Giáo viên phải nắm vững nội dung, mục tiêu dạy học của phân môn tập làm văn lớp 3 và các yêu cầu cần đạt đối với năng lực giao tiếp để thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp:
Trang 1GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 3
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lan
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU 1
2 Mục đích nghiên cứu: 2
3 Đối tượng nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu.: 2
1 Phương pháp giao tiếp: 3
2 Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3: ……… 3
3.Vai trò của phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt lớp 3: 5
II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY- HỌC TẬP LÀM VĂN THEO
PHƯƠNG PHÁP GIAO TIẾP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY: 6
1 GV phải nắm vững nguyên tắc dạy TLV theo PP giao tiếp: 7
2 Giáo viên phải nắm vững nội dung, mục tiêu dạy học của phân môn
tập làm văn lớp 3 và các yêu cầu cần đạt đối với năng lực giao tiếp để
thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp:
7
3 Xác định hình thức tổ chức hoạt động giao tiếp trong dạy học tập làm
văn qua từng bài học cụ thể: … 9
4 Vận dụng linh hoạt phương pháp giao tiếp với các kỹ thuật dạy học
tích cực nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh.: …… 16
5 Vận dụng ưu điểm của phương pháp giao tiếp để tổ chức các hoạt động
trải nghiệm trong dạy học tập làm văn nhằm phát triển năng lực giao tiếp
cho học sinh: …………
17
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Xuất phát từ quan điểm xây dựng chương trình Chương trình giáo dụcphổ thông 2018 môn ngữ văn (ở cấp tiểu học, môn học này có tên là Tiếng Việt;
ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông có tên là Ngữ văn) lấy việc rènluyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả
ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực[1]
Do đó năng lực giao tiếp là một trong những nội dung cần được hình thành vàphát triển đối với học sinh tiểu học Thông qua giao tiếp, giúp học sinh trao đổitri thức thông tin, học tập, rèn luyện, chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống hoạtđộng và vui chơi Phát triển năng lực giao tiếp, các em sẽ bộc lộ khả năng vốnhiểu biết của mình cũng như phát triển các thao tác tư duy qua các hoạt động
“nghe – nói - đọc - viết” Qua giao tiếp các em biết bày tỏ thái độ và quan điểmcủa mình trong quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội Khi có sự tương tác tốt
sẽ là lợi thế lớn trong việc xây dựng các mối quan hệ Chính vì vậy mà năng lựcgiao tiếp là một trong những năng lực cốt lõi cần được hình thành và phát triểnthông các môn học và hoạt động giáo dục ở bậc tiểu học
Nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp, từ lâu việc dạy học trongnhà trường đã hướng tới mục đích giao tiếp Các môn học đều lồng ghép việcphát triển năng lực giao tiếp cho học sinh để đảm bảo sự phát triển về nhân cách.Các môn học được gắn kết đặc biệt, sắp xếp phân bổ hợp lý, tạo điều kiện cho
sự phát triển toàn diện của học sinh , trong đó Tiếng Việt được xem là môn học
có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển năng lực giao tiếp cho họcsinh Do đặc thù môn học nên năng lực giao tiếp của học sinh có thể phát huy ởnhiều phân môn nhất là phân môn Tập làm văn Tuy nhiên hiện nay việc pháttriển năng lực giao tiếp cho các em vẫn chưa được thực sự chú ý đúng mức.Dạy học vẫn đề cao việc truyền tải kiến thức, chưa hướng vào làm nảy sinhnhững nhu cầu mong muốn rèn luyện, chiếm lĩnh và phát triển năng lực giaotiếp thông qua môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp Phát triển năng lựcgiao tiếp cho học sinh còn thiếu đồng bộ, toàn diện Vì vậy, nhiệm vụ phát triểnnăng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học ngày càng cấp thiết và đòi hỏi sự quantâm, đầu tư nhiều hơn những lợi ích mà nó mang lại cho các em
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ trao đổi với đồng nghiệp, tôi thấy việcdạy và học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt ở lớp 3 nói riêng phần
đa giáo viên thường quan tâm đến việc dạy và học khuôn mẫu sách giáo khoa,máy móc, đảm bảo quy trình, thiếu tính chân thực Học sinh trong giao tiếp vẫncòn học và nói, viết văn theo câu mẫu, học theo khuôn mẫu nhất định, cảm thụ
ít, không có sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân Rõ ràng các em vẫn chưa pháthuy hết khả năng và tính chủ động của mình trong học tập, khả năng diễn đạtbằng ngôn ngữ của các em còn nhiều hạn chế
