1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp nâng cao năng lực giải toán dạng tính chu vi, diện tích hình chữ nhật và hình vuông cho học sinh lớp 3 trường tiểu học vĩnh yên, huyện vĩnh lộc, tỉnh thanh hóa

25 47 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình toán lớp 3, các em đã được học về chu vi, diện tích của hìnhvuông, hình chữ nhật, đây là dạng toán có rất nhiều ứng dụng trong thực tế.Trong giải toán về chu vi, diện tích h

Trang 1

Nội dung Trang

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

1.2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3

Tài liệu tham khảo

Danh mục các đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã được Hội đồng

SKKN ngành GD huyện, tỉnh và các cấp cao hơn đánh giá đạt từ loại

C trở lên

Phụ lục

Trang 2

Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán đóng vai trò rất quan trọng Đây làmôn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các

số tự nhiên, phân số, các số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tốhình học và thống kê đơn giản Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đolường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống Góp phầnbước đầu phát triển năng lực tư duy, năng lực suy luận hợp lý và diễn đạt đúng(nói và viết), cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trongcuộc sống Kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hìnhthành bước đầu phương pháp dạy học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủđộng, linh hoạt, sáng tạo.[1]

Trong dạy học toán ở tiểu học, việc giải toán về hình học chiếm một vị trí quantrọng Đặc biệt là dạng toán tính chu vi, diện tích của các hình hình học Bởitrong thực tế cuộc sống hàng ngày thì con người phải tiếp xúc và giải quyếtnhiều vấn đề có liên quan đến các yếu tố về hình học như tính chu vi, diện tíchcủa một cái ao, một thửa ruộng, một mảnh vườn, một sân bóng… Chính vì vậy,chúng ta cần phải chú trọng giúp học sinh nắm vững bản chất của các yếu tốhình học

Chương trình toán lớp 3, các em đã được học về chu vi, diện tích của hìnhvuông, hình chữ nhật, đây là dạng toán có rất nhiều ứng dụng trong thực tế.Trong giải toán về chu vi, diện tích hình chữ nhật và hình vuông, học sinh phải

tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tích cực các kiến thức và kỹnăng đã có vào tình huống khác nhau Trong nhiều trường hợp phải biết pháthiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh vàtrong chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo

Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học là dễ nhớ nhưng dễ quên, sự tậptrung chú ý chưa cao, trí nhớ chưa bền vững nên việc khắc sâu kiến thức chohọc sinh là rất cần thiết Toán về chu vi, diện tích các hình là một dạng tươngđối khó với học sinh nhưng trong chương trình Toán lớp 3 những bài toán về

"Chu vi và diện tích hình chữ nhật, hình vuông" chiếm một số tiết không nhiều

trong chương trình (2 tiết về khái niệm hình chữ nhật và hình vuông, 2 tiết vềchu vi hình chữ nhật và hình vuông, 4 tiết về diện tích và 4 tiết luyện tập tínhchu vi, diện tích hình chữ nhật và hình vuông) Vì vậy việc giảng dạy phần hìnhhọc trong môn toán để đạt hiệu quả tốt là hết sức khó khăn Nó không đơn thuầnnhư các phần khác mà nó đòi hỏi ở các em với mức độ nhận biết cao hơn, phứctạp và trừu tượng hơn Chính vì thế mà các em gặp không ít khó khăn khi họctoán về hình học Và hiện nay chúng ta đang hướng vào việc phát triển năng lực

và phẩm chất cho học sinh nên trong thực tế giảng dạy tôi đã mạnh dạn áp dụng

sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao năng lực giải toán dạng tính chu vi, diện tích hình chữ nhật và hình vuông cho học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa” và đã thành công.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

- Tìm hiểu một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy các dạng bài về chu

vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông cho học sinh năng khiếu lớp 3, từ đó

Trang 3

nâng cao năng lực giải toán dạng tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật, hìnhvuông cho học sinh.

