Ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết: Bằng chứng thực nghiệm từ Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Trương Đông Lộc N
Trang 1Ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quản trị
đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết: Bằng chứng thực nghiệm từ Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Trương Đông Lộc
Nguyễn Xuân Thuận
Ngày nhận: 30/01/2018 Ngày nhận bản sửa: 16/04/2018 Ngày duyệt đăng: 23/04/2018
Mục tiêu của nghiên cứu này là đo lường ảnh hưởng của đặc điểm
hội đồng quản trị (HĐQT) đến mức độ công bố thông tin của các
công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh (HOSE) Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập
từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 207 công ty niêm
yết trên HOSE trong năm 2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ
công bố thông tin bình quân của các công ty là 73,1 điểm Ngoài ra,
kết quả phân tích hồi quy cho thấy số lượng thành viên của HĐQT và
tỷ lệ nữ trong HĐQT có mối tương quan thuận với mức độ công bố
thông tin của các công ty Ngược lại, việc kiêm nhiệm chức danh chủ
tịch HĐQT và tổng giám đốc làm giảm mức độ công bố thông tin của
các công ty Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra rằng quy mô công
ty và tỷ suất lợi nhuận có mối tương quan thuận với mức độ công bố
thông tin của các công ty, trong khi đó các công ty được kiểm toán
bởi một trong bốn công ty kiểm toán lớn nhất có mức độ công bố
thông tin cao hơn so với các công ty còn lại.
Từ khóa: Đặc điểm hội đồng quản trị, công bố thông tin, công ty
niêm yết, HOSE.
1 Giới thiệu
Minh bạch trong công bố thông tin (CBTT) có
vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển
của thị trường chứng khoán (TTCK) ở mỗi quốc gia Thông tin phản ánh đầy đủ, chính xác và kịp thời sẽ giúp cho các nhà đầu tư đưa ra các quyết định hợp lý, qua đó giúp cho thị trường
Trang 2phát triển một cách ổn định Ngược lại, nếu
thông tin được công bố một cách sai lệch hoặc
không đầy đủ, thì nó sẽ tạo ra những bất ổn
cho thị trường, làm giảm lòng tin của các nhà
đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài
Đối với các công ty niêm yết, CBTT không chỉ
là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo pháp
luật mà còn là quyền lợi của công ty trong việc
nâng cao uy tín và hình ảnh của mình trên thị
trường Karim (1996) cho rằng mức độ CBTT
càng cao càng hạn chế tình trạng thông tin bất
đối xứng giữa các nhà đầu tư và công ty, qua
đó làm tăng giá trị và thanh khoản của cổ phiếu
trên thị trường Ở một khía cạnh khác, Albitar
(2015) cho rằng việc CBTT không tốt có thể
làm gia tăng chi phí vốn, dẫn đến việc phân bổ
các nguồn lực không hiệu quả
Ở Việt Nam, thực tế cho thấy nhiều công ty
niêm yết hiện nay chưa quan tâm đúng mức và
thể hiện đầy đủ trách nhiệm của mình đối với
các nhà đầu tư trong việc công bố thông tin
Vì vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là vì sao các công
ty niêm yết chưa quan tâm đúng mức đến việc
CBTT? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức
độ CBTT của các công ty? Các nghiên cứu
thực nghiệm trên thế giới đã chỉ ra rằng mức độ
CBTT của các công ty phụ thuộc chủ yếu vào
hai nhóm nhân tố chính, đó là đặc điểm công ty
và quản trị công ty (Cheung và cộng sự, 2007;
Nandi và Ghosh, 2013; Fathi, 2013) Ở Việt
Nam, cho đến nay đã có một vài nghiên cứu
liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc
CBTT của các công ty niêm yết (Phạm Ngọc
Toàn và Thị Thu Hoài, 2015; Nguyễn Thị Thu
Hảo, 2015; Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị
Kim Anh, 2017) Các nghiên cứu này chủ yếu
đo lường ảnh hưởng của đặc điểm công ty và
một số nhân tố khác mà chưa đi sâu vào nghiên
cứu đặc điểm HĐQT (một nội dung quan trọng
trong quản trị công ty) đến việc CBTT của các
công ty Mục tiêu của nghiên cứu này là bổ
sung các bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng
của đặc điểm HĐQT đến mức độ CBTT của các
công ty niêm yết trên HOSE Đây là khoảng