Trang 4Để chuẩn bị tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã ban hành Công văn số 4612/BGDĐT-GVTrH ngày 03/10/2017Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo địnhhướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017-2028, trong
đó “đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học” và “đổi mới phươngpháp, hình thức kiểm tra, đánh giá” là những nội dung được các nhà trường đangtập trung thực hiện
Với ý nghĩa đó, trong những năm vừa qua tôi đã quan tâm thực hiện “Sử dụng phương pháp giao tiếp trong dạy học môn Tập làm văn góp phần phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3” đồng thời khái quát thành kinh
nghiệm để chia sẻ cùng đồng nghiệp nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc Tiếng Việt ở lớp 3 cũng như đáp ứng các yêu cầu cần đạt về năng lực củahọc sinh tiểu học
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu, nghiên cứu một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp chohọc sinh lớp 3 thông qua việc dạy học môn Tập làm văn theo phương pháp giaotiếp
- Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong môn Tậplàm văn lớp 3
3 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếpcho học sinh lớp 3
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu tài liệu liên quan , đọc và hệ thống hóa liên quan đến cơ sở líluận của vấn đề nghiên cứu và tài liệu liên quan đến cơ sở hình thành và nângcao kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học,
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Dự giờ, quan sát và khảo sát thực trạng học tập làm văn theo quan điểmgiao tiếp của giáo viên và học sinh lớp 3
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Phương pháp giao tiếp
Theo Richards (2006), phương pháp giao tiếp trong dạy học ngày nay là
sự tổng hợp của những yêu cầu của những yêu cầu: làm cho giao tiếp thực sự trởthành trọng tâp của việc học ngôn ngữ, tạo cơ hội cho người học trải nghiệmnhững gì họ biết; tạo cơ hội cho người học phát triển cả sự chính xác và sự trôichảy, việc này được đánh giá dựa trên sự liên kết các kỹ năng khác nhau nhưnói, đọc và nghe cùng nhau, giáo viên cần đóng vai trò tổ chức các hoạt độngtương tác xã hội mà qua đó đòi hỏi người học phải cân nhắc về ý nghĩa và tươngtác một cách có ý nghĩa
Ở nước ta, cho đến thời điểm này, người ta đã quá quen thuộc với cụm từ
“dạy học theo định hướng giao tiếp” hay “dạy học theo quan điểm giao tiếp”,song phương pháp giao tiếp chưa thực sự phổ biến Tuy nhiên, nhiều nhà nghiêncứu, trong các tài liệu, bài báo khoa học đã sử dụng đến thuật ngữ này Từ năm
2007, trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, Lê A và cộng sự đã có đề
cập đến phương pháp giao tiếp, họ khăng định “Phương pháp giao tiếp làphương pháp quan trọng trong dạy học tiếng Việt”
Mục đích của dạy Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm “Hình thành và phát triển
ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập vàgiao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”[2] Việc dạy đọc, viết,nghe và nói đều sử dụng phương pháp giao tiếp để giúp học sinh có khả năngdiễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ, trong đó việc dạy nói và nghe không chỉ pháttriển năng lực giao tiếp mà còn giáo dục phẩn chất và nhân cách của học sinh
2 Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 3
2.1 Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học
Năng lực giao tiếp là khả năng nhận biết mau lẹ những biểu hiện bênngoài và đoán biết tâm lý bên trong của con người (với tư cách là đối tượng giaotiếp) đồng thời biết sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, biết cách địnhhướng để điều khiến quá trình giao tiếp đạt một mục đích nhất định
Đối với học sinh tiểu học, năng lực giao tiếp yêu cầu ở các mức độ sau:
- Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái đội giao tiếp Yêu cầu
ở học sinh nhận ra được ý nghĩa của giao tiếp trong việc đáp ứng các nhu cầucủa bản thân; Tiếp nhận được những văn bản về đời sống, tự nhiên và xã hội có
sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh như truyện tranh, bài viết đơn giản;Bước đầu biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với hình ảnh, cử chỉ để trình bày thôngtin và ý tưởng; Tập trung chú ý khi giao tiếp; nhận ra được thái độ của đối tượnggiao tiếp
Trang 6- Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội; điều chỉnh và hoá giải các mâuthuẫn Yêu cầu ở học sinh Biết cách kết bạn và giữ gìn tình bạn; Nhận ra đượcnhững bất đồng, xích mích giữa bản thân với bạn hoặc giữa các bạn với nhau;biết nhường bạn hoặc thuyết phục bạn.
