1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tầm Quan Trọng của Can Thiệp trong Giai Đoạn Trước Khi Mang Thai Trên Kết Quả Của Thai Kỳ

11 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 707,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Karger AG., Basel, © 2013 Tổng quan Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai, được bắt đầu ở tuổi thiếu niên và được thực hiện trước và giữa các lần mang thai, có khả năng tác động trên 136

Trang 1

Tình trạng sức khỏe kém ở người mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em (Maternal, newborn and child health -MNCH) hiện vẫn đang là vấn đề nghiêm trọng Theo ước tính, hàng năm có khoảng 273.500 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tử vong do các biến chứng khi

Bản quyền của © 2013 Nestec Ltd., Vevey/S Karger AG, Basel

Bhatia J, Bhutta ZA, Kalhan SC (eds): Maternal and Child Nutrition: The First 1,000 Days.

Nestlé Nutr Inst Workshop Ser, vol 74, pp 63–73, (DOI: 10.1159/000348402)

Nestec Ltd., Vevey/S Karger AG., Basel, © 2013

Tổng quan

Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai, được bắt đầu ở tuổi thiếu niên và được thực hiện trước và giữa các lần mang thai, có khả năng tác động trên 136 triệu phụ nữ sinh con mỗi năm và đảm bảo cho các trẻ sơ sinh có được một sức khỏe khởi đầu tốt nhất đến mức có thể Thực hiện các can thiệp đơn giản trước khi thụ thai có thể phòng ngừa đáng

kể tỷ lệ tử vong và bệnh tật cho cả người mẹ lẫn trẻ sơ sinh Các can thiệp để tăng cường sức khỏe và ngăn ngừa việc mang thai ở lứa tuổi thanh thiếu niên, khuyến khích sử dụng thuốc ngừa thai và duy trì khoảng cách thích hợp giữa các lần sinh, tối ưu hóa cân nặng và hàm lượng của các dưỡng chất vi lượng, và tầm soát và kiểm soát các tình trạng bệnh lý mạn tính đã chứng minh được hiệu quả Các can thiệp này cần phải được tăng cường để quá trình sinh đạt kết quả tốt nhất Các phụ nữ được chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai thường có xu hướng tiếp thu các lối sống lành mạnh và từ đó có các kết quả thai kỳ tốt hơn Việc chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai đặc biệt có hiệu quả khi có sự tham gia của nam giới và được thiết kế dưới dạng các sinh hoạt cộng đồng Tất cả các nhân viên chăm sóc sức khỏe đều có thể và nên bắt đầu thực hiện các biện pháp chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai cho tất cả các bé gái trong độ tuổi thiếu niên, phụ nữ và các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản bằng cách hỏi xem họ có muốn mang thai hoặc

có đang chủ động ngừa thai hay không

S ohni V Dean · Ayesha M Imam · Zohra S Lassi ·

Zulfiqar A Bhutta

Phòng ngừa nhẹ cân khi sinh, Dịch tễ học

Tầm Quan Trọng của Can Thiệp trong

Giai Đoạn Trước Khi Mang Thai Trên

Kết Quả Của Thai Kỳ

Phân môn Sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em, Đại học Aga Khan Karachi , Pakistan

Sức khỏe của người mẹ và trẻ sơ sinh

Trang 2

mang thai và khi sinh; trên 15 triệu phụ nữ phải gánh chịu các căn bệnh và khuyết tật lâu dài.1 Viễn cảnh này thậm chí còn tệ hơn ở các nước đang phát triển ở khu vực Nam Á và cận Sahara ở Châu Phi, nơi mà phụ nữ không được tiếp cận với các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc sức khỏe trước khi sinh, thường bị suy dinh dưỡng mạn tính, và thường mang thai nhiều lần với khoảng cách gần nhau [2] Thai kỳ cũng là giai đoạn của nguy cơ cho các đứa trẻ được sinh ra Ước tính mỗi năm có khoảng 2.9 triệu trẻ sơ sinh chết trong tháng đầu tiên sau khi sinh [1] Các biến chứng sức khỏe của người mẹ gây ra 1.5 triệu ca trẻ tử vong trong tuần đầu tiên sau khi sinh và 1.4 triệu ca thai chết lưu [3]

Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai có thể được định nghĩa là ‘bất kỳ can thiệp nào cho phụ nữ và các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản, bất kể có đang mang thai hoặc mong muốn có thai, trước khi thụ thai, nhằm cải thiện các hệ quả sức khỏe cho phụ nữ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ” [Bhutta và cộng sự, tài liệu không được công bố] Điều này đã đưa ra một qui trình cung cấp các can thiệp chăm sóc sức khỏe trực tiếp cũng như gián tiếp để xác định hoặc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn của y sinh học, của lối sống và xã hội gắn liền với tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở các giai đoạn: trước khi thụ thai, trong thời gian mang thai, khi chuyển dạ, trong giai đoạn sơ sinh

và trong thời thơ ấu Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai bao gồm các biện pháp ở quy mô rộng hơn, như giáo dục và trao quyền cho phụ nữ, và cho các can thiệp chăm sóc y tế cụ thể hơn như tiêm chủng vaccin và bổ sung các dưỡng chất vi lượng Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai có thể được bắt đầu ở tuổi thiếu niên, và cũng có thể được thực hiện giữa các lần mang thai, để có đủ thời gian thực hiện các thay đổi lối sống lành mạnh

