1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo và gây hứng thú cho học sinh khi học phân môn kể chuyện lớp 4

24 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động dạy học phân môn Kể chuyện của giáo viên và học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Vĩnh Phúc, nghiên cứu các phương pháp dạy học, nghiên cứu nội d

Trang 1

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến

kinh nghiệm.

4

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:

Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho hệ thống giáo dục phổ thông Chương trình Tiểu học gồm nhiều môn học khác nhau Mỗi môn học ở Tiểu học có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhân cách học sinh, trong

đó Tiếng Việt là một trong hai môn chủ đạo.

Trang 2

Môn Tiếng Việt bao gồm nhiều phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Chính tả, Kể chuyện Dạy Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Các phân môn Tiếng việt có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung kiến thức cho nhau, học tốt phân môn này sẽ góp phần học tốt các phân môn khác

Với kể chuyện, nói đến vị trí vai trò của nó trước hết ta phải nói đến nó là một món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sống con người mà đặc biệt

là đối với trẻ em Các em rất thích nghe chuyện, ngay từ tuổi ấu thơ những lời kể của ông bà, cha mẹ đã đi sâu vào tiềm thức của các em Niềm say mê chuyện ngày càng lớn dần theo độ tuổi Mỗi câu chuyện lạ, mỗi tình huống hấp dẫn đều có sự thu hút mạnh mẽ sự chú ý của các em Do đó phân môn Kể chuyện có trong chương trình Tiểu học trước tiên là để thoả mãn nhu cầu muốn nghe kể chuyện của các em Nhưng bên cạnh đó, kể chuyện còn là phương tiện giáo dục rất quan trọng

và rất có hiệu quả Qua mỗi bài kể chuyện tất cả những hiểu biết của các em về vốn

từ ngữ - ngữ pháp, khả năng nghe - nói - đọc - viết, vốn hiểu biết về cuộc sống đều được vận dụng một cách hợp lý sáng tạo Đặc biệt là qua kể chuyện mà kỹ năng nghe và nói được rèn luyện nhiều hơn Kể chuyện giúp cho các em biết diễn đạt vấn đề một cách trôi chảy, lưu loát, biết biến câu chuyện được nghe (hoặc được đọc) thành sản phẩm của mình để kể lại Mặt khác qua kể chuyện để giáo dục tình cảm cho các em, giúp các em biết phân biệt rõ ràng giữa yêu và ghét, giữa thiện và ác biết sống có lý tưởng, vươn tới cái đẹp và hành động vì cái đẹp Phân môn Kể chuyện còn có nhiệm vụ rèn luyện và phát triển các kỹ năng Tiếng việt, phát triển

tư duy và góp phần tích lũy vốn sống vốn văn học cho học sinh Đó là những kỹ năng khó đối với học sinh Tiểu học vì khả năng khái quát của các em chưa cao, vốn

từ còn hạn chế Phân môn Kể chuyện có vai trò quan trọng như thế nhưng trong thực tế giảng dạy giáo viên và nhà trường chưa có kinh nghiệm cũng như biện pháp cụ thể nào để nâng cao chất lượng dạy học phân môn kể chuyện Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng giờ dạy kể chuyện? Liệu có một giải pháp hữu hiệu nào

để các giờ kể chuyện luôn hấp dẫn và lôi cuốn , gây hứng thú của các em không?

Đó là điều mà tôi cũng như bao giáo viên khác trong công tác làm giáo dục rất băn

khoăn và suy nghĩ Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo và gây hứng thú cho học sinh khi học phân môn Kể chuyện ở lớp 4"

1.2 Mục đích nghiên cứu: Qua đề tài này tôi mong muốn góp phần tìm ra phương

pháp dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động phù hợp nhằm phát huy tích tích cực, tư duy duy sáng tạo và gây hứng thú cho học sinh khi học phân môn Kể chuyện ở lớp 4 Giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy và nhân cách, giáo dục học sinh say mê văn hóa đọc Nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Kể chuyện.

