Ngôn ngữ học hiện đại coi nghĩa vànhững mối quan hệ về nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất, trong đó có nghĩa và các trường nghĩa trường từ vựng - ngữ nghĩa, xác lập nghiên cứu
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng làmột quá trình liên tục Quá trình đó đi từ đơn giản đến phức tạp tùy thuộc vàonhận thức, vào hoàn cảnh sống, vào nhiệm vụ học tập của các em ở từng giaiđoạn Sự lĩnh hội về từ vựng - một đơn vị ngôn ngữ nằm trong quy luật ấy Từ làđơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ, đơn vị trung tâm của toàn bộ cơcấu ngôn ngữ, là chất liệu cơ bản dùng để tạo ra các thông điệp Trong hệ thốngngôn ngữ, các đơn vị từ vựng không tách biệt nhau mà luôn có những mối quan
hệ nhất định về hình thức và cả về ý nghĩa Ngôn ngữ học hiện đại coi nghĩa vànhững mối quan hệ về nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất, trong đó
có nghĩa và các trường nghĩa (trường từ vựng - ngữ nghĩa), xác lập nghiên cứucác trường nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu nghĩa của cácđơn vị ngôn ngữ nói chung và nghĩa của từ nói riêng, đồng thời cũng góp ích rấtnhiều cho việc lựa chọn, kết hợp từ để tạo lời, phục vụ mục đích giao tiếp[1] Nhiệm vụ của dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng làhọc sinh tri thức hệ thống chuẩn Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp và các kĩnăng hoạt động ngôn ngữ như tiếp nhận và sản sinh lời nói, biết diễn đạt cảmnghĩ và ấn tượng của mình một cách có văn hóa bằng hai hình thức nói và viết.Đồng thời là điều kiện cho học sinh nắm được kiến thức mới, nâng cao đượctrình độ tư duy và là điều kiện cần thiết cho những thành công trong những hoạtđộng sau này của các em khi tham gia vào cuộc sống xã hội[5]
Ở trường Tiểu học dạy kiểu bài mở rộng vốn từ nhằm làm giàu cho học sinhnăng lực và thói quen sử dụng Tiếng Việt văn hóa và hiện đại trong suy nghĩ,trong giao tiếp cũng như học tập, tác động trực tiếp tới cảm xúc và tình cảm củacác em, phát triển dần ý thức và lí trí, tích lũy vốn từ ngữ phong phú, lành mạnh,trong sáng Học sinh yêu quý Tiếng Việt, tự hào về tiếng nói giàu và đẹp của dântộc, tích cực góp phần vào việc hình thành nhân cách của con người Việt Nam Trường nghĩa được đưa vào nội dung chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học nóichung và lớp 2 nói riêng dưới các dạng chủ đề chủ điểm Học sinh lớp 2 đượchọc trường nghĩa qua các bài tập về mở rộng vốn từ [6]
Chính vì vậy vận dụng kiến thức trường nghĩa để dạy mở rộng vốn từ cho họcsinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng là rất cần thiết
Với những lí do trên tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm “ Vận dụng kiến thức về trường nghĩa để dạy kiểu bài mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm vận dụng lí thuyết về trường nghĩa trong dạy học Mở rộng vốn từ chohọc sinh lớp 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu kiến thức về vận dụng trường nghĩa trong dạy học Mở rộng vốn từcho học sinh lớp 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
1.5 Những điểm mới của đề tài
Trang 2Khi nghiên cứu về đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học, tâm lý học đãkhẳng định: “Tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, tư duy không thể tồn tạibên ngoài ngôn ngữ và ngược lại ngôn ngữ cũng không thể tồn tại nếu khôngdựa vào tư duy” Để phát triển tư duy cho học sinh thì việc phát triển ngôn ngữ
là không thể thiếu Muốn ngôn ngữ học sinh phát triển lại càng không thể táchrời việc luyện từ và câu cho học sinh Hơn nữa mọi tri thức đều được diễn đạtbằng từ ngữ Chính mối liên quan mật thiết đó mà giáo viên cần phải chú ý đếnviệc dạy luyện từ và câu Dạy luyện từ và câu phải dựa trên quan điểm thựchành (dựa trên bình diện phát triển lời nói) Sáng kiến kinh nghiệm “ Vận dụngtrường nghĩa để dạy kiểu bài mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2” nhằm gópphần chỉ ra đặc điểm của trường nghĩa và việc dạy trường nghĩa ở chương trìnhTiếng Việt ở Tiểu học, đồng thời chỉ ra vai trò của trường nghĩa trong dạy học
về quan hệ giữa các từ trong một ngôn ngữ
Ở Việt Nam, GS Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên nghiên cứu sớm và nhiều côngtrình về lý thuyết trường Định nghĩa trường của ông được nhiều người chấpnhận và sử dụng phổ biến: “ Trường từ vựng là một tập hợp từ các đơn vị từvựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa” Song trong ngôn ngữhọc cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thuyết “ trường nghĩa” Ta có thểhiểu trường nghĩa theo lối triết tự như sau:
Trường: Là một tập hợp các từ (khái niệm từ được các nhà ngôn ngữ họcphương Tây mượn của ngành khoa học tự nhiên đưa vào nghiên cứu từ vựng) Nghĩa: là quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong tập hợp từ ấy
Như vậy trường nghĩa là tập hợp các căn cứ vào một nét nghĩa đồng nhất nào
đó về mặt ngữ nghĩa
Ví dụ: Trường nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người: mặt, da, mắt, đùi, cánh tay, đầu,miệng,…
2.1.2 Tiêu chí xác lập trường nghĩa
Trong ngôn ngữ, từ và ý nghĩa của từ không thể tồn tại tách rời nhau mà liên kếtvới nhau trong tư tưởng và độc lập với ý thức của chúng ta thành những nhómnhất định Việc phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng -ngữ nghĩa, theo nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu là để phát hiện ra tính hệ thống vàcấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa, từ đó, có thể giải thích các cơchế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quátrình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Sự phân lập các trường không thểbắt đầu bằng các phạm vi sự vật, hiện tượng mà con người có thể biết từ ngoàingôn ngữ, cũng không thể bắt đầu từ sự phân lập các vùng khái niệm đã có sẵntrong tư duy
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Các trường từ vựng ngữ nghĩa là những sự kiện ngônngữ cho nên tiêu chí để phân lập chúng phải là tiêu chí ngôn ngữ… Cơ sở để
Trang 3phân lập trường là ý nghĩa của từ, tức là những ý nghĩa ngôn ngữ Có thể cónhững sự kiện, sự vật, những khái niệm lĩnh hội được nhưng nếu không đượcbiểu thị bằng từ thì chúng vẫn không phải là yếu tố của một trường trongmột ngôn ngữ nào đấy ” [6].
Cho đến nay, chưa có một sự thống nhất nào trong vấn đề tiêu chí xác lậptrường Nhà ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu nhận thấy khi đi vào trườngnghĩa, giữa các từ tồn tại tình trạng thiếu đường ranh giới dứt khoát và tình trạngmột từ có thể có mặt trong một số trường nghĩa khác nhau Tuy vậy việc phânlập trường nghĩa là rất quan trọng
Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã đưa ra phương thức xác định bằng cách tìm nhữngtrường hợp điển hình, tức là những trường hợp mang và chỉ mang các đặc trưng
từ vựng - ngữ nghĩa được lấy làm cơ sở Những từ điển hình này lập thành tâmcho trường Những từ có thể đi vào một trường lập thành vùng ngoại vicủa trường đang xem xét [6]
Ví dụ: các từ “móng, vuốt, gầm, hú, sủa,…” là các trường hợp điển hình củatrường động vật Các từ “ngoan, hiền, dữ, ác…” là các trường hợp thuộc vùngngoại vi của trường động vật Vì ngoài trường động vật chúng còn có thể đi vàotrường con người
Tiêu chí để xác lập trường biểu vật không phải là nhận thức về cácphạm vi sự vật trong thực tế mà là ý nghĩa biểu vật của từ Tất cả các ý nghĩabiểu vật nào đó chung một nét nghĩa biểu vật (nét nghĩa hạn chế biểu vật) Vídụ: Con người, động vật, sự vật nhân tạo,…
Tiêu chí xác lập trường biểu niệm là sự đồng nhất về cấu trúc biểu niệm,trong đó có nét nghĩa phạm trù trong cấu trúc biểu niệm Ví dụ: Dựa vào nétphạm trù (hoạt động của A tác động vào B, B rời chỗ) có thể tập hợp các từ:quăng, phóng, ném, đẩy, lôi,…
Để phân lập trường tuyến tính thì cần chọn một từ làm gốc, rồi tìm tất cả những
từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính như cụm từ, câu
Ví dụ các từ nằm trong trường tuyến tính của từ “làm” là chăm, lười, nhanh,chậm, mệt, buồn,
Đối với trường liên tưởng, để xác lập trường cần căn cứ vào nghĩa ngữ dụngcủa từ trung tâm Đó là những nghĩa mới được tạo ra khi nó chưa đi vào hệthống Từ trung tâm khi cùng xuất hiện với loạt từ nào đấy trong nhiều ngữ cảnhtrùng lặp sẽ có hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa Lúc đó, sẽ tạo thành một trườngnghĩa liên tưởng mà các từ có quan hệ với nhau nhờ những mối liên tưởng ngữnghĩa nào đó [3]
Dẫu vậy, việc phân chia trường nghĩa mang tính chủ quan và khó thực hiệnmột cách triệt để bởi hiện thực thế giới khách quan là một chuỗi liên tục Mặtkhác một từ có thể có nhiều nghĩa, có thể tham gia vào nhiều trường nghĩa khácnhau
Ví dụ: Từ “thấp” thuộc trường nghĩa tính chất Nét nghĩa duy trì của “thấp” là
“dưới mức trung bình hoặc kém hơn so với những vật khác, hoặc có khoảngcách gần hơn đối với mặt đất so với những cái khác” Với nét nghĩa này,
từ “thấp” có thể thuộc nhiều trường khác nhau “Thấp” trong kết hợp “câythấp” thuộc trường thực vật; trong kết hợp “người thấp” thuộc trường con
Trang 4người (ở tiểu trường ngoại hình), trong kết hợp “ý chí thấp” thuộc trường conngười (ở tiểu trường tinh thần), trong kết hợp “tay nghề thấp” thuộc trườngcon người (ở tiểu trường năng lực) [6].