Các nghiên cứu mang tính đột phá và các đánh giá mang tính hệ thống đã hướng

sự chú ý trên toàn cầu tới các gánh nặng do tử vong của người mẹ và của trẻ sơ sinh, cũng như là do thai chết lưu [4-7] Đáng chú ý hơn, các bằng chứng cho thấy rằng hầu hết các nguyên nhân của các ca tử vong này đều có thể ngăn chặn được Hơn nữa, chúng cũng chứng minh rằng việc cải thiện sức khỏe cho người mẹ và trẻ sơ sinh tạo thêm nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội, vì các trẻ em khỏe mạnh thường ít phải nhập viện và có xu hướng duy trì sức khỏe tốt hơn Tuy nhiên, vẫn còn có một khoảng cách giữa nghiên cứu và việc chăm sóc sức khỏe trong suốt cuộc đời, nhiều phụ nữ không nhận được bất kỳ sự chăm sóc sức khỏe nào từ sau thời thơ ấu cho đến lần mang thai đầu tiên Đã có cơ sở khoa học vững chắc cho các can thiệp nhằm cải thiện sức khỏe của người mẹ và trẻ em trong khi mang thai, khi sinh và sau khi sinh Nhưng vẫn còn có nhiều việc cần phải được thực hiện để làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật cho bà mẹ và trẻ sơ sinh Phụ nữ và các nhân viên chăm sóc sức khỏe vẫn chưa nhận thức được thực tế rằng tình trạng sức khỏe của phụ nữ trước khi thụ thai

có ảnh hưởng đến các hệ quả của cả mẹ và con Một cách đơn giản để đảm bảo nhiều phụ nữ nhận được chăm sóc sức khỏe kịp thời là họ cần được đề nghị - chăm sóc trước khi thụ thai,

Chăm Sóc Sức Khỏe Trước Khi Thụ Thai Là Gì ?

Trang 3

Một số vấn đề về sức khỏe như béo phì, các thói quen như hút thuốc lá và uống rượu,

và các yếu tố nguy cơ như ô nhiễm không khí trong môi trường sống, gây ảnh hưởng đến cả nam lẫn nữ, góp phần vào tỷ lệ tử vong và tình trạng bệnh tật ở cả mẹ và con Trong một số trường hợp, các vấn đề này, thói quen hoặc các yếu tố nguy cơ gây ảnh hưởng không tương xứng cho người phụ nữ Chúng cũng có thể làm tăng nguy cơ sinh non, làm trẻ bị nhẹ cân khi sinh hoặc có các vấn đề bẩm sinh Các đứa trẻ sinh này thường có xu hướng dễ bị mắc bệnh, cần được chăm sóc y tế nhiều hơn, và làm tăng tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh Việc tầm soát và xác định các vấn đề này, lối sống

và các yếu tố nguy cơ, sẽ cải thiện sức khỏe cho cả nam giới, nữ giới, lẫn trẻ nhỏ Vì việc xác định chính xác thời điểm thụ thai là rất khó khăn, và vì sức khỏe của cả cha lẫn mẹ đều có ảnh hưởng đến hệ quả của thai kỳ, việc chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai được khuyến nghị thực hiện cho cả nam lẫn nữ trong độ tuổi sinh sản Có khoảng 75 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn mỗi năm,8 và chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai đảm bảo cho sức khỏe của người mẹ là tốt nhất, ngay cả trong trường hợp mang thai ngoài ý muốn Can thiệp trước khi thụ thai cho thấy đối với một số bà mẹ và con của họ, chăm sóc sức khỏe trước khi sinh thậm chí trong 3 tháng đầu thai kỳ, vẫn là quá muộn Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai sẽ đảm bảo làm giảm tối thiểu các nguy cơ và đảm bảo tình trạng sức khỏe của người mẹ là tốt nhất đến mức có thể khi bắt đầu thai kỳ, trước các giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển bào thai và trước khi các vấn đề sức khỏe có thể gây ra các hệ quả xấu cho người mẹ