Như vậy, phát triển năng lực giao tiếp giúp cho mỗi học sinh trong quátrình tương tác với cá nhân, tương tác trong nhóm với tập thể có hiệu quả hơn.Giúp các em có kỹ năng bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạng của mình, giúpngười khác hiểu rõ mình hơn Bên cạnh đó, năng lực hợp tác và làm việc nhóm
là các yếu tố quan trọng trong việc phát triển năng lực giao tiếp, đem lại hiệuquả làm việc trong nhóm và giúp cá nhân tăng cường sự tự tin và hiệu quả trongviệc thương thuyết, xử lý tình huống và giúp đỡ người khác
2.2 Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh thông qua phân môn Tập làm văn
Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bịcho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở
Chương trình Tiểu học được cấu trúc theo hai giai đoạn học tập:
- Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 gồm 6 môn học: Tiếng Việt, Toán, Đạo dức,Tựnhiên và xã hội, Nghệt thuật, Thể dục
- Giai đoạn các lớp 4, 5 gồm 9 môn học: Tiếng Việt, Toán, Đạo đức,Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Kĩ thuật, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục
Các môn học có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có vai trò bổ sung, hỗ trợcho nhau giúp cho các em phát triển một cách toàn diện Trong đó phân mônTiếng Việt chiếm số thời lượng nhiều nhất và bao gồm các phân môn: Họcvần, Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn
Mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là nhằm:
+ Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động củalứa tuổi
+ Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao táccủa tư duy
+ Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và nhữnghiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người về văn hóa, văn học củaViệt Nam và nước ngoài
+ Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 7Tập làm văn là phân môn sử dụng tổng hợp các kiến thức của các phânmôn còn lại trong Tiếng Việt Phân môn Tập làm văn cung cấp cho các em một
số các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để từ đó sử dụng để làm công cụ giao tiếp
3 Vai trò của phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt lớp 3
3.1 Mối quan hệ giữa Tập làm văn với các phân môn khác của Tiếng Việt lớp 3
Phân môn Tập làm văn có mối quan hệ rất chặt chẽ với các phân mônkhác của Tiếng Việt như: tập đọc, luyện từ và câu, chính tả
Phân môn Tập đọc giúp học sinh từ chỗ đọc đúng, đọc trôi chảy, diễn cảmđến chỗ hiểu được nghĩa của từ, ý nghĩa của câu và nội dung của bài
Phân môn Chính tả: rèn cho học sinh biết các quy tắc và có thói quen viếtcác chữ ghi Tiếng Việt đúng với chuẩn viết đúng chính tả, giúp cho học sinh cóđiều kiện để sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các bộ mônvăn hóa, trong việc viết các văn bản, thư từ
Phân môn Luyện từ và câu: có vai trò đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ.Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như là phương tiệngiao tiếp Luyện từ và câu còn phát triển năng lực, trí tuệ, ngôn ngữ, nhữngphẩm chất đạo đức ở trẻ em Nó có vai trò hướng dẫn học sinh nghe nói, đọc,viết…