2.1.3 Phân loại trường nghĩa
“Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của F.de Sausuare đã chỉ ra hai dạng quan
hệ chung nhất của ngôn ngữ đó là quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến và quan hệhình tuyến) và quan hệ ngang (quan hệ tính tuyến và quan hệ ngữ đoạn)
Căn cứ vào cách phân chia của F.de Sausuare, GS Đỗ Hữu Châu chia trườngnghĩa Tiếng Việt thành các loại khác nhau: trường nghĩa biểu vật, trườngnghĩa biểu niệm (hai trường nghĩa dựa vào quan hệ dọc); trường nghĩa tuyếntính (dựa vào quan hệ ngang) và trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợpgiữa quan hệ dọc và quan hệ ngang) [6]
2.2 Thực trạng
2.2.1 Thuận lợi, khó khăn
2.2.1.a Thuận lợi:
+ Nhà trường thường mở các chuyên đề để giáo viên dự giờ, trao đổi kinhnghiệm lẫn nhau Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn trường, đều tạo điềukiện cho giáo viên trao đổi tháo gỡ những vướng mắc trong chuyên môn
+ Một số tranh ảnh trực quan để phục vụ cho các bài Luyện từ & câu ở lớp 2 đã
có sẵn ở thư viện: Tranh các loài chim, loài cá, thú,
+ Các em học sinh có đủ SGK, vở bài tập, đồ dùng học tập phục vụ cho mônhọc
+ Phần lớn phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình
2.2.1.b Khó khăn:
+ Phân môn Luyện từ & câu là phân môn mà học sinh lớp 2 vừa được làmquen, nên giáo viên gặp nhiều khó khăn khi lựa chọn các hình thức dạy học phùhợp với các em
+ Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy họcnhưng đôi khi cũng ngại không dám thoát li các gợi ý của sách giáo khoa, sáchhướng dẫn vì sợ sai
+ Đối với một số giáo viên do sử dụng đồ dùng dạy học nói chung và đồ dùngtrực quan nói riêng chưa được thường xuyên nên việc sử dụng còn nhiều hạnchế
+ Học sinh lớp 2 vốn từ của các em rất hạn chế, các em còn bỡ ngỡ khi dùng từ,đặt câu
+ Tư duy của các em chủ yếu dựa vào đặc điểm trực quan Thế nhưng, ở một sốdạng bài tập không có tranh ảnh trực quan nên học sinh lúng túng, gặp nhiều khókhăn, thậm chí không làm được các bài tập này
+ Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học Luyện từ và câu
2.2.2 Tình hình dạy học mở rộng vốn từ trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Hiện nay, dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học phân môn Luyện từ và câunói riêng đã được đặc biệt quan tâm và đã đạt được kết quả khá khả quan Tuynhiên việc dạy học về phân môn Luyện từ và câu, nhất là về “ Mở rộng vốn từ”vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: có những giáo viên chưa chuyển tải hết kiến
Trang 5thức trong SGK đến cho học sinh, có giáo viên còn lúng túng khi giải nghĩa từcho học sinh, do vậy việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy học còn gặp nhiều khó khăn Vốn từ của học sinh còn nghèonàn, vốn ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế, nên khi gặp những dạng bài tập vềđặt câu có chứa các thành ngữ, tục ngữ và những dạng bài tập về hiểu nghĩa cácthành ngữ, tục ngữ các em rất lúng túng không giải quyết được Vì thế trongtrường hợp này - tức là trong khi dạy Tiếng Việt nói chung và dạy phân mônLuyện từ và câu nói riêng, đặc biệt là các bài có liên hệ với trường liên tưởng,các em rất dễ bế tắc trong việc tìm từ cũng như liên hệ từ trong trường liêntưởng[2].