Trang 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu về hoạt động dạy học phân môn Kể chuyện của giáo viên và học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Vĩnh Phúc, nghiên cứu các phương pháp dạy học, nghiên cứu nội dung chương trình, nghiên cứu các tài liệu, tạp chí có liên quan

sau đó tổng kết đúc rút và đưa ra kinh nghiệm "Một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo và gây hứng thú cho học sinh khi học phân môn Kể chuyện ở lớp 4."

1.4 Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử

dụng như sau:

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Tôi tiến hành đọc, tìm

hiểu, nghiên cứu, chắt lọc từ một số tài liệu liên quan như: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học, Thiết kế bài giảng Tiếng việt 4, Sách giáo viên Tiếng Việt 4, Các câu hỏi và đáp về việc dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học, Báo Văn học Tuổi Thơ, chuyên san Giáo dục Tiểu học.

nguồn Internet và đặc biệt là khai thác nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học ở lớp 4.

1.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế thu thập thông tin: Tìm hiểu khả

năng đọc sách báo ở nhà và ở trường của học sinh Khảo sát khả năng kể chuyện

của học sinh, dự giờ đồng nghiệp tiết dạy Kể chuyện so sánh, phân tích, đối chiếu

tìm ra cách dạy tốt hơn.

1.4.3 Phương pháp thực nghiệm: Để kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả của việc

vận dụng các biện pháp dạy học đã đề xuất, tôi soạn giáo án, tổ chức thực nghiệm cách dạy mới để rút ra kết luận

1.4.4 Phương pháp thống kê xử lí số liệu: Thu thập thống kê số liệu, phân tích và

xử lí số liệu điều tra khảo sát.

1.4.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Để tìm ra được phương pháp dạy học

vấn đề này một cách thiết thực và có hiệu quả, tôi học hỏi kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi ý kiến dạy học vấn đề này với nhiều giáo viên khác và đúc rút kinh nghiệm

từ bản thân qua dạy học nhiều năm ở lớp 4

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:

Phân môn Kể chuyện ở bậc Tiểu học giúp bồi dưỡng tâm hồn, phát triển tư duy ngôn ngữ, rèn kĩ năng nghe, nói và khả năng giao tiếp cho trẻ Mặt khác, nó còn hình thành ở trẻ những phẩm chất như: “có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, yêu quý anh chị em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn bè, yêu các em nhỏ, yêu lao động, có kỉ luật, có nếp sống văn hoá, có thói quen rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh, yêu quê hương đất nước”.

Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, phân môn kể chuyện có ba kiểu bài chính Điều này đã làm phong phú cho cả hình thức và nội dung Kể chuyện Sự đa dạng về nội dung trong mỗi tiết Kể chuyện đã giúp cho trẻ rèn luyện khả năng ghi

Trang 4

B Kể chuyện được chứng kiến và tham gia.

C Kể chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp.

3: Em có hay đọc sách, báo thiếu nhi, truyện nào?

A Báo thiếu niên, nhi đồng.

nhớ, tái tạo văn bản, óc tưởng tượng, khả năng tư duy lôgic, …, rèn kĩ năng nói, kể chuyện trước đám đông một cách tự nhiên, thành thạo, đầy sáng tạo và tự tin.

Ba kiểu bài của Kể chuyện lớp 4, đó là: Kể lại câu chuyện vừa nghe thầy,

cô kể trên lớp; Kể chuyện đã nghe, đã đọc; Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia Ba kiểu bài này được dạy xuyên suốt, đan xen trong cả chương trình Tiếng Việt lớp 4 Mỗi kiểu bài có một nhiệm vụ và đặc điểm riêng trong việc rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh Bên cạnh mục đích rèn luyện kĩ năng nghe - nói cho học sinh, kể chuyện còn có mục đích khác là kích thích học sinh ham đọc sách báo, sưu tầm sách báo trong đời sống hàng ngày, mở rộng cánh cửa nhà trường, làm cho đời sống văn học trong nhà trường gắn bó với đời sống văn học ngoài xã hội, cao hơn nữa, đó là thúc đẩy và gây dựng ban đầu về văn hoá đọc cho thế hệ trẻ.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

