1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ

86 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Lời cảm ơn đầu tiên và sâu sắc của tôi xin được dành gửi tới PGS.TS Đặng Thị Lan - người đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn, giúp tôi có t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ QUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ QUYÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO

ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số : 60220301

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS ĐẶNG THỊ LAN

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng bản thân tôi, tôi tự nghiên cứu, tự tìm hiểu và hoàn thiện luận văn trong đó có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước với những trích dẫn vá sử dụng trong giới hạn cho phép

Luận văn này chưa được công bố trên các phương tiện thông tin, cũng không trùng với bất cứ luận văn nào tại thời điểm hiện tại

Hà Nội, ngày 25 tháng 07 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Quyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn đầu tiên và sâu sắc của tôi xin được dành gửi tới PGS.TS Đặng Thị Lan - người đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn, giúp tôi có thêm nhiều kiến thức về vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với thanh niên hiện nay cũng như giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Triết học, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi, dành nhiều công sức giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian qua

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, song không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự cảm thông và đóng góp ý kiến của quý các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến những vấn đề được trình bày trong luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Quyên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM 10

1.1 Một số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo 10 1.2 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 36

Chương 2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 43

2.1 Khái quát thực trạng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay 43 2.2 Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến việc định hướng giá trị đạo đức cho thanh niên 45 2.3 Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo với việc hình thành niềm tin, lý tưởng, tình cảm đạo đức cho thanh niên 48 2.4 Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo với việc điều chỉnh hành vi đạo đức của thanh niên 54 2.5 Một số khuyến nghị nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức phật giáo đối với đạo đức thanh niên hiện nay 65

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 6

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CNXH : Chủ nghĩa xã hội CLB : Câu lạc bộ

Nxb : Nhà xuất bản

Tp : Thành phố

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo Phật là một hình thái triết học, tôn giáo và đạo đức ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên, được truyền vào Việt Nam khoảng đầu công nguyên Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng được “Việt Nam hóa” cho phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam, văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam, có sức sống lâu dài và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại

Ngay từ khi du nhập vào Việt Nam, với những tư tưởng giáo lý gần gũi với tín ngưỡng, phong tục, tập quán của dân tộc nên Phật giáo đã nhanh chóng hội nhập với văn hóa Việt Nam Ở nước ta, Phật giáo và tư tưởng dân tộc có mối quan hệ mật thiết với nhau, ban đầu mối quan hệ này là mối quan hệ hai chiều: Nếu như Phật giáo ảnh hưởng đến quá trình hình thành tư tưởng con người Việt Nam thì những phong tục tập quán, truyền thống dân tộc cũng tác động trở lại Phật giáo tạo nên một dòng Phật giáo riêng đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Hiện nay, Phật giáo vẫn là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt Nam Nhiều người Việt Nam tuy không theo Phật giáo song vẫn tự nguyện thực hiện những nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức Phật giáo xem đó là một trong những phương châm sống của mình

Từ những năm cuối của thế kỷ XX, đất nước ta ngày càng chịu nhiều tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Bên cạnh những thành tựu đáng tự hào trên tất cả các mặt của đời sống xã hội thì có một điều không thể phủ nhận đó là sự mất cân đối trong quá trình phát triển con người - xã hội trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là sự thoái hóa đạo đức của một bộ phận giới trẻ, thanh niên Thực trạng đạo đức thanh niên hiện nay có nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết Bên cạnh những thanh niên có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức học tập và lao động, có sự cống hiến không nhỏ cho dân tộc thì có một bộ phận không nhỏ thanh niên đang có biểu hiện đi xuống của nhân cách đạo đức, nhiều biểu hiện của lối sống sa đọa trái với thuần phong mỹ tục của

Trang 8

dân tộc Thái độ coi thường những giá trị truyền thống là nguyên nhân dẫn đến các

tệ nạn xã hội đang ngày càng có chiều hướng gia tăng trong thanh niên và giới trẻ

Họ có xu hướng đề cao cá nhân, sống ích kỷ, lạnh lùng, không có tình nghĩa, ít chú

ý đến nghĩa vụ và trách nhiệm, ít quan tâm đến những người xung quanh… Hàng loạt những hiện tượng đau lòng diễn ra ở chốn học đường và trong xã hội khiến chúng ta không thể làm ngơ

Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nền đạo đức mà chúng ta đang xây dựng cần phải hướng tới một hệ thống giá trị tinh thần mà ở đó cái truyền thống và cái hiện đại cần phải được kết hợp với nhau chặt chẽ để nền văn hóa dân tộc nói chung và các giá trị đạo đức truyền thống nói riêng tham gia vào sự hòa nhập với các giá trị phổ biến toàn nhân loại mà không bị hòa tan, không làm mất đi bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Thanh niên là rường cột của nước nhà, là những chủ nhân tương lai của đất nước, nguồn lao động dồi dào của cả dân tộc Nước nhà mạnh hay yếu là do thanh niên Việc giáo dục đạo đức cho thanh niên hiện nay trở thành vấn đề cấp bách nhằm đào tạo một thế hệ có trí tuệ, có thể chất cường tráng, đời sống tinh thần và đạo đức trong sáng, giàu bản lĩnh và thực sự có ý thức, trách nhiệm công dân, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng đất nước

Để thực hiện tốt quá trình này cần có nhiều biện pháp và những chủ thể khác nhau Bên cạnh công tác giáo dục của nhà trường, của các đoàn thể xã hội, của pháp luật, đạo đức Phật giáo sẽ là một nhân tố quan trọng góp phần điểu chỉnh đạo đức và lối sống cho thanh niên nếu như chúng ta biết phát huy những giá trị tích cực của nó Là một thành tố tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, đạo đức Phật giáo đã giao thoa, hòa quyện, làm phong phú đạo đức truyền thống Việt Nam Tinh thần từ bi, hướng thiện của Phật giáo là một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân văn, tư tưởng bình đẳng, hòa bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hội nhập cùng phát triển hiện nay của các dân tộc khác nhau trên thế giới Chính vì vậy, kế thừa, phát huy và có những phương pháp cụ thể nhằm chuyển tải giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức Phật giáo đến với giới trẻ, chắc chắn Phật giáo sẽ có những đóng góp hữu hiệu đối với quá trình giáo dục đạo đức cho thanh niên ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tôn giáo một cách khách quan khoa học, Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu và quyền lợi tinh thần của một bộ phận nhân dân, nó còn tồn tại lâu dài và chi phối đời sống tinh thần văn hóa của một bộ phận dân chúng, trong đó có những giá trị đạo đức phù hợp với lợi ích toàn dân, với công cuộc xây dựng xã hội mới Việc khai thác những yếu tố tích cực của đạo đức Phật giáo và hạn chế những tác động tiêu cực của nó nhằm xây dựng đạo đức cho thanh niên hiện nay là điều rất cần thiết Xuất

phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Ảnh hưởng của

đạo đức Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài

luận văn thạc sĩ Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới, Phật giáo có lịch sử phát triển lâu dài và có nhiều đóng góp cho tư tưởng cũng như đời sống nhân loại trên nhiều phương diện Bên cạnh những giá trị về tư tưởng mang tính triết học sâu sắc, Phật giáo còn là triết lý sống, lối sống đang hấp dẫn một bộ phận không nhỏ các dân tộc trển thế giới Chính vì vậy, Phật giáo được đông đảo giới khoa học trong và ngoài Phật giáo quan tâm nghiên cứu Về các công trình nghiên cứu, chúng tôi có thể xếp thành các nhóm sau đây:

2.1 Các công trình nghiên cứu cơ bản về Phật giáo và đạo đức Phật giáo

Đạo đức Phật giáo không chỉ được bàn đến trong một số các công trình riêng biệt mà trong nhiều cuốn sách bàn về Phật giáo nói chung, các tác giả đã đề cập khá nhiều đến đạo đức Phật giáo cũng như vai trò của đạo đức Phật giáo trong đời sống

xã hội

Bộ sách: “Việt Nam Phật giáo sử luận” (3 tập, 1994) của Nguyễn Lang, Nxb Văn học và cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát đã khái quát một

cách toàn diện sự phát triển Phật giáo Việt Nam theo từng giai đoạn Đây là tư liệu

có giá trị đã khảo cứu Phật giáo Việt Nam một cách hệ thống, trong đó có nhiều phần viết về vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc

Trang 10

Cuốn “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Hinh (1999),

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội có nội dung bước đầu tìm hiểu hệ thống hóa tư liệu nội dung tư tưởng Phật giáo Việt Nam, nghiên cứu tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua đó làm rõ đặc điểm Phật giáo Việt Nam với tư cách là một sản phẩm tôn giáo được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng, tâm linh cư dân bản địa có tiếp thu tôn giáo ngoại nhập

Các cuốn sách: “Việt Nam Phật giáo sử lược”của Hoà thượng Thích Mật Thể và “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” do tác giả Nguyễn Tài Thư chủ biên đã hệ

thống hoá Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập đến thế kỷ XX Các tác giả đã chỉ rõ Phật giáo đến Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau, vào các thời điểm khác nhau từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ XVI