Mặt khác, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp giữa con người với con người, ngôn
ngữ thể hiện năng lực của cá nhân trong lời nói được nói ra Lời nói nói ra đó,trong ngôn ngữ được gọi là lời nói - kết quả của sự nói năng
Có thể nói rằng: giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người với người thực chất là sựtruyền - nhận thông tin thông qua sự trao đổi văn bản với nhau.(B.V.Kasevich)
Vốn từ của học sinh càng nhiều bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ cànglớn, càng chính xác và sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng rõ ràng sâu sắc bấynhiêu Từ đó, các em tích luỹ cho mình những kiến thức cần thiết, tạo điều kiện
để các em học tốt các phân môn khác trong tiếng Việt cũng như các môn họckhác Đặc biệt là khơi dậy trong tiềm thức tâm hồn học sinh lòng yêu quý sựphong phú của tiếng Việt, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, gópphần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
2.2.3 Cấu trúc bài mở rộng vốn từ lớp 2
Dạy tiếng nói chung và dạy từ ngữ nói riêng được tiến hành trên những mẫumực Tiếng Việt hiện đại Mục đích cuối cùng của việc dạy từ là tích lũy nhanhchóng vốn từ và tạo điều kiện sử dụng từ một cách chính xác hiệu quả và chấtlượng, ta nhận thấy cấu trúc của bài mở rộng vốn từ được xây dựng theo kiểuđồng tâm Nhưng nhìn chung các bài mở rộng vốn từ ở lớp 2 gồm có hai phần:
Phần 1: là hệ thống từ ngữ cần phải mở rộng và cung cấp cho học sinh Hệ
thống này được sắp xếp theo trường nghĩa liên tưởng, trong đó có trường nghĩalớn và những trường nghĩa nhỏ Tuy nhiên đây là phần mang tính chất lý thuyếtnên thông qua các bài tập đọc, bài học thuộc lòng, các câu thơ văn để học sinhnhận biết từ ngữ đã học và các từ mới, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, họcsinh hiểu nghĩa của từ và biến các từ đó thành công cụ để phục vụ cho việc họctập và giao tiếp như sử dụng từ trong các văn bản, trong bài thực hành,… [7]
Ví dụ 1: Tiết luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về họ hàng - Lớp 2
Là loại bài yêu cầu học sinh hệ thống hóa, củng cố và mở rộng các từ ngữ cầnghi nhớ Thể hiện cho các yêu cầu này là hệ thống các câu hỏi mà giáo viên đưa
ra cho học sinh suy nghĩ và trả lời Chẳng hạn như:
- Tìm và gạch chân những từ chỉ người trong gia đình, họ hàng trong câu chuyện
Sáng kiến của bé Hà bằng bút chì? (Ông bà, bố, me, cụ già, con, cô, chú, con
cháu, cháu)
- Kể thêm các từ ngữ chỉ người trong gia đình, họ hàng mà em biết? (cậu, mợ,chú, dì, bác, thím,…)
Trang 6Phần 2: là phần giúp học sinh rèn luyện kỹ năng kỹ xảo sử dụng từ vào thực
hành một cách chính xác
Nội dung của phần 2 là bao gồm hệ thống các bài tập trong đó có bài tập vềnghĩa của từ Có nghĩa là học sinh hiểu được nghĩa của từ cần mở rộng và mộtloại bài tập vận dụng trong đó có bài tập về tạo từ và sử dụng từ
Cứ sau mỗi hệ thống từ ngữ thì cần có hệ thống bài tập tương đối phong phú vềmặt nội dung và loại bài tập này cần được sắp xếp theo nguyên tắc: từ dễ đếnkhó, từ đơn giản đến phức tạp
Ví dụ: Bài tập 1 mở rộng vốn từ: Từ ngữ về vật nuôi - Tiếng việt 2
Trong bài này, yêu cầu học sinh phải tìm từ đồng nghĩa và trái nghĩa với từ “tốt, ngoan, nhanh, trắng, khỏe, cao” Loại bài này giáo viên gợi ý cho học sinhnhững từ cơ bản để các em hiểu yêu cầu của bài và làm bài
Trái nghĩa với “ tôt” là “ xấu”, trái nghĩa với “ ngoan” là “ hư, hỗn”,…
Tuy nhiên đây chỉ là bài nằm trong phạm vi và mở rộng vốn từ về “ vật nuôi”,còn nhiều dạng bài khác nữa cùng với mục đích mở rộng vốn từ như đã nêu ởtrên
Đó là những công việc mà học sinh cần phải làm sau phần “ hệ thống từ ngữcần ghi nhớ” dưới sự gợi mở của giáo viên Tuy nhiên không phải tất cả các bàitập thực hành phải tiến hành trên lớp mà giáo viên có thể giao bài trong thời gian
tự học sau khi đã gợi ý cách làm
Qua ví dụ tham khảo này và thực tế kiểu bài mở rộng vốn từ trong dạy Luyện từ
và câu cho thấy: trong điều kiện thời gian cho phép buộc giáo viên không thểđưa ra cùng lúc tất cả các từ mà phải dùng chúng như là lời giải cho bài tập mởrộng vốn từ Song song với thao tác này, giáo viên cần phải đưa ra những câuhỏi dẫn dắt để học sinh phát hiện ra từ Tuy nhiên hệ thống câu hỏi đặt ra cũngphải dựa trên quy luật liên tưởng, có như vậy học sinh mới dễ dàng tìm được từcùng nhóm theo chủ điểm, chủ đề
Một nét đáng chú ý là dạy cách này tránh được sự áp đặt, không những thế còntạo hứng thú cho học sinh
Nếu xem xét cụ thể thì thực chất bài mở rộng vốn từ ở lớp 2 là một hệ thống bàitập trong đó có bài tập mở rộng và phát triển từ Đó là những bài tập trên cơ sởnhững từ nằm trong một chủ điểm dựa theo quy luật liên tưởng để làm xuất hiệncác từ khác và loại bài tập vận dụng Điều này thể hiện ở sách giáo khoa về quanđiểm thực hành, do phần thực hành là chủ yếu nên dung lượng lý thuyết ít vàkhái niệm được hình thành ở phần lý thuyết cũng ở dạng đơn giản nhất[4]
2.2.4 Đặc điểm bài mở rộng vốn từ lớp 2.