trống trong các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt
Nam Phần còn lại của bài viết này được cấu
trúc như sau: Mục 2 trình bày tóm tắt cơ sở lý
thuyết và lược khảo các tài liệu có liên quan
làm cơ sở để phát triển các giả thuyết nghiên cứu; Mục 3 mô tả số liệu được sử dụng và phương pháp nghiên cứu; Mục 4 tóm tắt các kết quả nghiên cứu; và cuối cùng, kết luận của bài viết được trình bày ở Mục 5
2 Cơ sở lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm và các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết Đại diện (Agency Theory): Lý thuyết
Đại diện do Jensen và Meckling (1976) đề xuất được xem như là lý thuyết nền tảng liên quan đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết Lý thuyết này cho rằng quan hệ giữa các cổ đông (người ủy quyền) và người quản lý công ty (người được ủy quyền) được hiểu như là quan
hệ đại diện hay quan hệ ủy thác Mối quan hệ này được xem như là mối quan hệ hợp đồng
mà theo đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định người khác để thực hiện việc quản lý cho họ, trong đó bao gồm cả việc trao quyền định đoạt tài sản của công ty Ở một khía cạnh khác, Lý thuyết Đại diện chỉ ra rằng sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát công ty sẽ dẫn đến những xung đột về lợi ích khi xảy ra vấn đề bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và người quản lý công ty do cả hai bên đều có lợi ích khác nhau Đối với nhà quản lý họ quan tâm nhiều đến lợi ích của họ sẽ có được (lương, thưởng…), nhưng đối với các cổ đông thì họ lại quan tâm nhiều hơn đến giá trị của công ty Chính vì sự mâu thuẫn này đã làm phát sinh chi phí đại diện, tức là chi phí để duy trì mối quan
hệ đại diện hiệu quả để nhà quản lý hoạt động
vì lợi ích của cổ đông nhiều hơn
Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory): Nếu
lý thuyết Đại diện chỉ ra mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty trong điều kiện bất cân xứng về thông tin thì Lý thuyết Tín hiệu (Ross, 1977) chỉ ra cách thức để giải quyết sự bất cân xứng về thông tin, đó là cơ chế phát tín hiệu Theo Lý thuyết Tín hiệu, CBTT được xem như là một phương tiện hữu hiệu để đưa tín hiệu đến với các nhà đầu tư Vì vậy, CBTT
là một công cụ mà các công ty có thể sử dụng
để tạo ra sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của
Trang 3công ty này so với công ty khác
2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
và các giả thuyết nghiên cứu
- Quy mô hội đồng quản trị và mức độ CBTT:
Quy mô HĐQT được đo lường dựa trên số
lượng thành viên trong HĐQT Theo Lý thuyết
Đại diện, xung đột về lợi ích sẽ xảy ra khi có
hiện tượng bất cân xứng thông tin giữa cổ đông
và các nhà quản lý của công ty Điều này có thể
ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các công ty
Công ty có nhiều thành viên trong HĐQT sẽ có
lợi hơn trong việc giám sát hoạt động của công
ty do sự đa dạng về kiến thức và kinh nghiệm
của các thành viên Vì vậy, số lượng thành viên
HĐQT của công ty càng nhiều có thể giúp ngăn
chặn tốt hơn các hành vi làm tổn hại đến lợi ích
của các cổ đông, giảm chi phí đại diện và tạo
ra áp lực cho việc CBTT đầy đủ và kịp thời
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã tìm
thấy mối tương quan thuận giữa số lượng thành
viên HĐQT và mức độ CBTT của các công ty
(Adam và cộng sự, 2005; Cheng và Courteney,
2006) Vì vậy, giả thuyết sau được đề nghị:
H1: Số lượng thành viên của HĐQT càng nhiều
thì mức độ CBTT của công ty càng cao
- Sự kiêm nhiệm và mức độ CBTT: Sự kiêm
nhiệm ở đây được hiểu là một người vừa giữ
vai trò chủ tịch HĐQT vừa giữ vai trò giám đốc
điều hành công ty Jensen và Meckling (1976)
lập luận rằng các công ty cần thiết lập cơ cấu
quản lý công ty hiệu quả thông qua việc tách
bạch các quyết định quản lý và quyết định kiểm
tra giám sát để giảm chi phí đại diện Nếu cả
hai chức vụ chủ tịch HĐQT và giám đốc công
ty là cùng một người thì khi đó khó tách bạch
được quyền kiểm soát và điều hành Chủ tịch
HĐQT sẽ có cơ hội để tối đa lợi ích cá nhân
hơn là lợi ích của các cổ đông Vì vậy, các công