Phân môn Tập làm văn: là phân môn sử dụng tổng hợp các hiểu biết vềluyện từ và câu, chính tả, khả năng nghe nói tiếng Việt, vốn hiểu biết về đờisống của học sinh do bài học khác nhau đem lại Mỗi bài tập làm văn là sảnphẩm của từng cá nhân học sinh trước một đề tài Sản phẩm này ít nhiều indấu ấn riêng từng em trong cách suy nghĩ, cách kể, cách tả, cách diễn đạt…Tậplàm văn lớp là sự tổng hợp nhưng cũng chắt lọc và áp dụng một cách sáng tạocủa các phân môn khác trong môn Tiếng Việt Để viết được một đoạn văn thìđiều đầu tiên là ta ứng dụng phân môn tập đọc về cách diễn đạt văn bản Trongcách diễn đạt kể cả văn nói (miệng) hay viết phải lưu ý đến cách phát âm hoặcviết đúng chính tả, cách dùng từ chính xác và diễn đạtcâu văn có đủ các bộ phậnchính, phụ của câu dùng hình ảnh hoặc so sánh bằng các liên hệ từ được học
từ phân môn Luyện từ và câu
3.2 Mục đích dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 3
Mục đích dạy học Tập làm văn cho học sinh lớp 3 là: hình thành và pháttriển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) cung cấpnhững kiến thức cơ bản để học sinh biết cách sử dụng tiếng Việt làm công cụ
tư duy, giao tiếp và học tập, tạo điều kiện cho học sinh độc lập về suy nghĩ,chủ động sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, tạo hứng thú và nhu cầusản sinh ngôn bản ở học sinh
Trang 8Như vậy, để đạt được mục tiêu đề ra mỗi nội dung đòi hỏi một phươngpháp thích hợp Các kĩ năng giao tiếp không thể được hình thành và phát triểnbằng con đường truyền giảng thụ động Muốn phát triển những kĩ năng này, họcsinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của giáoviên Các kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hoá, tự nhiên và xã hội có thểđược tiếp thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ được những kiến thứcnày khi các em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình.Cũng như vậy, những tư tưởng, tình cảm và nhân cách tốt đẹp chỉ có thể đượchình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện trong thực tế.
II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY- HỌC TẬP LÀM VĂN THEO PHƯƠNG PHÁP GIAO TIẾP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY
Việc dạy học Tiếng việt nói chung và dạy học phân môn Tập làm văn nóiriêng theo theo phương pháp giao tiếp ở các trường tiểu học hiện nay hết sứcđược quan tâm từ việc chỉ đạo của nhà trường đến đổi mới phương pháp dạy họccủa giáo viên Tuy nhiên qua tìm hiểu, dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp, tôinhận thấy số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp cácphương pháp dạy- học cũng như sử dụng các phương pháp dạy- học phát huynăng lực học sinh chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức líthuyết, chưa tập trung cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy Tình trạng
"dạy chay", bắt học thuộc lòng một cách máy móc vẫn là tình trạng phổ biến
Việc rèn luyện kỹ năng đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyếtcác tình huống thực tiễn chưa thực sự được quan tâm Nhiều giáo viên còn gặpkhó khăn trong việc dạy học tiếng Việt theo định hướng giao tiếp nhất là phânmôn Tập làm văn.Trong tiết học, giáo viên quá chú trọng vào khâu truyền thụkiến thức, xem nhẹ việc thực hành rèn luyện kĩ năng nói - viết cho học sinh theocác đối tượng khác nhau Khi tổ chức các hoạt động trong giờ học, giáo viênchưa phân định được hoạt động nào là trọng tâm Hình thức tổ chức dạy cònnghèo do giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng của bài soạn Ngoài ra,bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên chưa thực sự hiểu sâu về phương phápdạy học và kiến thức còn lệ thuộc vào sách giáo khoa, tức là chưa làm chủ đượckiến thức dẫn đến giờ học khô khan nhàm chán và nặng nề Tình trạng này đãlàm mất đi tính hấp dẫn của phân môn tiếng Việt Hơn nữa, nhiều học sinh cònthiếu các kỹ năng cơ bản của bộ môn và năng lực vận dụng liên hệ kiến thức đãhọc để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra là rất hạn chế.