Cuốn “Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hùng Hậu

(2002), Nxb Khoa học xã hội; với nội dung bàn đến Phật giáo từ giai đoạn du nhập đến hết thời Trần Tác giả cho rằng Triết học Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu

là Triết học Phật giáo Với mục đích cứu con người thoát khổ, nhìn vẻ ngoài, Phật giáo chủ yếu bàn về nhân sinh Nhưng để cho quan niệm nhân sinh này tồn tại một cách vững chãi phải dựa trên một cơ sở triết học, một nền tảng lý luận vô cùng sâu sắc Từ chỗ bàn về thế giới quan Phật giáo và nhân sinh quan Phật giáo nguyên thuỷ, tác giả bàn về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam, sự độc đáo

và sáng tạo của Phật giáo Việt Nam

Năm 2008, Nxb Phương Đông, Hà Nội đã xuất bản cuốn “Sức mạnh của

Đạo Phật”của tác giả Jean – Claude Carriere, người dịch là Nguyễn Tiến Lộ Đọc

cuốn sách nà chúng ta thấy được những mảng đề tài, những câu chuyện dẫn giải gần gũi, giản dị, khúc triết và thực tiễn về Phật giáo Tác giả đã đề cập đến một thực tế hiện nay là khi con người tham vọng, chạy đua, vươn tới những đỉnh cao danh vọng

và giàu có vật chất, thì đời sống tâm linh, cái Đạo, cái Tâm, cái Thiện trong mỗi con người có khi bị thu nhỏ lại, nhường chỗ cho những băn khoăn, trăn trở, lo toan, cho những ham muốn bất tận của cuộc sống

Trang 11

Năm 2010, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho xuất bản cuốn “Tìm

hiều chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam” của tác giả Trần Hồng Liên Trong

cuốn sách này, tác giả đã làm rõ các vấn đề như: Chức năng của Phật giáo đối với vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, giúp người đọc hiểu rằng dù tác động trên bất cứ lĩnh vực nào thì tựu trung lại, Phật giáo cũng chỉ nhằm vào việc mang lại sự an vui, niềm hạnh phúc về cả vật chất và tinh thần cho con người

Trong tác phẩm: “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người

Việt Nam hiện nay” do tác giả Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1997; phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào khái niệm từ, bi, hỉ, xả

cùng các giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư tưởng của con người Việt Nam

Cuốn “Đạo đức học Phật giáo” của Hoà thượng Thích Minh Châu (chủ biên,

1995), Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành là cuốn sách bao gồm nhiều bài viết đã phản ánh những nội dung cơ bản về đạo đức Phật giáo và vai trò của nó trong việc bảo tồn và phát huy truyền thống đạo đức dân tộc Nhiều tác giả đã phân tích sâu

cơ sở và các phạm trù đạo đức Phật giáo, trong đó có các nội dung quan trọng như giới,

hạnh, nguyện, thiện, ác…

Tác giả Đặng Thị Lan với công trình “Đạo đức Phật giáo với đạo đức con

người Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2006 đã bàn đến những vấn đề

trọng tâm của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với việc xây dựng nền tảng đạo đức trong xã hội, cùng với những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo, vận dụng những giá trị tốt đẹp của đạo đức Phật giáo trong việc hoàn thiện đạo đức, nhân cách con người Việt Nam hiện nay

2.2 Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam và thanh niên Việt Nam

Hướng nghiên cứu này có các tác phẩm chủ yếu sau: “Tìm về bản sắc văn

hoá Việt Nam”của Trần Ngọc Thêm, Nxb T.p Hồ Chí Minh (1997); “Thiền học Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Thuận Hoá (1997); Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của Trần Văn Giàu, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội

Trang 12

(1980); “Văn hoá Phật giáo và lối sống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ” của Nguyễn Thị Bảy, Nxb Thông tin, Hà Nội (1997); “Phật giáo với văn hoá Việt

Nam” của Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội (1999)

Ngoài các công trình khoa học trên còn có rất nhiều bài viết đăng trên tạp chí

thuộc các ngành khoa học xã hội về đạo đức như: Đặng Hữu Toàn “Hướng các giá

trị truyền thống theo hệ chuẩn giá trị chân - thiện - mỹ trong bối cảnh toàn cầu hoá

và phát triển kinh tế thị trường”(Tạp chí triết học, số 4 – 2001, tr.27- 32); tác giả

Trần Nguyên Việt với “Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn

nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường”(Tạp chí triết học, số 5 – 2002,

Hồng với “Ảnh hưởng của Đạo đức Phật giáo đối với đời sống đạo đức của xã hội

Việt Nam hiện nay” (Luận án Tiến sĩ triết học, năm 2003) Đây là luận án khá công

phu, khảo cứu vị trí của vấn đề đạo đức trong tư tưởng Phật giáo, nội dung, đặc điểm, nếp sống và giá trị đạo đức Phật giáo, sự dung hợp giữa đạo đức Phật giáo với đạo lý Việt Nam, sự ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở Việt Nam hiện nay và những giải pháp chủ yếu định hướng đối với những ảnh hưởng của Phật giáo Luận án đề cập đến nhiều vấn đề thuộc đời sống đạo đức, song vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam chưa được đề cập

Luận án Tiến sĩ: “Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con

người Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Lan năm 2004, trường Đại học khoa học xã

Trang 13

hội và nhân văn Hà Nội đã khái quát khá đầy đủ các nội dung căn bản nhất của đạo đức Phật giáo mà theo tác tác giả đây cũng là những vấn đề có ảnh hưởng sâu đậm nhất đên đạo đức con người Việt Nam Đặc biệt, luận án đã luận giả một cách thành công ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam trong truyền thống cũng như trong hiện tại nhất là giai đoạn Lý – Trần Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay cũng được tác giả khảo cứu công phu dưới hai lát cắt là: ảnh hưởng đến ý thức đạo đức và ảnh hưởng đến hành vi đạo đức Một số tác động tiêu cực của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam cũng được tác giả đề cập và lý giải dưới góc độ triết học Mỗi một tôn giáo đều có thế giới quan và nhân sinh quan riêng Thế giới quan và nhân sinh quan ấy hàm chưa những tư tưởng về đạo đức Khi con người tiếp nhận những

tư tưởng đạo đức đó thì đồng thời cũng chịu ảnh hưởng bởi thế giới quan và nhân sinh quan của tôn giáo đó

Luận án Tiến sĩ “Đạo đức Phật giáo với công tác giáo dục thanh thiếu niên

tín đồ Phật giáo Thừa Thiên Huế hiện nay” của Ngô Văn Trân bảo vệ tại Học viện

KHXH Việt Nam (2012), đã đề cập khá sâu về đạo đức Phật giáo, chỉ ra nhân sinh quan tiến bộ và độc đáo của đạo đức Phật giáo Đồng thời, luận án giới thiệu mô hình “Gia đình Phật tử” - một mô hình giáo dục thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo tại Huế, các chủ thể khác tham gia giáo dục thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo Huế và những giải pháp nhằm phát huy đạo đức Phật giáo thông qua gia đình Phật tử trong công tác giáo dục thanh thiếu niên Phật tử ở Huế Nhìn chung, luận án có những điểm độc đáo khi khai thác tác động của Phật giáo Huế đến thế hệ trẻ, song mới dừng lại khảo sát các tín đồ Phật giáo Huế mà chưa nghiên cứu rộng đến thanh thiếu niên Việt Nam nói chung

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nêu trên đã mang lại một cái nhìn khá toàn diện về lịch sử Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống

xã hội Tác giả luận văn đã kế thừa được nhiều cách đánh giá, phân tích khác nhau về Phật giáo và ảnh hưởng đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội, cũng như cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức nhân

Trang 14

cách con người Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, luận văn đi vào tìm hiểu ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo từ góc độ triết học đến đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, đặc biệt dưới tác động của kinh tế thị trường đã làm cho đạo đức của một bộ phận thanh niên biến đổi, suy thoái

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ một số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực

và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đạo đức cho thanh niên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

Một là: Trình bày những nội dung căn bản của đạo đức Phật giáo và sự du

nhập của Phật giáo vào Việt Nam

Hai là: Phân tích những ảnh hưởng chủ yếu của đạo đức Phật giáo đến đạo

đức thanh niên Việt Nam hiện nay

Ba là: Đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực

và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đạo đức cho thanh niên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đạo đức Phật giáo và các ảnh hưởng của nó đến đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đạo đức Phật giáo bao gồm nội dung rất rộng, song trong giới hạn của luận văn Thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung làm rõ một số những giá trị, nguyên tắc, chuẩn

Trang 15

mực đạo đức căn bản nhất và mang tính đặc thù của Phật giáo Đồng thời, đó cũng chính là những nội dung trong giáo lý đạo Phật có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến đạo đức con người Việt Nam nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng

- Về mặt thời gian: Luận văn khảo cứu ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức thanh niên ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay (từ 1986 đến nay)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luân văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin , kết hợp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, đặc biệt những quan điểm đổi mới nhận thức về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta từ khi đất nước đổi mới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của triết học như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, thống kê, thu thập số liệu, so sánh, đối chiếu để rút ra các kết luận, nhận định khoa học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ hơn nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo và những tác động, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, tìm hiểu về đạo đức Phật giáo và cho những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết

Chương 1: Đạo đức Phật giáo và sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam Chương 2: Những ảnh hưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo đối với đạo đức

của thanh niên VIệt Nam hiện nay

Trang 16

Chương 1 ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO

VÀO VIỆT NAM 1.1 Một số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo

Khái niệm đạo đức

Đạo đức với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh các mối quan

hệ của con người trong đời sống xã hội, do đó hiện có rất nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau về đạo đức