- Giúp học sinh ham học hỏi, yêu thích toán học và có khả năng giải tốt dạngtoán này

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Các phương pháp giúp nâng cao năng lực giải các bài toán tính chu vi, diệntích của hình chữ nhật, hình vuông cho học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Để nghiên cứu và đúc rút được kinh nghiệm này, tôi đã chọn các phương phápsau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp đúc rút kinh nghiệm

Trang 4

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Như chúng ta đã biết, trong lĩnh vực khoa học cũng như trong thực tế cuộc sốngthì con người phải tiếp xúc và giải quyết nhiều vấn đề có liên quan đến các yếu

tố hình học Bởi vậy mà ngay từ bậc Tiểu học ở các khối lớp đầu tiên (lớp 1;2;3)các dạng toán có liên quan đến hình học đã được xếp vào chương trình môn họccho các em tiếp xúc và làm quen Các em nhận dạng hình, nắm bắt và xác lậpđược một số mối quan hệ của các yếu tố hình học cơ bản mang tính đơn giản, sơđẳng ban đầu Lên các lớp trên các em lại được học sâu hơn, cao hơn về hìnhhọc

Tuy nhiên, ở lứa tuổi các em với đặc điểm tâm sinh lý đang hình thành và pháttriển, mức độ suy luận còn thấp, việc quan sát nhìn nhận một vấn đề ở mức độtrừu tượng là chưa có; xác lập các yếu tố, tìm hiểu các mối quan hệ còn mangtính cụ thể.[2] Vì thế mà việc tiếp nhận các yếu tố hình học là rất khó khăn.Trong chương trình toán lớp 3, cùng với mạch kiến thức số học, giải toán có lờivăn thì dạy các yếu tố hình học không chỉ là cơ hội tốt nhất để phát triển nănglực và trí tuệ mà còn là nội dung kiến thức được ứng dụng rộng rãi trong cácmôn học khác, ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày Nội dung trọng tâm là hìnhthành kĩ năng tính chu vi, diện tích của hình vuông, hình chữ nhật

Như vậy muốn học sinh học tốt môn toán thì yếu tố quyết định là người thầyphải có phương pháp giảng dạy phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đồng thờicần phát huy được tính tích cực của học sinh trên tinh thần đổi mới phương phápdạy học theo định hướng chung Giáo viên giúp học sinh tự phát hiện ra vấn đềcủa bài học để tự chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng được kiến thức mới, gópphần tạo hứng thú và lòng tự tin trong học tập, đặc biệt là nội dung các yếu tốhình học ở lớp 3 trên cơ sở hướng dẫn, tổ chức của giáo viên

Trong quá trình dạy toán nói chung và bồi dưỡng đội ngũ học sinh năng khiếunói riêng, mỗi giáo viên phải luôn luôn cố gắng phấn đấu, không ngừng tìm tòi,tìm ra những phương pháp dạy học mới nhất, hiệu quả nhất Việc hướng dẫn họcsinh tiếp thu kiến thức sách giáo khoa và mở rộng kiến thức ở buổi hai sẽ giúphọc sinh phát huy được tính sáng tạo, chủ động, tích cực Việc nắm được nhiềucách giải thì càng khắc sâu được kiến thức cho các em, giúp các em làm chủđược kiến thức toán học, biến kiến thức của thầy cô thành kiến thức của mình

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thực trạng công tác dạy và học toán về phần chu vi, diện tích của hình chữ nhật và hình vuông ở lớp 3.

Ngay từ đầu năm học 2018 - 2019, tôi tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạngviệc dạy và học toán về phần chu vi, diện tích của hình chữ nhật và hình vuông

ở lớp 3 bằng cách tôi dự giờ thăm lớp đồng nghiệp và tiến hành cho học sinhlàm bài kiểm tra Qua tìm hiểu thực trạng, tôi nhận thấy:

Trang 5

- Học sinh trong lớp phần đông các em có ý thức học tập.