2.2.1 Đối với giáo viên:

Thông qua việc dự giờ thăm lớp đồng nghiệp Qua trao đổi, sinh hoạt chuyên môn tôi nhận thấy đa số các giáo viên khi dạy kể chuyện còn có những tồn tại sau:

- Hình thức tổ chức khi dạy học phân môn Kể chuyện chưa phong phú Đa phần là dạy theo kiểu: giáo viên kể - học sinh lắng nghe rồi kể lại nên tiết kể chuyện thường đơn điệu, nhàm chán, chưa phát huy được tính tích cực và tư duy sáng tạo của học sinh.

- Trong giờ dạy, giáo viên chưa quan tâm đến nhiều đối tượng tham gia kể, chưa giúp mọi học sinh có sẵn điều muốn kể, nhu cầu kể cho thầy cô và các bạn câu chuyện của mình.

2.2.2 Đối với học sinh:

- Học sinh rất thích giờ kể chuyện vì giờ Kể chuyện không phải viết, thích được kể câu chuyện của mình cho bạn nghe, cho cả lớp nghe, thích thể hiện mình, mặc dù câu chuyện của em kể chưa suôn sẻ Giờ học này thường hứng thú với các

Trang 5

1 Em thích học phân môn kể chuyện không?

- 50 em =100% thích học kể chuyện.

2: Em thích kiểu bài kể chuyện nào?

- 11 em = 22% thích kể chuyện đã nghe, đã học.

- 36 em = 72% thích kể chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp

- 3 em = 6% thích kể chuyện được chứng kiến và tham gia.

3: Em có hay đọc sách, báo thiếu nhi, truyện nào?

- 8 em = 16% đọc báo thiếu niên, nhi đồng

- 15 em = 30% đọc sách giáo khoa

- 27 em = 54 % đọc truyện tranh.

4: Em thường kể chuyện gì cho bố mẹ nghe, cho bạn bè nghe.

- 5 em = 10% chuyện trong sách, báo.

- 22 em = 44% chuyện thấy khi đi học, đi chơi.

- 23 em = 46% chuyện ở trường

Qua điều tra, tôi nhận thấy các em rất thích phân môn kể chuyện, các em thích nghe thầy cô kể chuyện Các em có đọc sách báo, nhưng chủ yếu là truyện tranh và các câu chuyện ít phục vụ vào chủ điểm bài học Các em cũng thích kể lại những chuyện mình đã chứng kiến ở trường, lúc đi chơi cho gia đình và bạn bè nghe Vậy khi vào giờ kể chuyện thì các em học như thế nào? Tôi đã kiểm tra kết quả học tập của học sinh với bài kiểm tra sau:

Đề bài: Kể lại câu chuyện Sự tích Hồ Ba Bể (Tuần 1)

Tôi tiến hành kiểm tra trong 2 tiết ở các tiết luyện Tiếng Việt ở buổi 2

+ Kết quả thu được:

Lớp Sĩ số HS Hoàn thành tốt SL TL Hoàn thành SL TL Chưa hoàn thành SL TL

Qua khảo sát tôi thấy: Số học sinh nhớ và kể lại câu chuyện bằng lời của mình

rất ít Còn nhiều em chưa nhớ được nội dung câu chuyện nên kể bập bõm, kể lại các sự việc lộn xộn Nhiều em chỉ kể được đoạn đầu câu chuyện mà không thể kể được các phần tiếp theo Chưa có em nào có sự sáng tạo khi kể chuyện.

2.2.4 Nguyên nhân của thực trạng:

- Phần lớn giáo viên rất ngại dạy kể chuyện vì nó đòi hỏi phải chuẩn bị nhiều đồng thời tổ chức giờ học khó Chuẩn bị đồ dùng dạy học để minh họa câu chuyện còn ít, chủ yếu là tranh ảnh phóng to từ sách giáo khoa.