Theo nghĩa hẹp, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực mà nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người cũng như tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội

Theo nghĩa rộng, đạo đức là toàn bộ quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và trong quan hệ với tự nhiên

Ở phương Đông, do chịu ảnh hưởng chủ yếu từ tư tưởng đạo đức của Khổng

Tử, thường xem xét đạo đức trong phạm trù “Đạo”, đề cao chữ Nhân, chữ Nghĩa và

tư tưởng “kiêm ái” của Mặc Tử

Ở phương Tây, từ thế kỷ XVII, XVIII, cùng với sự mở rộng và phát triển của kinh tế thị trường, J.Loocco (Anh), và M.Weber (Đức) đã đề cập đến các khái niệm

về “đạo đức thị trường”, “đạo đức duy lý”

Đạo đức học Mác- Lênin cho rằng : đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, một phương thức điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua một hệ thống những giá trị, nguyên tắc, chuẩn mực biểu thị

sự quan tâm tự nguyện tự giác của con người với con người, con người với xã hội

Như vậy, theo quan điểm mác-xít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một định chế xã hội thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi con người Đạo đức

là những nguyên tắc sống, những quy phạm gắn liền và phù hợp với một hình thái kinh tế- xã hội nhất định, được hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật chất của

Trang 17

xã hội, những quy phạm, nguyên tắc, tiêu chuẩn, lý tưởng này có tính nhất thời về lịch sử và mang tính giai cấp rõ rệt

Theo tác giả Huỳnh Khái Vinh, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, gồm những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội” [76, tr 182]

Chúng tôi cho rằng đây là định nghĩa phù hợp với cách chúng tôi triển khai nội dung của luận văn

Cấu trúc đạo đức

Đạo đức vận hành như một hệ thống tương đối độc lập của xã hội Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định Chẳng hạn, xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nếu xét trong mối quan hệ giữa người với người thì nhìn ra quan hệ đạo đức Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù và cái đơn nhất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân

Đạo đức phật giáo

Theo tiến trình lịch sử, tôn giáo trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, văn minh nhân loại Xét trên bình diện thế giới, tôn giáo không chỉ là sự thể hiện niềm tin, mà còn là cầu nối văn hóa giữa các nước, các khu vực nên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người Mặc dù mỗi tôn giáo có hệ thống giáo lý riêng song về cơ bản đều hướng con người tới Chân, Thiện, Mỹ

Phật giáo là một tôn giáo lớn, đã để lại cho nhân loại nhiều tư tưởng về tôn giáo, triết học, chính trị, mỹ học, văn hóa,…trong đó nổi bật nhất là tư tưởng đạo đức Phật giáo về cơ bản không phải là một học thuyết về đạo đức, song xuất phát điểm của nó là chỉ dạy cho con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải thoát Từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, Phật giáo rút ra hệ quả của chúng để xây dựng một hệ thống quan niệm đạo đức Như vậy, đạo đức là nền tảng

Trang 18

quan trọng trong hệ thống giáo lý của Phật giáo Đạo đức Phật giáo với các chuẩn mực, giá trị đạo đức mang tính phổ quát và nhân bản có giá trị không chỉ cho những người theo đạo Phật mà có rất nhiều điểm phù hợp với đạo đức xã hội xã hội nói chung Từ những quan điểm về đạo đức ở trên, có thể định nghĩa đạo đức Phật giáo như sau:

Đạo đức phật giáo là toàn bộ những quan niệm, giá trị, những quy tắc đạo đức được thể hiện trong các giáo lý Phật giáo (đặc biệt trong các điều răn cấm) nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và xã hội theo thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo

1.1.1 Quan niệm của Phật giáo về Thiện - Ác, Từ bi

Khái niệm Thiện - Ác

Thiện và ác là hai từ của dân gian dành chỉ hai hiện tượng luôn hiện hữu trong cuộc sống, trong xử thế Người dân thường căn cứ vào cách hành xử của con người trong cuộc sống hàng ngày mà xếp người này người kia là thiện hay ác, nhưng cách đánh giá này đôi khi mang tính phiến diện Vậy để có cách nhìn, đánh giá đúng và toàn diện và Thiện, Ác, có thể tìm hiểu về khái niệm Thiện, Ác

* Thiện

Về ngữ nghĩa, thiện là tính từ chỉ phẩm chất, hành vi của con người tốt lành, hợp với đạo đức Cái thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hằng ngày Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội

Trang 19

hy sinh các động vật bé nhỏ để thử nghiệm, nếu thành công, việc làm gọi là ác ấy lại tạo ra việc thiện là có thể cứu chữa hàng trăm, hàng nghìn con người

Cặp phạm trù này đối lập mà xen kẽ, tách biệt mà giao hòa Nhận thức thiện,

ác dù dưới góc độ tâm linh, nhân thế hay khoa học đều phản ánh cái căn gốc của từ

“con” và từ “người”, phần “con” biểu lộ tính ác, phần “người” biểu lộ tính thiện

*Một số quan niệm Thiện - Ác trong lịch sử

Thứ nhất: Quan niệm của Nho giáo

Trong Luận Ngữ, tư tưởng của Khổng Tử về tính người “vốn gần nhau, do

tập tính mà xa nhau” [48, tr 2] đã gây ra nhiều cách giải thích và cách hiểu khác

nhau Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nói nhiều đến các “hạng người” với những phẩm

cách khác nhau: “Người quân tử có khi mắc phải điều bất nhân chăng? Chưa hề có

kẻ tiểu nhân làm điều nhân bao giờ” [49, tr 7]; “Người quân tử đạt tới chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp hèn” [49, tr 24]; “Đối với những người từ bậc trung trở lên, có thể dạy bảo về phần hình nhi thượng; đối với những người từ bậc trung trở xuống, không thể dạy bảo về phần hình nhi thượng vậy” [50, tr 19]

Tử Tư (483 – 402 TCN.), trong sách Trung Dung , đã dẫn lời Khổng Tử như

sau: “Hoặc sinh ra đã biết, hoặc phải học mới biết, hoặc phải cố công gắng sức mới biết, nhưng kể về hiểu biết thì như nhau” [51, tr 20] Như vậy, Khổng Tử và cháu của ông vừa muốn phổ quát hoá các phẩm cách khác nhau của con người, vừa muốn nhất thể hoá về mặt lý luận các phẩm cách đó Điều đó được thể hiện rõ nét qua việc nêu mối quan hệ giữa các hạng người về năng lực trí tuệ với tính người

Kế thừa tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử (372 – 289 TCN) đã có một cống hiến xuất sắc cho việc giải quyết vấn đề triết học về con người nói chung và vấn đề tính người nói riêng Có thể nói, ông là người lần đầu tiên đề xướng lên một học thuyết

mang tính hệ thống về tính người Học thuyết đó gọi là thuyết Tính thiện, hay còn gọi là nhân tính hướng thiện Mạnh Tử nói: “Người ta ai cũng có lòng bất nhẫn

[trước những đau khổ của người khác… Sở dĩ nói ai cũng có lòng bất nhẫn, là vì người ta chợt thấy đứa bé sắp ngã xuống giếng, ai cũng chột dạ, xót xa Chẳng phải mong làm thân với cha mẹ đứa bé, cũng không phải mong xóm làng, bạn bè khen

Trang 20

ngợi, cũng chẳng phải tránh tiếng xấu Do đó mà xét, không có lòng trắc ẩn, chẳng phải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải là người; không có lòng từ nhượng, chẳng phải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải là người vậy Lòng trắc ẩn là đầu mối của điều nhân, lòng tu ố là đầu mối của điều nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối của điều lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy Người ta có bốn đầu mối đó,

cũng như có hai tay, hai chân vậy” [47, tr 859 – 862]

Tuân Tử (khoảng 298 – 238 TCN), tác giả bộ Tuân Tử (có thể là do ông chấp bút gồm 32 thiên), là người có tư tưởng đối lập với thuyết Tính thiện của Mạnh Tử bằng khẳng định, bản tính con người vốn ác Tuân Tử viết: “Tính của

con người là ác, còn thiện là do con người làm ra Tính của con người, sinh ra là

có sự hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự từ nhượng không có; sinh ra là đố kỵ, thuận theo tính đó thì thành ra tàn tặc, mà lòng trung tín không có; sinh ra có lòng muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa văn lý không có… Cho nên phải có thầy, có phép tắc để cải hoá đi, có lễ nghĩa để dẫn dắt nó, rồi sau mới có từ nhượng, hợp văn lý mà thành ra trị Xét vậy mà thấy rõ tính của con người là ác,

mà cái thiện là do con người làm ra vậy” [56, tr.354]

Thứ hai: Quan niệm của đạo đức học Mác xít

Đạo đức học Mác xít cho rằng quan niệm thiện, ác của con người là một sản phẩm lịch sử Ở mỗi thời đại, từ những quan hệ kinh tế, xã hội và giai cấp, con người hình thành nên những quan niệm thiện hay ác khác nhau tương ứng với xã hội trong thời đại đó

VD: Cái thiện trong thời kỳ phong kiến là cơm no, áo ấm cho người nông dân chân lấm tay bùn, là đối xử thương yêu, có tình với người làm Cái thiện trong

xã hội tư bản là tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, làm sao đem lại cho công nhân chế độ làm việc và lương thưởng xứng đáng với công sức bỏ ra Ngày xưa, cái thiện

là trung với vua, hiếu với cha mẹ thì ngày nay có thêm nội dung mới là “trung với Đảng, hiếu với dân”