Đặc biệt là họcsinh lớp 3 các em vẫn đang ở lứa tuổi tò mò, ham học hỏi hay bắt chước nhưnglại chóng chán, nhanh quên, ngại tìm hiểu những văn bản dài và khó như tập làmvăn, các em còn học thụ động, bắt buộc, trong giờ học còn tỏ ra uể oải, mệt mỏikhông thích học môn Tập làm văn Khả năng tự tin nói trước lớp của các emkhông tốt, nhiều em còn thiếu tự tin, ngại nói trước lớp Nhiều học sinh không tựtin giơ tay phát biểu trong giờ học, nếu được cô gọi thì miễn cưỡng đứng lên trảlời Còn nhiều học sinh lại không dám sáng tạo khi viết văn thường dập khuônvào gợi ý mẫu nên bài viết thiếu sự mềm mại và hay Học sinh không được rèn
Trang 9luyện nói trước lớp thường xuyên nên khi bạn nói cũng không tập trung nghe Vìvậy khả năng phân tích nhận xét đánh giá bài bạn còn yếu chưa nói gì đến việcchữa lỗi giúp nhau.Vốn từ ngữ, vốn sống, vốn hiểu biết của các em hạn hẹp.
Từ thực trạng việc dạy học phân môn tập làm văn nói trên thì việc tổ chứcdạy phân môn Tập làm văn bằng phương pháp giao tiếp là một giải pháp hữuhiệu góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng học tập, tạo điều kiện để học sinh tựhiện thực hóa, tự khẳng định nhân cách cá nhân của mình, vạch ra tiềm năngsáng tạo của cá nhân, hình thành những phương châm giá trị và phẩm chất đạođức cần thiết cho những chặng đường học tập và làm việc tiếp theo, góp phầnđáp ứng mục tiêu giáo dục đã được đặt ra
sở quan sát và phân tích ngôn ngữ trong giao tiếp, từ đó lựa chọn các biện phápyêu cầu người học phải giao tiếp gắn với tực tiễn đời sống càng nhiều càng tốt.Hoạt động giao tiếp nhằm thực hiện các chức năng thông báo, biểu cảm và tácđộng Các chức năng này gắn với các hoạt động tìm kiếm thông tin, tương tác xãhội Như vậy, muốn dạy học theo phương pháp giao tiếp thì phải tập trung cáchoạt động tìm kiếm thông tin và tương tác xã hội của người học, sao cho những
gì được học gắn với thực tiễn, nhu cầu cuộc sống của người học
- Các hoạt động tìm kiếm thông tin bao gồm: điền khuyết thông tin,chuyển đổi thông tin, xử lí thông tin Trong dạy học tiếng Việt nói chung và dạytập làm văn nói riêng, các hoạt động này thực chất là hoạt động mà người họccần phải tìm thông tin từ thực tiễn, tự quan sát, suy luận, tóm tắt sau đó diễnđạt lại bằng ngôn ngữ cá nhân để tạo thành dàn ý cho bài văn
- Các hoạt động tương tác thông tin bao gồm: đóng vai , thuyết trình-tranhluận, các trò chơi giao tiếp Đây là nhóm hoạt động bổ trợ nhằm giúp người họctiếp cận nhiều khía cạnh để hình thành và phát triển tư duy khi đánh giá vấn đề.Đồng thời, qua tranh luận, chia sẻ, mỗi thành viên của lớp sẽ có thêm dữ liệucho bài làm của mình
2 Giáo viên phải nắm vững nội dung, mục tiêu dạy học của phân môn tập làm văn lớp 3 và các yêu cầu cần đạt đối với năng lực giao tiếp để thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp
Cũng như các môn học khác, khi dạy học phân môn tập làm văn giáo viênphải nắm vững nội dung và mục tiêu môn học Việc nắm vững nội dung và mục