ty có chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc có mức
độ CBTT kém hơn các công ty không có đặc
điểm này Về mặt thực nghiệm, Li và cộng sự
(2008) chỉ ra rằng kiêm nhiệm sẽ làm giảm chất
lượng và số lượng thông tin được công bố trên
thị trường Ngoài ra, Ho và Wong (2001), Gul
và Leung (2004), Donnelly và Mulcahy (2008)
cũng đã tìm thấy mối tương quan nghịch giữa
kiêm nhiệm và CBTT Tuy nhiên, Haniffa và Cooke (2002) lại không tìm thấy mối tương quan giữa kiêm nhiệm và mức độ CBTT của các công ty Dựa trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm được trình bày ở trên, giả thuyết tiếp theo được đề xuất như sau: H2: Kiêm nhiệm làm giảm mức độ công bố thông tin của công ty
- Tỷ lệ sở hữu của HĐQT và mức độ CBTT:
Tỷ lệ sở hữu của HĐQT được đo lường bằng tỷ
lệ phần trăm (%) số cổ phần mà các thành viên HĐQT của công ty nắm giữ Theo lý thuyết Đại diện, sự tách rời giữa chủ sở hữu và người quản lý công ty sẽ dẫn đến các xung đột về lợi ích (Jensen và Meckling, 1976) Mức độ xung đột lợi ích này sẽ giảm khi những người quản
lý nắm giữ các cổ phiếu của công ty Vì vậy, những công ty có các thành viên HĐQT nắm giữ một tỷ lệ cổ phiếu lớn thường không CBTT một cách đầy đủ, bởi vì các cổ đông lớn thường
là thành viên của HĐQT nên họ có thể tiếp cận toàn bộ các thông tin sẵn có trong công ty Nói một cách khác, các công ty có tỷ lệ sở hữu càng tập trung thì mức độ CBTT càng kém và ngược lại Một số nghiên cứu gần đây đã tìm thấy bằng chứng về mối tương quan nghịch giữa tỷ
lệ sở hữu của HĐQT và mức độ CBTT của công
ty (Hossain và cộng sự, 1994; (Chau và Gray, 2002; Barako và cộng sự, 2006; Xiao và Yuan, 2007; Lim và cộng sự, 2007; Turrent và Ariza, 2012; Sartawi và cộng sự, 2014) Tuy nhiên, Naser và cộng sự (2002), Eng và Mak (2003), Gul và Leung (2004) lại chỉ ra rằng không có mối tương quan giữa tỷ lệ sở hữu của HĐQT và mức độ CBTT Trên cơ sở lập luận như vậy, giả thuyết thứ 3 được đề nghị như sau:
H3: Tỷ lệ sở hữu của HĐQT càng cao thì mức
độ CBTT của công ty càng thấp
- Tỷ lệ nữ trong HĐQT và mức độ CBTT: Tỷ lệ
nữ trong HĐQT được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm số thành viên nữ trong HĐQT Về mặt tâm sinh lý liên quan đến giới tính, nữ thường
có tính cẩn trọng, ngại rủi ro hơn nam giới trong quản trị, điều hành nói chung Vì vậy, nếu có nhiều thành viên nữ trong HĐQT thì việc CBTT của công ty sẽ tốt hơn Srinidhi và cộng sự (2011) chỉ ra rằng tỷ lệ nữ trong HĐQT càng cao thì chất lượng các báo cáo được công
Trang 4bố càng tốt Tương tự, Liao và cộng sự (2014),
Adam và Ferreria (2009) cũng tìm thấy các
bằng chứng để đi đến kết luận rằng tỷ lệ nữ
trong HĐQT có mối tương quan thuận với mức
độ CBTT của công ty Vì vậy, giả thuyết tiếp
theo được đề xuất như sau:
H4: Tỷ lệ nữ trong HĐQT càng cao thì mức
độ CBTT của công ty càng cao.
3 Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên
cứu
3.1 Số liệu sử dụng
Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được
thu thập từ báo cáo tài chính (BCTC) và báo
cáo thường niên của các công ty niêm yết trên
HOSE năm 2015 Do các công ty thuộc ngành
tài chính có một số đặc thù riêng về hoạt động
kinh doanh cũng như BCTC so với các ngành
khác nên trong nghiên cứu này chỉ có 207 công
ty phi tài chính được chọn để tiến hành thu thập
số liệu
3.2 Phương pháp xây dựng chỉ số đo lường
mức độ CBTT
Cơ sở để xây dựng chỉ số CBTT
Cho đến thời điểm 9/2017, chưa có bất kỳ bộ
tiêu chí chính thức nào được công bố để đo
lường mức độ CBTT của các công ty niêm yết
ở Việt Nam Vì vậy, để phục vụ cho nghiên cứu
của mình, nhóm tác giả đã tiến hành xây dựng
bộ tiêu chí để đo lường mức độ CBTT của các
công ty niêm yết trên HOSE Hiện tại, có nhiều
bộ tiêu chí đo lường mức độ CBTT của các
công ty đang được sử dụng ở nhiều nước trên
thế giới Tuy nhiên, qua nghiên cứu các bộ tiêu
chí này, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng bộ
tiêu chí của Standard and Poor (S&P) có nhiều
ưu điểm hơn và có thể được vận dụng trong
điều kiện TTCK Việt Nam Vì vậy, để xây dựng