Trang 21

Đạo đức mang tính giai cấp do vậy thiện, ác mang tính giai cấp, giai cấp này cho là thiện thì có khi giai cấp khác cho là ác Mặc dù phản đối việc đề cao cái ác hoặc biện hộ cho cái ác, nhưng đạo đức học Mác- Lênin không đối lập một cách tuyệt đối giữa cái thiện và cái ác Do là sản phẩm của lịch sử xã hội nên quan niệm về cái ác cũng thay đổi thậm chí trái ngược nhau từ xã hội này đến xã hội khác, từ thời đại này đến thời đại khác

Thứ ba: Quan niệm về thiện – ác của Hồ Chí Minh

Giáo dục cái thiện và cái ác là vấn đề trung tâm của giáo dục đạo đức luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm coi trọng và thường xuyên quán triệt, đặc biệt là cho thế hệ trẻ hiện nay Hai phạm trù này được thể hiện khá rõ trong tư tưởng của

Hồ Chí Minh

Trong bản thân mỗi người, cái thiện, ác thể hiện trong cách nghĩ và cách giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân với tập thể, giữa công với tư Trong điều kiện nước ta hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và xã hội có ý nghĩa vô cùng thiết thực Làm tốt điều này, xã hội sẽ phát triển tốt hơn, sẽ không còn nạn quan chức quan liêu, cửa quyền, vụ lợi, vị kỷ

Trong giáo dục đạo đức, chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thiện,

ác xã hội và thiện, ác đạo đức (cá nhân) Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thiện, ác

xã hội, xét đến cùng chính là khuôn mẫu, là môi trường sản sinh ra thiện, ác đạo đức Người nhấn mạnh vai trò của nhà nước cùng với hoàn thiện chủ trương, chính sách và tổ chức xã hội có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng môi trường xã hội Vậy, mỗi người phải luôn tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách để kết hợp phù hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể để cùng toàn xã hội hành thiện, bài ác

Hồ Chí Minh đã nói “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh” [59, tr 55]

Tác giả rất tâm đắc với quan điểm của đạo Phật về vấn đề thiện ác khi đạo Phật không chủ trương lấy thiện diệt ác, mà chủ trương chuyển hóa nghiệp ác thành nghiệp thiện, chuyển hóa ba nghiệp chưa thanh tịnh thành ba nghiệp thanh tịnh,

Trang 22

chuyển hóa kẻ hung ác thành người lương thiện Đạo phật chủ trương đem lại niềm

an lạc cho cá nhân, hạnh phúc cho gia đình và hòa bình cho xã hội

Quan niệm Thiện - Ác trong Phật giáo

Phật giáo cho rằng đứa trẻ sinh ra đã có sẵn cái mầm gen thiện hay ác Cái mầm ấy không do Trời sinh ra mà do chính cái “quả” do nghiệp của kiếp trước mình tạo ra, và nó lại trở thành “nhân” của kiếp này Con người chết đi cái thân xác vật lí – sinh học bị hủy hoại nhưng Tạng thức chứa Tam nghiệp vẫn còn, và

“Nghiệp lực” đã “đẩy” Tạng thức ra khỏi thân xác tồn tại trong không gian Phật giáo cho rằng quá trình đầu thai chính là sự kết hợp của ba yếu tố: tinh trùng cha, noãn châu/ trứng mẹ và thần thức/ chủng tử của kiếp trước Đức Phật dạy rằng chính cái Thức/ Chủng tử đi đầu thai, tạo nên cái nhân đầu tiên (thiện hay bất thiện) chứ không phải do thiên tính - Trời sinh Phật giáo cho rằng, trong cùng một môi trường, điều kiện giáo dục, phát triển nhưng cá tính, hiệu quả hoạt động… của mỗi người có thể rất khác nhau là do cái “mầm giống” ban đầu (chủng

tử do kiếp trước tạo nên) khác nhau chi phối

Chủ trương của Phật giáo là chuyển hóa nghiệp ác thành nghiệp thiện và thanh lọc tâm cho thanh tịnh, chứ không phải tiêu diệt cái ác, kẻ ác Người xấu

có thể chuyển hóa thành người tốt nếu biết ăn năn, xám hối, thay đổi tính cách Trên đời không có ai hoàn thiện, tức không có ai ác hoàn toàn, cũng không có

ai tốt hoàn toàn cho nên người người nên cố thu theo Phật, thấy việc ác thì tránh, việc tốt thì làm

Vậy muốn thanh tịnh được tâm ý, con người cần phải vượt qua sự chấp thiện và ác Tức là khi làm việc thiện giúp người, giúp đời thì hãy làm bằng tất cả tấm lòng chân thành, tình thương yêu thật sự chứ không phải để sau này mong người ta sẽ trả ơn mình, hay khi đi chùa thì việc công đức vật chất, hay hương hoa cho nhà chùa thì phải với lòng nhất tâm kính lễ tôn tượng đức Phật với tâm kính noi gương chư Phật chứ không mong cầu bất cứ điều gì cho bản thân Phật tử nên hiểu rằng, đến với chùa, với đức Phật là để thư thái tâm hồn, để đức ân của Phật chiếu rọi tâm hồn mình, cho hồn mình trong sáng hơn, chứ không phải đến với

Trang 23

đức Phật để cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình, cho bản thân Vượt qua được

sự cố chấp thiện và ác, tức là mình đã thoát khỏi sự trói buộc của thiện nghiệp và

ác nghiệp, mới đi đến giác ngộ, giải thoát hoàn toàn

Thiện và bất thiện là hai phạm trù liên quan đến giới luật học hay đạo đức học, nó là cơ sở đánh giá khá chính xác phẩm cách, đạo đức từ suy nghĩ cho đến hành động của từng con người Trong con người, những cá tính đối lập, xung khắc

để dẫn đến những tư tưởng, hành vi có khi là đạo đức, có khi là phi đạo đức, chính

là các biểu hiện thiện và bất thiện Thiện và bất thiện là những hành vi đối lập, nhưng cùng tồn tại song song trong một hữu thể thống nhất là con người Theo Duy thức học Phật giáo, Tàng thức hay còn gọi là tiềm thức A-lại-da là nơi dung chứa, tích tập, huân sinh rồi huân trưởng các hạt giống thiện và bất thiện.Các chủng tử này, tiềm ẩn dưới dạng năng lực tiềm phục Các năng lực mà khi nó hiện hành đem lại những giá trị đạo đức thì đó là những hạt giống thiện.Các năng lực khi mà nó hiện hành đem lại những giá trị phản đạo đức thì đó là những hạt giống bất thiện Cái thiện thể hiện trong lối sống, cách hành xử, trong lao động Khi cái thiện được thực hiện, tức là mọi người sẽ san sẻ cho nhau những niềm vui, nỗi buồn, giúp đỡ nhau những khi hoạn nạn, sát vai nhau những lúc khó khăn, nếu trong xã hội, cái thiện được xác lập và chiếm ưu thế thì cái ác sẽ bị tiêu diệt, xã hội ổn định, người người, nhà nhà hạnh phúc Khi xã hội càng phát triển thì con người càng cần hướng đến sống thiện bởi như vậy, con người sẽ có điều kiện để sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội

Quan niệm về Thập Thiện (Mười điều lành) trong Phật giáo

Thập Thiện gồm: Không sát sinh; Không trộm cắp; Không tà dâm; Không

nói vọng ngữ; Không nói ỷ ngữ; Không nói lưỡng thiệt; Không nói ác ngữ; Không

tham lam; Không sân hận ; Không si mê

Một là: không sát sinh

Sát sinh là sự sát hại sinh linh, đoạt mất mạng sống của các loài động vật, nặng hơn nữa đó là tội giết người Theo Phật giáo, cần tôn trọng mạng sống của người khác, kẻ khác, không chỉ là con người, mà phàm cả động vật hay thực vật, trừ

Trang 24

trường hợp bất khả kháng Phật tử không chỉ từ bỏ nghiệp sát mà còn biết khích lệ người khác từ bỏ sát sinh

Không có sự vui mừng nào hơn sự vui mừng không bị giết, không có ân huệ nào lớn hơn ân huệ cứu mạng hay không hại mạng Do vậy, không sát sinh mà lại phóng sinh là nghiệp lành đứng đầu trong Thập Thiện Nghiệp Người hằng ngày không sát sinh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân chánh để tu hành thành Phật, và đạt được mười pháp lành

Tuy nhiên, việc có phạm vào tội sát sinh hay không còn tùy trường hợp, hoàn cảnh và đặc trưng, tâm tính của các loài Ví dụ như việc giết kẻ ác để trừ hại cho dân, cho người, giết các con vật to lớn, hung hăng không thể thuần hóa thì đó không coi là việc ác, vì việc làm ấy đem lại lợi ích cho đa số Hoặc với cỏ cây, tuy có những biểu hiện của một sinh mệnh, đó là có sinh, có lớn, có tồn tại, có chết đi, nhưng không có tình thức, khi bị đốn ngắt cỏ cây chỉ có phản ánh vật lí mà không có phản ánh tâm lí, không khởi sinh sự khổ đau hay chống cự để giành giật sự sống, như vậy hành động

