1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề tài: THU NHẬN VÀ SÀNG LỌC CAO CHIẾT ETHANOL THỰC VẬT TẠI BÌNH DƯƠNG CĨ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN STAPHYLOCOCCUS AUREUS KHÁNG METHICILLIN (MRSA)

19 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 760,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những phương pháp có khả năng kháng vi khuẩn kháng kháng sinh đó là sự kết hợp các hợp chất thực vật với các tác nhân diệt khuẩn khác là một hướng đi mới hiện nay.. Xuất phát t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Tên đề tài: THU NHẬN VÀ SÀNG LỌC CAO CHIẾT ETHANOL THỰC VẬT TẠI BÌNH DƯƠNG CÓ HOẠT

TÍNH KHÁNG KHUẨN STAPHYLOCOCCUS AUREUS

KHÁNG METHICILLIN (MRSA)

Mã số:

Tên báo cáo chuyên đề 1:

Thu nhận cao Ethanol thực vật cho hoạt tính kháng MRSA

Chủ nhiệm đề tài: Th.S Mai Thị Ngọc Lan Thanh Người chủ trì thực hiện chuyên đề: Th.S Mai Thị Ngọc Lan Thanh

Bình Dương, 22/04/2019

Trang 2

MỤC LỤC

1.Đặt vấn đề……… ……….4

Vancomycin……… 5

2.Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận 7

3 Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được 8

4.Kết luận và kiến nghị………15

5 Tài liệu tham khảo……… 15

Trang 3

Bảng chú giải các ký hiệu, đơn vị đo, từ viết tắt, thuật ngữ

Trang 4

1 Đặt vấn đề

Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi

khuẩn in vitro

Kháng sinh được phân thành các nhóm theo cơ chế ức chế phát triển vi khuẩn như sau: + Ức chế sự tổng hợp vách tế bào

+ Ức chế sự tổng hợp protein

+ Ức chế chức năng màng

+ Thay đổi con đường trao đổi chất

+ Ức chế sự tổng hợp nucleic acid

Các chủng vi sinh vật phơi nhiễm với kháng sinh một thời gian đã xuất hiện các cơ chế kháng thông qua:

+ Sản xuất enzym làm biến đổi cấu trúc hóa học của thuốc

+ Làm thay đổi khả năng thẩm thấu của màng tế bào đối với thuốc

+ Thay đổi cấu trúc protein đích mà thuốc tác dụng lên

+ Tăng nhiều số lượng mục tiêu để vô hiệu hoá tác dụng của thuốc (Hiroshi Yoneyama, 2006)

Vancomycin

Vancomycin thuộc nhóm glycopeptides

Vancomycin có ái lực cao với D-ala-D-ala tại đầu C của pentapeptide, do đó nó khoá sự hình thành tiền chất sau bằng transglycosylation với peptidoglycan và ngăn cản quá trình

hình hình cross-linking bằng transpeptidation

Trang 5

Vancomycin không có tính thấm qua màng tế bào chất, do đó nó chỉ tương tác với đích thuốc sau khi tiền chất được khảm qua bề mặt màng

Do vancomycin không tương tác với enzyme tổng hợp vách tế bào nhưng hình thành phức hợp với tiền chất peptidoglycan, hoạt động của nó không xác định bằng ái lực với enzyme đích nhưng bằng cơ chất đặc biệt của enzyme để quyết định cấu trúc của tiền chất peptidodlycan Kháng vancomycin là sự hiện diện của operon chứa mRNA dịch mã cho enzyme tổng hợp những tiền chất có ái lực thấp với vancomycin

Đặc biệt, ở đầu C của D-ala-D-ala được thay thế bằng D-lactate hoặc D-Serine do đó làm thay đổi vi trí gắn vancomycin và phá huỷ ái lực cao của tiền chất với vancomycin, do đó xoá bỏ đích thuốc

Như vậy, có thể thấy rằng các loại kháng sinh hiện nay nhiều nguy cơ không còn đủ khả năng kháng lại các loại vi khuẩn, ngay cả những kháng sinh thế hệ mới dùng đặc trị cho

các bệnh nhiễm trùng huyết khi nhiễm Staphylococcus aureus như methicillin, vancomycin đều xuất hiện chủng Staphylococcus aureus kháng như MRSA kháng methicillin 13,6%; Staphylococcus aureus kháng trung gian vancomycin (VISA) và Staphylococcus aureus

kháng vancomycin (VRSA) 6.1% (Kính, 2010)

