Năm học 2020-2021 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giáo dụcphổ thông mới, do vậy Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học được áp dụngvới quan điểm dạy học.. Trong quá trình thực
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY PHÂN MÔN HỌC VẦN ĐẠT HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC NAM TIẾN – HUYỆN QUAN HÓA – TỈNH THANH HÓA
Trang 2Nội dung Trang
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
3
2.3.1 Biện pháp 1: Giáo viên nắm vững chương trình SGK môn
Tiếng việt theo chương trình SGK mới
4
2.3.2 Biện pháp 2: Giáo viên nắm vững quy trình dạy phân môn
học vần đối với chương trình 2018
5
2.3.4 Biện pháp 4: Biện pháp phụ đạo học sinh chưa hoàn thành
bài học trong phân môn Tập đọc
11
2.3.5 Biện pháp 5: Biện pháp phụ đạo học sinh CHT trong các
buổi học chiều
12
2.4 Hiệu quả của SKKN đối với các hoạt động giáo dục với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 3dạy cho các bài hát hay và bổ ích, dạy học bảng chữ cái và xem tranh ảnh Khibước vào lớp 1 các em phải học thuộc bảng chữ cái Trong chương trình giáodục Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có tầm quan trọng nhất Việc học mônTiếng việt theo chương trình giáo dục tổng thể năm 2018 đã thể hiện rất rõ tầmquan trọng của môn học này bởi nó chiếm 420 tiết/ năm học, chiếm 31% tổngthời lượng chương trình dành cho các môn học bắt buộc Điều này đã chứng tỏgiáo dục đang thay đổi chương trình và môn Tiếng Việt rất được chú trọng Đốivới học sinh lớp 1 nói chung và đặc biệt hơn là đối với trẻ ở vùng miền núi khókhăn nói riêng Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy tôi thấy phần nhiều là do các
em không hiểu tiếng chung, đang phụ thuộc vào tiếng địa phương, tiếng mẹ đẻnhiều hơn Chính vì vậy, khi các em đọc chưa tốt, phát âm chưa đúng thì dẫnđến việc viết cũng ảnh hưởng rất nhiều, viết chưa đúng quy trình, chưa liềnmạch, còn sai độ cao, độ rộng và mắc nhiều lỗi chính tả,…Chúng ta đều nhậnthức sâu sắc rằng, môn Tiếng Việt ở Tiểu học rèn luyện cho học sinh cả bốn kỹnăng: Nghe, nói, đọc, viết Trong đó kỹ năng đọc rất quan trọng, nếu kỹ năngđọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ giúp các em đọc tốt suốt cảcuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bàihọc Làm tốt được những điều đó sẽ là điều kiện để các em học tốt hơn mônTiếng Việt ở các lớp trên
Năm học 2020-2021 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giáo dụcphổ thông mới, do vậy Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học được áp dụngvới quan điểm dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm, phát triển năng lực họchọc sinh” Qua nghiên cứu và thấy được sự phù hợp với đối học sinh vùng miền,Nhà trường đã chọn và sử dụng bộ sách giáo khoa Cánh diều vào dạy học lớp 1
Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp dạy lớp1, hưởng ứng phong trào đó tôi
đã nhận thức đúng đắn tầm quan trọng môn Tiếng Việt ở lớp 1 ngay từ nhữngbuổi đầu lựa chọn sách giáo khoa mới và thông qua những buổi tập huấn và cácbuổi sinh hoạt chuyên đề
Trong quá trình thực dạy lớp 1 và qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy tôiluôn nắm bắt, thấm nhuần được nhiệm vụ quan trọng và trách nhiệm của mình.Hiểu sâu sắc được những thực trạng và những khó khăn trong việc tiếp cận cáimới dù với học sinh hay cả thầy cô giáo theo chương trình mới hay chương trình
cũ để dạy học phần âm môn Tiếng Việt với học sinh lớp 1 Để làm tốt, vận dụngnhững kinh nghiệm, những điểm hay khi thực hiện chương trình lớp 1 mới hiện
Trang 4hành và vận dụng chương trình cũ để áp dụng linh hoạt vào việc dạy phần âmmôn Tiếng Việt cho học sinh là rất quan trọng Tôi đã thực nghiệm tại ngôitrường nơi công tác thuộc xã Nam Tiến, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa làmột xã đặc biệt khó khăn của huyện, 90% các em học sinh là dân tộc Thái,Mường Với mục tiêu hàng đầu nhằm giúp các em nắm chắc âm vần, biết đọcthông viết thạo, đảm bảo yêu cầu mà ngành Giáo dục đã đề ra đối với học sinhlớp 1 về chuẩn kiến thức, kĩ năng.