Hạn chế:

* Về giáo viên: Qua dự giờ thăm lớp đồng nghiệp, tôi thấy:

- Biểu tượng về diện tích đối với học sinh Tiểu học là khái niệm vừa trừu tượngvừa khó hiểu đối với học sinh Chính vì vậy mà khi dạy về các tiết học này giáoviên khó diễn tả trên một số hình vẽ gợi ý của sách giáo khoa do đó học sinh khóhình dung được khái niệm này

- Thực tế khi dạy học phần chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông giáo viênmới chỉ dừng lại ở việc hình thành quy tắc và yêu cầu học sinh học thuộc quytắc để vận dụng làm những bài toán cơ bản Giáo viên chưa hướng dẫn học sinhcách triển khai từ công thức cơ bản ra nhiều công thức khác để vận dụng làmcác bài tập mở rộng nâng cao, chưa hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệgiữa hình vuông và hình chữ nhật, chưa hướng dẫn học sinh biết cách tóm tắt bàitoán bằng các cách khác nhau (tùy vào từng bài toán) Cũng có giáo viên cungcấp cho học sinh nhiều bài toán có tính mở rộng, nâng cao ở buổi 2 nhưng chỉđơn thuần là đưa ra rồi giải bài toán chứ chưa chú ý đến bản chất của bài toán,không chú ý đến lượng kiến thức cơ bản cần có để giải bài toán Vì vậy mà họcsinh khó tiếp nhận và có cơ sở để giải các bài toán cùng dạng

* Về học sinh:

- Để kiểm tra mức độ tiếp thu và làm bài của học sinh trong câu lạc bộ “Em yêu môn Toán” lớp 3 (năm học 2018 – 2019) tôi đã ra đề khảo sát học sinh (Phụ lục 1)

*Kết quả: Sau khi thu bài chấm, tôi đã thu được kết quả như sau: Tổng số học

sinh làm bài kiểm tra là 32 em

Qua kết quả khảo sát tôi thấy học sinh đạt điểm 9-10 còn rất ít chỉ chiếm 3,1%,

đa số các em chỉ đạt điểm 6-7 và vẫn còn học sinh đạt điểm dưới 5 chiếm12,5%

Qua thực tế việc học và làm bài của học sinh, tôi thấy:

- Trong quá trình học tập, học sinh chưa phân biệt các khái niệm về chu vi, diệntích khác nhau như thế nào

- Kỹ năng đọc đề và phân tích của học sinh còn hạn chế

- Khi học phần chu vi và diện tích của một hình chữ nhật, hình vuông, các emmới chỉ giải quyết các bài toán ở mức độ đơn giản mang tính rập khuôn Tínhtoán các kích thước, các yếu tố có liên quan bằng cách lắp ráp vào công thứcmột cách máy móc dựa trên những yếu tố đã cho trước với mức độ hết sức cụthể như tìm chu vi hình chữ nhật khi biết kích thước chiều dài và chiều rộng.Còn nếu chúng ta đặt bài toán ở yêu cầu cao hơn một chút ở mức 3, mức 4 có

Trang 6

tính vận dụng và nâng cao phải biến đổi thêm một số bước hay đặt các yếu tốdưới hình thức ẩn không tường minh thì đa số các em gặp rất nhiều khó khăn khigiải bài toán, thậm chí các em không giải được Như vậy năng lực giải các bàitoán về chu vi, diện tích của hình chữ nhật, hình vuông của học sinh còn nhiều

hạn chế (đặc biệt là các bài toán ở dạng mở rộng, nâng cao).

Vì sao lại xảy ra thực trạng trên? Để giải quyết câu hỏi này thì tôi đã tìm hiểunguyên nhân nào là cơ bản có liên quan trực tiếp đến những hạn chế trong phầnthực trạng ở trên

2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế.

Những hạn chế trong việc dạy và học toán về phần chu vi, diện tích của hìnhchữ nhật và hình vuông ở lớp 3 xuất phát từ những nguyên nhân sau:

* Giáo viên

- Chưa thực sự hướng dẫn cho học sinh làm các dạng bài mở rộng và nâng cao

để giúp học sinh phát triển năng lực cá nhân của mình, tạo điều kiện để học sinhhứng thú, tự tin trong học tập

- Trong quá trình giảng dạy, bồi dưỡng học sinh năng khiếu giáo viên chưa tìmtòi, quy tụ hệ thống các khối kiến thức thành mạch kiến thức cơ bản cần nắmcho học sinh để học sinh tự chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức vào hoạt động họctập một cách tích cực