đó không bị coi là ác, là phạm vào tội sát sinh

Xem xét tội sát sinh còn ở mức độ nặng hay nhẹ thì còn tùy vào hoàn cảnh

cụ thể, nếu biết rõ đối tượng là loài hữu tình mà vì lợi ích cá nhân vẫn cố tình sát hại thì tội nghiệp rất nặng; nhưng vì vô tình mà giết hại thì tội nhẹ hơn Hay không

có tâm sát hại hoặc không biết mà cũng không có sự hiện diện của đối tượng bị sát hại thì không phải chịu nghiệp báo bởi sự sát hại

Theo tâm trạng, thì nặng nhất là tội do tâm sân hận, biết phạm pháp luật mà vẫn cố ý giết hại kẻ khác, tội này phải bị đày vào địa ngục Vô gián, A Tỳ Thứ đến

là tội tuy có sân hận kích động, nhưng nội tâm không rõ ràng hoặc trong tâm tuy rõ ràng mà không sân hận trong khi thực hiện việc sát sinh Tội nhẹ là không sân hận,

do không hiểu biết mà giết nhầm

Theo đối tượng bị giết cũng có nặng nhẹ khác nhau như phá hủy thân Phật, giết hại các thánh nhân, những người có công lao to lớn với nhân loại, với dân tộc, giết hại cha mẹ, anh em, bạn hữu, thứ đến là phạm tội giết các người khác và tội giết hại các loài chúng sinh để ăn thịt Phàm là sát sinh thì đều có tội

Trang 25

Theo thời gian giết hại cũng phân ra nặng nhẹ, nếu sau khi sát sinh mà tâm vui vẻ, không cảm thấy tội lỗi, không biết hối hân thì tội nặng, nhưng sau khi sát sinh, thấy tội lỗi, thấy buồn, thấy hối hận, thậm chí tìm cách bù đắp cho sai lầm của mình thì tội nghiệp sẽ nhẹ hơn

Để trau dồi từ bi thì chẳng những không sát sinh mà nên thực tập ăn chay, tức là không ăn thịt chúng sinh Việc ăn chay vừa tốt cho sức khỏe đó là ta không ăn phải chất độc từ máu của động vật tiết ra do giãy giụa sỡ hãi lúc sắp bị giết thịt, ăn chay cũng giúp bản tính hiền thục, bớt nóng nảy hơn là ăn thịt Ngoài ra, nếu thường xuyên thực hiện việc phóng sinh bằng việc cứu giúp những sinh mạng sắp bị giết thì phúc đức sẽ vô cùng to lớn

Hai là: Không trộm cắp

Không trộm cắp là không lấy những vật gì không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc người ta không cho mình, ví dụ như trộm cắp tài sản của công, hối lộ, trốn thuế, chiếm dụng tài sản bất hợp pháp… đều là trộm cắp Người trộm cắp không những đánh mất lương tâm, nhân cách của mình mà còn gieo đau khổ cho người khác Tài sản, vật chất là thứ quý giá với con người, con người phải nỗ lực làm việc mới có được nó, thậm chí, có người phải hy sinh cả cuộc đời để dành dụm được tài sản nhất định cho mình, cho nên khi bị mất đi tài sản riêng, người đó sẽ vô cùng đau khổ, thậm chí như mất đi một phần cơ thể của mình, nếu tài sản đó đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt của họ Có người bị mất nhiều, có người buồn phiền, thất vọng sinh đau ốm, có khi tìm đến cái chết vì không thể chịu nổi Như vậy, tội căn của người ăn trộm lớn lắm, vì đã gián tiếp cướp đi sinh mạng của người khác

Hơn nữa, theo lẽ công bình, mình không muốn ai lấy của mình thì mình đừng lấy của người khác, việc nào gây đau khổ cho mình thì đừng làm với người khác Đặc biệt, nên hiểu rằng, thứ có được không phải do công sức mình làm ra thì cũng

sẽ nhanh chóng tan biến, hơn nữa, tài sản có được từ việc trộm cắp thì tâm không bao giờ được thảnh thơi, mà còn bị người đời khinh bỉ, tạo nghiệp cho đời sau Kẻ phạm tội trộm cắp, tùy theo nặng nhẹ, kiếp sau phải chịu vào một trong các đường

Trang 26

xấu của Lục đạo (sáu đường luân hồi) Quả dị thục nhẹ nhất của trộm cắp là bị tổn hoại tài sản

Các hình thức bị coi là trộm cắp:

Nhặt được của rơi mà sinh lòng tham không trả lại cho người

Buôn gian bán lận, cân non, cân thiếu, bớt xén của người khác

Đột nhập vào nhà khác lấy của cải, thậm chí nếu giết người để lấy của cải thì phạm thêm tội sát sinh

Lợi dụng lòng tin của người khác để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản

Vay mượn không trả, dung túng kẻ khác trộm cắp, hay tham nhũng của công Theo hành thập thiện thì không những không trộm cắp mà cần phải chuyên tâm thực hành hạnh bố thí, tức là cứu giúp người hoạn nạn, khó khăn Một xã hội không còn trộm cắp, mọi người luôn biết yêu thương, giúp đỡ nhau thì xã hội sẽ được thái bình, an lạc, hạnh phúc biết bao!

Ba là: Không tà dâm

Với người xuất gia, muốn chứng quả, thành đạo, phải đoạn trừ dâm tục ở thân cũng như ở tâm, còn với người tại gia, không tà dâm tức là phải đăng ký kết hôn rồi mới được chung sống với nhau như vợ chồng hoặc khi đã là vợ chồng thì cần chung thủy, có tiết độ, không lang chạ, ngoại tình

Trong kinh Đức Phật khẳng định ân ái dâm dục là một ác nghiệp ghê gớm, không bao giờ song hành với Bồ đề giải thoát,vì thế những người xuất gia phải đoạn trừ lòng dâm tục

Trong gia đình, chồng không tà dâm, vợ không ngoại tình thì cuộc sống an vui, hạnh phúc, sự nghiệp vững bền, dòng họ an vui

Những người biết tu tập thực hành việc tốt, thực hành Thập thiện nghiệp, không những tránh được mọi nghiệp ác và gây được nhiều quả lành trong đời sống hiện tại Người không tà dâm thì tinh thần thoải mái, an vui, được hưởng nhiều quả lành ở kiếp sau

Bốn là: Không nói dối

Là những lời nói sai sự thật, gây ảnh hưởng tới người khác

Trang 27

Có nhiều loại nói dối: nói dối vì đùa vui, nói dối để lừa phỉnh, để khoe khoang, nói dối vì sợ hãi hay nói dối để thu lợi bất chính Chỉ có trường hợp nói dối với mục đích cứu khổ độ nguy, giải cứu nguy nan cho chúng sinh, cho người và vật, mới không phạm tội

Năm là: Không nói thêu dệt

Tức lời nói không đúng sự thật, có sự thêu dệt, có lời đường mật nhưng tâm không tốt, làm lung lạc lòng người Về cơ bản, nói thêu dệt cũng là một hình thức của nói dối nhưng tinh vi, khó phát hiện hơn, chỉ khi nào mục đích của người nói thêu dệt được thực hiện thì người khác mới biết, vì thế có thể nói nói thêu dệt còn nguy hại hơn nói dối Nếu như nói dối là nói sai sự thật thì nói thêu dệt là nói văn hoa, tinh vi có ý đồ, mục đích hẳn hoi Người nói thêu dệt sẽ bị mọi người cười chê,

xa lánh, bị mất niềm tin

Sáu là: Không lưỡng thiệt

Là cùng một hiện tượng, sự kiện nhưng được thông tin, diễn giải với nội dung xuyên tạc khác nhau nhằm ly gián, gây mâu thuẫn Những người gây phải tội lỗi như trên như bị quả báo là câm ngọng, sứt môi hay nhiều lưỡi hay bị đày xuống địa ngục, kiếp sau thành súc sinh Do đó, là đệ tử của Phật, chúng ta phải “Từ bỏ nói lời đòn xóc, chấp nhận từ bỏ nói lời đòn xóc và tán thán từ bỏ nói lời đòn xóc”

Bảy là: Không ác khẩu

Là những lời nguyền rủa, chửi thề, nói tục nói bậy hay lời nói dữ dằn, độc ác xuất phát từ tâm niệm sân si Ác khẩu thường đem lại đau khổ, buồn phiền, bực bội cho người khác

Trái lại không ác khẩu là lời nói dễ nghe, nhẹ nhàng, dễ cảm mến, tạo được

sự tin tưởng Dù là lúc vui hay lúc buồn, dù là với người trên hay dưới, sang hay nghèo thì đều nói những lời khiến người khác cảm thấy dễ chịu

Lời nói rất quan trọng trong cuộc sống, ảnh hưởng đến tất cả mọi người Một lời nói có giá trị có thể giúp được rất nhiều người, nhưng một lời nói thô lỗ, phỉ báng, khó nghe có thể dẫn đến những hành động sai trái Vì thế, không nói lời độc

