Dạy học Chính tả ở tiểu học là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn học Tiếng Việt trong nhà trường, bởi nó đảm nhận một phần trọng trách không nhỏ
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4B TRƯỜNG TIỂU HỌC THIẾT ỐNG,
HUYỆN BÁ THƯỚC”
Họ và tên giáo viên: Bùi Thị Nga
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thiết Ống
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Tiếng Việt
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 2NỘI DUNG TRANG
2.2.2.Thực trạng của việc học và nắm kiến thức chính tả của
học sinh lớp 4
4
Trang 3Dạy học Chính tả ở tiểu học là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn học Tiếng Việt trong nhà trường, bởi
nó đảm nhận một phần trọng trách không nhỏ trong việc cùng với phân môn Tập viết hình thành và phát triển ở học sinh một trong bốn kỹ năng sử dụng tiếng Việt, đó là kỹ năng “viết”
Trẻ em đến tuổi học, thường bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ Ở giai đoạn đầu tiên (bậc tiểu học), trẻ tiếp tục được hoàn thiện năng lực nói tiếng mẹ đẻ Nhà trường xuất phát từ dạng thức nói, từ hệ thống ngữ âm tiếng mẹ đẻ để dạy trẻ học chữ Trẻ em biết chữ mới có phương tiện để học tiếng Việt cũng như học các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác.Trẻ không biết chữ, không có điều kiện tiếp xúc ngôn ngữ văn hoá, không thể tiếp thu tri thức văn hoá, khoa học một cách bình thường được Biết chữ là biết phân biệt hình nốt các ký hiệu, biết tạo ra ký hiệu (viết chữ), biết dùng chữ ghi lời nói, biết đọc và hiểu được ý nghĩa chữ viết Nói tóm lại, biết
chữ là biết đọc thông viết thạo tiếng mẹ đẻ hoặc đọc thông viết thạo một
ngôn ngữ
Muốn đọc thông viết thạo, trẻ em phải được học đọc, học viết, đặc biệt
là học chính tả Chính tả là phân môn có tính chất công cụ, nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của trẻ em Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học tập tiếng Việt và học tập các bộ môn khoa học khác
Không chỉ đối với học sinh tiểu học mà với tất cả mọi người, kỹ năng chính tả khi nào cũng thực sự cần thiết Đọc một văn bản được viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó.Trái lại, đọc một văn bản mắc nhiều sai sót về chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung
và có thể hiểu sai hoặc không hiểu được đầy đủ văn bản
Song, có một thực tế đáng buồn là trong nhiều năm qua, tình trạng học sinh của chúng ta, thậm chí nhiều học sinh đã học hết phổ thông trung học, khi dự thi đại học hoặc dự thi vào các trường chuyên nghiệp, vẫn viết sai chính tả một cách rất “vô tư” vì không biết mình sai Điều này đã trở thành một vấn đề nhức nhối, đáng báo động cho xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng Vậy lỗi này là do đâu? do bản thân người học hay do người dạy, hay do chương trình chưa phù hợp?
Là người giáo viên dạy lớp 4 nhiều năm, tôi luôn chú trọng dạy các em viết đúng chính tả Thấy các em sai lỗi nhiều, tôi rất buồn Đặc biệt là khi chấm các bài tập tự luận của học sinh hoặc các bài Tập làm văn, các em viết
Trang 4sai rất nhiều lỗi Trước thực trạng này, tôi nghĩ mình cần phải làm gì để giúp cho học sinh, ngay từ bậc học nền tảng, phải thật sự là những cái “nền” chắc chắn nhất, tạo điều kiện cho các em có được những bước tiến vững vàng khi học lên các lớp trên, đó chính là lý do tôi chọn để nghiên cứu vấn đề này và
mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học