chỉ số CBTT cho các công ty niêm yết trên
HOSE, nhóm tác giả dựa trên bộ tiêu chí của
S&P, kết hợp với các quy định của pháp luật
Việt Nam về CBTT của các công ty niêm yết
trên TTCK
Chỉ số đo lường mức độ CBTT
Trên cơ sở bộ tiêu chí của S&P, các quy định hiện hành về CBTT và thực tiễn hoạt động các công ty niêm yết trên HOSE, nhóm tác giả đã xây dựng bộ tiêu chí để đo lường mức độ CBTT của các công ty niêm yết bao gồm 72 tiêu chí1
Ở một khía cạnh khác, để đo lường mức độ CBTT, các nghiên cứu thực nghiệm thường
sử dụng một trong ba phương pháp, đó là: có trọng số, không có trọng số và hỗn hợp Những nghiên cứu sử dụng phương pháp trọng số cho rằng nếu đo lường mức độ CBTT dựa trên các thông tin có sẵn dựa trên các báo cáo thường niên hoặc theo chuẩn mực kế toán (các thông tin bắt buộc) là không thích hợp vì có nhiều thông tin không cần thiết so với các thông tin quan trọng đối với người đọc Ngược lại, theo quan điểm của các nghiên cứu sử dụng phương pháp không có trọng số thì cho rằng mức độ CBTT giữa các công ty sẽ ít bị chệch hơn so với phương pháp có trọng số Phương pháp hỗn hợp là phương pháp sử dụng cả phương pháp
có trọng số và không có trọng số Phương pháp này có thể xem như là giải pháp trung hòa cho hai phương pháp trên
Với tình hình thực tế của các công ty niêm yết cũng như các quy định của pháp luật về CBTT
ở Việt Nam, nghiên cứu này sử phương pháp không trọng số để đo lường mức độ CBTT của các công ty Phương pháp này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trước đây (Botosan, 1997; Chau và Gray, 2002; Fathi, 2013) Trên
cơ sở chấm điểm từng tiêu chí, chỉ số CBTT của từng công ty được tính như sau:
DISC n
d
100
i
ij j n
1
#
Trong đó:
DISCi: Mức độ CBTT của công ty i (0 ≤ DISCi
≤ 100)
dij: Điểm tiêu chí j của công ty i (dij = 1 nếu mục thông tin j được công bố, dij = 0 nếu mục thông tin j không được công bố)
n: Số lượng mục thông tin (tiêu chí) trong bộ tiêu chí được xây dựng (n = 72)
1 Do giới hạn về dung lượng của bài viết nên nhóm tác giả không trình bày chi tiết bộ tiêu chí trong bài viết này Tuy nhiên, bộ tiêu chí này có thể được cung cấp cho các đối tượng có quan tâm nếu được yêu cầu
Trang 53.3 Phương pháp nghiên cứu
Để ước lượng ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT
đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết
trên HOSE, mô hình hồi quy tuyến tính được
sử dụng trong nghiên cứu này Một cách cụ thể,
mô hình hồi quy có dạng như sau:
DISCi = β0 + β1BSIZEi + β2DUALi + β3BOWNi
+ β4BWi + β5FSIZEi + β6PROi + β7LEVi + β8
BIG4i + εi
Trong đó:
DISCi: Chỉ số đo lường mức độ CBTT của công
ty i;
BSIZEi: Quy mô hội đồng quản trị của công ty
i;
DUALi: Kiêm nhiệm của công ty i;
BOWNi: Tỷ lệ sở hữu của hội đồng quản trị
công ty i;
BWi: Tỷ lệ nữ trong HĐQT của công ty i;
FSIZEi: Quy mô của công ty i;
PROi: Tỷ suất lợi nhuận của công ty i;
LEVi: Đòn bẩy tài chính của công ty i;
BIG4i: Chủ thể kiểm toán của công ty i
Nội dung chi tiết về các biến độc lập và kỳ
vọng về mối tương quan giữa chúng với biến
phụ thuộc được trình bày chi tiết ở Bảng 1
Ngoài các biến liên quan đến đặc điểm HĐQT
đã được trình bày ở trên (mục 2.2), nghiên cứu
này còn sử dụng một số biến kiểm soát Các
biến kiểm soát này bao gồm: Quy mô công ty,
tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy tài chính và chủ thể
kiểm toán
Quy mô công ty (FSIZE): Trong nghiên cứu
này biến quy mô công ty được đo lường bằng logarit tổng tài sản của công ty Việc sử dụng logarit của tổng tài sản thay vì tổng tài sản là
để tránh hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình hồi quy do giá trị tổng tài sản của các công ty có thể có sự khác biệt rất lớn Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng công ty có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT càng cao (Botosan, 1997; Aksu và Kosedag, 2006; Cheung và cộng sự, 2007; Lopes và Rodrigues, 2007; Nandi và Ghosh, 2013) Mối quan hệ này được giải thích là do: (i) công ty lớn có số lượng nhà đầu tư nhiều và thu hút sự chú ý các nhà phân tích nhiều hơn; (ii) những công ty lớn có nhiều thông tin để cung cấp cho đầu tư hơn; (iii) các công ty có quy mô càng lớn thì chi phí đại diện phát sinh càng nhiều Vì vậy, các công ty có quy mô càng lớn được kỳ vọng có mức độ CBTT càng cao