Trang 28

ác là một hạnh tu trong Hành Thập Thiện Đó là hạnh tu nói lời dễ nghe, dịu dàng,

dễ cảm mến để tránh mang tội ác

Tám là: Không tham lam

Lòng tham là cái gốc của sinh tử luân hồi

Lòng tham hay sự ham muốn dục lạc bao gồm Ngũ dục: Tài (tiền), danh

(danh vọng), sắc (sắc đẹp), thực (sự ăn uống) và thùy (ngủ nghỉ) Năm điều này con người không thể tránh khỏi Khi lòng tham được thỏa mãn thì con người sung sướng, hạnh phúc, còn ngược lại, khi lòng tham không được thỏa mãn thì con người

dễ bất mãn, khổ đau, chán chường

Lòng tham của con người là “cái thùng không đáy”, không biết bao nhiêu cho đủ đầy Chưa có thì muốn có, có rồi lại muốn có cái nhiều hơn, tốt hơn Vì thế, suốt cuộc đời con người cứ phải suy nghĩ, phải làm việc để chạy theo sự ham muốn của mình, điều đó khiến con người chẳng bao giờ cảm thấy thảnh thơi và hạnh phúc được cả Bởi hạnh phúc là sự thỏa mãn, mà không bao giờ chịu bằng lòng với những gì mình có thì sẽ không bao giờ có được hạnh phúc

Chín là: Không sân hận

Đó là người luôn giữ được sự điềm tĩnh, không nổi nóng, giận hờn, oán trách, sẵn sàng đối mặt với những khó khăn, thậm chí tươi tỉnh đón nhận những điều xảy ra mà không theo ý muốn Người không sân hận biết rằng chỉ còn cách

là bình tĩnh giải quyết vấn đề đã xảy ra thay vì bực tức không giải quyết được vấn đề Hơn nữa, người không sân hận không bao giờ có thái độ đố kỵ, ghen ghét, thậm chí còn vui trước thành công và hạnh phúc của người khác

Trái lại, người sân hận là người hay ghen ghét, đố kỵ, hay nổi nóng, thể hiện

sự khó chịu, sự không vừa ý của mình qua từng nét mặt, cử chỉ, lời nói, họ sẵn sàng phản ứng gay gắt bằng những lời nói rất khó nghe, làm tổn thương người khác, và

họ cảm thấy hả dạ vì điều ấy

Tính cách sân hận gây ra rất nhiều tai hại, nó như một ngọn lửa thiêu đốt bản thân và những người xung quanh, gây mất đoàn kết bạn bè, mất hòa khí gia đình, anh em Nặng hơn nữa, gây đổ vỡ hạnh phúc, tan nát gia đình, xã hội rối loạn Con

Trang 29

người sống với nhau không có tình yêu thương, bao dung, vị tha, không có sự tỉnh táo, gây ra bao nghiệp ác

Trên thực tế, muốn diệt trừ sân hận, ngoài việc phát khởi hạnh từ bi hỷ xả thì phải biết dẹp cái ngã, dẹp bớt cái tôi của mình, có như vậy, cuộc sống luôn thanh thản, được mọi người yêu mến, kính trọng

Mười là: Không si mê

Người không si mê là người có trí tuệ sáng suốt, có hiểu biết đúng đắn, biết làm điều lành, tránh điều ác Trái lại, người si mê là người thiếu hiểu biết, trí tuệ hạn hẹp, cố chấp, dễ bị lợi dụng, sai khiến, dễ lạc vào con đường sa ngã bởi thiếu hiểu biết và thiếu bản lĩnh

Đức Phật dạy muốn diệt trừ nghiệp si mê phải trải qua tam vô lậu học tức là giới, định, tuệ Nhờ nghiêm trì giới luật mới phá trừ được si mê, mới thành tựu được nhiều công đức

Theo đạo Phật, con người muốn có cuộc sống an lành, hạnh phúc thì phải thực hiện mười pháp lành trên, tức là thực hành những chuẩn mực đạo đức của đức Phật

răn dạy Pháp lành tức là những thiện pháp cần được thể hiện cụ thể, điều này có

nghĩa là những gì chúng ta nghĩ là tốt, biết là tốt thì điều đó chưa đủ để trở thành người tốt, mà nó cần được thể hiện cụ thể qua cuộc sống, cần được tôi luyện, cần được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động cụ thể của thân, khẩu, ý Người nào thực hiện được mười điều thiện, người đó sẽ cảm hóa được những người xung quanh, người ấy sẽ được mọi người yêu mến, chính bản thân họ đã tiêu diệt đi sự tranh đua, hóa giải những tị hiềm, đố kị, tạo ra sự an lạc cho mọi người và chính họ Từ bỏ sát sinh, cứu sống mạng người sẽ được trường thọ, ngược lại, tiếp tục giết hại thì mạng căn ngắn ngủi và đầy bệnh tật Quảng đại bố thí sẽ đưa đến giàu có, trộm cắp dẫn đến nghèo khổ Giữ giới thanh tịnh thân sẽ được cường tráng, an vui; phá giới, tà dâm thân thể sẽ bạc nhược, gia đình tan rã Nói lời chân thật sẽ được tin cậy, nói dối đem lại bất tín Nếu biết tự mãn không tham lam, đời sống sẽ sung túc Có lòng từ bi sẽ được đối xử tử tế và kính trọng, độc ác sẽ bị đối xử tệ bạc và nghi ngờ Giảng nói điều chân chính thì thông minh và trí tuệ sẽ tăng trưởng, chấp nhặt vào sự hiểu biết

Trang 30

sai lầm thì tâm trí sẽ nhỏ hẹp và ngu đần Có thể nói, mười điều thiện của đạo Phật là một nền tảng những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể, bao trùm tất cả mọi hành vi, lẽ sống của con người

* Từ bi

Từ bi là một trong Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) của Phật giáo, là những giá

trị cơ bản nhất của đạo đức Phật giáo Đạo Phật thường được coi là một tôn giáo từ

bi, tỏa rộng tình thương không giới hạn đến muôn loài, không chỉ là con người mà còn là tình thương đối với các loài vật, cỏ cây…tồn tại trong môi trường tự nhiên nói chung Trong nhiều kinh Phật, Phật tổ khuyên con người không vô cớ chặt cây, khai quật thổ nhưỡng bừa bãi mà nên tôn trọng sự sống, bảo vệ thiên nhiên xung quanh ta

Từ bi là giá trị nền tảng của Phật giáo “Từ” là hiền hòa, ban cho sự vui, thể hiện

lòng khoan dung, độ lượng; “Bi” là thương xót, cứu giúp cho hết khổ Từ bi là tìm cách đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người, mọi loài, quên lợi ích của bản thân và không mong được báo đáp

Đức Phật khuyên chúng sinh tu tập lòng Từ để diệt trừ Sân tâm, tu tập tâm Bi

để dứt lòng tác hại, tu tập tâm Hỷ để diệt trừ bất lạc, tu tập tâm Xả để trừ oán hận tâm Tu tập Quán bất tịnh để trừ tâm tham ái, tu tập quán vô thường để trừ ngã mạn, kiêu căng Tâm Từ Bi Hỷ Xả quảng đại và vô biên được Đức Phật ví như một hồ

nước mát trong có sen thơm ngào ngạt làm thỏa lòng người lữ hành bốn phương khi đang trong cơn nóng bức

Cội nguồn của tâm từ bi là triết lý bình đẳng nơi chúng sinh Đạo Phật được khởi xướng bởi một người thầy đã chứng đắc chân lý và đem chân lý đó giác ngộ cho những người khác Đạo Phật không thừa nhận có một Đấng tối cao sáng tạo ra thế giới, đó là một sự bình đẳng tuyệt đối theo cách nhìn: “Phật là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”! Phật giáo ra đời là tiếng nói của đông đảo quần chúng bị áp bức trong xã hội Ấn Độ cổ đại phản kháng lại chế độ đẳng cấp nghiệt ngã của đạo Bà

La Môn Với tâm từ bi rộng mở, Phật giáo đã phá đi hàng rào ngăn cách vô nhân đạo giữa con người với con người

Trang 31

Dưới nhãn quan Phật giáo, mọi sự vật trong thế giới này là vô thường, là vô ngã, là không có thực thể Dù là sắc đẹp lộng lẫy, dù là danh vọng cao xa, dù là tiền rừng bạc biển v.v…tất cả đều là vô thường, vô ngã, không có thực thể nội tại Không có gì là cần phải tham đắm, không có gì để vơ lấy của mình Con người thấu triết lý vô ngã là con người giải thoát, tuy sống giữa đời mà không bị đời trói buộc, với thái độ luôn luôn bình tĩnh, thanh thoát, an nhiên và tự tại Từ thế giới quan đó,

Phật giáo hướng con người đến tâm Từ bi rộng mở, hướng đến tha nhân, quên đi

thói ích kỷ, tham lam của con người

Đạo đức Phật giáo bắt rễ từ hiện thực cuộc sống, từ nhu cầu và lợi ích của chúng sinh, thấm đậm tình yêu bao la đối với tất cả các loài hữu tình nên có sức sống mãnh liệt, dễ lan tỏa thấm sâu vào hồn người, chuyển hóa tâm thức con người Mục đích của đạo Phật là xây dựng tâm thức ổn định, không sát hại, an lạc và từ bi cho từng con người, luôn đem lòng từ bi để xóa bỏ hận thù Đây chính là sự đóng góp cụ thể và cơ bản nhất của Phật giáo, giúp hóa giải sự thù hận, mâu thuẫn trong

xã hội và xây dựng một thế giới hòa bình, an lạc Chính vì vậy, tư tưởng đạo đức Phật giáo có giá trị vượt thời gian, góp phần tích cực vào việc xây dựng một nếp sống đạo đức hướng thượng đối với cá nhân và cho xã hội