sinh lớp 4B trường Tiểu học Thiết Ống, huyện Bá Thước”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Khi chọn nghiên cứu về vấn đề này, tôi thiết tha mong muốn cho các
em học sinh biết “đọc thông, viết thạo”, mà “viết thạo” ở đây không chỉ là biết viết, viết đẹp mà còn phải viết đúng chính tả nhằm mục đích đạt được yêu cầu của phân môn
Qua thực tế dạy phân môn Chính tả ở lớp 4 trường tiểu học Thiết Ống, bản thân tôi muốn tìm được một số biện pháp để góp phần giúp học sinh lớp
4 khắc phục một số lỗi chính tả phổ biến nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Chính tả
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là việc dạy học phân môn Chính tả cho học sinh lớp 4B trường tiểu học Thiết Ống - Bá Thước
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích các tài liệu dạy học
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp kiểm tra đánh giá
- Thu thập các tài liệu, tìm hiểu chương trình phân môn Chính tả trong SGK và SGV
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1 Cơ sở lí luận
Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Theo định nghĩa trong một số từ điển, chính tả là viết đúng, hợp với chuẩn và những qui tắc về cách viết chuyển lời nói sang dạng thức viết Phân môn Chính tả dạy cho học sinh tri thức và kỹ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức viết vào hoạt động giao tiếp Nếu tập viết dạy học sinh biết viết, tức là hoạt động tạo ra chữ, thì chính tả dạy cách tổ chức, kết hợp các chữ đúng qui ước của xã hội để làm thành chất liệu hiện thực hoá ngôn ngữ
Chữ viết là ký hiệu bằng hình ảnh thị giác (các hình nét) ghi lại tiếng nói Mỗi hình nét tương ứng với một đoạn âm thanh có ý nghĩa của tiếng nói Một tổ hợp gồm chuỗi các hình nét được liên kết theo những cách thức nhất định (dạng thức viết của ngôn ngữ) để ghi lại lời nói âm thanh và trở thành phương tiện truyền đạt nội dung lời nói Chính tả thực hiện những qui ước của
Trang 5xã hội đối với chữ viết; đề phòng, ngăn ngừa sự vận dụng tuỳ tiện, vi phạm các qui ước, làm trở ngại cho vịêc tri giác ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp
Chữ viết là một phát minh quan trọng của loài người Sáng tạo ra chữ viết, loài người có thêm một phương tiện vật chất có tác dụng phát huy hiệu quả các chức năng của ngôn ngữ Lời nói được chuyển thành văn bản viết có khả năng chuyển đạt và bảo lưu mọi tư tưởng của loài người qua mọi thời gian và không gian, trong mọi hoàn cảnh và mục đích giao tiếp, với mọi đối tượng sử dụng Không có chữ viết, con người tự hạn chế các hoạt động giao tiếp hoặc làm cho hoạt động giao tiếp bị hạn chế Không biết chữ, năng lực tư duy của con người cũng bị hạn chế, khó phát triển
Cũng như hệ thống ngữ âm, hệ thống chữ viết hoạt động trong giao tiếp theo những qui tắc, đảm bảo cho quá trình kí mã (viết) và giải mã (đọc) được thuận lợi và chính xác
Môn Chính tả cung cấp cho trẻ em những qui tắc sử dụng hệ thống chữ viết, làm cho trẻ em nắm vững các qui tắc đó và hình thành kỹ năng viết (và đọc, hiểu chữ viết) thông thạo tiếng Việt
2.2 Thực trạng về kĩ năng viết đúng Chính tả của học sinh lớp 4B, trường Tiểu học Thiết Ống.
2.2.1 Đặc điểm nhà trường:
- Trường tiểu học Thiết Ống là một trường học ở miền núi nhưng đã có
bề dày về thành tích “dạy tốt - học tốt”; có đội ngũ giáo viên tương đối trẻ, khoẻ, nhiệt tình và phần lớn được đào tạo hệ sư phạm chính qui, có trình độ chuyên môn vững vàng; biết đoàn kết, nhất trí, tận tụy với công việc, hết lòng
