1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài ý kiến nhỏ giúp học sinh lớp 4 phân biệt ba kiểu câu kể ai là gì ai làm gì ai thế nào

15 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 144 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là những kĩ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, viết đoạn và liên kết đoạn … học sinh phải phải vượt qua một nhiệm vụ rất quan trọng có tính chất quyết định chất lượng của bài tập

Trang 1

I Lí do chọn đề tài

Tiếng Việt trong trường Tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn khác nhau như: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn…Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy và học Tiếng Việt Tập làm văn vận dụng các hiểu biết và kĩ năng về Tiếng Việt do các phân môn rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần rèn luyện chúng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết phải vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt Trong quá trình vận dụng này, các kiến thức và kĩ năng được hoàn thiện và nâng cao dần

Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Sản phẩm của phân môn Tập làm văn là các bài văn viết hoặc nói Để sản sinh được các loại bài văn này học sinh phải có thêm nhiều kĩ năng khác ngoài những kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt, kĩ năng dùng từ đặt câu Đó là những kĩ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, viết đoạn và liên kết đoạn … học sinh phải phải vượt qua một nhiệm vụ rất quan trọng có tính chất quyết định chất lượng của bài tập làm văn đó là việc triển khai ý đã tìm được trong dài bài chi tiết thành đoạn văn, bài văn, quá trình này học sinh phải vận dụng được những kiến thức, kỹ năng tổng hợp ở phân môn luyện từ và câu một cách thuần thục, linh hoạt Việc tìm ý của bài văn thì học sinh tìm được một cách dễ dàng nhưng việc triển khai các ý thành một đoạn văn, bài văn như một vấn đề khó đối với học sinh mà trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy cũng như bài soạn chưa đề cập đến vấn đề này Đây là việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh nhưng chính học sinh lại gặp nhiều khó khăn vậy theo tôi cần phải có biện pháp hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề này một cách thích hợp Trong đề tài này tôi chỉ nói đến một phạm vi nhỏ trong quá trình hướng dẫn học sinh làm một bài tập làm văn

đó là: “Hướng dẫn học sinh triển khai ý thành đoạn văn trong kiểu bài văn tả người áp dụng vào bài tập làm văn lớp 5”.

Với ví: “Hãy tả hình dáng và những nét tốt của một bạn trong lớp em được nhiều người quý mến”.

II Mục đích nghiên cứu

Làm cho học sinh thành thục hơn trong việc diễn đạt ý của môn tập làm văn từ đó giúp cho các em có điều kiện thuận lợi trong việc sản sinh văn bản nói

Trang 2

và viết đủ thành phần cấu tạo ngữ pháp, đúng với thực tế, hình thành kỹ năng giao tiếp phù hợp với lứa tuổi trong cuộc sống

III Đối tượng nghiên cứu: Môn Tập làm văn của trương trình lớp 5

IV Phương pháp nghiên cứu: Điều tra, khảo sát thực tế, Thống kê, phân

tích Tổng hợp, so sánh, đối chứng

Trang 3

B Nội dung

I Cơ sở lí luận

Môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng trong giáo dục ở Tiểu học Điều đó được thể hiện trong từng thời lượng dạy trong từng khối lớp và nó là công cụ để học sinh học các môn học khác Hình thành ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng việt để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của học sinh Tiểu học Thông qua dạy và học Tiếng việt để góp phần rèn luyện các thao tác tư duy

Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh lời nói và văn bản (nói và viết) Nhờ vậy Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập

Tập làm văn là các câu đủ ý , hay và các bài văn viết hoặc nói

II Thực trạng việc dạy tập làm văn ở trường Tiểu học Yên Phong

1 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Khi tôi được thực hiện đề tài này đối với một bộ phận học sinh trường Tiểu học Yên Phong quả là một vấn đề khó, bởi vì đối tượng học sinh đó mức

độ tiếp thu chậm, một số em ở giai đoạn đầu năm học rất thờ ơ, thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ làm văn, các em tỏ ra ngại học Việc khắc phục tình trạng này là khó khăn và hết sức cần thiết, với lòng nhiệt tình với nghề và trách nhiệm đối với học sinh tôi đã cố gắng khắc phục những khó khăn đó, bằng đề tài này coi như tôi đã thành công bước đầu trong quá trình nghiên cứu