1.1.2 Chuẩn mực cơ bản của đạo đức Phật giáo – Ngũ giới

“Giới” là những điều ngăn cấm, là chuẩn mực đạo đức của Phật giáo Phạm trù “giới” trong Phật giáo có nội hàm rất rộng: Giới cho người xuất gia nói chung; giới của tỳ kheo (sư nam) là 250 giới; giới của tỳ kheo ni (sư nữ) là 348 giới Ngoài ra còn có giới luật Bồ Tát của Phật giáo Đại thừa…Song chung quy

lại đều từ Ngũ giới mà triển khai ra, cụ thể hóa hoặc nâng cao hơn Ví dụ, điều đầu tiên của Ngũ giới là “Không sát sinh”, song trong giới Bồ Tát của Phật giáo

Đại thừa thì thấy người bị hại mà không cứu đã là phạm tội, như vậy yêu cầu về giới đã cao hơn rất nhiều

Ngũ giới có vị trí vô cùng quan trọng trong giới bổn của đạo Phật, là nền tảng

ban đầu để từ đó phát triển ra các giới khác

Trang 32

Ngũ giới là năm điều Đức Phật nói với các Tỳ Kheo khi ngài ở Kỳ Viên

(Anatapindika), nước Xá Vệ Năm giới này được coi là nguyên lí đạo đức tối thiểu

dĩ phân” Nếu giết người để thỏa mãn và mưu lợi thì đó là việc ác nhưng nếu giết người để bảo vệ hòa bình, giành độc lập cho dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi lầm than thì đó là việc làm hướng thiện Đây là quan niệm sống nhằm hướng con người tránh xa những điều ác, làm nhiều điều thiện Nếu giữ được giới này sẽ không có sự tàn sát, không có chết chóc, đau khổ…Sự sống là ân huệ lớn nhất mà tạo hóa ban cho vạn vật và khi đã hữu sinh muôn loài thì đều ham sống sợ chết như nhau Vì vậy, đang tâm giết hại để ăn thịt rất tổn hại lòng từ bi và cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tật, đau khổ và hoạn nạn

Trang 33

2) Không tà dâm

Đối với người tại gia, hiểu theo nội hàm chung nhất là “duy chế tà dâm”, tức

là phải ngăn ngừa, hạn chế dục vọng trong một giới hạn nhất định mà xã hội cho phép Đối với vợ chồng phải có cưới hỏi chính thức, được pháp luật công nhận Với những người quy y tam bảo thì phải đoạn trừ dâm dục

Không tà dâm nhằm hướng con người tới lối sống lành mạnh, trong sáng, nhằm phát triển nhân cách con người một cách toàn diện, là điều kiện tiên quyết cho hạnh phúc của một gia đình và rộng hơn là toàn xã hội

3) Không nói dối

Là tôn trọng sự thật, giữ lòng thành tín với mọi người, không được lộng ngôn, xảo ngôn và vọng ngôn Đạo phật cho rằng có mười điều ảnh hưởng đến nhân cách con người, đó là:

Ba điều thuộc về thân: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm

Ba điều thuộc về thức: Tham dục, nóng giận, tà kiến

Bốn điều còn lại do khẩu: Nói hai lưỡi, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ

Có thể thấy trong mười độc tố có thể nguy hại đến nhân cách con người thì hành động do miệng gây ra chiếm đến bốn Do đó, ngăn ngừa những hành vi thuộc

về khẩu nghiệp là hết sức quan trọng

Tuy nhiên, nếu nói dối để người bị hại khỏi khổ đau, do lòng nhân cứu người, cứu vật thì không sai phạm (căn cứ vào mục đích của hành động)

Ông cha ta có câu: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Lựa lời ở đây không phải là thêm nếm làm thay đổi ý nghĩa câu nói mà nên chọn lời hay ý đẹp, nói năng nhẹ nhàng để người nghe cảm thấy dễ chịu

Như vậy, với lý luận về giới thứ tư, Phật khuyên chúng ta sống trung thực, nói lời trung thực Khi trung thực, con người sẽ được kính trọng, tin yêu, giúp cho

xã hội tốt đẹp hơn

5) Không uống rượu

Kinh “Bồ tát giới nói” nói: “Phật tử nếu cố ý uống rượu, mà rượu thì dẫn ra vô số lỗi lầm, tự tay mình trao rượu cho người khác uống mà năm trăm đời kiếp cánh tay

Trang 34

không có, huống chi chính mình tự uống Cũng không được chỉ bảo cho mọi người uống rượu hay luyện tập cho các sinh vật khác uống rượu, huống chi chính mình uống lấy Nếu bất cứ rượu gì cũng không được uống Nếu cố ý uống hay bảo người khác uống thì phạm tội khinh cấu” [60, tr 107 – 108]

Không chỉ rượu mà bất cứ thứ gì có khả năng làm cho con người không còn tỉnh táo thì không được dùng đến Theo kinh Thiện Sinh, uông rượu gây ra sáu lỗi: Mất của, sinh bệnh, gây gổ, tiếng xấu đồn xa, dễ sinh nóng giận, trí tuệ mỗi ngày giảm dần Những lỗi này một mặt ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của chính người đó, mặt khác làm băng hoại đạo đức xã hội Vì thế, người biết đạo đức phải tránh xa không uống rượu Uống rượu chẳng những làm mất trí khôn, lại gây nên bệnh hoạn cho thân thể, còn di hại cho con cái sau này đần độn Quả là tai họa cho

cá nhân và xã hội Tuy nhiên, cũng có trường hợp cho phép đó là khi người phật tử mắc bệnh, bác sĩ cho phép để điều trị thì người này được uống rượu đến khi lành bệnh thì chấm dứt

Giới thứ năm cũng nói thêm rằng “không uống rượu” còn phải tuyệt đối cách

ly những nơi rượu chè, mặc dù mình không uống, không được xúi giục người khác uống rượu Giới này hiện nay được mở rộng ra là bất cứ thứ gì làm người ta mê muội, mất hết khả năng lý trí thì không được dùng Nếu giữ được giới này thì sẽ được phước là bình tĩnh, sáng suốt, luôn làm chủ được mình, nuôi dưỡng sự trầm tĩnh tạo cho chúng ta tác phong đúng đắn, luôn ý thức được địa vị và tư cách của mình và đời sau không tái sinh vào con đường dữ Giữ gìn năm giới này là vì bản thân mỗi người chứ không phải vì Phật Tinh thần giới căn bản của Phật giáo là làm lành, lánh ác, từ, bi, hỉ, xả Đức Phật không tự nhiên đặt ra nhiều giới luật mà mỗi giới luật được chế ra đều dựa trên sự kiện thực tế cuộc sống nhằm ngăn ngừa các ác bất thiện pháp giúp hành giả được thanh tịnh, làm nền tảng cho sự phát triển tâm linh để mang lại an vui cho con người Ngũ giới là đạo đức cơ bản của người Phật

tử khi bắt đầu bước chân trên con đường tu hành để đi tới giác ngộ, giải thoát

Thực hành Ngũ giới không chỉ nuôi dưỡng lòng từ bi, khơi dậy tinh thần nhân văn trong mỗi con người mà còn góp phần xây dựng một xã hội nhân ái, lành

Trang 35

mạnh Vì vậy, trải qua hơn 25 thế kỉ những giá trị giáo dục của Ngũ giới vẫn còn vẹn nguyên đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

1.1.3 Thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi

Thuyết nhân quả

Nhân quả theo Phạn ngữ là pratitya – Samut – Pada, có nghĩa là duyên khởi Nhân là nguyên nhân, “quả” là kết quả của cái nhân ấy Duyên là chỉ những vật (hay những điều kiện có tính chất trợ giúp cho sự vật này sinh ra sự vật khác) Nhân duyên là chuỗi điều kiện tương quan, liên hệ nhân với quả, quả với nhân, biến hóa

vô thường, cho nên gọi một cách chính xác là luật “Nhân – duyên – quả” Theo đó, vạn vật trong vũ trụ nương nhau mà phát sinh “vì cái này có cho nên cái kia sinh, vì cái này diệt cho nên cái kia diệt” Theo Phật giáo, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều chịu sự tác động của luật nhân quả Mạng lưới nhân quả đã liên kết mọi sự vật cả về thời gian lẫn không gian nên không chỉ vạn vật trong hiện tại tồn tại lệ thuộc lẫn nhau mà tất cả sự vật trong quá khứ cũng như trong tương lai đều liên quan đến nhau Luật nhân quả không bị ràng buộc bởi thời gian có nhân quả tạo thành trong kiếp này, có nhân quả phải đến kiếp sau mới thành quả Không nơi nào trên trên đời này dù trên trời, dưới biển, hay trong hang đá làm người làm điều ác có thể tránh được hậu quả của hành động bất thiện Đó là quy luật tất yếu của vũ trụ và đời sống

Luật nhân quả được giải thích cặn kẽ qua “Thập nhị nhân duyên”

Nhân là yếu tố quyết định, điều kiện chính làm sinh khởi, có mặt của một

hiện hữu Duyên là điều kiện hỗ trợ, tác động làm cho nhân sinh khởi Ví dụ: hạt

thóc là nhân của cây lúa, các yếu tố như đất, nước, không khí, phân bón…là

duyên để hạt lúc nảy mầm phát triển thành cây; duyên chính là điều kiện cho nhân thành quả

