Trong tất cả các môn học ở tiểu học, môn Toán là môn học có vị trí quan trọng, nó góp phần trong việc đặt nền móng để hình thành và phát triển nhân cách học sinh và đây cũng là môn học m
Trang 1Bậc Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Môn Toán cũng như các môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp đạo đức của con người Môn Toán ở trường tiểu học
là một môn độc lập, có tầm quan trọng to lớn, chiếm phần lớn thời gian trong chương tình học của trẻ Môn toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận lôgic, thao tác tư duy cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con
người trong thời đại mới Trong tất cả các môn học ở tiểu học, môn Toán là môn
học có vị trí quan trọng, nó góp phần trong việc đặt nền móng để hình thành và phát triển nhân cách học sinh và đây cũng là môn học mà đa số học sinh rất ngán học vì nó tuân thủ theo những nguyên tắc, tính chất nên khó tiếp thu hơn những môn học khác…[3]
Thực tế cho thấy, nhiều học sinh rất ngại học toán, thậm chí là sợ học toán, không có hứng thú với những con số khô khan, những quy tắc cứng nhắc của môn toán vì vậy các em cảm thấy áp lực nặng nề, căng thẳng khi học toán Từ những lí do trên cho thấy có thể do các em chưa nhận biết tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học toán, chưa được kích thích hành động tích cực, sáng tạo trong quá trình giải toán…; còn có thể do nội dung môn Toán khô khan, phương pháp dạy của giáo viên chưa thật sự hấp dẫn …
Có thể nói hứng thú học tập có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh và sự phát triển nhân cách của các em Có hứng thú học tập học sinh sẽ thấy yêu thích học toán và chủ động, sáng tạo trong tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức.Từ hứng thú, học sinh sẽ say mê, tự giác học tập Có hứng thú học tập môn Toán thì chất lượng học sẽ được nâng lên Các em sẽ không còn ngại những con số, những bài giải yêu cầu suy luận logic, chính xác
Chính vì vậy, một yêu cầu đặt ra cho giáo viên Tiểu học trong giai đoạn hiện nay là cần quan tâm nhiều hơn đến việc hình thành và bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh bằng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, phát huy năng lực của người học phù hợp và thực sự có hiệu quả Câu hỏi “làm thế nào để vừa kích thích hứng thú học tập của học sinh vừa thực hiện tốt mục tiêu tiết dạy”? là sự trăn trở không chỉ riêng bản thân tôi mà của tất cả giáo viên nói chung
Từ thực tế giảng dạy, nhận thấy rõ sự cần thiết trong việc tạo hứng thú học tập cho học sinh trong quá trình học toán, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán theo định hướng phát triển năng lực của học sinh Là một giáo viên đứng lớp nhiều năm, tôi cũng đã nghiên cứu và vận dụng một số biện pháp để tạo hứng thú học tập cho học sinh đồng thời góp phần phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.Trong khuôn khổ của sáng kiến này, tôi xin mạnh dạn đóng góp một số kinh nghiệm mà bản thân đã vận dụng trong những năm dạy
học sinh lớp 3 và thấy có hiệu quả Đó là: Một số biện pháp gây hứng thú học tập môn Toán cho học sinh lớp 3C ở trường Tiểu học Vĩnh Thành.
Trang 21.2 Mục đích nghiên cứu.