S aureus kháng methicillin xuất hiện 2 cơ chế kháng phổ biến:

• 1 Siêu biểu hiện β-lactamases

• 2 Thay đổi dạng bình thường của Protein gắn Penicillin (PBPs)

Sự hiện diện của protein PBP2a- Đây là cơ chế hiện diện sau cùng trong hầu hết các

chủng lâm sàng

S.aureus có 4 tiền chất PBPs thông thường trên màng tế bào chất tham gia vào quá trình

crosslinking peptidoglycan của vách tế bào Những PBPs thông thường này có hoạt động tương tự với serine của protease và có ái lực cao với những chất β-lactam Khi xảy ra việc gắn, những PBPs không có chức năng hình thành phức hợp vách tế bào, dẫn đến vi khuẩn chết

PBP2a là protein có trọng lượng phân tử 76kDa, nó được biểu hiện trong các chủng MRSA PBP2a có ái lực thấp với nhóm kháng sinh β-lactam, do đó khả năng có khả năng thay thế

Trang 6

chức năng sinh tổng hợp của PBPs thông thường không sự hiện diện của β-lactam, bằng cách này tế bào sẽ tránh được sự ly giải

PBP2a được biểu hiện từ gene mecA không hiện diện trong các chủng S.aureus nhạy kháng

sinh (Palavecino, 2007) Hơn nữa trong khoảng 30 năm trở lại đây, con người chưa thực

sự thành công trong việc tìm ra loại kháng sinh nào mới mà chủ yếu là các dạng sửa đổi (modify) dựa vào khung nguyên bản của thuốc kháng sinh thế hệ cũ

Đứng trước các thực trạng nói trên, việc tìm kiếm một phương pháp mới để kháng lại vi khuẩn có khả năng kháng kháng sinh, đặc biệt dạng siêu kháng là hết sức cấp bách Một trong những phương pháp có khả năng kháng vi khuẩn kháng kháng sinh đó là sự kết hợp các hợp chất thực vật với các tác nhân diệt khuẩn khác là một hướng đi mới hiện nay Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, có tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc Thực vật dùng làm thuốc trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cộng đồng đã được sử dụng từ xa xưa theo các đơn thuốc y học cổ truyền vẫn còn giá trị sử dụng cho đến ngày nay trong trị chữa các bệnh cấp tính và mãn tính Có thể

đơn cử một số bài thuốc dân gian chữa các bệnh nhiễm khuẩn như: Bù xít (Ageratum conyzoides L) chữa viêm xoang, nước sắc bằng cồn của Ngũ trảo được thử nghiệm cho thấy có tính kháng sinh đối với Bacillus subtilis, Escherichia coli, Salmonella typhi, Vibrio mimicus, Staphyllococcus aureus, Proteus vulgaris, Proteus aeruginosa, và 3 loài nấm (Aapergillus niger, Aspergillus flavon, Candida albicans) Nước sắc hoặc rượu Ngũ trảo

có tác dụng kháng sinh trên các vi khuẩn trên trị trúng thực, sình bụng, tiêu chảy, huyết trắng, nhiễm trùng da

Xuất phát từ những nguyên nhân nói trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Thu nhận và sàng

lọc cao chiết ethanol từ thực vật bản địa Bình Dương có hoạt tính kháng khuẩn Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA).”

Chuyên đề 1: “Thu nhận cao Ethanol thực vật cho hoạt tính kháng MRSA”

là một chuyên đề nghiên cứu trong Đề tài Thu nhận và sàng lọc cao chiết ethanol từ thực

vật bản địa Bình Dương có hoạt tính kháng khuẩn Staphylococcus aureus kháng

methicillin (MRSA)

Trang 7

2 Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận

Nuôi cấy vi khuẩn: Chủng vi khuẩn Chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus nhạy

methicillin (MSSA) ATCC 6538 được sử dụng như chủng đối chứng, chủng

Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) ATCC 33591 được cung cấp bởi công

ty Microbiologics (USA) và MSSA được nuôi trên môi trường lỏng Trypton Soy

(Himedia, Ấn Độ), và môi trường Trypton Soy agar (Himedia, Ấn Độ) Chủng vi khuẩn được nuôi trong tủ ấm (DaiHan, Hàn Quốc), ở nhiệt độ 370C, trong vòng 18 giờ