Trong dạy Luyện từ và câu, bài “ mở rộng vốn từ” có đặc điểm riêng khác vớikiểu bài hệ thống hóa vốn từ ( hay dạy nghĩa của từ) Bởi đó không chỉ đơnthuần là làm cho học sinh hiểu nghĩa của một từ bất kỳ nào đó hoặc tạo thànhchuỗi các từ hay còn gọi là một hệ thống trước mắt học sinh mà điều cơ bản củaloại bài này là phải làm sao cho học sinh hiểu được nghĩa của từ, nhằm khắc sâu
từ ấy vào trong vốn từ tích cực của mình Xây dựng cho các em kho từ ngữphong phú thường trực trong trí nhớ và có thể ứng dụng ở mọi điều kiện, mọihoạt động sao cho chính xác, đạt hiệu quả
Trang 7Ngoài ra các bài tập mở rộng vốn từ còn có đặc điểm nữa là phát triển kỹ năng
sử dụng từ trong lời nói, trong học tập, sinh hoạt cuộc sống Bổ sung vốn từbằng hệ thống các câu hỏi theo lối liên tưởng để học sinh trả lời bằng các câuhỏi tìm từ
Tuy nhiên với loại mở rộng vốn từ này sự phân bố căn cứ vào từng khối lớp dựavào chủ đề cụ thể để cung cấp số lượng từ mới đã được chọn - số từ cung cấpphù hợp với bài khóa, hợp với trình độ, khả năng về ngôn ngữ của học sinh.Nhưng mỗi một chủ đề, chủ điểm có mức độ yêu cầu cũng dựa theo cấp và khốilớp Nội dung kiến thức được nâng cao dần về số lượng và phong phú về nộidung, phạm vi liên tưởng rộng hẹp khác nhau
Như vậy đặc điểm chung nhất của loại bài mở rộng vốn từ ở Tiểu học nói chung
và lớp 2 nói riêng là cung cấp vốn từ cho học sinh Mỗi cá nhân muốn thành đạt
về địa vị xã hội, muốn trở thành kỹ sư, bác sĩ,… trước tiên phải có một vốn từphong phú thường trực trong đầu Bởi có một vốn từ phong phú thì khả năngthu nhận kiến thức về học tập và hiểu biết về xã hội càng nhạy bén, đáp ứng nhucầu giao tiếp mọi nơi, mọi tình huống Do vậy có thể nói, loại bài mở rộng vốn
từ chính là cơ sở nền móng vững chắc cho mỗi cá nhân trong cuộc sống và tronggiao lưu xã hội Thông qua các chủ điểm mà học sinh tự tích lũy cho mình mộtvốn từ cần thiết phù hợp với lứa tuổi, trình độ tư duy phát huy sáng tạo nâng caothẩm mỹ trí tuệ đạo đức và hành vi đạo đức trong xử thế[1]
2.2.5 Việc vận dụng trường nghĩa vào dạy các bài mở rộng vốn từ ở lớp 2
Sự phân loại từ vựng ngữ nghĩa thành các trường biểu vật và biểu niệm dựa trênhai thành phần ngữ nghĩa của từ: nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm Hai loạitrường nghĩa này có mối quan hệ mật thiết với nhau Việc dạy các chủ điểm hiệnnay ở Tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng thực chất là dạy các trường biểu vậthoặc biểu niệm theo một quy luật liên tưởng Tức là dạy từ ngữ theo hệ thống từvựng nói chung và ngôn ngữ nói riêng[6]
Ta biết rằng từ có vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Trong hệ thốngngôn ngữ từ có vai trò quyết định việc dạy Luyện từ và câu Không có một vốn
từ đầy đủ thì không thể nắm được ngôn ngữ như là một phương tiện giao tiếp
Do vậy việc học từ ở Tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng sẽ tạo điều kiện chohọc sinh năng lực giao tiếp và khả năng sử dụng từ chính xác trong giao tiếp,trong học tập, đặc biệt là trong học tập môn Tiếng Việt để phát triển con ngườitoàn diện khi có một vốn từ phong phú thường trực trong đầu thì khả năng giaotiếp và lựa chọn từ trong giao tiếp càng lớn, càng chính xác và có hiệu quả, đồngthời giúp cho sự trình bày tư tưởng tình cảm càng có chất lượng và mục đíchcao Vì vậy, tính đa dạng, tính năng động của từ được xem là điều kiện quantrọng hàng đầu để phát triển ngôn ngữ, cho nên việc dạy từ ngữ được tiến hành ởtất cả các phần môn học khác nhau Có thể nói rằng ở đâu dạy và sử dụng từ thì
ở đó có dạy từ ngữ[2]
Tuy nhiên biện pháp để lĩnh hội tri thức và ngôn ngữ của học sinh đạt hiệu quảcao và rất phổ biến, đồng thời mang tính chất nguyên tắc trong dạy học là loạibài dạy học mở rộng vốn từ theo chủ điểm không có đường ranh giới mà cònliên hệ với nhau theo quy luật liên tưởng Như vậy thực chất của việc phân loại
Trang 8từ theo các trường nghĩa biểu vật, biểu niệm, các trường nghĩa lớn nhỏ của nghĩabiểu vật và biểu niệm quan hệ với nhau theo quy luật liên tưởng[6].
