Phân môn Tập làm văn ngoài nhiệm vụ rèn cho học sinh các kĩ năng trên thì nó còn góp phần đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện vànâng cao các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt; trau d
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5A TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG SƠN 1,
HUYỆN THƯỜNG XUÂN.
Người thực hiện: Đào Thị Hường.
Trang 2TT Nội dung Trang
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 42.3 Các biện pháp đã áp dụng để giải quyết vấn đề 5Biện pháp 1 Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài 5Biện pháp 2 Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh. 6Biện pháp 3 Rèn kĩ năng lập dàn ý chi tiết cho bài văn bằng việc
áp dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy
8
Biện pháp 4 Giúp học sinh có thói quen tìm từ gợi hình, biểu
cảm; tạo hình ảnh cho câu văn miêu tả khi làm văn miêu tả
11
Biện pháp 5 Giúp học sinh biết sử dụng biện pháp so sánh, nhân
hoá khi làm văn miêu tả
13
Biện pháp 6 Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực và cá thể hóa
hoạt động dạy học
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài.
Môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học có nhiệm vụ hoàn thànhnăng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ đượcthể hiện trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết
Từ đó, các em có thể học tập và giao tiếp tốt, giúp học sinh có cơ sở để tiếp thukiến thức lớp trên Phân môn Tập làm văn ngoài nhiệm vụ rèn cho học sinh các
kĩ năng trên thì nó còn góp phần đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện vànâng cao các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt; trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa;tinh thần trách nhiệm trong công việc; bồi dưỡng tình cảm lành mạnh, tốt đẹpcho học sinh Tiểu học
Mục tiêu của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học được thể hiện ở hai nộidung chính đó là:
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sản sinh các văn bản nói và viết (kĩ năngphân tích đề, kĩ năng tìm ý, lập dàn ý; kĩ năng viết đoạn văn; kĩ năng liên kếtđoạn văn thành bài văn) Bên cạnh đó củng cố và hoàn thiện các kĩ năng mà họcsinh đã học ở các phân môn khác nhau như kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấucâu, viết đúng chính tả
- Thông qua việc dạy Tập làm văn để rèn luyện các thao tác tư duy, pháttriển ngôn ngữ, bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lẽ phải và sự công bằngtrong xã hội; tình yêu và thói quen gìn giữ sự giàu đẹp của tiếng Việt, góp phầnhình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, có tri thức, thấm nhuầntruyền thống tốt đẹp của dân tộc, ưa chuộng lối sống lành mạnh, ham thích việclàm và biết rèn luyện khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này
Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm thường xuyên của nhà trường,của mỗi giáo viên Được phân công giảng dạy khối 5 nhiều năm, tôi nhận thấyphân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt có là phân môn mà nhiều giáoviên cho rằng rất khó dạy; chất lượng học sinh Hoàn thành tốt về phần Tập làmvăn còn rất hạn chế Đại đa số học sinh viết văn còn khô khan, nhất là văn miêutả Việc sử dụng các từ ngữ còn vụng về, chưa biết sử dụng các biện pháp tu từđể gợi tả nên câu văn chưa có “hồn” Đặc biệt học sinh chưa tự quan sát, tìm tòikhám phá ra được “cái mới”, cái nổi bật của đối tượng hoặc chưa được hướngdẫn quan sát cụ thể, tỉ mỉ nên học sinh chỉ tưởng tượng để viết bài theo mộtkhuôn mẫu nào đó mà mình được tham khảo
Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn Tiếng Việt mà đặc biệt là phân mônTập làm văn lớp 5, với kinh nghiệm của bản thân, cùng với việc nghiên cứu cáctài liệu và học hỏi từ đồng nghiệp, tôi xin được chia sẻ Sáng kiến kinh nghiệm:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh tại lớp 5A,
trường Tiểu học Lương Sơn 1, huyện Thường Xuân” Với hi vọng nhằm góp
phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nóichung, dạy cho học sinh lớp 5 học tốt văn miêu tả nói riêng
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu.