- Trong giờ dạy, giáo viên chưa hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ nội dung truyện để kể bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình nên học sinh không ghi nhớ được nội dung diễn biến câu chuyện và bài kể của học sinh còn phụ thuộc vào ngôn ngữ của giáo viên.

Trang 6

- Nhiều khi giáo viên yêu cầu học sinh kể quá cao, cứ nghĩ kể chuyện phải thành một văn bản nói chau chuốt, diễn đạt phải rõ ràng, mạch lạc Cho nên nhận xét học sinh kể nhiều khi quá khắt khe, soi xét tỉ mỉ Điều này không đúng với mục đích của giờ Kể chuyện, và cũng đã làm giảm sự mạnh dạn của học sinh tham gia

kể, làm cho học sinh lúc nào cũng căng tai để nghe xem bạn có mắc lỗi nào không

để lát nữa ta phê bạn, làm cho học sinh buộc phải ghi nhớ câu, từ, chi tiết, mà quên đi cái diễn biến, cái tổng thể của câu chuyện.

- Việc ghi nhớ và kể lại nội dung câu chuyện đã được nghe cô giáo, thầy giáo

kể với các em còn hạn chế Các em không nhớ hết được các tình tiết, sự việc xảy ra trong truyện nên khi kể lại nội dung câu chuyện chưa đầy đủ, chưa có sự sáng tạo.

- Các em ít đọc truyện, sách báo văn học thiếu nhi mà thường đọc truyện tranh nước ngoài, truyện tranh dài tập, cho nên việc tìm đọc những truyện ngoài nhà trường phục vụ cho chủ điểm đang học với các em còn khó khăn Trong tiết này các em thường chỉ kể những câu chuyện ở trong chương trình mà các em vừa học.

Từ thực trạng trên tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn áp dụng một số giải pháp

để hạn chế những tồn tại trên Đó là làm thế nào để giáo viên không còn e ngại dạy

Kể chuyện Sử dụng đồ dùng trong khi dạy kể chuyện như thế nào là hợp lý Muốn học sinh kể được câu chuyện theo yêu cầu của bài học, của chủ điểm thì phải làm thế nào? Làm thế nào để tất cả đối tượng học sinh đều được kể chuyện Học sinh phân tích và kể lại câu chuyện vừa nghe như thế nào cho hợp lý?

2.3 Các giải pháp đã sử dụng:

2.3.1 Giải pháp 1: Sử dụng Kĩ thuật " KWL-KWLH"

Để vận dụng hiệu quả kĩ thuật này vào dạy học thì trước hết giáo viên cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:

- Thứ nhất tìm hiểu sự ra đời của kĩ thuật " KWL-KWLH":

K: kiến thức/hiểu biết HS đã có;

W: những điều HS muốn biết;

L: những điều HS tự giải đáp/trả lời;

H: cách thức để HS tìm tòi nghiên cứu mở rộng thêm về chủ đề học

"KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986 Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đã biết về chủ đề bài đọc Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểu đồ Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các

em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi ở cột W Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L (Trích từ Ogle, D.M (1986) K-W-L: A teaching model that develops active reading of expository text Reading Teacher, 39, 564-570)"

Xuất phát từ kĩ thuật KWL, Ogle tiếp tục bổ sung thêm cột H ở sau cùng Sau khi học sinh đã hoàn tất nội dung ở cột L, các em có thể muốn tìm hiểu thêm

Trang 7

về một số thông tin có liên quan Các em sẽ nêu biện pháp để tìm thông tin mở rộng Tất cả những ý tưởng, yêu cầu này sẽ được ghi nhận ở cột H.

- Thứ hai nắm vững mục đích sử dụngcủa kĩ thuật, đó là:

Tìm hiểu kiến thức có sẵn của học sinh trước khi học bài mới/chủ đề mới Đặt ra các mục tiêu cho hoạt động học tập.