Việc nghiên cứu “Một số biện pháp gây hứng thú học tập môn Toán cho học sinh lớp 3” nhằm nâng cao hiệu quả học toán cho học sinh thông qua các trò chơi, trải nghiệm thực tế, câu đố….Từ đó giúp giáo viên xác định yêu cầu khi thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập Toán theo từng nội dung kiến thức
cụ thể nhằm gây hứng thú cho học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh lớp 3 học tập môn Toán
- Nội dung, chương trình Toán tiểu học nói chung và nội dung chương trình Toán lớp 3 nói riêng
- Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
- Nội dung chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên Toán lớp 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Nhằm nắm vững mục tiêu, yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn Toán lớp 3
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Nhằm có được thông tin cơ bản nhất về chất lượng học Toán ở lớp 3
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Để tính, phân tích số liệu và % số liệu thu được
- Phương pháp quan sát: Giúp thu được những thông tin trực tiếp về việc dạy Toán lớp 3
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Chúng ta đã biết, do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, học sinh tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng rất thích chơi, thích tìm hiểu điều mới lạ nhưng lại rất nhanh chán, dễ nhớ nhưng lại cũng chóng quên Do đó, người giáo viên khi dạy học phải lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, hấp dẫn
để kích thích sự tò mò, gây được sự vui vẻ, hứng thú của học sinh thì học sinh mới nhớ lâu và luôn có nhu cầu học Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới sự ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: “Thiên tài nảy nở từ tình yêu công việc” Cùng với sự tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo
Từ xưa, Khổng Tử cũng đã nói: “Biết mà học không bằng thích mà học; Thích mà học không bằng vui, say mê mà học.”[2]
Bác Hồ cũng có quan điểm rất tuyệt vời khi nói về cách dạy ở tiểu học: “Tiểu học thì cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ Phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng trở nên già cả Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học.”[2]
Hứng thú có vai trò qua trọng như vậy nên để giúp học sinh học tốt môn Toán và phát triển năng lực của học sinh thì điều quan trọng và quyết định trước hết là khơi dậy và phát triển hứng thú của học sinh đối với môn Toán
Trang 32.2 Thực trạng của việc dạy và học Toán lớp 3 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở trường Tiểu học Vĩnh Thành.
2.2.1 Thực trạng việc dạy của giáo viên:
Trong những năm gần đây, bậc Tiểu học đã và đang tích cực đổi mới về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho giờ học thoải mái, nhẹ nhàng và đạt hiệu quả cao Hiện nay việc dạy học Toán ở Tiểu học về cơ bản đã
có đổi mới về phương pháp nhưng chưa thực sự phát huy hết vai trò của người học cũng như chưa phát huy hết tính tích cực chủ động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh
Mặt khác, một số giáo viên không sử dụng đồ dùng dạy học hoặc sử dụng không triệt để, điều đó khiến các em tiếp thu kiến thức mới rất khó khăn Các
em ít được quan sát trực quan, ít được tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tiễn mà khả năng tư duy trừu tượng của các em lại rất hạn chế