Vì vậy, từ những thực trạng và khó khăn đó Năm học 2020 - 2021 tôimạnh dạn đưa ra và thực hiện biện pháp trong việc dạy học Tiếng Việt đó là:
“Một số biện pháp dạy phân môn học vần đạt hiệu quả đối với lớp 1 trường Tiểu học Nam Tiến, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa”
Đây là một số biện pháp tôi bắt đầu thí điểm thực hiện trong năm học này,với mong muốn giúp các em học tốt phân môn học vần trong chương trìnhTiếng Việt SGK mới đạt hiệu quả cao giúp các em mạnh dạn, tự tin, có nền tảngtốt trong năm học và những năm tiếp theo
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp dạyphân môn học vần trong chương trình GDPT mới đối với lớp 1 trường Tiểu họcNam Tiến, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp dạy phân môn học vần trong chương trình GDPT mới đạthiệu quả đối với lớp 1 trường Tiểu học Nam Tiến, huyện Quan Hóa, tỉnh ThanhHóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh
- Phương pháp nhận xét nêu gương
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 1 các em vừa chuyển từ mầm non sang họclớp 1 Các em là học sinh dân tộc miền núi nên hay rụt dè, không mạnh dạn Vềkiến thức Tiếng Việt các em mới chỉ làm quen với các chữ cái, vì vậy lên lớp 1các em được học ghép âm, vần, tiếng, từ ngay nên mức độ bắt nhịp của các emrất chậm Điều đó đòi hỏi giáo viên cần phải rất tỉ mỉ, kiên trì và nắm chắc
Trang 5phương pháp dạy để giúp các em thích ứng với phương pháp học mới, nội dungmới, nắm được kiến thức mà không quá tải
Với học sinh lớp 1 khi các em chuyển cấp bước đầu tiên là làm quen vớimôi trường học tập mới, các em phải học nhiều hơn Vì thế, giáo viên lớp 1 cầnnắm vững đặc điểm tâm sinh lí học sinh để áp dụng phương pháp dạy học chophù hợp, luôn gần gũi, động viên các em, đặc biệt là những em học chậm Luôntạo không khí vui tươi để các em không cảm thấy mình bị bỏ rơi, phân biệt, luôntạo động lực cuốn hút học sinh giúp các em dễ đọc, dễ viết và đọc viết tốt nhất.Khuyến khích động viên các em hứng thú trong học tập [6]
Việc đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới phương phápdạy học Cấu trúc và nội dung mỗi bài học gồm ba phần: học chữ cái, vần vàluyện tập tổng hợp Mỗi bài học 2 chữ cái hoặc 2 vần để phù hợp với mọi đốitượng học sinh; việc học mỗi chữ, mỗi vần đều bắt đầu từ một từ khóa chỉnhững sự vật quen thuộc trong đời sống Điểm mới về nội dung của sách là bài 1dạy chữ cái a thay vì e như sách hiện hành Cái hay, cái mới của SGK mới làphần luyện tập tổng hợp, học sinh có thêm các giờ tự đọc sách báo và hoạt độngtrải nghiệm dưới tên gọi “Góc sáng tạo” [1]
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa trong chương trình Tiếng việtmới, với việc giảng dạy ở trên lớp kết hợp trao đổi với đồng nghiệp ngay đầunăm học, tôi cùng chuyên môn nhà trường tiến hành khảo sát kết quả như sau:
Số lượng Tỉ lệ Số
4
228%
Cụ thể qua khảo sát đầu năm của 2 lớp trong số học sinh chưa hoàn thành:
- 29 chữ cái có 12 em chỉ thuộc một nửa bảng chữ cái Các em hay quêncác chữ cái như: q, p, r, g,
- Đặc biệt có 4 em chưa thuộc bảng chữ cái chỉ biết mặt chữ: o, ô, a Cụthể: Lớp 1A1: em Phát, Hùng
Lớp 1A2: em Vỹ, Nhung