Tỷ suất lợi nhuận (PRO): Theo lý thuyết Tín
hiệu, các công ty có tỷ suất lợi nhuận cao có xu hướng CBTT nhiều hơn các công ty có tỷ suất sinh lời thấp hoặc bị thua lỗ để tạo ra tín hiệu tốt cho các nhà đầu tư Trong điều kiện bất cân xứng thông tin, các nhà quản trị trong các công
ty có lợi nhuận cao thường muốn CBTT nhiều hơn để củng cố vị trí của họ và được trả thù lao quản lý cao hơn (Rouf, 2010) Nhiều nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã chỉ ra rằng, tỷ suất lợi nhuận có mối tương quan thuận với mức độ CBTT của công ty (Wallace và Naser, 1995;
Bảng 1 Diễn giải các biến độc lập được sử dụng trong mô hình hồi quy
DUAL Biến giả, bằng 1 nếu công ty có chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc hoặc giám đốc, bằng 0 nếu ngược lại
BIG4 Biến giả, bằng 1 nếu công ty được kiểm toán bởi một trong bốn công ty kiểm toán lớn nhất (Big 4), bằng 0 nếu ngược lại. +
Trang 6Haniffa và Cooke, 2002; Aksu và Kosedag,
2006; Hossain, 2008)
Đòn bẩy tài chính (LEV): Đòn bẩy tài chính
trong nghiên cứu này được đo lường bằng tỷ số
nợ trên tổng tài sản Theo lý thuyết Đại diện,
các công ty có đòn bẩy tài chính càng cao có
chi phí giám sát càng lớn Chi phí giám sát phát
sinh nhằm giảm thiểu sự mâu thuẫn về lợi ích
giữa các nhà quản lý và các chủ nợ của công ty
(Jensen và Meckling, 1976) Việc CBTT làm
giảm chi phí đại diện và tạo điều kiện thuận
lợi cho các chủ nợ đánh giá rủi ro một cách
đầy đủ khi cho vay (Botosan, 1997; Botosan
và Plumlee, 2002) Các chủ nợ có thể yêu cầu
công ty cung cấp nhiều thông tin để đảm bảo
an toàn cho nguồn vốn của họ Vì vậy, đòn bẩy
tài chính có mối tương quan thuận với mức
độ CBTT của công ty Về mặt thực nghiệm,
nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng đòn bẩy
tài chính có mối tương quan thuận với mức độ
CBTT của công ty (Malone và cộng sự, 1993;
Hossain và cộng sự (1994) Tuy nhiên, vẫn
còn một vài nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại mối
tương quan nghịch giữa đòn bẩy tài chính và
mức độ CBTT của công ty (Eng và Mak, 2003)
hoặc không tìm thấy mối quan hệ giữa đòn
bẩy tài chính và mức độ CBTT (McKinnon và
Dalimunthe, 1993)
Chủ thể kiểm toán (BIG4): Theo lý thuyết tín
hiệu, những công ty được kiểm toán bởi những
công ty kiểm toán lớn thì chất lượng và số
lượng thông tin được công bố sẽ cao hơn những
công ty khác Lopes và Rodrigues (2007) chỉ ra
rằng các công ty ở Bồ Đào Nha được kiểm toán
bởi các công ty thuộc nhóm 5 công ty kiểm toán lớn nhất (Big 5) có mức độ CBTT cao hơn các công ty còn lại Vì vậy, nhóm tác giả kỳ vọng rằng những công ty được kiểm toán bởi những công ty kiểm toán lớn sẽ có mức độ CBTT cao hơn so với các công ty còn lại
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Thống kê mô tả về các biến số được sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở số liệu thu thập được, chỉ số CBTT, các chỉ tiêu đại diện cho đặc điểm công ty và đặc điểm HĐQT được tính toán và trình bày chi tiết ở Bảng 3
4.2 Ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT đến mức
độ CBTT của các công ty
Để đo lường ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết trên HOSE, nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Kết quả ước lượng
có được từ hồi quy được trình bày chi tiết ở Bảng 4
Kết quả phân tích hồi quy được trình bày ở Bảng 4 cho thấy có đến 6 trong tổng số 8 biến độc lập được sử dụng trong mô hình có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5% Đặc biệt là có đến 3 trên 4 biến đặc điểm của HĐQT có ảnh hưởng (có ý nghĩa thống kê) đến mức độ CBTT của các công ty niêm yết trên HOSE, đó là: Quy
mô hội đồng quản trị (BSIZE), Kiêm nhiệm
Bảng 3 Thống kê mô tả về các biến số được sử dụng trong mô hình
Nguồn: Tổng hợp từ BCTC và báo cáo thường niên của các công ty năm 2015
Trang 7(DUAL) và Tỷ lệ nữ trong HĐQT (BW).