Việc thiết kế, vận dụng trò chơi, câu đố toán học vào giảng dạy của một số giáo viên vẫn còn lúng túng, chưa đúng lúc, đúng chỗ, mang tính hình thức Trong quá trình dạy học, giáo viên luôn chú trọng làm thế nào để hoàn thành tiết dạy, hoàn thành mục tiêu bài học, học sinh nắm được kiến thức mà chưa chú ý đến phương pháp, hình thức tổ chức lớp học để học sinh tiếp thu kiến thức một cách dễ chịu, nhẹ nhàng nhất Dẫn đến có em ngại giờ học toán, sợ học toán, ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập của học sinh
2 2.2 Thực trạng việc học của học sinh:
Từ việc dạy học theo kiểu áp đặt, khô khan của giáo viên mà học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động Các quy tắc, công thức, toán học đều được thầy đưa ra và học sinh có nhiệm vụ phải nhớ Chính vì vậy mà các em tiếp thu kiến thức không vững, dễ nhớ nhưng lại chóng quên Học sinh chưa thật sự tập trung học tập Trong khi cô giáo giảng bài vẫn có học sinh nói chuyện riêng, trêu bạn, chơi một số trò chơi
2.2.3 Kết quả của thực trạng:
a Khảo sát mức độ hứng thú và chất lượng môn Toán của học sinh:
Năm học 2019- 2020, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 3C Ngay sau khi nhận lớp, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học toán cho học sinh lớp 3C trường Tiểu học Vĩnh Thành, kết quả như sau:
Kết quả khảo sát môn Toán lớp 3C đầu năm học 2019– 2020:
thành
Trước kết quả khảo sát môn Toán lớp 3C chưa cao như vậy, tôi tiến hành khảo sát mức độ hứng thú với môn Toán (Phụ lục 1)
b Kết quả:
Qua bảng thống kê cho thấy: Học sinh còn ngại học môn Toán Nhiều em không hứng thú với môn học này Kết quả học tập môn Toán chưa cao Tỉ lệ học sinh Hoàn thành tốt chưa nhiều, vẫn còn nhiều học sinh chỉ bám mức hoàn thành, có những em chưa hoàn thành
Trang 4c Nguyên nhân:
- Các em còn sợ môn Toán vì thấy nó khô khan, hóc búa, phải tính toán nhiều và suy luận cao
- Các em chưa nắm vững kiến thức, chưa có phương pháp học tập, chưa chăm học, chưa chịu khó suy nghĩ làm bài, ngại học, tiếp thu bài một cách thụ động
- Giáo viên chưa có phương pháp tối ưu kèm cặp, giúp đỡ học sinh
- Phụ huynh của những HS này chưa thực sự quan tâm tới các em, các em chỉ học ở lớp, về nhà bố mẹ không nhắc nhở, bảo ban
Trước thực trạng đó, tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp để vận dụng một số biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán, phát triển năng lực học toán cho học sinh trong giai đoạn hiện nay
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1 Phân loại đối tượng, vận dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực của học sinh:
Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành kiểm tra, tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh để có biện pháp giáo dục và dạy học hiệu quả Trong quá trình dạy học, tôi đã dựa trên năng lực của từng học sinh để giao nhiệm vụ học tập phù hợp sao cho học sinh yếu kém đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá, giỏi phát triển ở mức cao hơn Việc dạy học theo nhóm đối tượng (phân hóa đối tượng HS) sẽ giúp cho tất cả HS đều tích cực học tập Tất cả đều
có cơ hội phát triển phù hợp với năng lực của bản thân Học sinh ở mức độ khá, giỏi thì dạy sao cho các được phát huy khả năng tư duy trừu tượng và sáng tạo của mình; Đối với học sinh trung bình thì tạo động lực để các em vươn lên; Với học sinh yếu, kém thì phải bù đắp được chỗ hổng về kiến thức để các em lĩnh hội được kiến thức cơ bản Khi dạy học phân hóa đối tượng HS, tôi thấy tiết học không bị nhàm chán, HS không bị áp đặt theo khuôn mẫu định sẵn, tạo nhiều cơ hội cho HS sáng tạo và phát triển tư duy Tất cả các đối tượng học sinh đều trở nên thích thú, say mê với mỗi nhiệm vụ được giao HS khá, giỏi được nâng cao,