Thực trạng ở một bộ phận không ít học sinh lớp 5 trường Tiểu học Yên Phong nói chung về lớp 5A tôi đang thực nghiệm nói riêng còn rất lúng túng khi triển khai ý chính trong dàn bài chi tiết thành đoạn văn, bài văn, nhược điểm các

em thường mắc là:

- Vốn từ quá nghèo dẫn đến việc dùng từ trong quá trình đặt câu không sát

ý, không biết sử dụng những từ ngữ có tác dụng gợi tả, gợi cảm để đặt câu làm cho ý câu văn nêu rõ nét đặc điểm của đối tượng được tả

- Câu văn tả khô khan, nghèo ý, diễn đạt một cách vụng về, nói đúng hơn

là những câu văn kể, toàn nội dung thân bài chỉ kể vài ba nét sơ sài của người được tả, chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ (ví von, so sánh, nhân hoá…) để làm cho đối tượng được tả hiện lên rõ nét, nổi bật những đặc điểm riêng, đặc sắc của người được tả

- Sắp xếp ý chưa hợp lý, dùng dấu câu không đúng quy tắc dẫn đến câu sai ngữ pháp, câu tối nghĩa dẫn đến đoạn văn chưa đạt yêu cầu

2 Đánh giá kết quả, hiệu quả của thực trạng nêu trên

Trang 4

Đầu năm học 2020 - 2021 tôi bắt đầu làm thực nghiệm ở lớp 5A Thực tế trong quá trình giảng dạy tôi thấy phương pháp làm bài tập làm văn tả người thì học sinh dễ dàng nắm được thông qua trình tự các bước lên lớp của giáo viên nhưng bài của học sinh vẫn nhiều em không đạt yêu cầu về nội dung Bằng kinh nghiệm đã tích luỹ từ những năm trước tôi đã tiến hành một số phương pháp

mới vào bài tập làm văn tả người với đề bài : “Tả hình dáng và những nết tốt

của một bạn trong lớp em được nhiều người quý mến”.

Quá trình tiến hành được thực hiện trên lớp 5A có 30 em Tất cả các em đều có trình độ từ trung bình trở lên.Tôi đã tiến hành kiểm tra khi chưa áp dụng biện pháp giảng dạy mới và có kết quả như sau:

Bài làm của các em chưa đạt yêu cầu thể hiện rõ nhất ở cách dùng từ không sát (Đức, Nhi, Thiện.) vốn từ ít dẫn đến nội dung bài chỉ được vài câu sơ sài kể qua về hình dáng cũng như nết tốt (Toàn, Phương Chi) Đặt câu không đạt yêu cầu (Thiếu bộ phận chính, sử dụng dấu câu sai quy tắc) Đoạn văn tả hình dáng, nết tốt mang tính chất kể, liệt kê (Minh Vi, Phúc Lâm)

Kết quả cụ thể như sau:

Tổng số bài Điểm 9; 10 Điểm 7; 8 Điểm 5;6 Điểm 1-4

Như vậy kết quả khảo sát lần thứ nhất là rất thấp, mặc dù trình độ học sinh đều từ trung bình trở lên (dựa vào xếp loại học lực lớp 4) nhưng số điểm dưới trung bình khá cao

Với kết quả bài của học sinh như vậy tôi bắt đầu áp dụng một số biện pháp mới bằng cách hướng dẫn cho học sinh cách triển khai ý đã tìm được trong dàn bài thành đoạn văn (Tả hình dáng, nết tốt)

Căn cứ vào tình hình thực tế giảng dạy trên lớp và bài làm của học sinh, việc triển khai ý thành đoạn văn, bài văn chưa đạt yêu cầu vì vậy giáo viên hướng dẫn học sinh triển khai ý đã tìm đươc trong đoạn văn tả người (cụ thể là

đề bài: Tả người bạn của em) Bằng một số biện pháp có liên quan đến kiến thức

kỹ năng của phân môn Luyện từ và câu, xây dựng đoạn văn

Từ thực trạng trên, bản thân tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi để đổi mới phương pháp và hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả giờ dạy, chất lượng học sinh

3 Giải pháp

Trang 5

- Thống kê, phân loại đối tượng học sinh ngay từ đầu năm học để nắm được trình độ học sinh trong lớp, và dạy theo từng đối tượng học sinh

- Tìm hiểu kĩ yêu cầu cơ bản về kiến thức kĩ năng tiếng việt lớp 5 theo chuẩn kiến thức