vì học sinh thân yêu; thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ Tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018 để kịp thời nắm bắt định hướng đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa mới, từ đó có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục
- Về phía HS: Đa số các em hiền lành, ngoan ngoãn, chăm chỉ học tập Hơn nữa lứa tuổi HS tiểu học rất thích được khen, vì vậy khi được sự động viên, khích lệ kịp thời các em thường rất cố gắng rèn luyện để có kết quả cao hơn Thêm vào đó, một số gia đình phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học tập của con em mình nên luôn tạo điều kiện về thời gian, sách vở, đồ dùng học tập,… Bởi vậy, chất lượng dạy - học trong nhiều năm qua của nhà trường luôn đạt kết quả cao cụ thể: Năm học 2020 -2021 nhà trường có đội tuyển tham gia giao lưu câu lạc bộ Toán - Tiếng Việt khối 4,5 được xếp thứ nhì toàn huyện
Trang 6Song bên cạnh những thuận lợi nói trên, nhà trường cũng gặp không ít khó khăn ảnh hưởng đến công tác cũng như chất lượng dạy - học như : Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học còn nghèo nàn Việc học ở nhà của học sinh còn nhiều hạn chế, một số học sinh chưa ý thức được việc học tập của mình dẫn đến kết quả học tập các môn nói chung
và phân môn Chính tả nói riêng chưa đạt yêu cầu Mặt khác, một số ít giáo viên năng lực hạn chế, không nắm vững các qui tắc chính tả tiếng Việt, vì vậy không thể đánh giá cũng như sửa chữa lỗi chính tả cho học sinh một cách chính xác được
2.2 2 Thực trạng của việc học và nắm kiến thức chính tả của HS lớp 4B
- Thuận lợi:
+ Nội dung chương trình phân môn Chính tả ở lớp 4 tương đối phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh; các kiểu bài tập đa dạng (ở lớp 4, ngoài 7 kiểu bài tập quen thuộc, học sinh được làm quen với 6 kiểu bài tập mới), góp phần củng cố, luyện tập vốn kiến thức về chính tả cho học sinh
+ Bên cạnh đó, các phong trào “vở sạch chữ đẹp”, “thi viết chữ đẹp” luôn được nhà trường quan tâm, khuyến khích và phát động thi đua thường xuyên cũng là một động lực thúc đẩy tinh thần học tập của các em
- Khó khăn:
Học sinh toàn trường nói chung và HS lớp 4 nói riêng, đặc biệt là học sinh lớp 4B do tôi phụ trách còn mắc nhiều lỗi chính tả không chỉ ở các môn học khác mà ngay cả ở phân môn Chính tả là phân môn được dành riêng để cung cấp và rèn luyện kiến thức về chính tả cho các em Cụ thể những lỗi chính tả phổ biến và nguyên nhân mắc lỗi đó là:
- Thông thường một bài học Chính tả thường gồm 2 nội dung chính: Phần chính tả đoạn bài và phần chính tả âm - vần Hầu hết nội dung của chính
tả đoạn bài là học sinh nghe - viết, nhớ - viết một đoạn trích từ bài tập đọc đã học; trước khi viết bài học sinh được nghe cô đọc, rồi được đọc thầm để tái hiện đoạn văn, thơ trong trí nhớ Bởi vậy đối với những bài viết này tôi thấy
có phần thuận lợi hơn cho học sinh, các em ít mắc lỗi hơn Song có một số bài chính tả nghe - viết mà nội dung của nó hoàn toàn mới, chỉ phù hợp với chủ điểm mà không có trong bài tập đọc đã học, nếu giáo viên không có biện pháp hướng dẫn hữu hiệu thì đây cũng sẽ là một nguyên nhân gây mắc lỗi chính tả ở học sinh Còn nội dung các bài chính tả âm - vần là luyện viết phân biệt các âm, vần, thanh dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương, mỗi bài tập nhỏ dành cho một vùng phương ngữ Qua kết quả điều tra và thực
tế giảng dạy, tôi thấy rằng lỗi phổ biến của học sinh lớp tôi là:
+ Lẫn lộn s/x, ch/tr do lỗi phát âm phương ngữ (miền Bắc).
Trang 7+ Lẫn lộn r/d/gi do không hiểu nghĩa của từ chứa tiếng có r/d/gi.
+ Lẫn lộn thanh hỏi/ thanh ngã: Những HS mắc lỗi này thường do lỗi phát âm phương ngữ, đồng thời cũng giống như các lỗi phân biệt s/x, ch/tr,
tức là do ảnh hưởng của việc nắm kiến thức các phân môn khác, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu chưa vững vàng, các em chưa hiểu hết hoặc hiểu một cách mơ hồ về nghĩa của từ Vì vậy khi viết bài thường không xác định được khi nào thì dùng thanh hỏi, khi nào thì dùng thanh ngã mà viết rất tự do
+ Lẫn lộn ng/ngh hoặc g/gh: Những cặp phụ âm này trong chương
trình Chính tả lớp 4 không được biên soạn thành bài tập riêng nhưng học sinh lại rất hay mắc lỗi
- Ngoài ra, thói quen phát âm tiếng địa phương (tiếng dân tộc) cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả của các em (toàn trường có tới hơn 70% con em dân tộc, phần lớn là dân tộc Mường - học sinh lớp 4B cũng thuộc tỉ lệ này), hầu hết các em đều phát âm chưa thành thạo tiếng phổ thông dẫn tới việc viết chữ cũng theo thói quen nói tiếng dân tộc mình Các em
thường lẫn lộn v/b, au/ âu, ong/ông, Và đối với lớp tôi phụ trách thì những
lỗi này cũng có thể coi là lỗi phổ biến
- Một nguyên nhân nữa là do việc tiếp thu kiến thức phân môn Chính tả (ngay từ khi học lớp1) và các môn học liên quan của học sinh chưa vững vàng, chưa nắm được các qui tắc chính tả cần thiết cho nên nhiều em viết một cách rất tự do
- Trình độ dân trí thấp cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến trình
độ chính tả của học sinh: hầu hết học sinh ở các làng bản, bố mẹ làm nghề nông bận bịu quanh năm, nhiều phụ huynh trình độ văn hoá thấp cho nên hầu như không có điều kiện hoặc ít quan tâm đến việc học của con cái, thậm chí giao phó toàn bộ cho nhà trường và giáo viên chủ nhiệm Bản thân nhiều học sinh lại chưa chịu khó, chưa có ý thức tự giác trong việc tự rèn luyện để vươn lên Các em ham xem ti-vi, chơi điện thoại nhiều nên ảnh hưởng đến việc học tập
Từ thực trạng nêu trên, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học tập môn Chính tả của học sinh lớp 4B vào tuần thứ 8 của năm học (ngay sau khi nhận lớp 2 tháng)
Tổng số học sinh tham gia khảo sát: 32 em
Phiếu khảo sát
Câu 1: Điền vào chỗ trống r, d hoặc gi
đan ….ổ hộp ….iêm chai ……ầu ăn cơn ……ó dấu ….iếm thịt … ang ……ừng cây ……ám thị
Trang 8Câu 2: Đặt trên những chữ in nghiêng thanh hỏi hay thanh ngã
Hôm qua, lúc đang tập xe trên sân thì bé Hà bị nga Đầu gối em bị trầy
nên đau lắm Em chực khóc òa lên Nhưng nhớ đến lời mẹ dặn, rằng
em đa lớn rồi, không nên khóc nhè Vì khóc nhè thì xấu lắm Thế là, em tự đứng dậy, đi rưa tay chân sạch se rồi ra tập xe tiếp.
Câu 3: Chọn s hay x điền vào chỗ trống cho thích hợp:
a Chiếc xe bị …ộc ….ệch không chạy được nữa
b Chuyện nhỏ đừng nên …ích mích với nhau
c Bé Hoa nở nụ cười ….ung …ướng
d Dọc theo bờ sông, nhà cửa ….an …át mọc lên
e Thầy là một người …ông …áo
Câu 4: Từ nào viết sai chính tả? Em hãy viết lại cho đúng.
a) Bức chanh, trồng cây, leo chèo, đầu trọc, trung kết, chao tặng, chèo thuyền, chúng thưởng, cây che
………
b) ngỉ hè, ghi nhớ, gế gỗ, củ nghệ, hạt gạo, ngoằn nghoèo, suy ngĩ, gồ gề, thuyền ghe
………
Câu 5: Điền vào chỗ trống:
a) v hay b?
Vất …ả, …uồn ….ã, …òng đeo tay, màu …àng, …ực mình
b) au hay âu?
- Ông kể chuyện cho ch… nghe
- Mẹ n… nhiều món ngon
- Bé bị thiếu m…
- Vườn nhà em có nhiều r…… non
c) ong hay ông?