Trang 6Từ những thực trạng đó tôi luôn chủ động đọc và tìm hiểu một cách thấuđáo môn học, làm chủ được kiến thức môn học Thay đổi hình thức tổ chức dạyhọc, chủ động điều chỉnh nội dung kiến thức cho phù hợp với đối tượng học sinhlớp mình Chủ động lĩnh hội, học hỏi những cái mới, những gì chưa thấu đáocần mạnh dạn trao đổi, chia sẻ Thường xuyên cập nhập thông tin trên internet,các trang chuyên đề của ngành để trang bị kiến thức cho mình Vận dụng nhữngkinh nghiệm, những điểm hay khi thực hiện chương trình lớp 1 hiện hành, vàvận dụng chương trình cũ để áp dụng linh hoạt vào việc dạy phần âm môn TiếngViệt cho học sinh Giải thích, tư vấn để phụ huynh hiểu rõ về nội dung, hìnhthức đổi mới của chương trình, từ đó đồng hành với giáo viên giúp cho việc họctập của con em vùng điều kiện khó khăn mình đạt kết quả tốt nhất.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trong thực tế, nhận thức của học sinh Tiểu học và đặc biệt là học sinhlớp 1 ở cùng lứa tuổi là như nhau, song trong cùng một môi trường học tậpnhưng việc lĩnh hội kiến thức của mỗi em có mức độ không giống nhau Cùngmột lượng kiến thức truyền tải đó với thời gian đó nhưng có em học rất nhanh,
có em lại chậm hơn Chính vì lẽ đó từng lớp học thì việc nhiều đối tượng họcnhư: hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt , hoàn thành và chưa hoàn thành vẫn làbình thường Vì thế để đảm bảo duy trì và phát huy chất lượng của học sinh thìngười giáo viên không ngừng tìm ra những hướng đi, đưa ra những biện pháp cụthể với từng nhóm học sinh của mình Từ những kinh nghiệm đúc kết của bảnthân tôi mạnh dạn đề xuất các biện pháp sau:
2.3.1 Biện pháp 1: Giáo viên nắm vững chương trình Sách giáo khoa môn Tiếng Việt theo chương trình SGK mới.
Chương trình 2018 được áp dụng và thực hiện từ năm học này, Áp dụngđúng lộ trình, thay đổi Sách giáo khoa mới là một sự mới mẻ đối với bản thântôi cũng như đồng nghiệp, tôi nhận thức rõ nhiệm vụ của mình và nghiên cứu vềmạch kiến thức của chương trình mới Các mạch kiến thức Tiếng Việt ở lớp 1 là:
- Ngữ âm và chữ viết : âm, chữ ,dấu thanh, quy tắc chính tả
- Từ vựng: mở rộng vốn từ
- Ngữ pháp: Dấu câu, từ loại, cấu trúc câu
- Hoạt động giao tiếp: Biện pháp tu từ, đoạn văn,văn bản
Đặc biệt hơn là chương trình Giáo dục 2018 chú trong dạy học phát triểnnăng lực học sinh, do vậy học sinh là trung tâm là người chủ động trong học tập.Giáo viên giúp học sinh có những định hướng học tập để đáp ứng mục tiêu giáodục
- Bộ sách Cánh điều có cấu trúc chương trình gồm ba phần:
Phần 1 Làm quen: Giúp các em làm quen với việc học, nhớ lại chữ cái,
biết viết các nét cơ bản (Thực hiện ở tuần 1)
Trang 7Phần 2 Phần âm và chữ: Đọc viết đúng âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn
văn ngắn (Tuần 2 - 6)
Phần 3 Phần vần: Giúp các em:
- Đọc viết đúng âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn văn ngắn
- Đọc đúng và hiểu được đoạn, bài văn ngắn, biết nói thành câu, bước đầu
kể được từng đoạn của câu chuyện
Việc nắm được nội dung mạch kiến thức trên giúp tôi thực hiện đúngchuẩn trong giảng dạy Tiếng việt 1 Giúp tôi trau dồi được kiến thức cho riêngmình để rồi có phương pháp truyền đạt hiệu quả