Phương pháp thu nhận cao ethanol thực vật : Sinh khối tươi thực vật (lá, hoa, cành non)

sau khi thu hái về được rửa bằng nước cất sạch bụi bẩn, trữ tủ lạnh trong vòng 24 giờ, cho nitơ lỏng đế phá vỡ tế bào nghiền bằng máy xay FY 130, tốc độ máy 34000

vòng/phút, kích thước mắt lưới 0.074-0.25mm Sau đó bột thực vật sẽ được dùng để chiết cao theo phương pháp ngâm dầm trong ethanol ở 500C, lắc ở 100 vòng/phút trong máy lắc Ika KS 4000i (Đức), sau thời gian 24 giờ sẽ thu một lần, và chiết kiệt trong vòng 1 tuần Tỷ lệ chiết (ethanol: sinh khối thực vật khô) 2 lít: 50g, chiết lặp lại 3 lần Dung dịch thu được sẽ được lọc qua giấy lọc Whatman đường kính 110mm, với kích thước lỗ lọc 20-25µm , dịch lọc thu được sẽ được cô cao bằng máy cô quay ở 500C, trong vòng 2-3 giờ, sau đó cao sệt sẽ được để trong tủ sấy ở 500C đến khối lượng không đổi

Phương pháp thu nhận dung dịch cao thực vật khảo sát hoạt tính kháng MRSA: Cao thực

vật thu được sẽ được cân khối lượng bằng cân phân tích Sartorius (Đức) Khối lượng cân được sẽ được hòa tan trong dung dịch DMSO(Merck, Đức) 10%, Dịch hòa tan sẽ thu và đem ly tâm ở tốc độ 14.000 vòng/phút trong vòng 4 phút bằng máy Hermle (Đức) Sau

đó, loại cặn và thu dịch Dung dịch này sẽ được lọc qua phin lọc có kích thước lỗ lọc 0.22µm và xác định nồng độ thông qua hai phương pháp gián tiếp và trực tiếp Phương pháp gián tiếp thông qua khối lượng cặn được phơi trong tủ sấy ở 500C, và cân đến khối lượng không đổi, lấy khối lượng cao ban đầu trừ cho khối lượng cặn sẽ ra khối lượng chất tan hòa trong dung dịch DMSO 10% Phương pháp xác định nồng độ dung dịch trực tiếp bằng cách dùng pipetman lấy 1ml dịch thu được và cô đến khối lượng không đổi

Trang 8

trong tủ sấy DaiHan (Hàn Quốc) ở 500C Khối lượng cân được chính là khối lượng chất tan trong 1ml dung dịch khảo sát

Thử nghiệm khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch (Agar diffusion method): Chuẩn bị đĩa môi trường Muller-Hinton Agar (MHA) là môi trường

chuẩn dùng để khảo sát khả năng kháng khuẩn của dịch chiết, có bổ sung vi khuẩn khảo sát ở nồng độ 106CFU/ml Sử dụng phương pháp Kirby-Bauer Các giếng trên đĩa thạch được khoan có kích thước lỗ 4mm Các giếng được làm đầy bằng dịch chiết với thể tích 50l ở nồng độ MIC tối thiểu của kháng sinh thử nghiệm làm đối chứng Giếng được cho vào 50l dịch chiết thực vật Sau đó, các đĩa được ủ ở 37oC trong vòng 24 giờ Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần Các kích thước vòng kháng khuẩn theo milimet (mm) được đọc sau 24 giờ Hoạt tính kháng MRSA của cao thực vật so độ mạnh yếu dựa trên cơ sở

so sánh với kích thước vòng kháng khuẩn của kháng sinh chuẩn, còn hoạt tính kháng khuẩn của kháng sinh chuẩn sử dụng tiêu chuẩn vòng kháng khuẩn của CLSI để giải

thích.(Edition, 2012)