Giúp học sinh tự giám sát, trải nghiệm quá trình học tập của mình

Cho phép học sinh đánh giá quá trình học tập của mình.

Tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý tưởng của mình vượt ra ngoài khuôn khổ bài mới/chủ đề mới, được liên hệ và vận dụng vào thực tiễn.

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp tiếp cận về nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp dạy học,…

Tất cả những mục đích trên đều hướng tới phát triển các năng lực của học sinh.

Bước 5: Sau khi đã dạy xong bài học/chủ đề mới, yêu cầu học sinh đọc lại và tự điền câu trả lời mà các em tìm được (trong quá trình học tập) vào cột L

Bước 6: Sau khi học sinh đã hoàn tất nội dung ở cột L, học sinh có thể muốn tìm hiểu thêm các thông tin có liên quan, giáo viên hãy yêu cầu các em nêu biện pháp để tìm kiếm mở rộng.Tất cả những ý tưởng, yêu cầu này sẽ được ghi nhận ở cột H.

Ví dụ: Dạy tiết kể chuyện “ Bàn chân kì diệu.” ( Tuần 11)

Căn cứ vào mục tiêu của tiết học (Rèn kĩ năng nói: Dựa vào lời kể của GV và tranh minh họa, HS kể lại được câu chuyện; rút ra được bài học từ tấm gương Nguyễn Ngọc Kí Rèn kĩ năng nghe: chăm chú nghe GV kể chuyện; nhớ câu

Trang 8

chuyện ; nghe bạn kể, nhận xét đúng lời kể của bạn, kể tiếp được lời bạn) tôi đã tiến hành tiết dạy theo quy trình sau:

Khởi động tiết học bằng việc hoàn thành hai cột K và W trong sơ đồ KWLH (như bảng dưới) mà học sinh đã được chuẩn bị trước.Tôi sẽ gợi ý cho học

KWL-sinh bằng câu hỏi“Hãy nói những gì các em đã biết về truyện Bàn chân kì diệu?”

và cho các em ghi những điều các em đã biết vào cột K Sau đó tôi tiếp tục đặt câu

hỏi cho các em: “Các em muốn biết thêm những gì khi nghe cô kể về câu chuyện này?” các em sẽ nêu những điều các em muốn biết về câu chuyện này vào cột W.

Sau khi nghe giáo viên kể, nghe bạn kể và kể lại thì học sinh có thể trả lời câu hỏi ở cột W và hoàn thành cột L Sau khi nghe kể và tìm hiểu câu chuyện các em muốn tìm hiểu thêm về điều gì các em sẽ ghi vào cột H của sơ đồ KWL-KWLH (như bảng dưới)

- Nguyễn Ngọc Kí gặp khó khăn gì trong quá trình luyện viết

- Ông đạt kết quả như thế nào?

(Dự kiến)

- Nguyễn Ngọc Kí viết bằng chân

- Khó khăn khi cầm bút bằng chân, chân

bị chuột rút

-Chữ ông mỗi ngày một đẹp, đậu đại học tổng hợp; được Bác

Hồ tặng huy hiệu

(Dự kiến)

- Tìm đọc các câu chuyện về Nguyễn Ngọc Kí

- Tìm đọc các câu chuyện về những người giàu nghị lực, có ý chí vươn lên

Sau khi vận dụng giải pháp này vào quá trình dạy học tôi thấy rất vui mừng

vì học sinh rất hứng thú với bài học Các em đã huy động và sử dụng kiến thức đã biết của bản thân vào học bài mới Vì vậy các em cảm thấy tự tin hơn, biết đặt ra các mục tiêu cho hoạt động học tập.

Các em nhớ được nội dung câu chuyện cũng như nắm được ý nghĩa của câu chuyện Các em biết mở rộng nội dung bài học thông qua việc tìm đọc các câu chuyện về nguyễn Ngọc Kí, các câu chuyện liên quan đến người có ý chí, có nghị lực vươn lên.

Các em cũng tự giám sát, trải nghiệm quá trình học tập và cho phép các em đánh giá quá trình học tập của mình.