1 Nghiên cứu đầy đủ nội dung và phương pháp học phân môn Tập làmvăn lớp 5 đặc biệt là một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinhlớp 5
2 Chỉ ra những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hướng dẫn học sinhlớp 5 làm các bài tập làm văn thông qua việc thực nghiệm của bản thân nhằmgiúp cho việc dạy và học môn Tập làm văn có hiệu quả hơn
Mặt khác cũng tìm ra nguyên nhân, giải pháp, ý kiến nhằm khắc phục khókhăn, nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập làm văn
3 Tìm ra biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kĩ năng làm văn miêu tả
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Các phương pháp, biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh tạilớp 5A tại trường Tiểu học Lương Sơn 1, huyện Thường Xuân
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
- Tham khảo sách báo, tạp chí, tài liệu có liên quan
- Tham khảo các phương pháp giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 5
2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra, quan sát, phỏng vấn, trao đổi, thực nghiệm, tổng kết kinhnghiệm
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Văn miêu tả là thể loại văn dùng ngôn ngữ để tả sự vật, hiện tượng, con người,…một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có Nhờ có văn miêu tả, conngười có thể lạc vào thế giới của những cảm xúc, những âm thanh, tiếng động,hương vị của những cánh đồng, khu rừng, làng quê…, thấy rõ tư tưởng, tìnhcảm của mỗi con người, mỗi sự vật Đó là sự kết tinh của các nhận xét tinh tế,những rung động sâu sắc mà người viết thu lượm được khi quan sát cuộcsống Đặc điểm nổi bật của văn miêu tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh.Đây là đặc điểm làm nên sự khác biệt giữa văn miêu tả với các thể loại văn khácnhau như văn bản tự sự, văn nghị luận Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc bởitrong bài viết bao giờ người viết cũng bộc lộ tình cảm, cảm xúc hay ý kiến nhậnxét, đánh giá hay bình luận của người viết với đối tượng miêu tả Tình cảm đó
có thể là sự yêu mến, yêu quý, thán phục hay sự gắn bó với đối tượng được miêutả
Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh bởi trong bài viết thường được sửdụng từ ngữ gợi hình như: tính từ, động từ, từ láy hay các biện pháp tu từ như:
so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,… chính điều này đã tạo cho ngôn ngữ trong văn miêu
Trang 5tả có sự uyển chuyển, nhịp nhàng, diễn tả tốt cảm xúc của người viết Hơn thế
nó có tác dụng khắc họa được bức tranh miêu tả sinh động như cuộc sống thực Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả nhưng không phải bất kỳ một sự việc nào cũng trở thành văn miêu tả Miêu tả không chỉ đơn giản ở việc giúp người đọc thấy rõ đượcnhững nét đặc trưng, những đặc điểm, tính chất,…không phải là việc sao chép,chụp lại một cách máy móc mà phải thể hiện được sự tinh tế của tác giả trongviệc sử dụng ngôn từ, trong cách thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả đối vớiđối tượng miêu tả Một bài văn miêu tả đạt được đỉnh của nó khi mà bằng nhữngngôn ngữ sinh động nào đó khiến cho người nghe, người đọc như cảm thấy mìnhđang đứng trước sự vật, hiện tượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì
mà tác giả nói đến Khi miêu tả lạnh lùng, khách quan nhằm mục đích thông báođơn thuần thì đó không phải là miêu tả văn học mà là theo phong cách khoahọc
Mỗi bài văn miêu tả của học sinh phải là kết quả của sự sáng tạo, nó đượccoi như một sáng tác có giá trị nghệ thuật Vì vậy, nó phải tuân theo những quyđịnh để làm ra một tác phẩm nghệ thuật
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng biện pháp.
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ của đồng nghiệp ở Trường Tiểu họcLương Sơn 1, huyện Thường Xuân Tôi nhận thấy: Về phương pháp, cách thứcdạy Tập làm văn ở lớp 5 còn nhiều lúng túng, đôi khi còn đơn điệu, chưa pháthuy được tính chủ động sáng tạo của học sinh Bởi vậy, kết quả bài làm của họcsinh nhiều câu văn còn mang tính chất sao chép, cứng nhắc, chưa thực tế, khôngmang tính phát hiện của bản thân Nhiều bài văn của học sinh không được quansát vật thực, cảnh thực từ đó dẫn tới tình trạng các em nhớ, viết theo cách nghĩchủ quan của mình Đa số các bài văn của học sinh làm chỉ mang tính chất liệt
kê sự vật chứ chưa mang tính chất miêu tả thậm chí các em còn dựa nhiều vàonhững bài văn mẫu có trong các sách tham khảo
Trong chương trình Tiểu học hiện hành, tiết trả bài là rất ít và đa số giáoviên thực hiện tiết trả bài còn chiếu lệ; thầy chỉ nhận xét chung từng bài của họcsinh về ưu điểm và nhược điểm cơ bản nhất rồi trả bài, đọc bài hay cho học sinhtham khảo Như vậy không khí lớp học rất buồn mà học sinh lại không tự tìm ranhững cái hay của bạn mà học tập Thông qua tiết trả bài như vậy, tôi thấy họcsinh cũng chẳng học tập được gì ở bạn nhiều vì học sinh không được luyện tập,rèn luyện kĩ năng và thói quen “tự điều chỉnh”, tự học tập để tiến bộ Nói tóm lại
là trong quá trình dạy học Tập làm văn tôi thấy còn nhiều lúng túng Chính vìvậy, bản thân đã nghiên cứu kĩ chương trình Tập làm văn lớp 5, tìm tòi và đổimới phương pháp dạy, đưa các biện pháp tu từ đặc biệt là biện pháp nhân hóa đểhướng dẫn học sinh làm văn với mục đích nâng cao chất lượng bài văn miêu tảcủa học sinh
Nguyên nhân:
- Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài
Trang 6- Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả.
- Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát: quansát những gì, quan sát từ đâu? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đốitượng cần miêu tả
- Chưa có kĩ năng tìm ý, lập dàn ý
- Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêutả khi quan sát
- Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạchlạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnhvật, về một con người cụ thể nào đó
- Phân môn Tập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo,nhưng lâu nay người giáo viên chưa có cách phát huy tối đa năng lực học tập vàcảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em lòng yêu quýTiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt
Từ thực trạng nêu trên, ngay từ đầu năm, tôi đã tiến hành điều tra khảo sátchất lượng môn Tập làm văn của học sinh trong lớp mình phụ trách thông quabài kiểm tra để phân loại đối tượng học sinh Kết quả khảo sát 34 học sinh như sau:
Trước thực tế dạy học đó, để đổi mới phương pháp dạy học theo hướngtích cực nhằm đem lại hiệu quả cao trong tiết dạy Tập làm văn tôi đã tiến hànhthực hiện các giải pháp sau:
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trong phân môn Tập làm văn lớp 5 có 62 tiết Trong đó Tập làm vănmiêu tả 43 tiết (chiếm gần 70% số tiết) với mục tiêu là trang bị kiến thức và rènluyện kĩ năng làm văn, góp phần cùng với các môn học khác làm giàu vốn sống,rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cáchcho học sinh
Để giúp học sinh đạt được mục tiêu trên, ngoài việc nắm vững nội dung,chương trình và phương pháp dạy Tập làm văn nói chung, kiểu bài văn tả cảnhnói riêng, người giáo viên cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
* Biện pháp 1 Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài.
Một đề bài đưa ra cho học sinh viết thường ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêucầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội dung, yêu cầu về trọng tâm
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5:
“ Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay
trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Trang 7Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúphọc sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết địnhnội dung bài viết:
Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
a Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm
từ “cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”
c Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu Như đềbài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung.Với đề bài này,giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang đi thả diều cùng bạn”
Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho các em xác định được ýcụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,
* Biện pháp 2 Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh.
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của sự vật để giúp ngườinghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy (Tiếng Việt 4 tập 1, trang140), tức là lấy câu văn để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự vật, giúp ngườiđọc như được nhìn tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả Vì vậy, khi dạy vănmiêu tả, tôi đã hướng dẫn học quan sát và miêu tả theo các trình tự hợp lý, cáchtiến hành là tôi dùng các ngữ liệu đã có trong chương trình hướng dẫn các emtìm hiểu, khai thác, phân tích rồi vận dụng đối với sự vật cụ thể mà mình sẽ tả:
a Tả theo trình tự không gian:
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từngoài vào trong, từ trái qua phải, (hoặc ngược lại) Ở lớp 4, lớp 5 trình tự nàyđược vận dụng khi miêu tả loài vật, đồ vật, cảnh vật,
Ví dụ 1: Tả từ ngoài vào trong: “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi
Nghĩa Lĩnh Trước đền, những khóm hải đường …, … Trong đền dòng chữvàng Nam Quốc Sơn Hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.” (Phongcảnh đền Hùng – Tiếng Việt 5 tập 2)
Ví dụ 2: Tả từ dưới lên trên “ Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe Cành hồi giòn,
dễ gãy hơn cành khế Quả hồi phơi mình xoè trên mặt lá đầu cành” (Rừng hồixứ Lạng)
b Tả theo trình tự thời gian:
Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước Cái gì xảy ra sau (có sau) thìmiêu tả sau Trình tự này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tảcảnh vật hay tả cảnh sinh hoạt của người
Trang 8Ví dụ 1: “ Buổi chiều, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ Nắng phố huyện
vàng hoe Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ đeo móng hổ,quần áo sặc sỡ đang chơi đùa trước cửa hàng Hoàng hôn, áp phiên của phiênchợ thị trấn, người ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt” (Đường đi SaPa- Tiếng Việt 4)
Ví dụ 2: “Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục Chẳng có thứ quả
nào hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế Mới đầu xuân năm kia, nhữnghạt thảo quả gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người Mộtnăm sau nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới.” (Mùa thảo quả
- Tiếng Việt 5 tập 2)
c Tả theo trình tự tâm lí:
Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gâycảm xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác tảsau Khi miêu tả đồ vật, loài vật, tả người nên vận dụng trình tự này nhưng chỉnên tả những điểm đặc trưng tiêu biểu nhất, không cần phải tả đầy đủ chi tiếtnhư nhau của đối tượng
Ví dụ 1: “ Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín
cả hai vai, xoã xuống ngực, xuống đầu gối Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướmtrên tay, bà đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.”