Một đánh giá mang tính hệ thống đã được thực hiện nhằm thu thập các bằng chứng

về các nguy cơ trước khi thụ thai và các biện pháp can thiệp [Bhutta và cộng sự, tài liệu chưa được công bố] (bảng 1) Các y văn đã và chưa công bố được coi là có liên quan, nếu y văn đó nêu cụ thể các nguy cơ và các biện pháp can thiệp xảy ra trước khi thụ thai hoặc ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nhưng không mang thai, và kết quả đã đánh giá tác động trên sức khỏe của người phụ nữ, người mẹ (trong thai kỳ), trẻ sơ sinh hoặc trẻ em dưới 5 tuổi Mặc dù sự ưu tiên là cho các nghiên cứu ngẫu nhiên; nhưng vì lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai còn tương đối mới, nên các nghiên cứu bán ngẫu nhiên (quasi-randomized trials) và các nghiên cứu quan sát (đoàn hệ, bệnh - chứng) cũng được tính đến Các bài báo hỗ trợ cũng đặc biệt có ích trong việc giúp hiểu rõ hơn sự phát triển của chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai, và các nghiên cứu mô tả cũng giúp định hình bối cảnh và chi tiết của các chương trình can thiệp có thể được nhân rộng Việc tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu điện toán được thực hiện bằng cách dùng các thuật ngữ và từ khóa MeSH có liên quan đến chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai cả về mặt tổng quan lẫn các nguy cơ và các can thiệp cụ thể Các bài báo tìm được qua tài liệu tham khảo, và danh sách của các bài đánh giá

65

Thay Đổi Mô Hình: Từ Chăm Sóc Sức Khỏe Trước Khi Sinh Thành Chăm Sóc Sức Khỏe Trước Khi Thụ Thai

Các Đánh Giá Mang Tính Hệ Thống Về Các Nguy Cơ Trước Khi Thụ Thai và Các Can Thiệp

Can Thiệp Trong Giai Đoạn Trước Khi Mang Thai

Trang 4

cũng được xem xét kỹ để đảm bảo rằng tất cả các nguồn tài liệu có liên quan đều được xác định Các tiêu đề và phần tổng quan được kiểm tra, dữ liệu được trích dẫn từ 2 nhóm nghiên cứu độc lập, và chất lượng của từng nghiên cứu đã được đánh giá bằng các tiêu chí được chuẩn hóa Các phân tích gộp của các nghiên cứu định lượng được tiến hành bằng cách dùng phần mềm Review Manager (RevMan) phiên bản 5.1 Tổng cộng có 57,036 nghiên cứu đã được xác định; trong đó, có 2,059 nghiên cứu được xác minh là hợp lệ ngay từ đầu và 516 nghiên cứu đã được dùng trong các phân tích gộp Các kết quả từ đánh giá này (bảng 2) cũng đã được trình bày tại các hội nghị quốc tế và được chia sẻ với các chuyên gia trong lĩnh vực sức khỏe bà mẹ và trẻ em, điều này làm cho các kết quả thu được đáng tin cậy hơn

Mỗi năm, có khoảng 16 triệu ca sinh nở của các bé gái trong độ tuổi thiếu niên, 15

- 19 tuổi [9] Nếu chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai thật sự có ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ và trẻ em, chúng cần được thực hiện ở tuổi thiếu niên Các thiếu nữ rất dễ bị tổn thương, họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về sức khỏe cũng như tình trạng sống, nhưng lại không được trang bị đầy đủ kiến thức, kĩ năng hoặc bản lĩnh cần thiết để vượt qua các trở ngại đó Sự bất bình đẳng về giới đồng nghĩa với việc bạo hành đối với bé gái và phụ nữ đang trở nên phổ biến và được chấp nhận 10% các bé gái có giao hợp trước 15 tuổi là do bị cưỡng bức; các phụ nữ trẻ này thường phải gánh chịu hậu quả là mang thai ngoài ý muốn, bị

– –

– – –

– –

Bảng 1 Các nguy cơ trước khi thụ thai và các biện pháp can thiệp được xem xét

Các nguy cơ không mong muốn Biện pháp can thiệp

Tuổi của người mẹ cao

Khoảng cách giữa các lần mang thai ngắn

(< 6 tháng) hoặc dài (> 60 tháng)

Cân nặng của người mẹ trước khi thụ thai

(chỉ số khối cơ thể - BMI)

Các tình trạng mạn tính khác của người mẹ

và việc sử dụng thuốc

Rối loạn sức khỏe tâm thần, trầm cảm

Bị cưỡng bức và bạo hành

Sử dụng chất gây nghiện

Tiếp xúc với môi trường có hại

Tư vấn trước khi thụ thai Thay đổi nhận thức trong cộng đồng để ngừng cắt bỏ bộ phận sinh dục ngoài của nữ

Tăng cường sức khỏe cho thiếu niên và ngăn chặn việc mang thai ở tuổi thiếu niên

Chăm sóc sức khỏe sau khi phá thai

Tư vấn và tầm soát các yếu tố di truyền

Bổ sung dinh dưỡng và dưỡng chất vi lượng

Tư vấn và kiểm soát chuyển hóa cho các phụ nữ

bị đái tháo đường, phenylceton niệu Tầm soát và điều trị các bệnh nhiễm trùng Chủng ngừa