Quy mô hội đồng quản trị (BSIZE): Đúng
như kỳ vọng và phù hợp với kết quả của nhiều
nghiên cứu trước đây (Adam và các cộng sự,
2005; Cheng và Courteney, 2006; Gandia,
2008), nghiên cứu này cũng tìm thấy mối tương
quan thuận giữa quy mô HĐQT và mức độ
CBTT Điều này có nghĩa các công ty có số
lượng thành viên HĐQT càng lớn thì mức độ
CBTT càng cao và ngược lại Cụ thể là, trong
điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi số
lượng thành viên HĐQT của công ty tăng thêm
1 người thì chỉ số CBTT của công ty tăng thêm
0,95 điểm với mức ý nghĩa thống kê 1% Mối
quan hệ này có thể được giải thích là do công ty
có nhiều thành viên trong HĐQT sẽ có lợi hơn
trong việc giám sát hoạt động của công ty do sự
đa dạng về kiến thức và kinh nghiệm của các
thành viên Vì vậy, số lượng thành viên HĐQT
của công ty càng nhiều có thể giúp ngăn chặn
tốt hơn các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của
các cổ đông, giảm chi phí đại diện và tạo ra áp
lực cho việc CBTT đầy đủ và kịp thời
Kiêm nhiệm (DUAL): Phù hợp với Li và cộng
sự (2008) Ho và Wong (2001), Gul và Leung
(2004), Donnelly và Mulcahy (2008), nghiên
cứu này cũng tìm thấy bằng chứng để kết luận rằng kiêm nhiệm làm giảm mức độ CBTT của công ty Cụ thể là, các công ty có chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc hoặc giám đốc có mức độ CBTT thấp hơn các công ty còn lại 1,67 điểm Sự khác biệt về mức độ CBTT giữa hai nhóm công ty này có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Kết quả nghiên cứu này có thể được giải thích trên cơ sở Lý thuyết thông tin bất cân xứng Kiêm nhiệm là một khía cạnh quan trọng đối với quản trị công ty, nó làm giảm đi tính độc lập và năng lực giám sát, kiểm soát quản lý của HĐQT (Jensen, 1993; Khanchel, 2007)
Tỷ lệ nữ trong HĐQT (BW): Đúng như kỳ
vọng, kết quả phân tích hồi quy cho thấy tỷ lệ
nữ trong HĐQT có tương quan thuận với mức
độ CBTT của các công ty niêm yết Điều này
có nghĩa là khi tỷ lệ nữ trong HĐQT càng cao thì mức độ CBTT của các công ty càng cao và ngược lại Cụ thể là, khi tỷ lệ nữ trong HĐQT tăng 1% thì mức độ CBTT của công ty tăng 4,16 điểm Về mặt thống kê, mối quan hệ này
có ý nghĩa ở mức 5% Kết quả nghiên cứu này thống nhất với nhiều nghiên cứu trước đây (Liao và cộng sự, 2014; Adam và Ferreria, 2009)
Ngoài các biến số liên quan đến đặc điểm HĐQT, nghiên cứu này còn sử dụng 4 biến kiểm soát Kết quả phân tích hồi quy được trình bày ở Bảng 4 cho thấy có đến 3 biến kiểm soát
có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, đó là Quy mô doanh nghiệp (FSIZE), Tỷ suất lợi nhuận (PRO)
và Chủ thể kiểm toán (BIG4) Cụ thể là, Quy
mô công ty và tỷ suất lợi nhuận có mối tương quan thuận với mức độ CBTT của các công ty Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy các công ty được kiểm toán bởi một trong bốn công
ty kiểm toán lớn nhất (Big 4) có mức độ CBTT cao hơn so với các công ty còn lại Bên cạnh
đó, giá trị R2 cho biết các biến độc lập trong
mô hình đã giải thích được 37,8% sự thay đổi của biến phụ thuộc Thêm vào đó, giá trị thống
kê F được ước lượng từ mô hình cho biết mô hình hồi quy mà nhóm nghiên cứu sử dụng có ý nghĩa thống kê ở mức 1%
5 Kết luận
Bảng 4
Kết quả ước lượng từ mô hình hồi quy
quy
Giá trị thống
kê t
BOWN (Tỷ lệ sở hữu của HĐQT) -0,42 -0,39
FSIZE (Quy mô doanh nghiệp) 2,20 4,07***
PRO (Tỷ suất lợi nhuận) 11,63 2,94***
LEV (Đòn bẩy tài chính) -1,42 -0,97
BIG4 (Chủ thể kiểm toán) 2,66 4,06***
***, ** : có ý nghĩa thống kê lần lượt ở mức 1% và 5%
Trang 8Nội dung chính của nghiên cứu này là đo lường
ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Tài liệu tham khảo
1 Adam, R., Alemedia, H and Ferreira, D., 2005 Poweful CEOs and their impact on corporate governance The Review of Financial Studies, 18(4): 1403-1432.
2 Adams, R and Ferreira, D., 2009 Women in the boardroom and their impact on governance and performance Journal of Financial Economics, 94: 291-309
3 Aksu, M and and Kosedag, A., 2006 Transparency and disclosure scores and their determinants in the Istanbul Stock
Exchange Corporate Governance: An International Review, 1: 277-296
4 Albitar, K., 2015 Firm characteristics, governance attributes and corporate voluntary disclosure: A study of Jordanian listed companies International Business Research, 8(3): 1-10.
5 Barako, D., Hancock, P and Izan, H., 2006 Factors influencing voluntary disclosure by Kenyan firms Corporate
Governance: An International Review, 14(2): 107-125.
6 Botosan, C and Plumlee, M., 2002 A re-examination of disclosure level and the expected cost of equity capital Journal of Accounting Research, 40(1): 21-40
7 Botosan, C., 1997 Disclosure level and the cost of equity capital The Accounting Review, 72 (3): 323-349.
8 Chau, G and Gray, S., 2002 Ownership structure and corporate voluntary disclosure in Hong Kong and Singapore The International Journal of Accounting, 37(2): 247-265
9 Cheng, E and Courteney, S., 2006 Board composition regulatory regime and voluntary disclosure The International Journal
of Accounting, 41(3): 262-289.
10 Cheung, S., Connelly, J and Limpaphayom, P., 2007 Determinants of corporate disclosure and transparency International Corporate Responsibility, 3: 313-342.
11 Donnelly, R and Mulcachy, M., 2008 Board structure ownership and voluntary disclosure in ireland Corporate
Governance: An International Review, 16(5): 416-429.