3 Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được

Danh mục thực vật khảo sát kháng MSSA và MRSA

stt

sử dụng

Chủng vi khuẩn

E.coli S.aureus MRSA

1 Kinh giới Lamiaceae Elsholtzia

cristata

Toàn

2 Rẻ quạt Iridaceae Belamcanda

chinensis

Toàn

3 Mã đề Plantaginac

eae

Plantago asiatica L

Toàn cây 5.6± 0.3 6.5 ± 0.4 -

Trang 9

4 Tiêu lớp Piperaceae Piper longum Toàn

5 Rau sam

Portulacace

ae

Portulaca oleracea

Toàn

6 Hoa sữa Apocynacea

e

Alstonia scholaris L

Toàn

7 Chè xanh Theaceae Camellia

sinensis

Toàn cây - 13.5 ± 0.4 7.8 ± 0.2

8

Diệp ha

châu

xanh

Euphorbiac eae

Phyllanthus urinaria L

Toàn cây 7.5 ± 0.4 10 ± 0.8 6.5 ± 0.4

9 Gấc Cucurbitac

eae

Momordica cochinchinens

is

Toàn

10 Khế Oxalidacea

e

Averrhoa carambola L

Toàn cây 13 ± 0.4 15 ± 0.7 11± 0.7

11 Điều Anacardiacea

e

Anacardium occidentale L

Toàn cây 4 ± 0.8 5.3 ± 0.5 -

12 Cơm rượu Rutaceae Glycosmis

pentaphylla

Lá và

13 Đinh lăng Araliaceae Polyscias

fruticosa

Lá và cành non

14 Cỏ sữa lá

nhỏ

Euphorbiace

ae

Euphorbia thymifolia L.

Toàn cây

15

Cây Ké Đầu

Xanthium strumarium L.

Toàn

Trang 10

VK±SD (Standard deviation) = (-): không có hoạt tính kháng khuẩn

Bảng 1 Danh mục thực vật thu cao chiết ethanol cho hoạt tính kháng MRSA

Stt

Tên thực vật

Bộ phận sử dụng

Nồng

độ Cao thực vật (µg/ml)

Hoạt tính kháng MRSA

Tên thông thường Tên khoa học

1 Kim vàng Barleria lupulina Lindl Toàn cây 90.12 +

2 Trâm Tròn Syzygium glomerulatum Lá và cành

non

9.83

+

3

Trâm Dài Syzygium cumini L Lá và cành

non

50.83

+

4

Cò ke Grewia asiatica L Lá và cành

non

29.4

+

5

Xăng mã Carallia brachiata Lá và cành

non

31.34

+

Định vị

Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương 11000’33.02’’ Phía Bắc, 106039’00.37’’ phía Đông, Độ cao 11m±3m

Từ 20 loài thực vật được thu nhận tại Bình Dương, bằng phương pháp chiết ngâm dầm ethanol 99% kết hợp với lắc ở tốc độ 100 vòng/phút trong thời gian 24h, chiết 1 lần và lặp lại trong vòng 1 tuần cho đến khi chiết kiệt Cô giảm áp còn khoảng 1/4 thể tích, sau đó cao sệt được để vào tủ sấy 500C đến khối lượng không đổi ta được cao ethanol Cao ethanol

thực vật được hòa trong DMSO 10% để khảo sát hoạt tính kháng khuẩn Staphylococus aureus nhạy methicillin (MSSA)ATCC 6538 và Staphylococcus aureus kháng methicillin

(MRSA) ATCC 33591 bằng phương pháp khếuch tán đĩa Kết quả đươc chỉ ra Hình 1 Và Bảng 1 có năm cao ethanol thực vật cho hoạt tính MRSA gồm: Kim vàng, Xăng Mã, Trâm

Trang 11

Tròn, Trâm Dài, Cò ke với nồng độ lần lượt là 90.12 µg/ml, 31.34 µg/ml, 9.83 µg/ml, 50.83µg/ml, 29.4 µg/ml Hoạt tính kháng MRSA của năm loại thực vật này đều được báo cáo lần đầu tiên ở Việt Nam, và trên thế giới cũng đã có một số ít công trình nghiên cứu của năm loại thực vật này Thêm nữa, hoạt tính kháng MRSA của cao Kim vàng đã được báo cáo theo công trình của Keerati Joyjamras và cộng sự tại Đại Học Rangsit, Thái Lan

đã báo cáo Kim vàng không cho hoạt tính kháng MSSA và MRSA kết quả cũng tương tự

do nhóm tác giả Voravuthikunchai, Phongpaichit, & Subhadhirasakul năm 2005 cũng báo cáo các thực vật tại Thái Lan có Kim vàng cũng không cho hoạt tính kháng khuẩn (Joyjamras, Sukplang, & Thongmee; Voravuthikunchai, Phongpaichit, & Subhadhirasakul, 2005), tuy nhiên trong nghiên cứu này cho hoạt tính kháng MRSA ở nồng độ chỉ 90.12 µg/ml Điều này có thể cho thấy khả năng thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết thực vật