- Tự học để nâng cao năng lực về Tiếng Việt cho bản thân

- Nghiên cứu kỹ sách giáo khoa và đổi mới cách soạn bài

- Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt

- Sử dụng triệt để đồ dùng hiện có và tự làm một số đồ dùng đơn giản phục vụ cho việc dạy và học Tiếng Việt

- Ra đề kiểm tra cho học sinh sau mỗi phần kiến thức đã học để kiểm tra việc nắm kiến thức, khả năng thực hành và phụ đạo các phần kiến thức “hổng” cho học sinh

- Dạy tốt các phân môn Tập Đọc, LTVC để học sinh vận dụng những kiến thức vừa học vào việc dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn

4 Các biện pháp hướng dẫn học sinh triển khai ý thành đoạn văn

Yêu cầu học sinh dựa vào dàn bài chi tiết đã lập được ở tiết tìm ý ta có phần thân bài bao gồm 2 ý lớn cần triển khai thành đoạn văn đó là: Tả hình dáng, tả nết tốt Để triển khai 2 ý này thành đoạn văn giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện các bước sau:

- Tìm từ, chọn từ để phục vụ cho việc đặt câu

- Cách đặt câu tả khác câu văn kể

- Phương pháp liên kết câu trong đoạn văn sao cho hợp lý, ý lô gích, chặt chẽ

- Lưu ý cách dùng câu trong đoạn văn

Quá trình triển khai cụ thể như sau:

4.1 Tìm từ, chọn từ, để phục vụ cho việc đặt câu

Kỹ năng dùng từ đặt câu học sinh đã được luyện tập trong phân môn Luyện từ và câu đó là các biện pháp dùng từ đặt câu để viết thành đoạn văn nói

về chủ đề đang học ở phân môn Luyện từ và câu học sinh có vốn từ ngữ để chọn và đặt câu nhưng khi vào bài tập làm văn các em muốn đặt được câu để miêu tả hình dáng, tính tình của người được tả thì lại phải tự huy động kiến thức

để tìm từ ngữ có tác dụng tả theo chủ đề Vì thế vốn để tìm và lựa chọn từ ngữ cần phải coi là bước đầu tiên trong quá trình triển khai ý - Quá trình tìm và chọn

từ của học sinh phải dựa vào hai yêu cầu:

- Yêu cầu thứ nhất : Học sinh phải tưởng tượng (hoặc quan sát lại), (nếu

có điều kiện) người được tả, suy nghĩ nhớ lại những phẩm chất tốt của bạn mình

- Yêu cầu thứ hai: Học sinh lập được dàn ý theo các ý sau:

Trang 6

(1) (2)

Vầng trán

Cái mũi

Nước da

Đôi môi

Cái miệng

Hàm răng

Đôi bàn tay

- Rộng, vuông vắn …

- Dọc dừa, thẳng… càng tăng thêm vẽ đẹp duyên dáng

- Trắng trẻo, hồng hào, trắng hồng, màu bành mật, mịn màng

- Đỏ thắm, hình quả tim, tô thêm vẻ đẹp tươi tắn cho khuôn mặt

- Hay cười, tươi cười, tươi như hoa

- Trắng tinh, đều đặn, có chiếc răng duyên, tô thêm vẻ đẹp mỗi khi cười …

- Búp măng, mềm mại …

- Phần tả tính tình (của người bạn) giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những từ chỉ phẩm chất tốt của người được tả ( bao gồm những từ nói về nội tâm, trí tuệ )

Ví dụ: Em hãy tìm những từ ngữ chỉ đặc điểm nội tâm và trí tuệ của con người nói chung

Chẳng hạn: Từ chỉ đặc điểm nội tâm: Hiền, hiền từ , hiền lành, đôn hậu, cởi mở, thẳng thắn, buồn, vui…

Từ chỉ đặc điểm trí tuệ như: sáng suốt, sáng dạ, sáng ý, hoạt bát, khôn ngoan, thông minh, láu lỉnh, hóm hỉnh …

Trong số những từ trên em hãy suy nghĩ và chọn cho những từ phù hợp với đối tượng mình tả để phục vụ cho việc đặt câu Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm từ bằng cách gợi ý theo các câu hỏi cho học sinh trả lời như sau:

Em hãy tìm các từ đơn, từ ghép chỉ tên các bộ phận cơ thể người được miêu tả? (Học sinh trả lời giáo viên ghi bảng và gợi ý thêm khi cần thiết) (Những danh từ đó là từ đơn hoặc từ ghép như sau: vóc người, dáng, tác phong, khuôn mặt, đôi mắt, vầng trán, mái tóc, đôi lông mày, hàm răng, đôi mắt, đôi môi, miệng , nước da, tay chân, mũi …)