Trang 10tiêu môn học là vô cùng cần thiết, nó giúp giáo viên xác định được cần phải khaithác vấn đề gì? Chú trọng tổ chức cho học sinh làm gì? ;Vận dụng kiến thứcnào? để giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cảngười dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực giao tiếp,năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phươngpháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tậpcho người học Và khi đã nắm vững nội dung và mục tiêu môn học, giáo viên sẽ
dễ dàng thiết kế các hoạt động dạy học phù hợp giúp học sinh nắm kiến thứcmột cách vững chắc qua đó phát triển năng lực cho học sinh Do đó, để dạy tốtphân môn tập làm văn theo phương pháp giao tiếp để triển năng lực học giaotiếp cho học sinh, việc đầu tiên tôi làm đó là nắm vững nội dung và mục tiêumôn tập làm văn :
* Về nội dung :
Về cấu trúc phân môn Tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng việt 3 có
54 bài tập Mỗi bài học được trình bày từ 1 đến 2 bài tập - gồm bài tập rèn luyện
kỹ năng nói và bài tập rèn kỹ năng thực hành viết Trong đó bài tập rèn kỹ năngnói chiếm hơn 70% nhất là kiểu bài “Nghe - kể lại chuyện” và “Kể hay nói, viết
về một chủ đề” Đối với hai dạng bài này thì nội dung được phân bổ như sau:
a) Dạng bài: “Kể hay nói, viết” về một chủ đề gồm có 16 bài tập như:+ Nói về Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh
+ Nói về thành thị hoặc nông thôn
+ Nói về quê hương
+ Nói, viết về cảnh đẹp đất nước
+ Nói về một ngày hội
b) Dạng bài: “Nghe -Kể lại chuyện” gồm có 10 bài tập như :
+ Nghe - kể: Dại gì mà đổi
+ Nghe - kể: Không nỡ nhìn
+ Nghe - kể: Tôi cũng như bác
+ Nghe - kể: Giấu cày
Nhưng năm học 2011-2012, áp dụng chương trình giảm tải của Bộ Giáodục và Đào tạo (áp dụng từ ngày 19/9/2011) thì đã cắt bỏ một số bài tập khôngyêu cầu học sinh làm đó là:
+ Nghe - kể: Tôi có đọc đâu (TLV tuần 11)
+ Nghe - kể: Tôi cũng như bác (TLV tuần 14)
+ Nghe - kể: Giấu cày (TLV tuần 15)
+ Nghe - kể: Kéo cây lúa lên (TLV tuần 16)
Trang 11Như vậy dạng bài này trong chương trình Tập làm văn Lớp 3 dạy 6 bàitập còn lại Nội dung kiến thức và yêu cầu rèn luyện kỹ năng ở phân môn Tậplàm văn lớp 3 khá khó, nhiều bài tập mang tính thực hành từ thực tế xung quanhcác em.
*Về mục tiêu của phân môn tập làm văn:
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nói, nghe, viết phục vụ cho việc họctập và giao tiếp cụ thể là:
+ Biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt giađình, trong sinh hoạt tập thể Biết giới thiệu các thành viên, các hoạt động của
tổ, của lớp.Nghe – hiểu nội dung lời nói, ý kiến thảo luận trong các buổi sinhhoạt Nghe – hiểu và kể lại được nội dung các mẫu chuyện ngắn, biết nhận xét
về nhân vật trong các câu chuyện
+ Biết viết đơn, viết tờ khai theo mẫu, viết một bức thư ngắn để báo tintức, để hỏi thăm người thân hoặc kể lại một việc đã làm, biết kể lại nội dung mộtbức tranh đã xem, một văn bản đã học
+ Trau dồi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong côngviệc; bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy
Qua đó chúng ta nhận thấy, sử dụng phương pháp giao tiếp trong phânmôn tập làm văn lớp 3 sẽ đáp ứng các yêu cầu cần đạt về năng lực giao tiếp đólà: Học sinh nhận ra được ý nghĩa của giao tiếp; Bước đầu biết sử dụng ngônngữ nói kết hợp với cử chỉ để trình bày thông tin và ý tưởng của mình; Tập trungchú ý khi người khác trình bày; nhận ra được thái độ của đối tượng giao tiếp