Can Thiệp Trước Khi Thụ Thai Giúp Cải Thiện Các Hệ Quả Trên Thai Kỳ: Bằng Chứng

Trang 5

nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục (STIs), và trầm cảm Các chương trình giáo dục tại nhà trường có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng bạo lực và tâm lý bất an kéo dài Các can thiệp nhằm trao quyền cho phụ nữ, cải thiện nhân quyền và phát triển cộng đồng đã làm tăng gấp đôi số phụ nữ có ý định không thực hiện việc cắt bỏ bộ phận sinh dục ngoài của con gái họ, và ngăn ngừa các di chứng xấu cho phụ nữ, bao gồm cả tình trạng thai chết lưu

Việc kết hôn sớm, quan hệ tình dục không an toàn và thiếu tiếp cận với các biện pháp tránh thai hoặc phá thai an toàn đồng nghĩa với việc các thiếu nữ trong tuổi thiếu niên phải hứng chịu tỷ lệ cao hơn các biến chứng khi chuyển dạ, thai chết lưu,

tử vong ở trẻ sơ sinh, sinh non và tình trạng trẻ nhẹ cân khi sinh Các chương trình được phát triển dựa trên từng cá nhân, kết hợp với xây dựng kĩ năng, và bao gồm cả việc cung cấp các biện pháp tránh thai đã ngăn chặn 15% (khoảng tin cậy (KTC) 95%: 2 - 26%) các trường hợp mang thai lần đầu ở tuổi thiếu niên, và các chương trình dạy kĩ năng làm cha mẹ và cho phép các bà mẹ thiếu niên hoàn tất chương trình giáo dục làm giảm 37% (KTC 95%: 18 - 51%) số trường hợp mang thai lần thứ 2 ở tuổi thiếu niên

Bảng 2 Bằng chứng từ các phân tích gộp của các can thiệp trước khi thụ thai

5 RR 0.76 (0.66–0.88)

5 RR 1.39 (1.00–1.93)

4 RR 2.36 (1.55–3.60)

4 RR 1.20 (1.07–1.36)

16 OR 0.63 (0.49–0.82)

24 RR 0.85 (0.74–0.98)

12 OR 2.28 (2.04–2.55)

8 OR 1.91 (1.58–2.32)

4 OR 1.18 (1.15–1.21)

4 OR 1.10 (1.01–1.19)

6 OR 1.40 (1.05–1.85)

11 RR 1.77 (1.54–2.03)

6 OR 1.65 (1.37–2.00)

3 OR 1.14 (1.06–1.23)

2 RR 0.73 (0.58–0.92)

5 RR 0.43 (0.13–1.40)

3 RR 0.47 (0.34–0.64)

21 RR 0.32 (0.23–0.43)

9 RR 0.31 (0.18–0.54)

3 OR 0.78 (0.68–0.89)

4 OR 1.26 (1.01, 1.56)

5 OR 0.65 (0.53, 0.80)

4 RR 0.15 (0.09–0.25)

Can thiệp trước khi thụ thai Hệ quả Số nghiên cứu Ước lượng ảnh hưởng

Tư vấn trước khi thụ thai cho

các nhóm trong cộng đồng

tử vong ở trẻ sơ sinh chăm sóc tiền sản

sử dụng bộ dụng cụ sạch khi sinh nuôi con bằng sữa mẹ

Ngăn chặn mang thai

ở tuổi thiếu niên

mang thai lặp lại mang thai lần đầu

Bổ sung nhiều loại

vitamin

tiền sản giật đái tháo đường thai kỳ xuất huyết sau sinh dùng dụng cụ hỗ trợ trong quá trình sinh thai chết lưu trẻ sơ sinh tăng cân quá mức thừa cân so với tuổi thai các bệnh tim mạch vành tiền sản giật

Bổ sung axit folic khuyết tật ống thần kinh tái phát

có khuyết tật ống thần kinh

Tư vấn và kiểm soát đường

huyết ở phụ nữ bị đái tháo đường

dị tật bẩm sinh

tỷ lệ tử vong chu sinh Xác định và điều trị các bệnh

lây qua đường tình dục (STIs)

sự phổ biến của STIs quan hệ tình dục an toàn hơn

tỷ suất mắc STIs Ngăn ngừa lây nhiễm HIV luôn sử dụng bao cao su

Số liệu trong dấu ngoặc là khoảng tin cậy 95%

Trang 6

16 triệu trẻ vị thành niên

sinh con mỗi năm

Các thay đổi kinh tế - xã hội trong thập kỉ quá đã dẫn đến việc nhiều phụ nữ trì hoãn việc mang thai, tỷ lệ phụ nữ mang thai trong độ tuổi 30 - 39 đã tăng gấp đôi Bên cạnh việc khó thụ thai và các bất thường trong nhiễm sắc thể, tuổi mang thai cao (trên 35 tuổi) đã làm tăng đáng kể tỷ số nguy cơ (odds) của xuất huyết trước khi sinh, đái tháo đường thai kỳ, tăng huyết áp thai kỳ, mổ lấy thai, thai chết lưu,

tử vong chu sinh và tình trạng trẻ nhẹ cân khi sinh (hình 1)