Học sinh tìm các từ ngữ (từ đơn, từ ghép, từ láy) mô tả dáng dấp của người (cao, thấp, lùn, gầy, béo, đẫy đà, phục phịch, dong dỏng, tầm thước cân đối, mập mạp, vạm vỡ, khỏe mạnh, mảnh mai, thon thả…)

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm các từ chỉ tên các bộ phận cơ thể

để tăng thêm sức gợi tả nêu bật được đặc điểm riêng của người được tả theo bảng sau:

Danh từ Từ ngữ có tác dụng gợi tả đặt câu danh từ

- Vóc người - Cân đối, khoẻ mạnh, tầm thước…

Trang 7

- Dáng

- Tác phong

- Ăn mặc

- Mái tóc

- Khuôn mặt

- Đôi mắt

- Dong dỏng, thanh thanh, cao khoảng…

- Nhanh nhẹn, hoạt bát, nhẹ nhàng, chững chạc…

- Gọn gàng, giản dị, hay mặc bộ quần áo, đi dép…

- Đen láy, mượt mà, như làn mây, cắt gọn, đen như nhung

- Trái xoan, tròn trĩnh, bầu bĩnh, vuông chữ điền …

- Sáng long lanh, tròn xoe, đen láy, bồ câu, đượm vẻ buồn, mở

to dưới đôi lông mi cong và dài

Khi học sinh tìm và chọn được từ rồi trong quá trình đặt câu để triển khai ý thành đoạn văn tả tính tính cần lưu ý: Mỗi phẩm chất cuả bạn được nêu ra cần phải được chứng minh bằng hành động, lời nói, việc làm cụ thể của người bạn đó

Ví dụ: Tính tình bạn em thật hiền hậu (việc làm chứng minh)

Bạn không bao giờ cãi vã, đánh nhau với ai trong lớp, trong trường … Nếu có bạn nào làm sai trái bạn thường động viên, nhắc nhở …

Phần này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh làm theo sơ đồ sau:

Từ chỉ phẩm

chất

Các biểu hiện hành động, việc làm minh hoạ cho phẩm

chất đó.

- Hiền lành

- Ngay thẳng

- Quan tâm tới

mọi người

- Con ngoan

trò giỏi

- Không bao giờ cãi vã, đánh nhau với ai, chỉ khuyên bảo nhẹ nhàng khi các bạn mắc lỗi …

- Thể hiện trong cách cư xử với bạn khác, biết bênh vực bạn yếu …

- Nhiệt tình chỉ bảo cho các bạn, chan hoà với mọi người

- Vâng lời, kính yêu cha mẹ, thầy cô, học hành tiến bọ vượt bậc

Giáo viên có thể gợi ý bằng những câu hỏi phụ để học sinh tự nêu được các ý trong bảng

Dựa vào bảng trên hướng dẫn học sinh chọn những phẩm chất, hành động, việc làm phù hợp với đối tượng mình chọn để kiển khai ý cần tả nết tốt (của bạn)

Sau đây là kết quả kiểm tra khi sử dụng biện pháp mới

Tổng số bài Điểm 9;10 Điểm 7;8 Điểm 5;6 Điểm 1-4

4.2 Hướng dẫn học sinh cách đặt câu văn tả

Chỉ rõ cho học sinh biết, câu văn tả nói chung và tả người nói riêng phải khác nhau câu kể ở chỗ: Câu văn tả phải giàu hình ảnh, diễn tả ý phong phú, sinh hoạt được sử dụng các biện pháp ví von, so sánh, nhân hoá … ý của câu văn tả nhất là tả người phải trong sáng, mạch lạc ( nói cách khác là câu văn phải

có hồn )

Trang 8

Ví dụ:

- Câu văn kể: “ Bạn có mái tóc đen, dài”

- Câu văn tả: “ Bạn có mái tóc đen, mượt mà, óng ả luôn được chải gọn và buông xuống ngang lưng” Hay “Mái tóc của bạn đen nhánh, mượt mà, mềm mại như nhung”

Vậy về mặt ngữ pháp câu văn tả khác nhau câu kể ở chỗ: Câu văn kể có khi chỉ có hai bộ phận chính :