Ví dụ: Tìm những từ chỉ nghề nghiệp khác mà em biết (thuộc chủ điểm Nhândân - Tiếng Việt 2)
Thợ may, thợ nề, thợ làm bánh, giáo viên, diễn viên,…
Tất nhiên là nói về khía cạnh của phạm vi liên tưởng giữa các từ đã thu hẹp theochủ đề, chủ điểm Vì vậy ta nhận thấy việc dạy Luyện từ và câu ở lớp 2 chính làquy trình vận dụng các trường nghĩa vào trong hoạt động dạy học và học phânmôn Luyện từ và câu (kiểu bài mở rộng vốn từ) là mỗi một chủ điểm tươngđương với một hệ thống ngôn ngữ còn gọi là một trường biểu vật hoặc trườngbiểu niệm Do vậy dạy một chủ điểm của kiểu bài mở rộng vốn từ là giáo viên
đã cung cấp và mở rộng cho học sinh một số lượng từ theo chủ điểm ấy, đồngthời khả năng biểu vật và biểu niệm cũng tùy thuộc vào mức độ khái quát vàphạm vi nét nghĩa của chủ điểm
Sự phân loại bài mở rộng vốn từ thành các chủ điểm như là sự khẳng định quátrình vận dụng trường nghĩa biểu vật và biểu niệm vào dạy học, giữa các trườngnày có các quan hệ với nhau và tạo thành sự liên tưởng của hệ thống ngôn ngữ,tức là xóa bỏ đi ranh giới phân biệt giữa các chủ điểm Đó chính là sự liêntưởng
2.3 Một số phương pháp dạy bài mở rộng vốn từ theo trường nghĩa.
2.3.1 Phương pháp chung
Có thể nói sự phát triển trí tuệ của học sinh tỷ lệ thuận với sự mở rộng vốn từcủa các em Vốn từ phong phú, đa dạng sẽ là một điều kiện hết sức thuận lợi đểhọc sinh tiếp thu các kiến thức khoa học và tổ chức giao tiếp một cách thuận lợi Chính vì vậy, việc mở rộng vốn từ cho học sinh là công việc quan trọng cầnphải được tiến hành thường xuyên, liên tục, song quá trình đó không thể làmngay một lúc mà phải làm dần dần và lâu dài qua nhiều lớp và cấp học, khôngthể vội vã nôn nóng hoặc ôm đồm khi cung cấp vốn từ và mở rộng vốn từ chocác em
Từ ngữ tích lũy trong đầu óc con người nói chung và học sinh nói riêng khôngphải là yếu tố rời rạc và sắp xếp lộn xộn mà tạo thành hệ thống liên tưởng nhấtđịnh Giữa từ này với từ kia có một nét gì đó chung làm ta liên tưởng đến từkhác[2]
Nhờ từ ngữ được tập hợp theo hệ thống quan hệ liên tưởng nên khi sử dụng từtrong hoàn cảnh bất kỳ, học sinh cũng sẽ nhanh chóng huy động và lựa chọnđược những từ chính xác nhất đưa vào trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể củamình
Vì vậy khi dạy bài mở rộng vốn từ, giáo viên phải hết sức chú ý và quan tâmđến đặc điểm trên để mở rộng vốn từ cho học sinh Đồng thời phải đặc biệt lưu ýđến quy luật liên tưởng để cung cấp cho học sinh những từ ngữ cần thiết Theo
hệ thống liên tưởng, để mở rộng vốn từ cho học sinh giáo viên có thể mở rộngbằng các từ trái nghĩa, cùng nghĩa , gần nghĩa,…
Ví dụ: Trường hợp gặp từ “vui vẻ” - giáo viên có thể cung cấp cho các em từcùng nghĩa và gần nghĩa khác như: vui sướng, vui mừng, sướng vui,… hoặcnhững từ trái nghĩa như: buồn rầu, buồn bã, buồn buồn, buồn tênh,…
Trang 9Trường hợp gặp từ “ tổ quốc” có thể cung cấp các từ cùng nghĩa như: non song,đất nước, xứ sở, quốc gia,…
Mở rộng vốn từ theo cách này, thường học sinh dễ nắm nghĩa của từ và nhớ từnhanh hơn
Cách được sử dụng lớn nhất trong mở rộng vốn từ cho học sinh theo hệ thốngliên tưởng và việc mở rộng vốn từ theo từng chủ đề, chủ điểm cụ thể mà mỗiloại gợi lên trong óc các em những từ ngữ khác nhau và sự liên tưởng khácnhau
Ví dụ: Chủ điểm về “Sông biển”, các từ sẽ hiện lên trong đầu các em như: sông,nước, hải âu, mênh mông, ầm ầm,…
Bởi vậy, khi mở rộng vốn từ giáo viên có thể dựa vào sách, kiến thức liên tưởng
để cung cấp và lựa chọn những từ thích hợp cho học sinh
Cũng với chủ điểm này khi gặp từ “giáo viên” có thể cho học sinh tìm một số
từ khác theo quan hệ liên tưởng đối tượng và địa điểm: bục giảng, phòng hộiđồng, lớp học,…
Cũng vẫn chủ điểm trên khi gặp từ “giáo viên”, mở rộng vốn từ cho học sinhtheo mối liên tưởng đồng loạt theo một hướng khác: thầy giáo, cô giáo, hiệutrưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn,…