Có hàng triệu phụ nữ mang thai mỗi năm, 1/3 trong số đó không có ý định mang thai và 1/5 đã tiến hành phá thai.8 Mặc dù tăng cường áp dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả phù hợp có thể ngăn ngừa các hệ quả không mong muốn, và đây là vấn đề trọng tâm trong chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai; nhưng tình trạng có thai ngoài ý muốn vẫn tiếp tục xảy ra Chăm sóc sức khỏe sau khi phá thai an toàn (dù phá thai là có chủ ý hay không) sẽ bảo vệ người phụ

Cũng giống như độ tuổi mang thai, khoảng cách giữa các lần sinh cũng có tác động trực tiếp lên sức khỏe của người mẹ và các hệ quả thai kỳ sau đó Khoảng cách giữa các lần mang thai ngắn (dưới 6 tháng) làm tăng khả năng tử vong của người mẹ (OR 66%, KTC 95%: 19 - 133%) và thai chết lưu (OR 42%, KTC 95%: 9 - 86%); khoảng cách giữa các lần mang thai lớn (trên 60 tháng) làm tăng

tỷ lệ tiền sản giật (60 - 80%), đồng thời khoảng cách giữa các lần mang thai ngắn

và dài đều làm tăng nguy cơ sinh non hoặc nhẹ cân khi sinh, và tử vong trong tháng đầu tiên sau khi sinh Kế hoạch hóa gia đình bằng cách sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả và đẩy mạnh nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là nhu cầu hết sức cấp thiết để người phụ nữ có khoảng thời gian lý tưởng giữa các lần mang thai là 18 - 24 tháng

Hình 1 Các nguy cơ trước khi thụ thai và tuổi của người mẹ BPSD = bộ phận sinh dục

Cắt bỏ BPSD ngoài

Bạo hành

Cưỡng bức

Mang thai muộn Bệnh lý di truyền

190 triệu trường hợp mang thai, 136 triệu trường hợp sinh con mỗi năm

Dinh dưỡng kém, bệnh truyền nhiễm, khoảng cách các lần mang thai ngắn, phá thai không an toàn,

bệnh mạn tính, sử dụng thuốc lâu dài, rối loạn tâm thần, bạo hành, tiếp xúc với môi trường ô nhiễm

Tuổi người mẹ

Trang 7

nữ khỏi tử vong và dị tật (đặc biệt là các bất ổn về tâm lý) và ngăn ngừa tình trạng trẻ nhẹ cân khi sinh do sinh non và xuất huyết trước khi sinh ở các lần mang thai tiếp theo Tái xây dựng việc chăm sóc sức khỏe sau khi phá thai và cung cấp các hướng dẫn cần thiết làm tăng đáng kể số phụ nữ và bạn tình của họ áp dụng các biện pháp tránh thai

Một vấn đề quan trọng khác cần lưu ý khi lên kế hoạch mang thai là nguy cơ mắc các bệnh di truyền Các cặp vợ chồng trì hoãn việc mang thai hoặc kết hôn cùng huyết thống thì có nguy cơ cao hơn, nhưng tất cả các cặp vợ chồng đều có thể có các nguy cơ tiềm ẩn của việc sinh ra các đứa trẻ có dị tật bẩm sinh hoặc bất thường về di truyền Tầm soát di truyền trước hôn nhân đã làm giảm 70% tỷ lệ mắc bệnh thiếu máu do di truyền (thalassemia) ở Iran,10 nhưng ở các quốc gia khác, thái độ tích cực đối với việc sàng lọc các bệnh lý di truyền khác không làm gia tăng thực hiện các kiểm tra sàng lọc này

Riêng tại Hoa Kỳ, 12% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị mắc các bệnh mạn tính, đặc biệt là đái tháo đường và tăng huyết áp.11 Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai cho phụ nữ bị đái tháo đường trước khi thụ thai (gồm tư vấn thay đổi chế độ ăn và tập luyện thể lực, kế hoạch hóa gia đình và kiểm soát nghiêm ngặt đường huyết) làm giảm 70% hai hệ quả xấu của bào thai được chú ý nhiều nhất khi bị đái tháo đường trong thai kỳ, dị tật bẩm sinh và tử vong chu sinh Không may là chỉ có dưới 1/3 phụ

nữ có tiền sử đái tháo đường được chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai Do đó, mỗi lần khám sức khỏe cho phụ nữ mắc bệnh mạn tính nên được xem là một cơ hội để thực hiện chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai Ngược lại, vì ngày càng có nhiều phụ