Hình 1 Hoạt tính kháng khuẩn của Năm cao ethanol thực vật kháng MRSA

Trong Bốn Cây còn lại thì Trâm Dài là có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn và nồng độ cao methanol kháng MRSA cũng đã được báo cáo là 100mg/ml cho kích thước vòng kháng MRSA là 13.15±0.21(mm) (Priya, Devi, Eganathan, & Kingsley, 2013), trong khi đó hoạt tính kháng MRSA của đề tài này là 50.83 µg/ml cho kích thước vòng kháng là 12mm Hướng khác Cao trâm tròn vẫn chưa công trình nghiên cứu nào báo cáo trước đó Còn lại hai loài thực vật là Xăng Mã và Cò ke, thì ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về hoạt tính MRSA của Cao chiết từ Cò Ke, cũng như Cò ke, Xăng Mã được Ruchi Tiwari và công sự báo cáo về hoạt tính làm lành vết thương, bước đầu xác định các nhóm hợp chất có trong cao Xăng Mã gồm Tannins, flavonoids and glyceroglycolipids (Tiwari, Chakraborty, & Dhama) Như vậy từ kết quả nghiên cứu này có thể thấy tiềm năng

Trang 12

về hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết ethanol các loài thực vật bản địa Bình Dương, đặc biệt là hoạt tính kháng MRSA

1 Khảo sát khả năng kết hợp của các cao ethanol năm loài thực vật trên hoạt tính kháng MRSA

Xăng Mã-Trâm Tròn

Xăng Mã-Kim Vàng

Cò Ke-Trâm Tròn

Cò Ke-Kim Vàng

1

1

1

1

Trang 13

Trâm Dài-Trâm Tròn

Trâm Dài-Kim Vàng

Hình 2 Hoạt tính kháng khuẩn và khả năng kết hợp của dịch chiết cao Xăng Mã, Cò Ke,

Trâm Dài với Cao Trâm Tròn, Kim Vàng kháng MRSA

Bảng 2 Khảo sát khả năng kết hợp của Cao Xăng Mã, Cò Ke, Trâm Dài với Trâm Tròn,

Kim Vàng trên chủng MSSA và MRSA bằng phương pháp khuếch tán đĩa

Tên thực vật

Bán kính vòng kháng khuẩn (rA) (mm)

Bán kính vòng kháng khuẩn (rB) (mm)

Kích thước vòng kháng khuẩn theo công thức (D) (mm)

Kích thước vòng kháng khuẩn mở rộng (C) (mm)

Kết hợp

vi khuẩn Trâm

Tròn

Kim Vàng

MSSA

MRSA

Theo công thức của Farrukh Aqil và cộng sự (Aqil et al., 2006) Kích thước vòng kháng

1

1

Trang 14

Cao Xăng Mã trên chủng MSSA lần lượt là 4mm và 6mm, rB của Trâm Tròn và Kim Vàng lần lượt là 9mm và 4mm Theo công thức thì kích thước vòng kháng khuẩn D là 13mm và

10mm nhỏ hơn kích thước vòng kháng khuẩn mở rộng của cao Xăng Mã với Trâm Tròn là

17mm và Xăng Mã với Kim Vàng là 12mm Vì vậy có sự kết hợp hoạt động của cao Xăng

Mã với Trâm Tròn và Kim Vàng trong hoạt tính kháng MSSA Tương tự, Cao Cò ke có sự kết hợp với Cao Trâm Tròn và Cao Kim vàng, Cao Trâm Dài cũng có sự kết hợp với Cao

Trâm tròn nhưng không có kết hợp với Cao Kim vàng trên hoạt tính kháng MRSA

Hình 3 Hoạt tính kháng khuẩn và khả năng kết hợp của dịch chiết cao Xăng Mã với

Cao Trâm Tròn, Kim Vàng kháng S.aureus

Xăng Mã-Trâm Tròn

Xăng Mã-Kim Vàng

Tương tự Xăng Mã, Cò Ke, Trâm Dài cho khả năng kết hợp với Trâm Tròn trong hoạt tính kháng MRSA Riêng đối với Kim Vàng thì chỉ có Xăng Mã và Cò Ke cho khả năng kết

1

1

Ngày đăng: 23/05/2021, 03:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w