Giọng bà trầm bỗng, ngân nga như tiếng chuông Nó khắc sâu vào trí nhớtôi dễ dàng, và như những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống Khi
bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả, ” (Bà Tôi
- Tiếng Việt 5- Tập 1).Tác giả đã quan sát và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồiđến ánh mắt
Ví dụ 2: “Sầu riêng là loại trái quý ở miền Nam Hương vị của nó hết sức
đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm Hoa đậutừng chùm màu trắng ngà Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dángcây kì lạ này Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột ”
Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng
Ngoài các trình tự miêu tả trên, tôi thường hướng dẫn và rèn luyện cho họcsinh kĩ năng sử dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác, ) đểquan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả
Ví dụ 3: Phân tích bài “Mưa rào” (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 33) ta thấy
tác giả đã quan sát bằng các giác quan như sau:
- Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi
- Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước
- Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những trậnmưa đầu mùa
Trang 9-Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng hótcủa chào mào.
Sau khi hướng dẫn kĩ cho học sinh cách quan sát như: trình tự quan sát, sửdụng các giác quan để quan sát Đọc các bài làm của các em tôi nhận thấy khảnăng quan sát vấn đề được nâng cao hơn, nhạy bén hơn, bao quát hơn, diễn đạt ý
rõ ràng, trọn vẹn, trôi chảy
* Biện pháp 3 Rèn kĩ năng lập dàn ý chi tiết cho bài văn bằng việc áp dụng
kĩ thuật sơ đồ tư duy.
Lập dàn ý là thao tác quan trọng của mỗi học sinh trong quá trình viết bài,thao tác này giúp cho học sinh tránh việc bỏ sót ý, viết lan man, không đúng chủđề vì vậy để nâng cao hiệu quả trong việc lập dàn ý tôi đã áp dụng kĩ thuật sơ đồ
tư duy Tôi tổ chức cho HS suy nghĩ một cách chủ động và sáng tạo thông qua
hệ thống câu hỏi, khung chủ đề, tình huống, phiếu bài tập,… dưới nhiều hìnhthức khác nhau (bông hoa, vòi bạch tuộc, mô hình, cây sự kiện,…)
- Sau khi cho HS đọc kĩ đề, tôi sẽ đưa những câu hỏi khơi gợi nhằm giúp HSnắm rõ các yêu cầu của đề bài
- Kết hợp cho HS quan sát tranh ảnh, vật thật hay gợi ra các vấn đề có liên quannhằm hướng HS vào đề tài
- GV xây dựng khung mạng trên bảng phụ ( giấy khổ to) đồng thời đặt ra cáccâu hỏi gợi mở HS làm việc theo nhóm để hoàn thành sơ đồ mạng trong phiếugiao việc bằng cách ghi lại các ý dưới dạng từ, cụm từ, xung quanh khung chủđề Qua đó, các ý cho bài văn được hình thành
- Các nhóm trình bày kết quả nhóm mình, nhóm khác bổ sung
- Với các ý đã tìm được, các nhóm thảo luận đánh số thứ tự, thông qua việc làm
đó các em lập được dàn ý cho bài văn
- GV gọi vài nhóm trình bày thứ tự các ý mình đã sắp xếp, các nhóm khác traođổi bổ sung
- GV nhận xét và sắp xếp các thẻ từ lên bảng theo một trình tự hợp lý tạo nên dàn bài chung cho đề văn
Trang 10- Từ dàn bài hình thành, mỗi HS sẽ triển khai các ý cho riêng mình và trình bàytrước nhóm rồi trước lớp Ý kiến của các em sẽ được em khác bổ sung và hoànthiện Qua đó, câu văn của các em sẽ trau chuốt hơn, có hình ảnh nghệ thuậthơn, ít sai lỗi dùng từ, đặt câu.