* Học sinh

- Học sinh chưa nắm đúng bản chất và quy tắc tính chu vi, diện tích của hìnhchữ nhật, hình vuông Đa số các em chưa thiết lập được mối quan hệ giữa hìnhvuông và hình chữ nhật; chưa xác lập được một cách cụ thể về mối quan hệ mậtthiết giữa chu vi, diện tích và kích thước các cạnh

- Trong quá trình học tập các em chưa linh hoạt khi sử dụng công thức, chưa biếtcách mở rộng kiến thức có liên quan đến nhau Các em còn lúng túng khi triểnkhai các công thức có liên quan dựa vào quy tắc tính chu vi, diện tích hình chữnhật, hình vuông để vận dụng làm các dạng bài toán mở rộng, nâng cao

- Đa số học sinh chưa có kỹ năng tóm tắt bài toán theo tư duy logic, học sinhkhông tích cực tư duy sáng tạo để tìm ra cách giải từng dạng bài

- Học sinh chưa được trang bị (hoặc có nhưng chưa sâu, chưa có hệ thống) vềmạch kiến thức cần thiết để tìm hiểu và giải bài toán có tính mở rộng, nâng cao

về chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông

2.3 Các biện pháp thực hiện.

Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành lập kế hoạch thực hiện các biện pháp nhằmnâng cao năng lực giải toán dạng tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữnhật cho học sinh qua các biện pháp cụ thể sau:

Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm vững quy tắc tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông.

Để nâng cao năng lực giải toán tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuôngcho học sinh, điều trước tiên tôi phải giúp học sinh nắm vững được quy tắc tínhchu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông Tôi đã hướng dẫn học sinh như sau:

Bước 1: Giúp học sinh hiểu được khái niệm thế nào là chu vi của một hình? Thế

nào là diện tích của một hình?

+ Chu vi của một hình là độ dài đường viền bao quanh hình đó

Trang 7

+ Diện tích của một hình là toàn bộ bề mặt của hình đó.

Bước 2: Giúp học sinh nắm vững đặc điểm của hình vuông, hình chữ nhật.

+ Hình chữ nhật là hình có 4 góc vuông, có 2 cạnh dài bằng nhau và 2 cạnh ngắnbằng nhau

+ Hình vuông là hình có 4 góc vuông và có 4 cạnh bằng nhau

Bước 3: Giúp học sinh nắm được mối quan hệ giữa hình vuông và hình chữ nhật

(ít giáo viên làm được)

Khi dạy xong hình chữ nhật, dạy đến hình vuông, tôi đã đặt cho học sinh một câu hỏi: “Cô có hình chữ nhật, làm thế nào để hình chữ nhật này trở thành hình vuông?”.

Khi học sinh đã nắm chắc đặc điểm của hình vuông và hình chữ nhật thì nhiềuhọc sinh đã đưa ra được hai cách để chuyển hình chữ nhật thành hình vuông:Cách 1: Giữ nguyên chiều rộng giảm chiều dài

Cách 2: Giữ nguyên chiều dài tăng chiều rộng

Khi dạy các bài chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông tôi thực hiện tiếnhành các bước như trong sách giáo khoa Tuy nhiên tôi không bày sẵn cho họcsinh mà tôi chỉ là người gợi mở, định hướng cho học sinh tự rút ra quy tắc tínhchu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông

Bước 4: Thông qua các ví dụ cụ thể, học sinh tự khái quát thành công thức và

ghi công thức vào vở như sau:

Chu vi (HV) = cạnh x 4

Diện tích (HV) = cạnh x cạnh

Chu vi (HCN) = (chiều dài + chiều rộng) x 2

Diện tích (HCN) = chiều dài x chiều rộng

(Chiều rộng, chiều dài phải cùng đơn vị đo)

* Thông thường theo trình tự trong SGK thì học sinh phát biểu quy tắc mà

không tóm tắt thành công thức Nhưng với đặc điểm tâm lý học sinh là ngại nhớ nhiều, viết dài nên tôi thường cho học sinh tóm tắt quy tắc thành các công thức trên Sau khi các em nắm vững công thức trên thì học sinh sẽ phát biểu thành quy tắc và thuộc, ghi nhớ công thức, quy tắc đó rất nhanh Đây là một việc làm hiệu quả và thiết thực đối với việc ghi nhớ các công thức của học sinh

Tóm lại, với việc giúp học sinh nắm vững quy tắc tính chu vi, diện tích hình chữnhật, hình vuông, học sinh lớp tôi đã tự rút ra và ghi nhớ nhanh quy tắc tính chu

vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông Đa số các em thuộc quy tắc ngay tại lớp

Biện pháp 2: Giúp học sinh từ công thức tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông triển khai thành các công thức có liên quan.

