội
Bước 3: Tuyên bố đội thắng cuộc, tuyên dương tinh thần chơi của hai đội
Hình ảnh học sinh tham gia trò chơi “ Ghép các dòng thơ thành bài thơ”
Qua trò chơi này tôi thấy học sinh rất hào hứng với những tiết Tập đọchọc thuộc lòng Các em thuộc bài nhanh hơn và nhớ được cách trình bày cácthể thơ
Trang 10*Trò chơi 3: Thi đọc truyện theo vai.
a Mục đích: Rèn kĩ năng đọc các bài là truyện kể Giúp học sinh thể hiệnđúng lời các nhân vật, lời người dẫn truyện cũng như luyện kĩ năng đọc thầm,theo dõi bạn đọc để phối hợp nhịp nhàng khi đến vai đọc của mình
b Chuẩn bị: Lập 2 nhóm chơi mỗi nhóm có số người bằng nhau theo từngnội dung của bài đọc Cử trọng tài
c Thời điểm chơi: Phần luyện đọc lại
d Cách chơi: Hai nhóm thi đọc sẽ đứng lên, mỗi bạn cầm theo SGK đểđọc theo sự phân công của nhóm mình
- Khi nghe trọng tài hô “ bắt đầu” thì lần lượt từng nhóm sẽ tham gia thiđọc truyện theo vai
- Nhóm thắng cuộc là nhóm đọc to, rõ ràng thể hiện đúng lời các nhân vật
Ví dụ: Khi dạy bài “Nắng phương Nam” (SGK Tiếng Việt 3- Tập
1/Trang 94)
- Thời điểm tổ chức trò chơi: Hoạt động 3- Luyện đọc lại
- Cách tiến hành:
Bước 1: GV nêu tên trò chơi, luật chơi
- Trò chơi: Thi đọc truyện theo vai
- Luật chơi: Giáo viên lập hai đội chơi, mỗi đội có 4 học sinh, mỗi bạn lênchơi sẽ cầm theo SGK; cử 1 học sinh làm trọng tài, học sinh dưới lớp cùngtrọng tài theo dõi nhận xét, đánh giá Các nhóm tự phân vai đọc truyện theo cácnhân vật trong truyện Nhóm thắng cuộc là nhóm đọc đúng lời các nhân vật, lờingười dẫn truyện thể hiện được giọng đọc, sắc thái tốt hơn là nhóm thắng cuộc
Bước 2: Học sinh tham gia chơi, giáo viên và học sinh khác theo dõi hoạtđộng của hai đội
Bước 3: Tuyên bố đội thắng cuộc, tuyên dương tinh thần chơi của hai đội
* Qua trò chơi này tôi thấy học sinh rất yêu thích đọc bài văn là truyện kể.Các em hào hứng hơn với tiết Tập đọc Các em thích được vào vai các nhân vật
để thể hiện mình
Ngoài các trò chơi đã nêu, giáo viên có thể sử dụng một số trò chơi họctập khác như: Nghe đọc đoạn đoán tên bài, đọc thơ truyền điện.… để giúp họcsinh luyện đọc và nhớ các bài đọc, từ đó tạo hứng thú cho các em, giúp các emhọc tập tích cực, hiệu quả phân môn học này
Lưu ý: Khi tổ chức các trò chơi, giáo viên cần xác định đúng mục đíchcủa trò chơi; nắm được ưu, nhược điểm của phương pháp trò chơi; một số lưu ýkhi dạy học theo phương pháp này
Như vậy có rất nhiều các trò chơi học tập tác động tích cực vào việc tạohứng thú cho học sinh, các em rất háo hức mong chờ đến giờ học, tất cả học sinhđều tiếp thu bài tốt, được luyện đọc nhiều, hiểu rõ nội dung của văn bản đọc vìvậy hiệu quả giờ dạy được nâng lên rõ rệt
Trang 112.3.3 Biện pháp 3: Sử dụng ngữ liệu phù hợp trong dạy Tập đọc để tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Ngữ liệu là phần tất yếu của nội dung bài học Muốn học sinh có hứng thútrong giờ học, trước hết giáo viên phải linh hoạt trong việc tạo ra ngữ liệu ở mỗitiết học Việc sử dụng ngữ liệu phù hợp ở mỗi tiết Tập đọc sẽ giúp học sinh cảmthụ được cái hay, cái đẹp trong từ ngữ, nội dung bài Từ đó, học sinh bị cuốn hútvào bài học và học tập một cách chủ động, say mê và thích thú hơn Theo đó,trong quá trình dạy học giáo viên có thể sử dụng ngữ liệu dạy học trong các hoạtđộng cụ thể sau:
* Dùng ngữ liệu hấp dẫn để giới thiệu bài:
Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học Việc giới thiệubài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý, tạo hứng thú học tập cho học sinh vàphát huy nỗ lực của các em trong suy nghĩ, tìm hiểu kiến thức mới Có nhiềucách để giới thiệu bài: giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp;giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật; giới thiệu bằng cách nêu tình huống cóvấn đề; giới thiệu qua việc kiểm tra kiến thức cũ giới thiệu bài mới, đặt ra nhữngcâu hỏi có vấn đề, liên tưởng, so sánh, mở rộng vấn đề trong bài học, nhằm pháthuy khả năng sáng tạo của học sinh
Ví dụ 1: Khi dạy bài “ Người mẹ” ( SGK Tiếng Việt 3- Tập 1/ Trang 29)
Giáo viên có thể sử dụng hình thức giới thiệu bài gián tiếp bằng cách nêu
câu hỏi: Trong bài “Chiếc áo len” đã học ở tiết trước có những nhân vật nào?
Nêu tình cảm của người mẹ đối với các con? Từ đó giáo viên dẫn dắt học sinhgiới thiệu bài mới "Mẹ luôn thương con và có thể hy sinh vì những đứa con của
mình, sự hy sinh đó là vô cùng- vô tận Câu chuyện “Người mẹ” hôm nay sẽ
giúp các em thấy được sự hy sinh cao cả đó"
Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Giọng quê hương”( SGK Tiếng Việt 3- Tập
1/Trang 76)
- Trong phần giới thiệu bài, để tạo được hứng thú cho học sinh giáo viên
cho các em lắng nghe bài hát “Quê hương” của Tác giả Đỗ Trung Quân, đưa ra
câu hỏi giúp các em nhận thấy tình cảm của mỗi người đối với quê hương quacâu hát:
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nỗi thành người
Từ đó giáo viên dẫn dắt giới thiệu học sinh vào bài mới
* Thay đổi ngữ liệu dạy học phù hợp với nội dung chủ điểm, phù hợp thực tế và đối tượng học sinh.
Với học sinh, bên cạnh việc học tập theo hướng dẫn của thầy cô giáo, các
em còn phải rèn luyện thông qua hệ thống bài tập để nắm chắc nội dung đã học
Trang 12Người giáo viên song song với việc giảng dạy cần rà soát ngữ liệu trong sáchgiáo khoa để điều chỉnh, thay mới những ngữ liệu không phù hợp, lựa chọn ngữliệu thay thế phù hợp với nội dung các chủ điểm, phù hợp với đối tượng họcsinh, phù hợp với thực tế địa phương và có tính cập nhật nhằm phát triển nănglực phẩm chất học sinh “Thay đổi ngữ liệu phù hợp” là phương tiện và công
cụ rèn luyện tạo sự hấp dẫn và hiệu quả trong việc học Tiếng Việt, mang lại chocác em học sinh niềm vui và sự hữu ích trong học môn Tiếng Việt nói chungcũng như môn tập đọc nói riêng
- Thay đổi ngữ liệu để phù hợp với thực tế địa phương, phù hợp với đốitượng học sinh có tính cập nhật nhằm phát triển năng lực phẩm chất học sinh
Ví dụ : Khi dạy bài “ Thư gửi bà” ( SGK Tiếng Việt 3- Tập 1/ Trang 81)
Giáo viên có thay đổi một số ngữ liệu trong sách giáo khoa như:
- Thay đổi về địa điểm và thời gian viết thư:
+ Hải Phòng, ngày 6 tháng 11 năm 2003 thay bằng Thanh Hoá, ngày 6 tháng 11 năm 2020.
- Thay đổi một số từ ngữ trong nội dung bức thư: Câu: “ Từ đầu năm đến
giờ, cháu được tám điểm 10 rồi đấy” Thay bằng: “ Từ đầu năm đến giờ, cháu được tám lần cô giáo khen hoàn thành tốt rồi đấy”.