Tình trạng dinh dưỡng của người mẹ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong độ tuổi thiếu niên và thời thơ ấu, nhưng có thể được cải thiện bằng các can thiệp tích cực trong thời gian trước khi thụ thai Tình trạng thừa cân và béo phí trước khi thụ thai của người mẹ làm gia tăng xu hướng: tăng huyết áp và đái tháo đường thai kỳ, chảy máu sau khi sinh, mổ lấy thai, và nguy cơ thai chết lưu và bị mắc các khuyết tật về tim tăng cao gấp 1.5 - 2 lần Các phụ nữ nhẹ cân có tỷ lệ mắc cao hơn các tình trạng: thai chết lưu, sinh non (OR 32%, KTC 95%: 22 - 43%), trẻ bị nhẹ cân khi sinh và nhẹ cân

so với tuổi thai (OR 64%, KTC 95%: 35 - 101%) Tình trạng của các dưỡng chất vi lượng ở phụ nữ trước khi thụ thai cũng rất quan trọng Đã có những bằng chứng chắc chắn cho thấy bổ sung axit folic trước khi thụ thai có khả năng làm giảm hơn một nữa nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh Bổ sung nhiều loại vitamin cũng làm giảm tỷ lệ tiền sản giật, nhiều dị dạng bẩm sinh và khuyết tật giảm chi Bổ sung axit folic đã được thực hiện ở nhiều quốc gia để đảm bảo rằng phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có đủ hàm lượng theo khuyến cáo hàng ngày, và đã cho thấy có hiệu quả và an toàn Các chiến dịch tăng cường quảng bá kết hợp với tư vấn cho từng cá nhân có thể làm tăng việc bổ sung vitamin hàng ngày Y văn về các tác động của các dưỡng chất vi lượng trên sức khỏe của người mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (MNCH) trong giai đoạn trước khi thụ thai thì tương đối hiếm Thiếu sắt trong máu có liên quan đáng kể tới việc tăng gấp 5 lần nguy cơ giới hạn tăng trưởng bào thai và tăng gấp 7 lần nguy cơ trẻ nhẹ cân khi sinh, nhưng việc bổ sung sắt thường được bắt đầu trong thời gian mang thai, và các nghiên cứu trên cũng chỉ ghi nhận các hệ quả về sinh hóa

69

Can Thiệp Trong Giai Đoạn Trước Khi Mang Thai

Trang 8

nữ mang thai muộn (có con vào những năm cuối lứa tuổi sinh sản), việc tầm soát các bệnh mạn tính càng trở nên quan trọng hơn

Trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tinh thần hàng đầu mà nguy cơ mắc phải ở nữ giới là cao gấp đôi so với nam giới Trầm cảm ở tuổi thiếu niên có thể làm gia tăng nguy cơ sẩy thai lên hơn 2 lần và nguy cơ bị bạo hành bởi bạn tình (IPV) lên hơn 3 lần Các vấn đề về sức khỏe tinh thần của người phụ nữ có mối liên quan đáng kể với các nguy cơ khác, như: phân biệt giới tính, và IPV Theo nghiên cứu từ nhiều quốc gia của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có khoảng 15 - 71% phụ nữ bị IPV trong cuộc đời của họ Phụ nữ bị bạo hành gia đình có khả năng mang thai ngoài ý muốn cao gấp 2 lần, và 50% trong số đó có nhiều khả năng bị sẩy thai và bị mắc các bệnh phụ khoa Ngoài ra, họ còn có khả năng bị suy giảm sức khỏe về thể chất cũng như tinh thần cao gấp đôi Các can thiệp, như liệu pháp thay đổi hành vi theo nhóm hoặc giữa các cặp vợ chồng, đã cho thấy làm giảm đáng kể bạo hành sau đó Cung cấp các giải pháp nhằm ngăn ngừa và đáp lại các vấn đề về sức khỏe tinh thần của phụ

nữ là hết sức cấp thiết để đối phó với nguyên nhân gây ra căn bệnh hàng đầu này Một số bệnh truyền nhiễm cũng đặt ra sự lo ngại đáng kể cho các bà mẹ và bào thai trong tử cung Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) là vấn đề sức khỏe sinh sản toàn cầu nghiêm trọng, gánh nặng của điều này là không tương xứng với nữ giới, đặc biệt là các phụ nữ trẻ tuổi hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Trong khi nhiều can thiệp đã được thử nghiệm, chúng chủ yếu tập trung vào các hệ quả khác hơn là MNCH như quan hệ tình dục an toàn hơn Có lẽ là các can thiệp này có tác động gián tiếp trong việc làm giảm phơi nhiễm trước và trong thời gian mang thai, các phơi nhiễm này làm xấu đi các hệ quả của thai kỳ Việc điều trị hàng loạt STIs bằng kháng sinh đã cho thấy làm giảm mức độ lây lan xuống 1/5 Các can thiệp làm thay đổi hành vi và tư vấn cũng làm giảm mức độ lây lan của STIs Các can thiệp này