Để giúp nâng cao năng lực giải toán cho học sinh ở những dạng mở rộng nângcao, tôi đã tiến hành giúp học sinh tự triển khai thêm các công thức có liên quan

và yêu cầu học sinh học thuộc

Trang 8

Nội dung như sau:

1 Hình chữ nhật

Chu vi = (chiều rộng + chiều dài) x 2

Nửa chu vi = chiều dài + chiều rộng

Nửa chu vi = chu vi : 2

Chiều rộng = nửa chu vi – chiều dài

Chiều dài = nửa chu vi – chiều rộng

Diện tích = chiều rộng x chiều dài

Chiều dài = diện tích : chiều rộng

Chiều rộng = diện tích : chiều dài

Khi xây dựng phần này, tôi rất coi trọng Tuy là phần kiến thức có phần đơngiản nhưng đây là cơ sở ban đầu không thể thiếu và qua loa được nhằm làm tiền

đề cho các em học được phần mở rộng nâng cao ở dạng toán này

Biện pháp 3: Hình thành cho học sinh có kĩ năng tóm tắt bài toán kết hợp vận dụng công thức.

Qua thực tế tôi thấy kỹ năng đọc đề và phân tích đề của học sinh còn hạn chế;các em chưa có kỹ năng tóm tắt bài toán theo tư duy logic nên gặp nhiều khókhăn trong giải toán Vì Vậy tôi muốn hình thành cho học sinh có kỹ năng tómtắt bài toán theo tư duy logic để nâng cao năng lực giải toán cho học sinh

Khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn nói chung, các bài toán có liên quanđến chu vi, diện tích nói riêng, tôi thấy đa số giáo viên đều hướng dẫn học sinhtìm hiểu bài toán bằng cách đặt câu hỏi: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?Hỏi như vậy sẽ không phát triển được tư duy giải toán cho học sinh Vì vậy, tôiluôn tập cho học sinh tư duy theo logic đó là: Bài toán yêu cầu tìm cái gì? Từ

“cái đã cho”, cùng với những kiến thức đã học để tìm ra cái phải tìm Thôngthường từ câu hỏi: Muốn tìm cái phải tìm ta phải tìm cái gì (trung gian)? Tìmnhư thế nào?

Ví dụ 1: Một hình chữ nhật có chu vi 28cm, tính diện tích hình chữ nhật đó biết

chiều dài là 8cm [4]

Đối với bài toán này, tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng cách sau:

H: Bài toán yêu cầu tính gì? (Diện tích hình chữ nhật)

Trang 9

H: Muốn tính diện tích của hình chữ nhật ta làm thế nào?

(Vận dụng quy tắc: Diện tích = chiều dài x chiều rộng)

H: Bài toán cho biết gì rồi? (Chiều dài)

H: Muốn tính chiều rộng ta vận dụng công thức nào?

(chiều rộng = nửa chu vi – chiều dài)

H: Muốn tìm nửa chu vi ta làm thế nào? (Chu vi : 2)

Từ hệ thống câu hỏi gợi ý, học sinh tóm tắt bài toán như sau:

Ân, Việt Anh, Thu Trang, Đông, Kiệt, Hiếu, Thắng, Minh…(Phụ lục 3)

Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh một số dạng toán mở rộng, nâng cao về chu vi, diện tích của hình chữ nhật, hình vuông.

Trong quá trình giảng dạy, ngoài việc cung cấp mạch kiến thức cơ bản có tính sơgiản thì tôi đã xác lập nên một hệ thống kiến thức cao hơn và sâu hơn cùng vớimột số phương pháp giải căn bản của từng dạng bài nhằm giúp học sinh nângcao năng lực giải toán dạng bài tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông

Cụ thể như sau:

Trang 10

Bước 1: Xây dựng hệ thống các bài tập theo 5 dạng

Bước 2: Hướng dẫn học sinh làm bài theo từng dạng

Bước 3: So sánh, phân tích 5 dạng toán.