2.3.2 Giải pháp 2: Sử dụng kỹ thuật Sơ đồ tư duy:

Kiểu bài kể lại câu chuyện vừa nghe thầy, cô giáo kể trên lớp ở lớp 4 - 5 có tác dụng rèn kỹ năng nghe cho học sinh vì văn bản của truyện không được in trong sách giáo khoa, học sinh không được đọc trước, biết trước Để học sinh chỉ nghe một đến hai lần mà học sinh có thể ghi nhớ và kể lại được câu chuyện thật là khó.

Trang 9

Các em cố nhớ câu chuyện thì sẽ quên mất lời kể, giọng điệu, câu chuyện trở nên khô khan Chính vì vậy việc sử dụng Kĩ thuật sơ đồ tư duy trong các tiết kể chuyện này sẽ giúp các em ghi nhớ và kể lại được câu chuyện, đem lại hứng thú cho học sinh, phát huy ở học sinh tính tích cực và tư duy sáng tạo.

Để sử dụng tốt sơ đồ tư duy, giáo viên cần nắm được:

+ Khái niệm sơ đồ tư duy:

Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960 và cho đến nay nó đã và đang được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.

+ Cấu tạo sơ đồ tư duy:

- Ở giữa sơ đồ là từ khóa hay hình ảnh miêu tả chủ đề trung tâm.

- Từ chủ đề trung tâm vẽ các nhánh chính liên quan đến đến chủ đề, mỗi ý lớn

sẽ được thể hiện bằng một màu sắc hoặc kí hiệu khác nhau Trên các nhánh chính viết một nội dung liên qua đến chủ đề trung tâm.

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh nhỏ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính.Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

+ Cách hướng dẫn học sinh kể chuyện bằng Sơ đồ tư duy:

Tôi hướng dẫn cho học sinh kể chuyện bằng sơ đồ tư duy qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu hướng dẫn học sinh thao tác vẽ sơ đồ, giai đoạn 2 giáo viên hướng dẫn học sinh cách tóm tắt các ý chính bằng những từ, cụm từ và thể hiện lên sơ đồ, giai đoạn cuối học sinh tự vẽ và hoàn thành sơ đồ với nhóm mình.

Giai đoạn 1: Hướng dẫn học sinh tóm tắt nội dung truyện bằng Sơ đồ tư duy

và kể chuyện bằng Sơ đồ tư duy qua 2 tiết kể chuyện: Một nhà thơ chân chính – Tuần 4, Lời ước dưới trăng – Tuần 7 Tôi đã hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư

duy và kể chuyện bằng Sơ đồ tư duy theo các bước:

+ Bước 1: GV giới thiệu Sơ đồ tư duy và cách vẽ Sơ đồ tư duy cho HS xem (GV có thao tác mẫu)

+ Bước 2: Hướng dẫn HS vẽ Sơ đồ tư duy tóm tắt nội dung câu chuyện: GV kể lại câu chuyện(2 lần) yêu cầu học sinh dựa vào lời kể của GV kết hợp quan sát

Cấu tạo sơ đồ tư duy

Trang 10

tranh( hoặc câu hỏi) trong sách giáo khoa tự nêu các sự việc chính, sắp xếp các sự việc thành cốt truyện.

+ Bước 3: GV cho học sinh hoạt nhóm 4, tóm tắt các sự việc thành cụm từ/ câu ngắn gọn và viết lên Sơ đồ tư duy.

+ Bước 4: Mời đại diện nhóm dựa vào Sơ đồ tư duy trình bày bài kể của nhóm GV nhận xét, góp ý, chỉnh sửa, bổ sung Sau mỗi phần kể của các nhóm , tôi cho các nhóm khác phát hiện những chi tiết không chính xác hoặc những từ ngữ mà nhóm bạn kể chưa đúng và sửa lại Hoạt động này giúp các em phát hiện và lựa chọn từ ngữ khi diễn đạt, trình bày.