- Mẹ biếu bà hai chai mật …… rất ngon
- Cháu m…… bà luôn khỏe mạnh
- Mùa thu, nước suối tr… vắt
Kết quả thu được như sau:
Hoàn thành Tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Trang 92.3 Một số giải pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Thiết Ống, huyện Bá Thước
Từ những thuận lợi và khó khăn nêu trên, tôi đã đặt ra quyết tâm là phải
đi sâu nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng viết sai chính tả cho học sinh
2.3.1 Đối với bản thân:
Sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay vào thực hiện những công việc đầu tiên như :
- Thống kê cụ thể những lỗi học sinh thường mắc (thực hiện thông qua việc dạy học và kiểm tra trực tiếp các bài học chính tả, kết hợp với các phân môn Luyện từ và câu, Tập làm văn, )
- Khảo sát để phân loại học sinh, trên cơ sở đó có kế hoạch phụ đạo thích hợp với từng đối tượng
- Tìm đọc các tài liệu có liên quan đến chính tả như: “ Dạy học Chính tả”, “Sổ tay chính tả”, “Từ điển chính tả”, để nắm vững các qui tắc chính tả
- Nghiên cứu kỹ chương trình môn Tiếng Việt (Đặc biệt là chương trình Tiếng Việt lớp 1 mới) để nắm vững sự khác nhau của các âm, các thanh, đặc
biệt là các kết hợp của chúng Ví dụ :g, ng ghép được với a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư nhưng không ghép với e, ê, i được, hay khi nào thì dùng c, k, q,…
- Đi sâu nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp, các hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp, gây được hứng thú học tập cho học sinh, trên cơ sở đó giúp các em nhớ lâu, nhớ kỹ các qui tắc và vận dụng để viết đúng
2.3.2 Đối với giờ dạy chính tả :
- Nghiên cứu kỹ nội dung từng bài học chính tả trong chương trình trước khi lên lớp để có biện pháp rèn luyện hoặc có sự thay đổi nội dung cho phù hợp với từng dạng bài tập, phù hợp với địa phương
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong thực tế giảng dạy
- Sử dụng có hiệu quả các đồ đồ dùng, phương tiện dạy học
2.3.2.1 Trong chính tả đoạn bài : Với một số bài chính tả nghe - viết mà
nội dung của nó hoàn toàn mới, chỉ phù hợp với chủ điểm mà không có trong bài tập đọc đã học, vậy làm thế nào để lượng bài viết của học sinh đạt được mục tiêu bài học? Với loại bài này, tôi đã tiến hành như sau :
Ví dụ : Bài Cha đẻ của chiếc lốp xe đạp
- Ở bước đọc mẫu, tôi chú ý phát âm thật rõ ràng, nhấn giọng vào những từ ngữ mà học sinh có thể viết sai chính tả và yêu cầu các em phải theo dõi từng chữ trong sách giáo khoa
Trang 10- Yêu cầu học sinh đọc thầm lại đoạn văn, chú ý đọc chậm, đọc kỹ từng câu để ghi nhớ cách viết Trong khi đó, tôi tranh thủ đến giúp đỡ học sinh gặp khó khăn khi viết, gợi ý để các em phát hiện từ ngữ khó, viết ra nháp
- Tiếp theo, tôi lần lượt đọc những từ ngữ thuộc hiện tượng chính tả nêu trên cho các em viết vào nháp Sau mỗi chữ, nếu đa số học sinh viết đúng thì tôi chỉ cần công nhận đúng ; trường hợp gặp những chữ mà nhiều học sinh viết sai, tôi cho các em dừng lại để hướng dẫn, phân tích chính tả Chẳng hạn :
Từ “gỗ” : âm g + ô + thanh ngã.
+ Hỏi học sinh: Vì sao chữ “gỗ” lại chỉ viết g (gờ)? ( Vì g kết hợp với
các âm a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư )
Hay với chữ suýt : âm s + vần uyt + thanh sắc Không viết xuýt hoặc
suít.
*Lưu ý : Trong các vần có i (y) đứng làm âm chính thì chỉ được viết y.
- Khi đọc bài cho học sinh viết cũng như khi soát lỗi, tôi chú ý đọc thong thả, dừng lại và nhấn giọng hơn một chút ở những chữ thuộc hiện tượng chính tả mà học sinh hay nhầm lẫn
- Ở bước chấm, chữa bài: ngoài đối tượng là những học sinh đến lượt được chấm, tôi chú ý kiểm tra thêm những học sinh hay mắc nhiều lỗi và thống kê số lỗi phổ biến để hướng dẫn sửa ngay Các hình thức sửa lỗi có thể
là :
+ Gọi một số em vừa được chấm bài nêu lỗi sai của mình ( ví dụ : cao
xu, học xinh,…)
? Theo em, em sẽ sửa lỗi này như thế nào? (Nếu học sinh đó không trả lời được thì cho học sinh khác xung phong sửa)
+ Cho HS tự sửa lỗi trong vở của mình sau đó gọi vài em đọc lại, cả lớp
và cô giáo lắng nghe, nhận xét
2.3.2.2 Với loại bài chính tả âm - vần :
Với từng dạng bài tập, tôi đã áp dụng các biện pháp sau :
Thứ nhất: Phân biệt s/ x, tr/ch :
- Để giúp học sinh phân biệt và viết đúng chính tả trong những trường hợp này, trước hết tôi hướng dẫn cho các em cần dựa vào nghĩa của từ
Ví dụ :
* Phân biệt sáng tác và xáng tác.
Tôi yêu cầu học sinh nêu nghĩa :
+ Sáng tác? (Nghĩ và cho ra đời một tác phẩm thơ, văn, )
+ Xáng tác? (Không có nghĩa)
* Hay trong bài chính tả âm – vần (tuần 24) :