đã cho thấy làm tăng đáng kể các hành vi quan hệ tình dục an toàn (lên 15%), nhất là việc sử dụng bao cao su

Hiện có gần 16 triệu phụ nữ sống chung với virus làm suy giảm miễn dịch ở người (HIV).12 Nữ giới, đặc biệt là trong độ tuổi thiếu niên, thường bị nhiễm, thậm chí là trong các quan hệ tình dục ổn định; vì họ ít được trang bị các kĩ năng cần thiết để từ chối hành vi tình dục không an toàn Các phụ nữ có huyết thanh dương tính với HIV

có nguy cơ truyền virus cho con trong khi sinh cao, và cũng làm tăng nguy cơ nhiễm cho trẻ trong giai đoạn chu sinh Các nghiên cứu dự phòng trước khi phơi nhiễm đang được tiến hành có thể mang đến cho người mẹ cách thức mới để ngăn chặn lây truyền HIV, và điều trị kháng retrovirus cũng chứng tỏ có hiệu quả tốt trong việc ngăn ngừa lây nhiễm Cho tới lúc đó, điều cấp thiết là nam giới cần tham gia vào việc ngăn ngừa lây nhiễm cho nữ giới, vì việc cắt bao quy đầu của nam giới làm giảm một nửa nguy cơ nhiễm (và do đó làm giảm sự lây truyền), và sử dụng bao cao su làm giảm đáng kể nguy cơ truyền nhiễm xuống 85% Các biện pháp tránh thai của nữ giới, và tự nguyện tham gia tư vấn và kiểm tra vẫn chưa cho thấy hiệu quả làm giảm

sự lây truyền hoặc giảm các hành vi tình dục không an toàn Chăm sóc sức khỏe

Trang 9

trước khi thụ thai nên bắt buộc tầm soát cho tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, kèm trang bị các kĩ năng thuyết phục sử dụng bao cao su cho nữ giới, với mục đích là để thông báo cho người phụ nữ tình trạng nhiễm trong huyết thanh của họ (và cả bạn tình của họ) và thực hiện các biện pháp phòng tránh thích hợp Việc tầm soát và điều trị STIs khác có thể cũng làm giảm nguy cơ nhiễm HIV Vì HIV đang tiếp tục lan rộng, nên một nhu cầu bức thiết được đặc ra là cần nhân rộng các can thiệp trong hành vi của nữ giới và thiếu niên để đưa ra các bằng chứng phù hợp về hiệu quả, và cần đổi mới các can thiệp để việc đánh giá được rõ ràng

Tiêm ngừa một số bệnh lây nhiễm để bảo vệ người mẹ và trẻ sơ sinh khỏi các hậu quả sức khỏe nghiêm trọng trong các giai đoạn dễ bị tổn thương Chỉ với một liều duy nhất, vaccin uốn ván làm giảm 1/3 tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và tử vong chu sinh, và

có thể giảm hơn 70% khi hoàn thành chế độ tiêm chủng ban đầu Tất cả phụ nữ trong

độ tuổi sinh sản cũng nên được đánh giá khả năng miễn dịch với vi rút rubella, và nếu không có miễn dịch thì nên được tiêm chủng ít nhất 3 tháng trước khi thụ thai Các chiến dịch tiêm chủng vaccin hiện đã được thực hiện thành công với quy mô ngày càng tăng, và cho thấy rằng tiêm chủng trước khi thụ thai là an toàn và hiệu quả để ngăn ngừa hội chứng rubella bẩm sinh Vaccin kháng HPV (human papillomavirus) cũng được khuyến cáo sử dụng trong các năm đầu của độ tuổi sinh sản để ngăn ngừa ung thư cổ tử cung Tổng hợp các nghiên cứu lâm sàng cho thấy vaccin HPV là an toàn, nhưng vẫn chưa chứng minh được tác động có lợi trên hệ quả thai kỳ Cytomegalovirus (CMV) là nguyên nhân hàng đầu gây điếc và thiểu năng trí tuệ ở trẻ nhũ nhi Các y văn hiện có cho thấy người mẹ bị nhiễm CMV trước khi thụ thai có nguy cơ truyền virus cho trẻ sơ sinh thấp hơn các bà mẹ bị nhiễm khi đang mang thai Các bằng chứng mạnh hơn của các nguy cơ không mong muốn đi kèm với việc tiêm ngừa trước khi thụ thai là rất cần thiết để phát triển một loại vaccin có hiệu quả; và cho đến lúc đó, phụ nữ nên được cảnh báo về các nguy cơ, và các cách thức để bảo vệ bản thân họ không bị phơi nhiễm, như tránh tiếp xúc với nước bọt và nước tiểu của trẻ nhỏ