Mái tóc đen, dài

C V V

Nhưng câu văn tả các thành phần phụ của câu được mở rộng thêm

Ví dụ: “ Mái tóc của bạn đen như gỗ mun, óng ả, mềm mại, lúc nào cũng được kẹp gọn trong chiếc găm hoa màu tím”

Như vậy để có câu văn tả hay ta phải mở rộng thêm các thành phần chính hoặc phụ của câu văn kể đó là thêm thành phần định ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, vị ngữ… cho hợp lý vào các thành phần nòng cốt của câu để tăng sức gợi tả, gợi cảm xúc

- Giáo viên có thể cho học sinh thực hành cách viết câu văn tả dựa vào câu kể đã cho sẵn để so sánh và nắm chắc đặc điểm khác nhau của nó từ đó vận dụng vào quá trình thực hành viết bài văn tốt hơn

Câu văn kể

- Nước da của bạn rất

trắng

- Bạn có đôi mắt đen

hoặc lấy vài ví dụ về câu

tả người bà của Mác-xim

Goóc-ki viết trong bài“ Bà

tôi”

- Lưng Bà khi đã còng

- Khuôn mặt bà tôi luôn

vẫn tươi trẻ

Câu văn tả

- Bạn có một làn da trắng trẻo, mịn màng lúc nào cũng hồng hào càng lộ thêm vẻ đẹp cho khuôn mặt trái xoan

-đôi mắt của bạn đen lay láy, sáng long lanh, từ đôi mắt đó tỏa ra tia sáng dịu hiền

- Tuy lưng hơi còng nhưng Bà tôi đi lại vẫn rất nhanh nhẹn

- Mặc dù trên đôi má ngăm ngăm đã có nhiều nếp nhăn, nhưng khuôn mặt bà tôi hình như vẫn tươi trẻ

Ví dụ:

Tóm lại: Để có câu tả giàu hình ảnh, gợi cảm xúc cần phải mở rộng thêm

các thành phần của câu

Sau đây là kết quả kiểm tra khi sử dụng biện pháp mới

Tổng số bài Điểm 9; 10 Điểm 7; 8 Điểm 5; 6 Điểm1- 4

Trang 9

30 bài 8 bài 15 bài 7 bài 0

4.3 Hướng dẫn học sinh cách liên kết câu trong đoạn văn

Sự liên kết là màng lưới các mối liên hệ giữa các vế câu, câu trong đoạn văn bản, thiếu sự liên kết văn bản chỉ còn là một chuỗi câu hỗn độn, sự liên kết được thể hiện bằng các biện pháp liên kết, đối với học sinh lớp 5 trong bài này giáo viên cần hướng dẫn cách liên kết câu theo hai mặt: Nội dung và hình thức

* Về nội dung: Nội dung của đoạn văn đã được thể hiện rõ ràng đó là gồm hai ý chính: Tả hình dáng, tả tính tình

- Đoạn văn tả hình dáng: Gồm những câu văn tả bao quát trước( Dáng dấp, tuổi, cách đi đứng, ăn mặc,…) tiếp đó đến những câu văn tả chi tiết các bộ phận của người được tả được sắp xếp một cách hợp lý ngẫu nhiên theo cách cảm nhận của mình( trong phạm vi bài văn tả lớp 5) thường tả một bộ phận trên khuôn mặt, đôi mắt, vầng trán, nước da, mũi, mắt, tai, hàm răng, miệng, tay, chân, …) tất cả ý các câu đều nhằm vào việc minh hoạ, giải thích cho ý chính, (hình dáng đẹp, xấu, hay đặc biệt) đó chính là sự liên kết chủ đề (hình dáng hay nết tốt ) không có những câu ý xa đề, lạc đề và thừa

- Đoạn văn tả tính tình: Lưu ý học sinh các câu văn đều tập trung vào việc

tả nết tốt của bạn, các biểu hiện về phẩm chất tốt của người được tả thường kèm theo sự diễn tả các hành động việc làm minh hoạ cho các phẩm chất tốt đã nêu

ra ( như đã hướng dẫn ở mục 1)

- Đối với học sinh khá giỏi có thể hướng dẫn các em kết hợp tả hình dáng lẫn nết tốt thông qua sự xuất hiện các cử chỉ hành động của người được tả

* Về hình thức: Đoạn văn được tả thể hiện nội dung rõ ràng bằng cách kết nối các câu văn tả hợp lý, câu văn phải được diễn đạt hiểu ý, rành mạch khi diễn

tả hết một ý có thể dùng dấu câu, có thể nối kết các vế câu bằng cách từ chỉ quan

hệ : Và, còn, nhưng, thì … hoặc cặp từ chỉ quan hệ “tuy… nhưng”, “ mặc dù … vẫn”, “ nếu … thì”…