Như vậy, việc thay đổi địa điểm viết thư cũng như cụm từ “điểm mười” thành “hoàn thành tốt” đã giúp tiết dạy trở nên thực tế hơn, phù hợp với
cách đánh giá của thông tư 22/2016 – TT/BGD&ĐT hiện nay Với cách thayđổi này, phù hợp với thực tế, học sinh đã học tập hứng thú và trả lời tốt hơncác câu hỏi trong phần tìm hiểu bài
Qua việc sử dụng ngữ liệu phù hợp trong từng hoạt động của tiết học đãcuốn hút học sinh vào bài học và học tập một cách chủ động, say mê và thíchthú hơn
2.3.4 Biện pháp 4: Vận dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng, dạy học theo
sự phân hóa các đối tượng học sinh.
Như chúng ta đã biết, dạy học phân hóa theo đối tượng sẽ phát huy đượctính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, phát huy ởngười học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chívươn lên Dạy học phân hóa các đối tượng học sinh thực sự cần thiết vì mức độtiếp thu của mỗi học sinh khác nhau, trong cùng một khoảng thời gian có họcsinh đọc được nhiều hơn có học sinh đọc ít hơn có học sinh đọc hiểu tốt hơn họcsinh khác Chính vì vậy, trong mỗi tiết dạy, giáo viên nên cân nhắc, dự kiến cácphương án dạy học phù hợp từng đối tượng học sinh Trong quá trình dạy tậpđọc giáo viên luôn ý thức thực hiện dạy phân hóa một cách linh hoạt và khoahọc, cụ thể như:
a Phân hóa mức độ độc lập hoạt động của học sinh trong việc xây dựng câu hỏi và các hoạt động dạy học.
Tăng cường cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng củamỗi học sinh là việc làm có vai trò quan trọng để tạo hứng thú học tập Khi học
Trang 13sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ mà giáo viên giao cho, các em sẽ cảm thấy tự tin
và học tập tích cực Ở mỗi tiết Tập đọc, giáo viên thiết kế tiết học thành mộtchuỗi nhiệm vụ phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tượng học sinh
-Trong phần luyện đọc- luyện đọc lại
Ví dụ : Khi dạy bài “ Ông tổ nghề thêu” ( SGK Tiếng Việt 3- Tập 2/
dung bẻ dần tương mà ăn // Nhân được nhàn rỗi, / ông mày mò quan sát, / nhớ nhập tâm cách thêu và làm lọng //
Từ cách đọc đó học sinh sẽ định hướng được giọng đọc của đoạn, cáchngắt nghỉ hơi giữa các câu dài; cách nhấn giọng những từ ngữ thể hiện sự bìnhtĩnh, ung dung, tài trí của Trần Quốc Khái trước thử thách của vua Trung Quốc
- Trong phần tìm hiểu bài đối với những học sinh đọc chưa tốt giáo viên
có thể thường thiết kế những câu hỏi có tính chất nhận diện, cụ thể, dễ hiểu, dễ
Còn đối với những học sinh đọc và tiếp thu bài tốt giáo viên sẽ định hướng chocác em trả lời các câu hỏi khó, trừu tượng, có sự liên hệ kiến thức
Ví dụ 1 : Khi dạy bài: “Giọng quê hương”( SGK Tiếng Việt 3- Tập 1/
Trang 76)
- Câu hỏi dành cho học sinh tiếp thu chậm, kĩ năng đọc chưa tốt:
? Thuyên và Đồng cùng ăn trong quán với những ai?
- Câu hỏi dành cho đối tượng học sinh tiếp thu bài nhanh, kỹ năng tốt:
? Những chi tiết nào nói lên tình cảm tha thiết của nhân vật đối với quêhương?
? Em hiểu thế nào là: nghẹn ngào, bùi ngùi, rớm lệ ?
- Nêu nội dụng của bài văn?
Ví dụ 2: Khi dạy bài: “ Đất quý, đất yêu”( SGK Tiếng Việt 3- Tập 1/
Trang 84)
- Định hướng cho học sinh học tốt trả lời
? Tìm những câu văn cho thấy người Ê-ti-ô-pi-a rất yêu quý mảnh đấtcủa mình?