Trước khi Phật ra đời, cũng có nhiều vị tu hành giác ngộ được đạo lý nhân duyên Họ quan sát tất cả các sự vật, dù thân hay cảnh, dù sống hay chết, đều do các duyên hội hợp mà hóa thành như có, chứ không phải thật có Các vị thường quán

Trang 36

các sự vật, chỉ có tính đối đãi, chứ không có tự tính Ví dụ như tờ giấy, nó có những thuộc tính là trắng, mỏng… những thuộc tính đó đều là đối đãi, vì trắng đối với cái không mà có, mỏng đối với cái dày mà có… Quan sát như thế, thì nhận rõ được các tướng của sự vật đều không có thật, theo duyên mà thành có Từ đó, ngộ được rằng các pháp đều vô ngã, cảnh vô ngã, thân cũng vô ngã, ngay cả sự sống chết đều vô ngã Cần nhận rõ hành tướng của các nhân duyên, hiểu rõ sự tác động của nhân duyên này đối với sự phát sinh của nhân duyên khác, dùng phép quán duyên khởi, diệt trừ những khâu chính trong dây chuyền 12 nhân duyên , để đi đến chứng được đạo quả của Duyên giác thừa

Mười hai Nhân Duyên là mười hai điều kiện quan hệ với nhau để thành hình

một chúng sinh hữu tình Ý nghĩa của mười hai Nhân Duyên được thiết lập cách đây khoảng hơn 25 thế kỷ Giáo lý này do chính Tất Đạt Đa thể chứng dưới cội bồ

đề sau 49 ngày tư duy thiền định, từ đó Ngài trở thành một bậc Giác ngộ hoàn toàn Mười hai nhân duyên này dùng để giải thích tại sao con người cứ phải xoay chuyển trong vòng luân hồi sinh tử Từ đó giúp con người định hướng trong suy nghĩ và hành động để điều khiển thân, tâm làm lành, tránh ác Người ta ví 12 nhân duyên như sợi dây chuyền có nhiều vòng, vòng này móc vào vòng kia không có mối manh,

bao gồm: Vô minh, Hành, Thức, Danh, Sắc, Lục nhập, Xúc, Thụ, Ái, Hữu, Sinh, lão

tử Do vô minh là nguồn gốc gây ra mọi đau khổ nên chỉ khi vô minh bị xóa bỏ thì

chuỗi xích của vòng nhân duyên sẽ bị phá vỡ từng mắt cho tới khi lão và tử ngừng

tồn tại

Ý nghĩa của mười hai nhân duyên

1/ Vô minh:

Vô minh là không sáng suốt, là mê lầm, không hiểu biết đúng và đủ về các

sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ xung quanh Vô minh là nguồn gốc gây nên mọi tỗi lỗi, làm cho chúng ta đau khổ

2/ Hành:

Nghĩa là hành động, vì có vô minh nên mới gây ra sự chuyển dịch thành hành động, hành là tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng, làm cho chúng

Trang 37

sinh nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ trương gây các nghiệp rồi

về sau chịu quả báo

5/ Lục nhập

Khi sự sống được hình thành và tăng trưởng (kết thai), thì 6 quan năng được hình thành (bào thai), đó là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, Ý có đối tượng Sáu trần là: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh nạp nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý căn lãnh nạp pháp trần

6/ Xúc

Xúc chạm đối đãi, nghĩa là sau khi thai nhi ra đời có sự tiếp xúc giữa quan năng với ngoại cảnh, nhưng vì còn nhỏ chừng 1,2 tuổi nên trẻ con chưa biết nhận xét vui, buồn, tốt, xấu,…vì chưa có đủ lý trí để phân biệt, cảm nhận một cách rõ ràng, tinh tế nên trong giai đoạn này gọi là xúc Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay biết sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là xúc

7/ Thọ

Đây là giai đoạn đứa bé chừng 3 đến 13 tuổi, đứa bé biết thương ghét, giận hờn, buồn, vui, đam mê…

Trang 38

Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ là khổ thọ, lạc thọ, hỷ thọ, ưu thọ và xả thọ

10/ Hữu

Do Ái và Thủ làm nghiệp nhân nên phải có (hữu) thân sau để chịu quả báo lành dữ

Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến thành thật

có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống và có chết, cái có như thế, tức là hữu

11/ Sinh

Có sống, tức là có sinh, nói một cách khác, là do không rõ đạo lý duyên khởi như huyễn, không có tự tính, nên nhận lầm thật có sinh sống

12/ Lão tử

Lão tử là già rồi chết, do có sinh sống, nên có già, rồi có chết

Mười hai nhân duyên là một dây chuyền liên tục, truyền trong nhiều đời

Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều quả nhưng cũng có quả do nhiều nguyên nhân sinh ra

Trang 39

Quá trình nhân chuyển thành quả không bị ràng buộc vào thời gian Có nhân tạo thành quả ngay trong kiếp này, có nhân phải đến kiếp sau hoặc kiếp sau nữa mới thành quả (Nhân quả ba đời)

Mười hai mắt xích của chuỗi luân hồi được xếp theo thứ tự đảo ngược như sau: Lão và tử do Sinh gây ra, bởi có sinh thì mới có lão, tử

Sinh do Hữu gây ra (hữu là sự sinh tồn)

Hành do vô minh gây ra

Vô minh là mắt xích cuối cùng, là nguồn gốc của mọi khổ đau Theo Phật giáo, chỉ cần xóa bỏ được vô minh, chuỗi xích của vòng nhân duyên sẽ bị phá vỡ cho tới khi Lão và Tử ngừng tồn tại

Dù ra đời cách đây 2500 năm nhưng luật nhân quả giáo lý nhà Phật đã thể hiện được tính duy vật biện chứng khi cho rằng thế giới này không có nguyên nhân đầu tiên và không có nguyên nhân cuối cùng

Luật nhân quả chỉ ra rằng: muốn biết cái kiếp trước mình sống thế nào thì hãy xem kiếp này mình đang sống ra sao, muốn biết kết quả của kiếp sau ra sao thì hãy nhìn cách sống kiếp này của mình Theo đạo Phật, không có vị thánh hay thần linh nào đang thưởng phạt con người mà chính con người tự quyết định cuộc sống của chính mình Phật giáo đã đặt lên vai con người trách nhiệm cá nhân và sự tự do Thuyết nhân quả của Phật giáo chứa đựng tinh thần biện chứng duy vật, phản kháng đối với niềm tin vào thần quyền và đem lại cho con người một niềm tin vào sự tinh tấn, nỗ lực của bản thân Thuyết nhân quả không làm con người con người sợ hãi

Trang 40

mà có tác dụng khuyến thiện, trừ ác, ngăn chặn tội ác từ trong nguyên nhân Đây chính là sự cống hiến lớn của Phật giáo

Thuyết nghiệp báo, luân hồi

Gắn bó chặt chẽ với luật Nhân quả là thuyết Nghiệp báo, Luân hồi Nghiệp (Karma) được hiểu là hành động có tác ý hay hành động phát sinh từ tâm được thể hiện qua hành vi, ngôn ngữ và tư duy, nghiệp báo là sự tác ý, hay ý muốn Còn luân hồi theo Phật giáo thì sau khi chết hoặc trước khi sinh ra, không có đời sống nào nơi con người là không tùy thuộc vào Nghiệp, hay hành động có tác ý Nghiệp báo là hệ luận của luân hồi, ngược lại Luân hồi là hệ luận của Nghiệp báo Hai giáo lý này bổ sung và gắn bó với nhau rất mật thiết Luân hồi diễn tả một chuỗi nghiệp báo hay một tràng Nhân quả chuyển động nối tiếp nhau giống như bánh xe quay từ quá khứ đến hiện tại và tiếp diễn đến tương lai Nếu hiểu được thuyết Nghiệp báo, Luân hồi con người sẽ tự xây dựng cho mình lối sống lành mạnh, làm nhiều điều thiện để tích đức cho bản thân và con cháu

Luân hồi là gì? Luân là bánh xe, hồi là lăn tròn, cứ lên xuống quay tròn như vậy không ngoài ba đường ác và ba đường lành, gọi là luân hồi

Nghiệp là luật công bằng cho tất cả mọi người, mọi loài, mình tạo thì mình hưởng Làm phước được phước, làm tội chịu tội Nếu làm trọn 10 điều ác thì đi thẳng xuống địa ngục, còn làm không tới 10 điều ác nhưng nặng về tham thì sinh vào quỷ đói, kiếp này sống lâu nhưng luôn trong cảnh đói khát nên cũng rất khổ Tiếp đến là súc sinh, súc sinh không được coi là con người

Người hiểu được thuyết luân hồi của Phật dạy thì cuộc sống thanh thản, giàu không tự đại, nghèo không trách giận ai Nếu hiểu thì thấy rằng kiếp này ta đang được hưởng phước mà không biết giữ tâm trong sạch hoặc chia sẻ cho những người nghèo khổ thì kiếp sau mình lại khổ, còn kiếp này mà đang phải nghèo khổ nhưng vẫn không chịu hiểu, không chịu chấp nhận để cố gắng thay đổi, thậm chí tiếp tục có những hành vi sai trái để vượt khổ bất chính thì kiếp sau sẽ còn khổ hơn nữa Biết rõ lý do luân hồi tự nhiên ta tạo ra cho mình con đường đi lên, không có tâm oán hờn thù ghét ai, nhẫn nhịn, phấn đấu để thay đổi số phận trong kiếp sống tương lai

Ngày đăng: 23/05/2021, 03:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w