Dạng 1: Cho biết chu vi của hình vuông, yêu cầu tính diện tích của hình vuông.

Ví dụ: Bài 4 trang 168 (SGK Toán 3): Một hình vuông có chu vi là 2dm4cm.

Hỏi diện tích hình vuông đó là bao nhiêu xăng – ti – mét vuông?

Đối với bài toán này tôi yêu cầu học sinh phân tích bài toán và đưa ra cách giảiquyết bài toán Học sinh áp dụng các công thức đã được triển khai từ công thứctính chu vi, diện tích của hình vuông để tự làm bài

Phân tích: Diện tích hình vuông = Cạnh x Cạnh

Vậy muốn tính được diện tích hình vuông thì ta phải tìm được độ dài 1 cạnhhình vuông

Độ dài 1 cạnh = Chu vi : 4

Từ đó học sinh tự giải bài toán

Bài giải 2dm4cm = 24cm

Dạng 2: Cho biết diện tích hình vuông, yêu cầu tính chu vi hình vuông.

Ví dụ: Tính chu vi của hình vuông biết diện tích của hình vuông là 49cm2

Phân tích: Muốn tính được chu vi hình vuông thì phải tìm được độ dài cạnh củahình vuông mà diện tích hình vuông = cạnh x cạnh Vì vậy phân tích diện tíchcủa hình vuông 49cm2 thành tích của hai thừa số giống nhau (49 = 7 x 7)

Ví dụ 1: Cho hình chữ nhật có chiều dài gấp 3 lần chiều rộng Nếu giảm chiều

dài đi 10cm thì được một hình vuông Tính chu vi và diện tích của hình chữ nhậtban đầu

Phân tích: Với dạng bài này, đầu tiên học sinh nêu đặc điểm của hình vuông làhình có 4 cạnh bằng nhau, từ đó học sinh biết nếu giảm chiều dài đi 10cm thìđược 1 hình vuông nghĩa là: Giảm chiều dài 10cm thì phần còn lại của chiều dàichính bằng chiều rộng của hình chữ nhật

Trang 11

- Học sinh vẽ sơ đồ đoạn thẳng.

Bài giảiTheo bài ra ta có sơ đồ:

Với lối tư duy như ví dụ 1, ở ví dụ này học sinh đọc đề, tìm hiểu yêu cầu của đề bài rồi phân tích và tự làm bài

Bài giảiTheo bài ra ta có sơ đồ:

Trang 12

Ví dụ 1: Một hình chữ nhật có chiều dài gấp 3 lần chiều rộng và có diện tích

bằng 75cm2 Tính chu vi của hình chữ nhật đó [4]

Đáp án như sau:

Gọi a là số đo chiều rộng của hình chữ nhật

Vậy số đo chiều dài của hình chữ nhật là a x 3

Nếu hướng dẫn cách làm như trên thì rất trừu tượng, học sinh khó hiểu

Phân tích: Với dạng toán này tôi gợi ý cho học sinh suy nghĩ tìm cách giải bằngcách vẽ hình

Chia chiều dài của hình chữ nhật thành 3 đoạn bằng nhau

Em có nhận xét gì về chiều rộng với mỗi đoạn của chiều dài hình chữ nhật(chiều rộng của hình chữ nhật bằng 1 đoạn của chiều dài hình chữ nhật)

Chia hình chữ nhật thành 3 hình vuông bằng nhau

Tính diện tích của một hình vuông (lấy diện tích của hình chữ nhật chia cho 3)Khi tính được diện tích của một hình vuông thì ta sẽ tìm được gì? (cạnh của hìnhvuông hay chính là chiều rộng của hình chữ nhật Từ đó ta tính được chiều dài

Diện tích của 1 hình vuông là:

75 : 3 = 25 (cm2 )

Ta có: 25 = 5 x 5

Vậy cạnh của hình vuông (cũng chính là chiều rộng của hình chữ nhật) là 5cm

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w