2.3.2 Biện pháp 2: Giáo viên nắm vững quy trình dạy phân môn học vần đối với chương trình 2018.
Đối với phân môn học vần của chương trình mới 2018 thì có nhiều điểmkhác biệt so với chương trình cũ Tất cả các bước được tạo lập trong quy trìnhdạy học vần được sắp xếp một cách khoa học, nhằm phát triển tốt nhất kĩ năngtìm tòi, khám phá vần mới của học sinh Từ những dẫn dắt mà giáo viên đưa rahọc sinh có thể tự phát hiện mối liên kết giữa các âm, vận dụng cách đánh vầnlinh hoạt để đọc được thành tiếng Giáo viên không cần quá đi sâu vào việc ghépvần của học sinh Mà chính học sinh là những chủ thể nhất định tự quyết địnhcác thao tác dựa trên sự hỗ trợ của bộ đồ dùng học môn Tiếng Việt Có thể nóirằng điểm mẫu chốt ở đây là: “Dạy học đổi mới chiếm lĩnh”
Dạy học trên quan điểm chú trọng phát triển năng lực học sinh Chú trọngđến phương pháp tự học.Tự học coi trọng vai trò chủ thể tích cực của HS trongviệc chủ động sáng tạo, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức đểgiải quyết các vấn đề thực tiễn, ứng dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống củamình
ĐƯỢC ÁP DỤNG CHO BỘ SÁCH GIÁO KHOA MỚI:
Hoạt động chính bao gồm các hoạt động cụ thể như sau:
Hoạt động Chính
Đọc, tìm tiếng chứa vần mới
Luyện viết vào bảng con
Đọc bài ứng dụng (Tập đọc)
Trang 8Tôi đã nghiên cứu quy trình dạy học vần cho các em HS lớp 1 và thiết
kế một cách tỉ mỉ đối với những bài học vần mới Để các em tự tin phấn khởihào hứng vơi tiết học không bị gò ép, hay chán nản hoặc sợ học
Tôi mạnh dạn lấy ví dụ cho một tiêt bài dạy học vần anh - ach thể hiện rõ quy trình như đã nêu ở trên như sau:
HỌC VẦN Bài 94: anh - ach
- Đọc đúng và hiểu bài Tập đọc Tủ sách của Thanh.
- Viết đúng các vần anh, ach và các tiếng (quả) chanh, (cuốn) sách (trên
bảng con)
2 Yêu cầu cần đạt về năng lực – phẩm chất:
a Năng lực:
- Năng lực chung: Hợp tác có hiệu quả với các bạn trong nhóm, trong tổ và
trong lớp Khơi gợi óc tìm tòi, vận dụng những điều đã học vào thực tế
- Năng lực đặc thù: HS phát triển về năng lực ngôn ngữ thông qua việc họcsinh nghe hiểu và trình bày được yêu cầu nhiệm vụ học tâp HS phát triển vềnăng lực văn học thông qua bài tập đọc, từ sự đồng cảm với nhân vật hình thànhtình cảm yêu quý ông bà, cha mẹ, người thân trong gia đình
b Phẩm chất: Yêu quý ông bà, cha mẹ, người thân trong gia đình.
IV CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
HĐ1 Khởi động: 5’
- Ổn định
- Giới thiệu bài sách Tiếng Việt 1, tập
hai y/c hs và bài học mở đầu: vần anh,
- Hát
- Lắng nghe
- Nhắc lại tựa bài
Trang 9vần ach (Đây là bài đầu tiên dạy vần
- Giới thiệu từ khóa: GV chỉ hình quả
chanh (hoặc quả chanh thật), hỏi: Đây
là quả gì?
- Chúng ta có từ mới : quả chanh
- Trong từ quả chanh, tiếng nào có vần
anh?
- Em hãy phân tích tiếng chanh?
- GV chỉ tiếng chanh, yêu cầu HS
- Vần anh có âm a đứng trước, âm
nh đứng sau
a - nhờ - anh
- HS (cá nhân, tổ, lớp) đánh vần và đọc trơn
- Quả chanh
- Tiếng chanh có vần anh
- Tiếng chanh có âm ch (chờ) đứng trước, vần anh đứng sau đánh
vần, đọc trơn tiếng chanh: chờ - anh
- chanh / chanh.
- HS (cá nhân, tổ, lớp) đánh vần và đọc trơn
+ 1 HS đọc: a – chờ – ach + Cả lớp nói: ach
- Vần ach có âm a đứng trước, âm
ch đứng sau
a – chờ – ach
- HS (cá nhân, tổ, lớp) đánh vần và đọc trơn
Trang 10- Em hãy phân tích tiếng sách?