mở rộng kiến thức HS yếu được rèn luyện từ những bài tập vừa sức và dần dần làm chủ được những kiến thức cơ bản
Ví dụ:
- Trong tiết học, khi giao bài tập cho HS, tôi đã thiết kế phiếu bài tập theo các mức độ học lực khác nhau
- Trong khi đặt câu hỏi tôi dành cho học sinh đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn những câu hỏi đơn giản với những kiến thức kĩ năng cơ bản cần đạt Với học sinh hoàn hành tốt tôi đưa ra những câu hỏi khó hơn, những tính huống có tính suy luận và tư duy trừu tượng cao
Bên cạnh việc dạy học phân hóa học sinh, tôi thường xuyên vận dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tiết học thêm sinh động, hấp dẫn và phát triển năng lực của học sinh như:
Kĩ thuật Chia nhóm, kĩ thuật Giao nhiệm vụ, kĩ thuật Đặt câu hỏi, kĩ thuật Khăn trải bàn, kĩ thuật Động não, kĩ thuật Tia chớp, kĩ thuật KWLH, kĩ thuật
Trang 5Hỏi và trả lời, kĩ thuật Đọc tích cực, kĩ thuật Sơ đồ tư duy, kĩ thuật dạy học theo trạm [4]
Với các kĩ thuật dạy học này, các em có cơ hội được thực hành, trải nghiệm, tích cực, chủ động, làm cho các em thích thú, giờ học nhẹ nhàng, thiết thực, bổ ích
2.3.2 Sử dụng trò chơi để gây hứng thú học tập môn Toán cho học sinh:
Trẻ em tiểu học vốn rất ham chơi, học sinh lớp 3C do tôi phụ trách cũng vậy Chơi là một nhu cầu không thể thiếu đối với các em Vì thế, sử dụng trò chơi học tập toán là một trong những biện pháp hiệu quả góp phần gây hứng thú cho học sinh trong học toán Tôi thường tổ chức một số trò chơi để tạo sự vui
vẻ, không khí lớp học vui tươi, thoải mái, đồng thời củng cố kiến thức, khơi gợi trí tò mò, ham học hỏi của học sinh Một số trò chơi mà tôi thường sử dụng:
“Chiếc hộp bí ẩn”, “Ô cửa bí mật”, “Rồng cuốn lên mây”, “Đoàn kết”, “Tìm đường về nhà”,
Ví dụ 1: Trò chơi “Chiếc hộp bí ẩn”
+ Mục tiêu: Trò chơi “Chiếc hộp bí ẩn” nhằm giúp học sinh hứng thú với tiết học, khơi gợi trí tò mò tìm hiểu bài
Ví dụ: Khi dạy bài: “So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn” [1]
+ Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của tiết học trước có liên quan đến tiết học hôm nay để kiểm tra học sinh
Câu hỏi 1: Muốn so sánh số lớn gấp mấy lần số bé ta làm thế nào?
Câu hỏi 2: Anh 10 tuổi Em 5 tuổi Hỏi tuổi anh gấp mấy lần tuổi em?
+ Cách tiến hành:
Trong phần kiểm tra bài cũ, tôi đã thay những câu lệnh khô khan, cứng nhắc như: “Trước khi vào bài mới, cô kiểm tra bài cũ” bằng cách tổ chức trò chơi
Bước 1: Giáo viên nêu tên trò chơi, thời gian chơi:
Mở đầu cho tiết học hôm nay , cô cùng các em sẽ khởi động bằng một trò
chơi Trò chơi có tên là: “Chiếc hộp bí ẩn” Trong chiếc hộp bí ẩn này là nội dung các câu hỏi mà em sẽ được khám phá
Bước 2: Hướng dẫn cách chơi, luật chơi:
Khi nghe hiệu lệnh tiếng gõ thước lần thứ nhất, học sinh hát một bài hát
mà các em yêu thích đồng thời chiếc hộp sẽ được truyền đi trong tiếng hát của các em Khi nghe hiệu lệnh thước lần thứ hai, các em dừng hát Lúc này, chiếc hộp đang nằm trên tay bạn nào, bạn ấy sẽ được mở hộp và khám phá câu hỏi bí