Qua ví dụ vừa nêu, chúng ta thấy được việc mở rộng vốn từ theo mối liên hệliên tưởng rất đa dạng và phong phú Điều cần chú ý là khi mở rộng vốn từ theomối quan hệ liên tưởng nào, giáo viên cần tuân thủ một cách dứt khoát chứkhông nên cung cấp cho học sinh theo kiểu đan xen nhiều mối quan hệ liêntưởng Bởi vì việc đan xen nhiều mối quan hệ liên tưởng sẽ làm cho các em mấtphương hướng tiếp cận một cách hệ thống các từ ngữ được cung cấp, cũng nhưviệc tiếp cận nó Giáo viên cần định hướng những từ nhất định, thu hẹp phạm viliên tưởng lại hoặc cũng có thể liên tưởng theo một dấu hiệu ngữ nghĩa nào đó,chẳng hạn “ hãy tìm những từ chỉ đức tính tốt đẹp của học sinh”, “ tìm những từchỉ công cụ lao động của người nông dân”,
Phạm vi thu hẹp này sẽ cho ta một nhóm từ cùng loại liên tưởng theo các lớp từvựng như “ từ đồng nghĩa”, “ từ trái nghĩa” Đó cũng là quy luật liên tưởng theocấu tạo của từ nhằm giúp học sinh huy động và mở rộng vốn từ, có thể sắp xếpcác từ theo hệ thống thường trực trong đầu làm phương tiện giao tiếp phục vụcho học tập và cuộc sống
Ngoài ra còn có một số phương pháp thường được sử dụng để giúp mở rộngvốn từ cho học sinh như:
- Phương pháp luyện tập theo mẫu: Đây là phương pháp sử dụng nhiều nhất khidạy Luyện từ và câu lớp 2 Thông qua hướng dẫn học sinh làm mẫu một phầncủa bài tập, học sinh nhận biết cách làm bài tập để tự mình hoàn thiện bài tập
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ: thường được sử dụng khi hướng dẫn họcsinh giải nghĩa và mở rộng vốn từ theo cấu tạo…
Trang 10- Phương pháp giao tiếp: thông qua việc dạy từ dựa vào lời nói, vào những thôngbáo sinh động, vào giao tiếp ngôn ngữ, giáo viên hướng dẫn học sinh vào nhữngtình huống để tạo ra những sản phẩm giao tiếp.
2.3.2 Phương pháp dạy từng kiểu bài
Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 2, loại bài mở rộng vốn từ có vị trí rấtquan trọng Loại bài này có nhiều kiểu khác nhau nhưng có chung một mục đích
là học sinh mở rộng và phát triển vốn từ
2.3.2.1 Kiểu bài tập: Mở rộng vốn từ qua tranh vẽ
Loại bài tập này, HS tự tìm từ ngữ cơ bản xoay quanh một chủ đề từ ngữ nào đó( do bài học quy định), học sinh càng tìm được nhiều từ thì vốn từ của các emcàng phong phú Ở loại bài tập này, tranh vẽ là phương tiện trực quan có tácdụng làm chỗ dựa cho việc tìm từ, mở rộng vốn từ của học sinh, học sinh hìnhthành ý thức làm giàu vốn từ cho bản than Qua việc tìm các từ ngữ thuộc mộtchủ điểm nào đó, học sinh có thể tự kiểm tra, tự đánh giá được vốn từ của mình.Ngoài ra, việc luyện tập, xây dựng hệ thống từ ngữ cùng chủ điểm, học sinh còn
có thể luyện tập được kỹ năng huy động các từ ngữ có quan hệ với nhau vềnghĩa Nói cách khác, huy động các từ ngữ cùng liên quan tới việc biểu thị mộtphạm vi hiện thực nào đó là để sử dụng trong hoạt động giao tiếp ngôn từ
Căn cứ vào mức độ dễ - khó, đơn giản - phức tạp, có thể chia loại bài tập nàythành 3 dạng cơ bản sau:
2.3.2.1.a Dạng bài tập “ Ghép từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng”
Ví dụ 1: Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dưới đây:
( từ cho sẵn: học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo)
( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 8)
Ví dụ 2: Chọn cho mỗi con vật dưới đây một từ chỉ đặc điểm của nó: chậm,nhanh, khỏe, trung thành
( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 142)
Ví dụ 3: Nối tên các loài chim trong các tranh sau:
( Các từ cho sẵn: đại bang, cú mèo, chim sẻ, sáo sậu, chào mào, vẹt)
( Tiếng Việt 2, tập 2, trang 35)
Ví dụ 4: Chọn cho mỗi con vật trong tranh vẽ bên một từ chỉ đúng đặc điểm củanó: tò mò, nhút nhát, dữ tợn, tinh ranh, hiền lành, nhanh nhẹn
( Tiếng Việt 2, tập 2, trang 55)
Ở dạng bài tập này vừa có tác dụng làm cho học sinh nhận biết “ nghĩa biểuvật” của từ ( từ nào gọi tên, biểu thị sự vật, hiện tượng nào), vừa có tác dụng làmcho học sinh mở rộng thêm về vốn từ Đây là hình thức luyện tập về từ ở mức độđơn giản nhất Trong 4 ví dụ được nêu ở trên, các từ cho sẵn ở ví dụ 1, ví dụ 3chủ yếu là danh từ; ở ví dụ 2, ví dụ 4 là tính từ Học sinh dễ thực hiện yêu cầu ở
ví dụ 1 và 3 hơn bởi vì nhận biết đặc điểm tính chất của sự vật hiện tượng khóhơn nhận biết bản thân sự vật
Khi dạy dạng bài tập này, tôi sử dụng tranh ( phóng to) hướng dẫn học sinh lầnlượt đối chiếu từng từ cho sẵn với hình ảnh tương ứng: mỗi tên gắn với một vậthoặc một việc được vẽ trong tranh Sau đó yêu cầu học sinh đọc các tên gọi ( đặttrong ngoặc đơn) Tiếp theo yêu cầu các em cần xem tên gọi là của người, vậthoặc việc nào?