- GV chỉ tiếng sách, yêu cầu HS đánh
quả chanh cuốn sách
- GV yêu cầu học sinh đọc
- Tranh vẽ cuốn sách
- Tiếng sách có vần ach
- Tiếng sách có âm s (sờ) đứng trước, vần ach đứng sau, dấu sắc trênđầu âm a đánh vần, đọc trơn
tiếng sách: sờ - ach - sách – sắc - sách /sách.
- HS (cá nhân, tổ, lớp) đánh vần và đọc trơn
- Vần anh, vần ach Đánh vần: a – nhờ - anh / anh; a – chờ – ach/ach.
- Tiếng chanh, tiếng sách Đánh vần:
chờ - anh - chanh / chanh; sờ - ach
- sách - sắc - sách /sách.
- HS lên bảng chỉ đọc (cá nhân, nhóm, cả lớp)
- Yêu cầu HS làm vào VBT: gạch 1
gạch dưới tiếng có vần anh, gạch 2
gạch dưới tiếng có vần ach.
- 1 HS đọc
- Cả lớp đọc nhỏ
- HS làm vào VBT: viên gạch, tách trà, bánh chưng, bức tranh, khách sạn
Trang 11- Gọi HS trình bày kết quả.
- GV vừa viết mẫu vừa giới thiệu:
+ Vần anh: chữ a viết trước, nh viết
sau Chú ý nét nối giữa a và nh.
+Vần ach: chữ a viết trước, ch viết
sau Chú ý nét nối giữa a và ch
+ chanh: viết ch trước, anh sau.
+ sách: viết s trước, ach sau, dấu sắc
đặt trên đầu âm a
- Cho học sinh viết:
- Nhận xét, sửa cho học sinh
- Cả lớp đọc
- HS quan sát, lắng nghe
- Viết vào bảng con:
anh, ach (2 lần) (quả) chanh, (cuốn) sách
TIẾT 2 3) Tập đọc
* Giới thiệu bài
- Gọi 1 HS đọc tên bài tập đọc
- Trong tên bài, tiếng nào có vần vừa
học?
- Yêu cầu HS quan sát tranh: Bài đọc
nói về bạn Thanh còn nhỏ nhưng đã có
Trang 12+ GV chỉ từng câu cho HS đọc vỡ.
+ Chỉ từng câu cho HS đọc nối tiếp
+Chỉ một vài câu đảo lộn thứ tự
* Thi đọc đoạn, bài:
+ Chia bài làm 3 đoạn (mỗi đoạn 2
câu)
d)Tìm hiểu bài đọc
- Nêu yêu cầu: ghép vế câu ở bên trái
với vế câu phù hợp ở bên phải để tạo
b) Nhờ có sách - 1) Thanh học đọcrất nhanh
HĐ4 Củng cố: 3’
-Tìm tiếng ngoài bài có vần anh?
-Tìm tiếng ngoài bài có vần ach?
- GV mời cả lớp đọc lại nội dung 2
trang sách vừa học, từ tên bài đến hết
bài Tập đọc
- Nhận xét giờ học
HĐ5 Dặn dò: 2’
- Dặn HS về đọc lại bài Tủ sách của
Thanh cho người thân nghe, chuẩn bi
bài tiết sau
- Đánh, lạnh, nhanh,
- Cách, mách, vạch,
- Lắng nghe và thực hiện
2.3.3 Biện pháp 3: Dạy học phân hóa đối tượng học sinh:
Đối với biện pháp này ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành kiểm trakhảo sát đánh giá nhận thức của các em, để biết được em nào nhận thức tốt emnào khá và em nào còn chậm Có lẽ bất cứ người thầy nào cũng đều có chungmong muốn rằng không học sinh nào cảm thấy bị “bỏ rơi” trong lớp học Tronggiờ học tôi phân chia thời gian cũng như lựa chọn phương pháp, hình thức dạyhọc phù hợp để dành cho từng đối tượng một cách hợp lý Chú trọng hình thứcdạy học phân hóa
Đối với các buổi chính tôi thường cho các em có cả học sinh hoàn thànhtốt, học sinh hoàn thành, học sinh chưa hoàn thành vào một nhóm để các emphát huy tích tích cực và tương tác cùng nhau, em học tốt chỉ cho em học chậm
Và qua nhiều giờ học như vậy sẽ giúp các em có thói quen tự học tốt hơn