ẩn bên trong Nếu trả lời đúng, em sẽ nhận được một phần quà nhỏ đồng thời được quyền trao chiếc hộp bí ẩn cho một bạn bất kì mà em muốn hỏi Nếu em trả lời sai hoặc không tự tin với câu trả lời của mình em hãy nhờ một bạn mà em tin tưởng trả lời hộ và lúc này mọi quyền lợi của em sẽ thuộc về bạn mà em đã nhờ
Bước 3: Tổ chức cho học sinh chơi
Học sinh chơi theo cách chơi và luật chơi mà giáo viên đã hướng dẫn, trả lời 2 câu hỏi mà giáo viên đã chuẩn bị
Trang 6Bước 4: Nhận xét, đánh giá trò chơi: Tuyên dương những học sinh nắm vững và vận dụng tốt kiến thức
Giáo viên chốt: Qua trò chơi, cô thấy các em đã nắm vững cách so sánh số lớn gấp mấy lần số bé Vậy muốn so sánh số bé bằng một phần mấy số lớn thì ta làm như thế nào Mời các em mở SGK trang 61 để tìm hiểu về điều đó
Như vậy qua trò chơi tôi đã kiểm tra và củng cố được kiến thức có liên quan đến bài học Từ đó giới thiệu bài một cách nhẹ nhàng và đầy cảm hứng, tạo một không khí học tập thân thiện, vui tươi
* Vận dụng: Trò chơi có thể vận dụng khi kiểm tra bài cũ và khởi động ở tất cả các tiết học
* Kết quả: Học sinh chơi rất hào hứng, kiến thức kĩ năng được giáo viên kiểm tra một cách nhẹ nhàng hiệu quả
Ví dụ 2: Trò chơi “Tìm nhà cho các con vật”
+ Mục tiêu: Củng cố cho học sinh cách đổi đơn vị đơn vị đo độ dài, cách tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật
VD: Khi dạy bài “Chu vi hình chữ nhật” (SGK Toán 3 – trang 88)[1], tôi đã củng cố kiến thức tính diện tích hình chữ nhật và tạo hứng thú các em qua trò chơi: Tìm nhà cho các con vật
+ Chuẩn bị: GV: Ba mảnh bìa gắn tên các con vật là nhân vật trong phim hoạt hình: Chó Đốm, Mèo Tom, Vịt Donald Ba bảng con hình chữ nhật tượng trưng cho các ngôi nhà ghi chu vi của các ngôi nhà
- HS: Mỗi em chọn và viết một số đo độ dài (chu vi của các ngôi nhà) vào bảng con theo gợi ý của giáo viên: 7m, 70dm, 6m, 60dm, 34dm, 3m4dm
+ Cách tiến hành:
Bước 1: Giới thiệu trò chơi, thời gian chơi 3 phút
Bước 2: Hướng dẫn cách chơi, luật chơi:
Cho cả lớp cùng tham gia chơi, mỗi học sinh dưới lớp đóng vai nhà của các con vật Giáo viên chỉ định 3 học sinh đại diện cho 3 tổ chọn con vật mà mình sẽ giúp Ba học sinh này phải tìm đúng nhà có chu vi là nhà của con vật
đó Sau 1 phút nếu bạn trong tổ mà không tìm được nhà của nhân vật mà mình đóng vai thì bạn khác trong tổ sẽ trợ giúp Tổ nào tìm thấy nhà của con vật trước
sẽ chiến thắng
Bước 3: Tổ chức cho học sinh chơi:
Mời 3 học sinh lên đóng vai các con vật hoạt hình Giáo viên nói: Ba bạn mèo Tom, vịt Donald, Chó Đốm rủ nhau đi chơi nhưng quên mất đường về nhà của mình Các em hãy giúp các bạn ấy tìm đúng ngôi nhà của mình nhé Biết rằng nhà của các bạn ấy đều là hình chữ nhật và có các số đo như sau: Nhà của
Vịt Donald Chó Đốm
Mèo Tom
Trang 7Chó Đốm có chiều dài 2m, chiều rộng: 15dm; nhà của Vịt Donald có chiều dài: 1m, chiều rộng: 7dm; nhà của Mèo Tom có chiều dài: 2m, chiều rộng: 10dm
- GV quan sát nếu học sinh dưới lớp ghi thiếu chu vi nhà của con vật nào thì bí mật đưa xuống những bảng số liệu mà mình đã chuẩn bị
Bước 4: Nhận xét, đánh giá trò chơi: Tuyên dương những học sinh chơi tốt
*Vận dụng: Tôi đã vận dụng trò chơi này khi dạy bài: Chu vi hình vuông, diện tích hình vuông, chu vi hình chữ nhật, diện tích hình chữ nhật, Bảng đơn vị
đo độ dài
* Kết quả: Sau khi tham gia trò chơi các em thấy cởi mở, tự tin khi nắm chắc về cách đổi số đo độ dài, cách tính chu vi và diện tích hình chữ nhật, hình vuông
Thực tế cho thấy, tại Hội thi giáo viên giỏi cấp huyện năm học 2020 –