Hiện có một số lượng lớn gây kinh ngạc khi mà phụ nữ trong độ tuổi sinh sản vẫn tiếp tục sử dụng caffein, rượu, thuốc lá hoặc các chất cấm Ví dụ như, hơn một nửa phụ nữ mang thai ở Hoa Kỳ được ghi nhận là có sử dụng rượu trong thời gian mang thai, và 40,000 đứa trẻ được sinh ra với tình trạng rối loạn phát triển ở bào thai do rượu.13 Các can thiệp tư vấn và thay đổi hành vi trước khi thụ thai để giảm sử dụng rượu và cung cấp các biện pháp tránh thai đã làm cải thiện đáng kể thói quen uống rượu và giảm các ảnh hưởng của rượu lên thai kỳ Hút thuốc khi mang thai cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ trẻ bị sinh non Tư vấn trước khi thụ thai làm tăng số lượng phụ

nữ bỏ hút thuốc trước khi mang thai lên gấp 3 lần Mặc dù vấn đề gây lo ngại là phụ

nữ tiếp tục tự đặt mình vào nguy cơ, nhưng không nên chối bỏ trách nhiệm của nhân viên y tế khi thường không can thiệp để cải thiện các nguy cơ này Hơn nữa, mặc dù

có một số nhận thức trong cộng đồng về việc sử dụng rượu và các tác động có hại của

nó trên thai kỳ, nhưng người ta chỉ có thể suy đoán mức nguy cơ có thể gặp khi sử dụng các chất đó, còn các hậu quả gì sẽ xảy đến thì lại không được biết Ví dụ, chúng

71

Can Thiệp Trong Giai Đoạn Trước Khi Mang Thai

Trang 10

ta biết rằng sử dụng caffeine quá 300 mg/ngày, rất phổ biến ở một số nước, sẽ làm tăng nguy cơ sẩy thai sớm tới 31% (KTC 95%: 8 - 38%)

Y văn đã chỉ rõ sự cần thiết của việc đưa chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai là một phần của chăm sóc sức khỏe liên tục để đảm bảo phụ nữ và các cặp vợ chồng là khỏe mạnh trước khi thụ thai.14-21 Việc cung cấp các biện pháp chăm sóc sức khỏe này nên được bắt đầu ở độ tuổi thiếu niên để ngăn chặn việc mang thai sớm, khi mà nguy

cơ của cả mẹ và con đều cao hơn đáng kể Thiếu nữ trong độ tuổi thiếu niên và phụ nữ cần được trang bị các kĩ năng cần thiết để đưa ra các quyết định liên quan đến sức khỏe của bản thân và để tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Lập kế hoạch sinh sản và khoảng cách giữa các lần sinh là một phần không thể thiếu của chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai, và có khả năng ngăn chặn tử vong ở người mẹ, thai chết lưu và tử vong ở trẻ sơ sinh Tình trạng dinh dưỡng trước khi thụ thai cũng nên được đánh giá, và các phụ nữ thừa cân nên được khuyến khích giảm cân để đạt cân nặng lý tưởng nhằm ngăn ngừa các biến chứng ở người mẹ như: tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ và xuất huyết sau sinh Tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên bổ sung nhiều loại vitamin với ít nhất 400 µg axit folic hàng ngày để ngăn ngừa các dị tật bẩm sinh, đặc biệt là khuyết tật ống thần kinh Phụ nữ cũng nên được tầm soát các bệnh mạn tính, và các biện pháp kiểm soát đường huyết nên được bắt đầu cho các phụ nữ bị đái tháo đường để ngăn ngừa tử vong chu sinh và các dị tật bẩm sinh Chăm sóc sức khỏe trước khi thụ thai chỉ đơn giản là sự mở rộng hợp lý các chăm sóc trong thời gian mang thai, nhưng các biện pháp nhỏ này sẽ tạo ra một tác động lớn trong việc đảm bảo rằng mỗi trường hợp mang thai đều được lên kế hoạch và trong tình trạng khỏe mạnh, và cả mẹ và con đều sẽ không còn có nguy cơ

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc tiếp xúc với môi trường ô nhiễm gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sinh sản của con người Các phụ nữ tiếp xúc với các chất phóng xạ hoặc chất diệt côn trùng trước khi thụ thai có nguy cơ sẩy thai trong 3 tháng đầu thai kỳ tăng lên xấp xỉ 30% Việc tiếp xúc với chất phóng xạ của người cha trước khi thụ thai sẽ làm tăng nguy cơ thai nhi bị giới hạn tăng trưởng

Kết Luận và Đề Nghị

Tuyên Bố Công Khai

Không có

Ngày đăng: 23/05/2021, 04:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w