12 Eng, L and Mak, Y., 2003, Corporate governance and voluntary disclosure Journal of Accounting & Public Policy, 22(4): 325-345.
13 Gandia, J., 2008 Determinants of internet‐based corporate governance disclosure by Spanish listed companies Online information Review Jounal, 32(6): 791-917.
14 Fathi, J., 2013 Corporate governance and the level of financial disclosure by Tunisian firm Journal of Business Studies Quarterly, 4: 95-111.
15 Gul, F and Leung, S., 2004 Board leadership outside directors’ expertise and voluntary corporate disclosures Journal of Accounting and Public Policy, 23: 351-379.
16 Haniffa, R and Cooke, T., 2002 Culture corporate governance and disclosure in malaysian corporations Journal of
Accounting, Finance and Business Studies, 38(3): 17-349.
17 Ho, S and Wong, K., 2001 A study of the relationship between corporate governance structures and the extent of voluntary disclosure Journal of International Accouting, Auditing and Taxation, 10(1): 139-156.
18 Hossain, M., 2008 The extent of disclosure in annual report of banking companies: the case of India European Journal of Scientific Research, 23(4): 660-681.
19 Hossain, M., Tan, L and Adams, M., 1994 Voluntary disclosure in an emerging capital market: Some empirical evidence from companies listed on Kuala Lumpur stock exchange The International Journal of Accounting, 29(4): 334-351.
20 Jensen, M., 1993 The modern industrial revolution exit and the failure of internal control systems The Journal of Finance, 48(3): 831-880.
21 Jensen, M and Meckling, W., 1976 Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure Journal
of Financial Economics, 3: 305-360.
22 Karim, A., 1996 The association between corporate attributes and the extent of corporate disclosure Journal of Business Studies, 17(2): 89-124.
23 Khanchel, I., 2007 Corporate governance: measurement and determinate analysis Manegerial Accountin Journal, 22(8): 740-760.
24 Li, J., Pike, R and Haniffa, R., 2008 Intellectual capital disclosure and corporate governance structure in UK firms
Accouting and Business Research, 38(2): 137-159.
25 Liao, L., Luo, L., and Tang, Q., 2015 Gender diversity, board independence, environmental committee and greenhouse gas disclosure The British Accounting Review, 47(4): 409-424.
26 Lim, S., Matolscy, Z and Chow, D., 2007 The association between board composition and different types of voluntary
disclosure European Accounting Review, 16(3): 555-583.
27 Lopes, P and Rodrigues, L., 2007 Accounting for financial instrument: An analysis of the determinants of disclosure in the Portuguese stock exchange The International Journal of Accounting, 42: 25-56.
xem tiếp trang 54
Trang 928 Malone, D., Fries, C and Jones, T., 1993 An empirical investigation of the extent of corporate financial disclosure in the oil and gas Industry Journal of Accounting, Auditing & Finance, 8(3): 249-273
29 McKinnon, J and Dalimunthe, L., 1993 Voluntary disclosure of segment information by Australian diversified companies Accounting & Finance, 33(1): 33-50.
30 Nandi, S and Ghosh, S., 2013 Corporate governance attributes, firm characteristics and the level of corporate disclosure: evidence from the Indian listed firms Decision Science Letters, 2: 45-58.
31 Naser, K., Al-Khatib, K., and Karbhari, Y., 2002 Empirical evidence on the depth of corporate information disclosure in developing countries: The case of Jordan International Journal of Commerce and Managemen, 12(3): 122-155.
32 Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(11): 99-115.
33 Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài, 2015 Ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán TP.HCM Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(4): 87-103
34 Ross, S A., 1977 The determination of financial structure: the incentive-signalling approach The bell Journal of economics, 8: 23-40
35 Rouf, M., 2010 Corporate characteristics, governance attributes and the extent of voluntary disclosure in Bangladesh Asian Journal of Management Research, 166-183
36 Sartawi, I., Hindawi, R., Bsoul, R and Ali, A., 2014 Board composition, firm characteristics, and voluntary disclosure: The case of Jordanian firms listed on the Amman Stock Exchange International Business Research, 7(6): 67-82.
37 Srinidhi, B., Gul, F., and Tsu, J., 2011 Female directors and earnings quality Contemporary Accounting Research, 28(5): 1610- 1644.
38 Turrent, G and Ariza, R., 2012 Corporate information transparency on the internet by listed companies in Spain (IBEX35) and Mexico (IPYC) The International Journal of Digital Accouting Research, 12: 1-37
39 Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Kim Anh, 2017 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch và công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh Tạp chí Công nghệ ngân hàng, 135: 28-41.
40 Xiao, H and Yuan, J., 2007 Ownership structure, board composition and corporate voluntary disclosure: Evidence from listed companies in China Managerial Auditing Journal, 22(6): 604-619.
41 Wallace R., Naser K and Mora, A 1994 The relationship between the comprehensiveness of corporate annual reports and firm specific characteristics in Spain Accounting and Business Research 25(97): 41-53.