2021, trong tiết dạy học Toán lớp 3 mà tôi bắt thăm được, tôi đã tổ chức trò chơi một cách hiệu quả, tạo hứng thú học tập cho học sinh Tiết dạy đã được Hội đồng giám khảo đánh giá cao và là tiết dạy mẫu tại buổi sinh hoạt chuyên môn cụm Tiểu học vào tháng 1 năm 2021 Như vậy, việc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn toán, đặc biệt là toán 3 là thật sự cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và phát triển năng lực cho học sinh (Một số hình ảnh học sinh tham gia trò chơi trong tiết học Toán có ở phụ lục 4)
2.3.3 Đưa các tình huống có vấn đề vào giới thiệu bài mới:
Việc đưa tình huống có vấn đề vào giới thiệu bài mới sẽ thu hút được học sinh, dẫn dắt các em tự giác tìm hiểu nội dung và tạo cho các em những bất ngờ thú vị làm cho các em hứng thú hơn trong học toán
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Phép chia hết và phép chia có dư” [1], tôi đã cho mỗi
học sinh lấy ra 1 chục que tính và yêu cầu:
Lần 1: Chia 1 chục que tính đó thành 2 phần bằng nhau
( Học sinh chia thành 2 phần bằng nhau, mỗi phần 5 que tính)
Lần 2: Chia 1 chục que tính đó thành 5 phần bằng nhau
( Học sinh chia thành 5 phần bằng nhau, mỗi phần 2 que tính)
Lần 3: Chia 1 chục que tính đó thành 3 phần bằng nhau
( Học sinh chia thành 3 phần bằng nhau, mỗi phần 3 que tính và còn thừa 1 que tính)
Tìm nhà cho ba bạn
Nhà của chó
đốm có chiều
dài 2m, chiều
rộng 15dm
Nhà của mèo Tôm có chiều dài 2m, chiều rộng 10dm
Nhà của vịt Donald có chiều dài 1m, chiều rộng 7dm
Trang 8Tình huống có vấn đề xuất hiện: Cùng là 1 chục que tính nhưng lúc thi chia được thành các phần đều nhau và không còn thừa que tính nào nhưng có lúc chia thành các phần đều nhau mà cứ thừa que tính Từ đó tôi giới thiệu bài: Phép chia hết và phép chia có dư
Với cách nêu vấn đề như vậy, tôi vừa giới thiệu bài vừa tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế và khám phá kiến thức một cách đầy bất ngờ, thú vị Từ
đó, kích thích học sinh tiếp tục tìm tòi, khám phá kiến thức mà tiết học sẽ mang
đến.
Ví dụ 2: Khi dạy bài: “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số” [1], tôi
chia lớp thành 5 nhóm, phát cho mỗi nhóm 12 cái kẹo, yêu cầu các nhóm chia thành các phần bằng nhau và lấy ra một phần trong số các phần đã chia
Nhóm 1: Chia 12 cái kẹo thành 2 phần bằng nhau và lấy ra một phần trong số các phần đã chia
Nhóm 2: Chia 12 cái kẹo thành 3 phần bằng nhau và lấy ra một phần trong số các phần đã chia
Nhóm 3: Chia 12 cái kẹo thành 4 phần bằng nhau và lấy ra một phần trong số các phần đã chia
Nhóm 4: Chia 12 cái kẹo thành 6 phần bằng nhau và lấy ra một phần trong số các phần đã chia
Nhóm 5: Chia 12 cái kẹo thành 12 phần bằng nhau và lấy ra một phần trong số các phần đã chia
Yêu cầu các nhóm báo cáo kết quả
Giáo viên nói: Như vậy các em vừa tìm được một trong các phần bằng nhau trong số phần kẹo đã chia Vậy muốn tìm một trong các phàn bằng nhau của một
số ta làm như thế nào?
Với cách nêu vấn đề như vậy học sinh đã rất hứng thú tìm ra kiến thức mới đồng thời giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực, chủ động
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Chu vi hình vuông” [1], tôi yêu cầu học sinh tính chu vi
hình chữ nhật và nêu cách tính chu vi hình chữ nhật
Giáo viên: tính chu vi hình chữ nhật có chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm
Học sinh: Chu vi hình chữ nhật là: (4+3) x 2 = 14(cm)
Giáo viên: Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm như thế nào?