3 Xác định hình thức tổ chức hoạt động giao tiếp trong dạy học tập làm văn qua từng bài học cụ thể.
3.1.Với thể loại nói - viết trong phân môn Tập làm văn lớp 3
Nội dung các bài tập thuộc dạng bài này nhằm rèn cho học sinh kỹ năngdiễn đạt bằng lời nói (viết) về một chủ đề nào đó: Nói viết về thành thị hoặcnông thôn; Kể về gia đình ; Kể về một buổi thi đấu thể thao chúng ta có thể thấydạng đề này hầu như là sự kết hợp của nhiều thể loại: miêu tả, tưòng thuật,thuyết minh và phát biểu cảm nghĩ
3.1.1.Hướng dẫn học sinh tìm kiếm thông tin (tìm ý)
Như đã nói ở trên, đây thực chất là hoạt động mà người học cần phải tìmthông tin từ thực tiễn, tự quan sát, suy luận, tóm tắt sau đó diễn đạt lại bằngngôn ngữ cá nhân để tạo thành dàn ý cho bài văn Muốn dạy học theo phươngpháp giao tiếp thì phải tập trung vác hoạt động tìm kiếm thông tin và tương tác
xã hội của người học, sao cho những gì được học gắn với thực tiễn, nhu cầucuộc sống của người học
Xác định đây là dạng bài nòng cốt trong môn tập làm văn lớp 3 Nó đòihỏi ở người học sinh phải có vốn sống hàng ngày, phải có vốn từ phong phú,
Trang 12phải có đôi mắt quan sát tinh tường, phải có óc tưởng tượng sáng tạo nghệ thuật.Bởi vậy, khi dạy dạng bài này tôi thường nhấn mạnh cho học sinh: khi em muốn
tả bất cứ cái gì thì các em phải hiểu rõ về cái đó Em phải tìm hiểu thông tin vềcái đó Có thể hỏi bạn bè, gia đình, thầy cô hay quan sát thực tế qua môn tựnhiên xã hội, qua đọc sách, đọc báo, …
Để thực hiện được điều đó, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh một cáchchặt chẽ từ sự liên tưởng về các sự vật, các hoạt động Đây là một việc làm hếtsức quan trọng vì qua thực tế đôi khi tôi cho các em một bài tập tả về ngày hội,
có em bảo là con chưa bao giờ nhìn thấy ngày hội Mặt khác Giáo viên khơigợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ,hình ảnh thực tế có liên quanđến yêu cầu bài tập, phù hợp với thực tế và trình độ học sinh để các em dễ dàngdiễn đạt được đúng yêu cầu của đề tài
- Ví dụ: Ở tuần 22 bài “Kể về một người lao động trí óc”, giáo viên gợi ý
người đó làm nghề gì? Bao nhiêu tuổi? Công việc em thường thấy là gì?
Hoặc cũng có thể sưu tầm những phim ảnh để có thể trình chiếu cho các
em, cho các em quan sát … Từ đó học sinh dễ dàng tìm ý và diễn đạt bài văn rõràng, mạch lạc hơn
Ví dụ: Ở tuần 29 : Kể lại một trận thi đấu thể thao
- Xem ảnh chụp buổi thi chạy đó, có học sinh nói:“Các vận động viên bắt đầu xuất phát với các bước chạy khỏe khoắn.” Cũng có học sinh khác nói:“Khi gần tới đích, các vận động viên dồn sức vào các bước chạy cuối cùng để cán đích.”