Thông tin tác giả
Trương Đông Lộc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Nơi công tác: Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ
Email: tdloc@ctu.edu.vn
Nguyễn Xuân Thuận, Thạc sĩ
Nơi công tác: Khoa Kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ
Email: nxthuan@ctu.edu.vn
Summary
Effects of characteristics of directors board on the level of information disclosure of listed companies: Empirical evidences from Ho Chi Minh Stock Exchange
The main objective of this study is to measure the effects of characteristics of directors board on the level of information disclosure of listed companies on Ho Chi Minh Stock Exchange (HOSE) Data used in the study were collected from financial statements and annual reports of 207 companies listed on HOSE in 2015 The empirical findings show that the level of information disclosure of the companies, on average, is 73.1 points In addition, results derived from the regession model reveal that the total number of directors and the percentage of women in the board have a positive relationship with the level of the companies’ information disclosure However, companies that have one individual who serves as both chairman of director board and chief executive officer have a lower extent of information disclosure Moreover, this study find that size and profitability of the companies have positive relationships with the level of information disclosure of the companies while companies audited by the four biggest auditing companies (Big Four) are better the others in the level of information disclosure Key words: Characteristics of the board of directors, information disclosure, listed companies, HOSE
Loc Dong Truong, Assoc Prof., PhD.
College of Economics, Can Tho University
Thuan Xuan Nguyen, MEc.
College of Economics, Can Tho University
Trang 10Thông tin tác giả
Nguyễn Quốc Nghi, Tiến sĩ
Đại học Cần Thơ
Email: quocnghi@ctu.edu.vn
Summary
The effects of stress on the work performance of the employees in the banking sector
In this study, Structural Equation Modeling (SEM) was used in the study aiming to test the effects of stress
on the work performance of bank employees The research data were collected by direct interview of 253 employees working in the banking system Research results indicated that work pressures, higher pressures, income pressures, time pressures, relationships and working conditions are factors that contribute to job stress Research has shown that job stress negatively impacts job performance A number of recommendations have been proposed to help manage stress and improve work performance for bank employees.
Keywords: stress on the work, performance, employees, bank
Nghi Quoc Nguyen, PhD.
Cantho University
nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán có thể
sẽ đóng góp vào lý luận về kiểm toán BCTC tại
Việt Nam, vì hiện nay chưa có công trình nào
trong nước đề cập đến vấn đề này Bên cạnh
đó, tác giả kỳ vọng từ tổng quan nghiên cứu
được tổng hợp từ bài viết này sẽ giúp tác giả
có những định hướng rõ ràng hơn để đi sâu vào
tìm hiểu và giúp các chuyên gia trong lĩnh vực
tại Việt Nam có những gợi ý nhằm thực hiện
cuộc kiểm toán hiệu quả, sử dụng nguồn lực
kiểm toán hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng
kiểm toán ở mức độ cao ■
tiếp theo trang 46
HOSE Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí của
S&P, hệ thống pháp luật Việt Nam về CBTT và
điều kiện của TTCK Việt Nam, chỉ số CBTT đã
được xây dựng để đo lường mức độ CBTT của
các công ty niêm yết trên HOSE Sử dụng số
liệu của 207 công ty trong năm 2015, kết quả
cứu cho thấy mức độ CBTT bình quân của các
công ty là 73,1 điểm Ngoài ra, kết quả phân
tích hồi quy đã chỉ ra rằng quy mô HĐQT và tỷ
lệ nữ trong HĐQT có mối tương quan thuận với
mức độ CBTT của các công ty Ngược lại, việc
kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và tổng
giám đốc/giám đốc làm giảm mức độ CBTT
của các công ty Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ
ra rằng quy mô công ty và tỷ suất lợi nhuận có
mối tương quan thuận với mức độ CBTT của
tiếp theo trang 38
các công ty Cuối cùng, nghiên cứu còn chỉ ra rằng các công ty được kiểm toán bởi một trong bốn công ty kiểm toán lớn nhất (Big 4) có mức
tài chính khi về hưu, vừa đáp ứng được nhu cầu đầu tư tăng trưởng Trên cơ sở tài khoản hưu trí được ủy thác và quản lý bởi các tổ chức quản
lý quỹ, sinh lời của khoản tiền hưu trí sẽ được theo dõi và báo cáo thường xuyên Người lao động sẽ chủ động được khoản thu nhập mình sẽ nhận trong tương lai thông qua các quỹ hưu trí Thêm vào đó, tham gia quỹ hưu trí, khoản tiền tiết kiệm trên tài khoản hưu trí của người lao động sẽ được miễn thuế
Bốn là, tăng cường chính sách miễn giảm thuế
Cần thiết có chính sách ưu đãi thuế đối với người lao động và doanh nghiệp tham gia vào quỹ hưu trí Đây là yếu tố cốt lõi để thu hút các đối tượng tham gia vào quỹ hưu trí trong thời gian đầu mới thành lập loại hình quỹ này Hiện nay với Nghị định 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 về Chương trình Hưu trí bổ sung tự nguyện, chính sách ưu đãi thuế của chính phủ chưa thực sự hấp dẫn các đối tượng tham gia
Cụ thể, mức miễn thuế tối đa cho phép hiện nay chỉ là 1 triệu đồng/tháng, được áp dụng cho cả người lao động và người sử dụng lao động khi tham gia vào quỹ hưu trí tự nguyện ■
tiếp theo trang 29