Học sinh: Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta lấy chiều dài cộng với chiều rộng (cùng đơn vị đo) rồi nhân với 2
Tôi nêu vấn đề: Nếu chiều dài hình chữ nhật bằng chiều rộng hình chữ nhật và bằng 3cm thì ta sẽ tính chu vi hình đó như thế nào?
Lúc này các tình huống học sinh nêu ra sẽ là:
Tình huống 1: (3 + 3) x 2= 12 (cm)
Tình huống 2: 3 + 3 + 3 + 3 = 12 (cm)
Tình huống 3: 3 x 4 = 12(cm)
Giáo viên cùng học sinh nhận xét để rút ra cách làm khoa học nhất:
3 x 4 = 12 (cm)
Cho học sinh quan sát để nhận xét được hình chữ nhật có chiều dài bằng chiều rộng chính là hình vuông (Hình vuông chính là hình chữ nhật đặc biệt)
Trang 9Vậy muốn tính chu vi hình vuông ta làm như thế nào?
Với cách nêu vấn đề như vậy, học sinh của tôi rất thích thú và chủ động tìm kiếm kiến thức liên qua đến bài học, Từ đó nắm kiến thức một cách vững vàng
2.3.4 Gây hứng thú cho học sinh bằng cách gắn các bài toán vào thực tiễn
và các hoạt động trải nghiệm thực tiễn.
Thực tế cuộc sống là những trực quan rất gần gũi, giúp học sinh tiếp thu bài một cách dễ hiểu nhất, hiệu quả nhất Thị Trấn Vĩnh Lộc là trung tâm của huyện, học sinh phần lớn là con em của các gia đình lao động, buôn bán nên rất
am hiểu việc nhà cũng như các vấn đề về mua, bán, thu hoạch thóc lúa, diện tích trồng lúa, rau màu Các em thường xuyên làm việc nhà như nấu cơm, quét nhà,
đi chợ cho bố mẹ, cũng góp phần rất lớn vào việc gắn các bài toán vào thực tiễn hiệu quả hơn
a Gây hứng thú cho học sinh bằng cách gắn các bài toán vào thực tiễn:
Thực tiễn là vốn sống, là nguồn tri thức ngầm mà học sinh có Vì vậy gắn các bài toán vào thực tiễn là đang khai thác tiềm năng sẵn có của học sinh, làm cho học sinh thấy toán học thật gần gũi biết bao
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Tháng - năm” [1], ngoài những kiến thức và các bài tập
mà sách giáo khoa đưa ra học sinh phải nắm được thì tôi cũng cho học sinh liên
hệ thực tế như:
- Năm 2020 là năm thường hay năm nhuận? Năm 2020 có bao nhiêu ngày?
- Tháng 2 năm 2020 có bao nhiêu ngày?
- Năm 2021 là năm thường hay năm nhuận? Năm 2021 có bao nhiêu ngày?
- Tháng 2 năm 2021 có bao nhiêu ngày?
- Tháng này là tháng mấy? Có bao nhiêu ngày?
- Sinh nhật của em vào tháng mấy? Tháng đó có bao nhiêu ngày?
Ví dụ 2: Khi dạy các bài “Thực hành xem đồng hồ” [1], giáo viên chỉ trực tiếp
vào đồng hồ treo tường của lớp và hỏi:
- Bây giờ là mấy giờ?
- Còn bao nhiêu phút nữa các em sẽ được ra chơi?
- Còn bao nhiêu phút nữa sẽ tan học?
Hoặc yêu cầu các em:
- Sau buổi học hôm nay, khi về đến nhà, em hãy xem đồng hồ nhà mình chỉ mấy giờ nhé Em hãy tính xem từ lúc tan học đến khi về đến nhà mình là bao nhiêu phút
Ví dụ 3: Bài “Các số có bốn chữ số” [1]
Để củng cố kĩ năng đọc, viết các số có 4 chữ số đồng thời lồng ghép ý nghĩa của các con số, để các con số gần gũi với HS, tôi cho học sinh viết số thể hiện năm sinh của mình và người thân (như bố, mẹ, anh, chị, ) mà mình biết vào giấy rồi cùng nói, giới thiệu cho các bạn trong nhóm nghe
b Gây hứng thú cho học sinh bằng các hoạt động trải nghiệm thực tiễn.