Với cách làm như trên giúp học sinh nắm được mục đích yêu cầu của bài,chủ động trao đổi với bạn, tích cực giơ tay trình bày khi nói, viết bài cũng mạchlạc, rõ ràng hơn
3.1.2.Hướng dẫn diễn đạt:
Theo quan điểm giao tiếp, phương pháp tốt nhất để dạy tiếng Việt bằngquan điểm giao tiếp là phải hướng học sinh vào hoạt động nói năng Đó làphương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiệnnhiệm vụ của quá trình giao tiếp có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia
và hoạt động giao tiếp
Xác định tầm quan trọng của quan điểm giao tiếp, tôi đã tập trung vàoviệc hướng dẫn học sinh diễn đạt ý Bởi vì tôi nhận thấy đối với học sinh lớp 3,thực tế bài văn thực hành tuy có ý tưởng, nhưng vẫn còn nhiều sai sót về diễnđạt như: dùng từ chưa chính xác, ý trùng lắp, các ý trong đoạn văn chưa liên kếtnhau nên trình bày chưa rõ ràng mạch lạc Vì vậy, khi học sinh trình bày, giáoviên phải hết sức chú ý lắng nghe, ghi nhận những ý tưởng hay, ý có sáng tạocủa học sinh để khen ngợi; đồng thời phát hiện những sai sót để sửa chữa Giáoviên cần đặt ra tiêu chí nhận xét thật cụ thể để học sinh làm cơ sở lắng nghe bạntrình bày; phát hiện những từ, ý, câu hay của bạn để học hỏi và những hạn chế
Trang 13của bạn để góp ý, sửa sai Với hoạt động này, khi dạy ngoài phương án được nêutrên trong sách giáo viên, tôi thường tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ
tư duy để tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động học tập tích cực và hứngthú hơn để các em tự chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân; giúp học sinh hệ thốnghóa kiến thức, xác định được kiến thức cơ bản từ đó vận dụng kiến thức để giảiquyết các bài tập và các tình huống trong cuộc sống Mặt khác sử dụng phươngpháp sơ đồ tư duy còn giúp học sinh rèn luyện, phát triển tư duy logic, khả năng
tự học, phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh
Ví dụ: Nói về quê hương em (BT2-TV3 -Tập1- Tr92), giáo viên thực
hiện các bước như sau:
- Cho học sinh đọc yêu cầu bài tập, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu yêucầu của bài tập: Nói về quê hương em
- Học sinh tập trung động não nghĩ về quê hương và viết ra bất kỳ những
từ ngữ nào liên quan đến quê hương
- Giáo viên treo bảng phụ vẽ bản đồ tư duy lên bảng Giới thiệu cho họcsinh biết một số từ ngữ liên quan đến quê hương Học sinh nhìn bản đồ tư duy,
tự suy nghĩ và hồi tưởng Có thể là:
Hoặc:
Sơ đồ tư duy bài “Nói về quê hương em”
- Thảo luận theo nhóm ghi vào giấy nháp về quê hương
- Giáo viên gọi một vài em kể về quê hương cho cả lớp nghe.
- Cho học sinh nhận xét lời kể của bạn Giáo viên nhận xét chung
Trang 14Kể về gia đình (BT1-TV3 - tập I - tr 28), giáo viên thực hiện các bước
- Học sinh ghi vào giấy nháp về gia đình mình
- Giáo viên gọi một vài em kể về gia đình mình cho cả lớp nghe.
- Cho học sinh nhận xét lời kể của bạn Giáo viên nhận xét chung
Ví dụ : Nói, viết về bảo vệ môi trường (TV3 - tập 2 - tr 120) giáo viên
th c hi n các bực hiện các bước ện các bước ước tc ương tự.ng t ực hiện các bước
- Cho học sinh đọc yêu cầu bài tập, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu yêucầu của bài tập: Nói, viết về bảo vệ môi trường
- Học sinh thảo luận theo nhóm nghĩ về những việc để bảo vệ môi trường
và viết ra bất kỳ những từ ngữ nào liên quan đến việc bảo vệ môi trường
- Giáo viên treo bảng phụ vẽ bản đồ tư duy lên bảng Giới thiệu cho họcsinh biết một số từ ngữ liên quan đến gia đình Học sinh nhìn bản đồ tư duy, tựsuy nghĩ và hồi tưởng
Sơ đồ tư duy bài “Nói, viết về bảo vệ môi trường
- Học sinh thảo luận theo nhóm ghi vào giấy nháp về những việc để bảo
vệ môi trường
- Giáo viên gọi đại diện một vài nhóm kể cho cả lớp nghe.