Lấy ví dụ tác giả Mác- xim Goóc- ky tả người bà tác giả đã sử dụng các cặp từ để diễn tả ý và liên kết câu trong đoạn văn “mặc dù trên đôi má ngăm ngăm đã có vô số nếp nhăn, khuôn mặt bà tôi hình như vẫn tươi trẻ: tuy lưng hơi còng nhưng bà tôi vẫn đi lại rất nhanh nhẹn”

Các phép liên kết câu trong văn bản là phép nối, phép lặp, phép thế, phép liên tưởng… nhưng đối với học sinh lớp 5 chưa yêu cầu giới thiệu và giải thích, bằng sự hiểu biết của mình giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh cách sắp xếp các câu văn theo trình tự miêu tả theo cách cảm nhận của mình sao cho hợp lí

Sau đây là kết quả kiểm tra khi sử dụng biện pháp mới

Trang 10

Tổng số bài Điểm 9; 10 Điểm 7; 8 Điểm 5; 6 Điểm 1- 4

4.4 Hướng dẫn học sinh cách dùng dấu câu trong đoạn văn

Để câu văn rõ ý, mạch lạc, làm cho đoạn văn đạt yêu cầu về nội dung lẫn hình thức thì phải sử dụng dấu câu đúng chỗ, hợp lí, vì nếu không sử dụng dấu câu đúng vị trí ngữ pháp sẽ làm cho người đọc hiểu sai ý của câu, hoặc làm cho câu văn, đoạn văn mất giá trị về nội dung biểu đạt Vậy cần sử dụng dấu câu như thế nào cho thích hợp giáo viên cần phân tích cho học sinh: Trong đoạn văn chỉ thường dùng dấu chấm, dấu phẩy…

Dấu chấm là dấu hiệu kết thúc một ý trọn vẹn, vậy khi diễn tả hết một ý cần phải dùng dấu chấm Trong đoạn văn tả hình dáng hoặc tính tình sẽ có những câu văn dài vì yêu cầu về mặt đặt câu nhưng trong đoạn văn dù dài vẫn phải có giới hạn tức là phải có dấu chấm để kết thúc sự diễn tả một ý, không thể

có những câu văn kéo dài hàng nửa trang giấy hoặc cả một đoạn văn, bài văn về yêu cầu này giáo viên cần đặc biệt lưu ý một số em, bởi những em đó viết bài văn không bao giờ chấm câu

- Dấu phẩy thường đặt ở giữa câu để tách các bộ phận trong câu như đặt giữa thành phần phụ và thành phần chính của câu, đặt giữa các bộ phận song song trong câu hoặc giữa các vế trong câu ghép …

- Nếu trong đoạn văn tả người, khi phải tả hoạt động hoặc cần trích dẫn lời đối thoại của người được tả với người khác (vì các lời đối thoại đó có tác dụng bộc lộ được nội tâm, tính cách của người được tả) Thì cần phải dùng dấu hai chấm ( : ) dấu ghạch ngang ( - ) chấm cảm ( ! ), dấu ngoặc kép ( “ ” ) … cho phù hợp

Ví dụ: Một đoạn văn sau đây trích cuộc đối thoại giữa cô giáo (người được tả) với học sinh trong giờ học, cần phải sử dụng linh hoạt nhiều dấu câu qua đó ta hiểu được tâm trạng, tính cách của một cô giáo hiền lành, tế nhị, khéo léo trong cách cư xử với học sinh nhưng cũng thật nghiêm khắc:

“Một hôm, cả lớp đang im lặng cô giáo giảng bài, yêu cầu của dàn bài:

“giới thiệu người được tả là ai? ở đâu! quen biết trong trường hợp nào ?” Thành một đoạn văn ngắn gồm 2, 3 câu nhưng chỉ đủ ý mà đề bài yêu cầu Khi hết phần mở bài chấm xuống dòng để người đọc dễ phân biệt với phần thân bài

Phần kết bài không cần triển khai dài dòng, chỉ cần vài ba câu nhưng phải nêu bật được cảm nghĩ của bản thân đối với người được tả

Sau đây là kết quả kiểm tra khi sử dụng biện pháp mới

Tổng số bài Điểm 9; 10 Điểm 7; 8 Điểm 5; 6 Điểm 1- 4

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w