Trải nghiệm bằng các hoạt động thực tiễn là các em được thao tác trên những dụng cụ học tập cụ thể hay được đo đạc, tính toán trên các đồ vật cụ thể Hoạt động này giúp các em kiểm chứng lại những kiến thức mình đã học, đã có
Trang 10Từ đó giúp các em hiểu sâu sắc hơn những kiến thức mình được học và vận dụng vào thực tiễn tốt hơn những kiến thức đó
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Làm quen với số liệu thống kê” [1], tôi tiến hành
như sau:
Tôi tổ chức cho học sinh lập bảng số liệu thống kê chiều cao, cân nặng của các bạn trong tổ của mình
- Nhóm cử nhóm trưởng và thư kí
- Đồ dùng học tập của mỗi nhóm: thước, cân, bảng thống kê kết quả đo chiều cao, cân nặng của các thành viên trong tổ
- Nhóm trưởng điều hành nhóm đo chiều cao, cân nặng của từng bạn trong nhóm
- Thư kí : Ghi lại kết quả đo.
- Nhóm trưởng: Hỏi sau khi đo xong: Đố các bạn trong nhóm mình bạn nào
cao nhất ? Bạn nào thấp nhất ? bạn nào nặng nhất? bạn nào nhẹ nhất?
- Thành viên trong nhóm trả lời.
- Khi các nhóm làm việc, tôi quan sát và sử lí kịp thời các tình huống sảy ra.
- Cuối cùng, tôi giáo dục học sinh cần ăn uống đủ chất, thể dục thể thao, học tập và làm việc vừa sức để có sức khỏe tốt và chiều cao lí tưởng
Ví dụ 2: Bài “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số” [1] Để
củng cố kiến thức cho học sinh, tôi cho học sinh thực hành giải quyết tình huống thực tế như:
- Tôi chuẩn bị 30 cuốn truyện và nêu tình huống: Cô có 30 cuốn truyện Mỗi
tổ được mượn 16 số truyện đó Hãy lên lấy số truyện mà tổ mình được mượn Tôi chia lớp thành 3 tổ, học sinh trong tổ thảo luận để xử lí tình huống 30 giây Sau đó lên lấy số truyện mà tổ mình được mượn Nếu đúng thì sẽ được mượn số truyện đó
- Học sinh sẽ vận dụng trực tiếp công thức của bài toán vừa học để tìm ra
số truyện mà tổ mình được mượn: 30: 6 = 5 (quyển)
Sau khi học sinh lấy được truyện về mỗi tổ, tôi tiếp tục đặt câu hỏi để yêu cầu cầu vận dụng thực tế và phát huy sự sáng tạo của học sinh:
Sau khi 3 tổ đã mượn truyện thì cô còn mấy quyển truyện?
Khi đặt câu hỏi như vậy thì một số học sinh hoàn tốt sẽ phát hiện được: Lấy tổng
số truyện của cô trừ đi số truyện 3 tổ đã mượn
Các em tính toán và nêu được kết quả:
Ba tổ mượn số truyện là: 5 x 3 = 15 (quyển)
Cô còn số quyển truyện là: 30 – 15 = 15 (quyển)
Sau đó tôi cho 1 học sinh lên đếm lại số quyển truyện còn lại của cô
Với cách làm như vậy, tôi đã cho học sinh được trải nghiệm bằng hoạt động thực tiễn với những kiến thức của mình vừa được học ngay tại lớp Giúp các em thấy những công thức toán học, những con số vẫn tưởng là cứng nhắc, khô khan trở nên thú vị biết nhường nào
Ví dụ 3: Sang tiết “Luyện tập” [1] về Tìm một trong các phần bằng
nhau của một số Tôi đã chuẩn bị 60 cái kẹo và nêu tình huống thực tiễn với yêu