Sau 2 tiết kể chuyện này bước đầu các em đã nắm được các thao tác vẽ Sơ đồ

tư duy, cách thể hiện nội dung lên Sơ đồ tư duy nhưng từ ngữ trên Sơ đồ tư duy còn dài dòng (Hình 1) Bài kể của các em hầu như là đọc lại các từ trên Sơ đồ tư duy, chưa có sự sáng tạo, diễn đạt chưa trôi chảy.

Hình 1: Sơ đồ tóm tắt truyện Một nhà thơ chân chính

Giai đoạn 2: Hướng dẫn học sinh cách tóm tắt các ý chính thành các từ khóa, thể

hiện lên Sơ đồ tư duy, dùng Sơ đồ tư duy đó để kể chuyện bằng ngôn ngữ của mình

qua tiết kể chuyện: Bàn chân kì diệu- Tuần 11 Các bước thực hiện:

+ Bước 1: GV kể chuyện( 2 lần) Sau đó yêu cầu cá nhân học sinh dựa vào lời kể của GV và tranh vẽ trong sách giáo khoa, tóm tắt câu chuyện bằng Sơ đồ tư duy + Bước 2: Cho học sinh thảo luận nhóm 4, chia sẻ sơ đồ của mình với nhóm, nhóm thống nhất vẽ Sơ đồ tư duy của nhóm.

+ Bước 3: GV tổng hợp sơ đồ của các nhóm và chọn một sơ đồ tốt nhất GV dựa vào sơ đồ đó và kể mẫu(Hình 2) Sau đó cho học sinh lên kể, GV đánh giá phần kể của học sinh

Trang 11

Sau khi học xong tiết kể chuyện này học sinh đã biết vẽ Sơ đồ tư duy dưới sự hướng dẫn của GV và dựa vào sơ đồ này bài kể của các em có tiến bộ hơn tuy nhiên kĩ năng diễn đạt và trình bày còn hạn chế Các em cố gắng nhớ cách kể của

GV, câu chữ mà GV sử dụng để kể mẫu khiến cho bài kể của các em không được mạch lạc, bị gián đoạn.

H ình 2: Sơ đồ tóm tắt truyện Bàn chân kì diệu.

Giai đoạn 3: Học sinh tự tóm tắt nội dung bằng sơ đồ tư duy và kể lại qua tiết kể

chuyện: Búp bê của ai? – Tuần 14 Các bước thực hiện:

+ Bước 1: Sau khi nghe GV kể chuyện(2 lần) yêu cầu học sinh thảo luận nhóm

4, dựa vào tranh vẽ và lời thuyết minh dưới tranh tóm tắt câu chuyện bằng Sơ đồ tư duy.

+ Bước 2: Cho học sinh dựa vào Sơ đồ tư duy của nhóm kể lại một đoạn câu chuyện hay cả câu chuyện GV nhận xét, góp ý, bổ sung.

Ở tiết học này, sơ đồ tóm tắt của các em trình bày đẹp, khái quát được toàn bộ nội dung truyện kể một cách ngắn gọn Bài kể của các em kể đầy đủ, giọng kể

truyền cảm, có sáng tạo

Trang 12

Hình 3: Sơ đồ tóm tắt truyện Búp bê của ai? ( Nhóm 1)

Hình 4: Sơ đồ tóm tắt truyện Búp bê của ai? ( Nhóm 4)

Dựa vào sơ đồ tư duy bài kể của các em kể đầy đủ, giọng kể khá truyền cảm và

có sự sáng tạo Sự sáng tạo ở chỗ các nhóm đã biết giới thiệu đưa người nghe đến

với câu chuyện Búp bê của ai?( Ví dụ: Mở đầu câu chuyện có em kể: Hôm ấy, Nga được mẹ cho đi đến cửa hàng đồ chơi Vừa nhìn thấy búp bê Nga đã đòi mẹ mua cho.), ngôn ngữ dùng có sự lựa chọn, cách kết thúc câu chuyện có sáng tạo(Ví dụ:

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w