Trang 11Mặt khác, một học sinh đọc tên gọi của từng người, vật, việc đồng thời HS khácdùng que chỉ để chỉ vào tranh người, vật, việc ấy và đọc số thứ tự của tranh đó.
Ở ví dụ 1: Tranh 1: trường Tranh 2: học sinh Tranh 3: chạy
Tranh 4: cô giáo Tranh 5: hoa hồng Tranh 6: nhà
Tranh 7: xe đạp Tranh 8: múa
2.3.2.1.b Dạng bài tập “ Dựa vào tranh tìm từ tương ứng”
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật ( người, đồ vật, cây cối, ) được vẽ dưới đây: ( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 26)
Ví dụ 2: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người Hãy tìm từ chỉ mỗihoạt động
( Tiếng Việt 2, tập 1, trang 59)
Ví dụ 3: Tìm từ ngữ chỉ nghề nghiệp của những người được vẽ trong các tranhdưới đây
( Tiếng Việt 2, tập 2, trang 129)
Với dạng bài tập này, từ cần tìm không cho sẵn, vì vậy tác dụng nhằm làm cho
HS phát triển và mở rộng vốn từ của dạng bài tập này cao hơn so với dạng bàitập (a) ở trên
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, suy nghĩ, tìm từ tương ứng rồi trả lời.Đôi khi học sinh vừa phải quan sát tranh vừa kết hợp tưởng tượng Bởi vì tranh
vẽ có khi chỉ mang tính tương đối, chỉ là sự gợi ý, không phải là sự sao chụphiện thực Điều cần lưu ý ở đây là từ cần tìm trong bài tập ở ví dụ 1, ví dụ 3 làcác danh từ; ví dụ 2 là các động từ Mà việc gọi tên các hoạt động là điều không
dễ dàng đối với học sinh lớp 2 Vì vậy ở hình thức bài tập trong ví dụ 2, giáoviên cần có gợi mở thích hợp thì học sinh mới có thể tìm được các từ ngữ cầntìm Ví dụ gợi mở bằng hệ thống câu hỏi như sau:
Bức tranh vẽ ai? ( một bạn trai)
Bạn trai đang làm gì? ( bạn trai đang viết)
Từ chỉ hoạt động là từ nào? ( viết)
Sau khi học sinh trả lời xong, lớp nhận xét rồi chữa bài:
Tranh 1: đọc, xem Tranh 3: nghe, giảng giải, chỉ bảo
Tranh 2: viết, làm Tranh 4: nói, trò chuyện, kể chuyện, tâm sự
2.3.2.1.c Dạng bài tập “ Gọi tên các sự vật được vẽ trong tranh” ( tranh đố)
Yêu cầu bài tập này cũng dựa vào hình ảnh của sự vật ( các sự vật được vẽtrong tranh) để tìm từ ngữ tương ứng Nói cách khác, đó là gọi tên các sự vậtđược vẽ trong tranh Điểm khác biệt giữa dạng bài tập này với dạng bài tập “dựa vào tranh tìm từ tương ứng” là các sự vật được vẽ trong tranh không hiểnhiện rõ ràng mà ẩn dấu trong tranh, phải quan sát kỹ kết hợp với tưởng tượngmới nhận biết được Sự khác biệt này chủ yếu ở phương diện hình thức thể hiện
từ đó nhằm gây hứng thú học tập cho các em
Khi dạy bài này cần cho HS quan sát kỹ bức tranh, phát hiện các vật cần tìm ẩnrất khéo trong tranh, gọi tên từng vật ( mỗi tên gọi đó là một từ mà HS được mởrộng, được củng cố trong dạng bài tập này) Sau đó yêu cầu các em nói rõ côngdụng ( được dùng làm gì) của từng vật tìm được Yêu cầu này có tác dụng khắcsâu, củng cố cho học sinh về “ nghĩa biểu vật” của các từ vừa tìm được, làm chokết quả mở rộng vốn từ mà học sinh thu được thêm vững chắc hơn