Ví dụ: Ôn tập về tả con vật lớp 5 (tuần 30)
- Các hoạt động: GV yêu cầu HS hoạt động nhóm với nội dung sau:
+ Hãy liệt kê các bộ phận chính của con vật, hoạt động của con vật và tìmnhững từ ngữ thường dùng để miêu tả đặc điểm của hình dáng và hoạt động vàtrình bày theo sơ đồ mạng
+ Sau đó yêu cầu 1- 2 nhóm HS nhanh nhất lên trình bày, các nhóm khác theodõi, bổ sung và cho ra một mạng lưới các ý:
GV dùng thẻ từ biểu diễn sơ đồ tư duy
Sau đó, GV yêu cầu mỗi em làm một sơ đồ tư duy về con vật em định tả
Trang 11+ Trong khi HS làm, GV bao quát lớp và chú ý hướng dẫn các em HStrung bình và yếu
+ GV tổ chức hoạt động sau: HS diễn đạt các ý đã trình bày trên sơ đồmạng Mỗi HS trình bày theo thứ tự các ý đã lập sao cho cách miêu tả thật hay,thật sinh động Hình dáng và hoạt động của con vật hiện lên một cách chân thật,lôi cuốn, tự nhiên
Ví dụ: Từng HS diễn đạt câu văn tả đôi mắt của con mèo:
+ Con mèo Mi-mi có đôi mắt sáng và nhanh nhẹn
+ Đôi mắt của Mi-mi tròn và sáng như hai hòn bi ve
+ Chú mèo Mi-mi có cặp mắt tròn xoe và tinh nhanh lạ kì
GV sửa lỗi cho HS, HS bổ sung và rút kinh nghiệm, học hỏi câu văn haycủa bạn để tiến hành làm bài viết cho tốt hơn
Lưu ý: Đối với HS chưa hoàn thành, GV kịp thời tác động và giúp đỡ
các em Lắng nghe và tôn trọng ý kiến của các em, không bác bỏ làm các emmất tin tưởng vào bản thân mà chỉ sửa sai nhẹ nhàng Có thái độ thân thiện, cởimở với các em Khuyến khích các em động não và suy nghĩ để tìm ý Tạo điềukiện cho HS Hoàn thành tốt giúp đỡ các bạn GV kịp thời khen ngợi động viênnếu các em tìm được ý để các em hứng khởi trong học tập GV phải chuẩn bị đồdùng trực quan kĩ lưỡng và đầy đủ để khắc sâu kiến thức cho HS
Phương pháp này hướng đến việc cá thể hóa hoạt động của HS Thôngqua những gợi ý trực quan trên bảng được trình bày theo hệ thống sơ đồ tư duy,
HS được gợi ý nhiều ý tưởng cho vấn đề cần giải quyết
Với cách tổ chức phong phú, đa dạng HS không thấy nhàm chán, nặngnề trong việc học Trái lại, tư duy của các em được kích thích, được dẫn dắt điđến nảy sinh nhiều ý một cách tự nhiên, nhẹ nhàng cũng như dễ dàng tạo lập dàn
ý từ các ý thu thập được
* Biện pháp 4 Giúp học sinh có thói quen tìm từ gợi hình, biểu cảm; tạo hình ảnh cho câu văn miêu tả khi làm văn miêu tả
Để làm tốt văn miêu tả, HS phải có một vốn từ phong phú và quan trọnghơn là phải biết lựa chọn tinh tường, sao cho giữa một hệ thống các từ đồngnghĩa, gần nghĩa, có thể tìm được một vài từ phù hợp, chính xác nhất
Trong quá trình giảng dạy, Tôi thường lưu ý học sinh phải luôn có thóiquen tìm từ gợi hình, biểu cảm và phải lựa chọn từ ngữ phù hợp.Muốn làm nổibật hình ảnh của đối tượng, cần chú ý nhiều đến hệ thống từ tượng hình (tả màusắc, hình dáng, trạng thái ); muốn làm nổi bật không khí của cảnh thì chú ý tới
hệ thống từ tượng thanh (mô phỏng âm thanh của tự nhiên)
Ví dụ:Tìm những từ ngữ gợi hình, gợi âm thanh khi tả sóng biển hay tả
cơn mưa rào , giáo viên yêu cầu HS làm việc theo nhóm, trao đổi thảo luận vàtìm các từ khác nhau