1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO VĨ MÔ VÀ TRIỂN VỌNG TTCK 6 THÁNG CUỐI NĂM 2018

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm tăng trưởng tốt đạt 7,08% so với cùng kỳ, lạm phát có xu hướng tăng nhẹ, vốn FDI tiếp tục tích cực, cán cân thương mại thặng dư, thâm hụt ngân sách giả

Trang 1

20 Tháng 7, 2018

BÁO CÁO VĨ MÔ VÀ TRIỂN VỌNG TTCK

6 THÁNG CUỐI NĂM 2018

Trang 2

Tháng 7 năm 2018

 Kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm tăng trưởng tương đối khả quan mặc dù

có sự phân hóa giữa các nền kinh tế phát triển cũng như thị trường mới nổi Các hoạt động sản xuất tăng trưởng ổn định, thương mại toàn cầu được cải thiện cùng với giá cả hàng hóa dần hồi phục là những động lực hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu

 Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm tăng trưởng tốt đạt 7,08% so với cùng

kỳ, lạm phát có xu hướng tăng nhẹ, vốn FDI tiếp tục tích cực, cán cân thương mại thặng dư, thâm hụt ngân sách giảm, tỷ giá chịu áp lực do ảnh hưởng từ thế giới tuy nhiên vẫn trong phạm vi kiểm soát

 Theo Worldbank, những thách thức chủ yếu đối với tăng trưởng trong giai đoạn hiện nay là: (i) chủ nghĩa bảo hộ gia tăng làm leo thang căng thẳng thương mại; (ii) các nước đang phát triển đối mặt với việc rút vốn và đồng tiền mất giá do chính sách tiền tệ dần thắt chặt tại các nước phát triển

 Kinh tế Việt Nam 6 tháng cuối năm tiếp tục tăng trưởng tốt đạt các chỉ tiêu đề ra tuy nhiên tác động từ các nhân tố bất ổn sẽ dần lộ diện

 Thị trường chứng khoán biến động với các yếu tố thuận lợi và rủi ro đan xen VN Index biến động trong khoảng từ 830 – 1000 điểm

 Chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư giao dịch thận trọng trong 6 tháng cuối năm Đối với các nhà đầu tư tương đối ưa thích rủi ro và đầu tư ngắn hạn, có thể tận dụng các cơ hội đầu tư trong các nhịp tăng giảm (chúng tôi sẽ có các phân tích

và khuyến nghị trong các báo cáo ngày, tuần) Đối với các nhà đầu tư có mức độ

ưa thích rủi ro thấp, có thể quan tâm đầu tư các cổ phiếu ổn định có tỷ suất cổ tức cao hoặc trái phiếu doanh nghiệp có lợi tức, thời hạn và điều khoản phù hợp với khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư

Trang 3

TỔNG QUAN KINH TẾ THẾ GIỚI 6 THÁNG

ĐẦU NĂM 2018

Kinh tế thế giới vẫn tăng trưởng tương đối khả

quan mặc dù có sự phân hóa giữa các nền kinh tế

phát triển cũng như thị trường mới nổi Các hoạt

động sản xuất tăng trưởng ổn định, thương mại

toàn cầu được cải thiện cùng với giá cả hàng hóa

dần hồi phục là những động lực hỗ trợ đáng kể

cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Kinh tế Mỹ tiếp tục đà tăng trưởng vững chắc nhờ

vào gói kích thích tài khóa và giảm thuế của chính

quyền Tổng thống Trump Thị trường lao động

phát ra tín hiệu tích cực Kết quả FED đã hai lần

tăng lãi suất trong kỳ và có thể tiếp tục tăng lãi suất

2 lần nữa trong năm 2018

Khu vực Châu Âu sau khi tăng trưởng chậm lại

trong quý I.2018 đã bắt đầu hồi phục lại trong quý

II.2018 Chính sách tiền tệ nới lỏng vẫn được tiếp

tục duy trì cho tới tháng 9.2018 (theo ECB)

Kinh tế Nhật Bản suy giảm sau 8 Quý tăng trưởng

dương liên tiếp Tỷ lệ lạm phát vẫn ghi nhận ở mức

thấp dưới mức mục tiêu 2% khiến BoJ tiếp tục duy

trì chính sách nới lỏng tiền tệ với lợi suất trái phiếu

chính phủ dài hạn (10 năm) ở mức 0% và lãi suất

ngắn hạn -0,1%

Kinh tế Trung Quốc bắt đầu xuất hiện dấu hiệu tăng

trưởng chậm lại khi tốc độ tăng trưởng của xuất

khẩu, đầu tư và tiêu dùng đều giảm so với cùng kỳ

Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại đang leo thang

giữa Trung Quốc và Mỹ cũng là yếu tố có thể khiến

tăng trưởng của Trung Quốc chậm lại

Theo Worldbank, những thách thức chủ yếu đối

với tăng trưởng trong giai đoạn hiện nay là: (i)

chủ nghĩa bảo hộ gia tăng làm leo thang căng

thẳng thương mại; (ii) các nước đang phát triển

đối mặt với việc rút vốn và đồng tiền mất giá do

chính sách tiền tệ dần thắt chặt tại các nước phát

triển

Lãi suất cơ bản các nước

Nguồn: Euromonitor

Trang 4

Tháng 7 năm 2018

Giá cả hàng hóa

Nguồn: WorldBank, ABS research

US dollar index (DXY:NYSE)

Nguồn: Bloomberg, ABS research

Tỷ giá USD/CNY

Nguồn: CNBC, ABS research

Thị trường hàng hóa nhìn chung biến động theo

xu hướng tăng ngoại trừ giá vàng và giá các loại kim loại cơ bản

Nhóm nhiên liệu (dầu, gas, than đá…) tăng giá mạnh

trong đó giá dầu thô WTI lập đỉnh mới đạt 70 USD/thùng nhờ vào: i) nhu cầu dầu thô toàn cầu tiếp tục tăng ii) các nước OPEC gia hạn cắt giảm sản lượng iii) Mỹ đe dọa trừng phạt các nước nhập khẩu

từ Iran.

Nhóm kim loại cơ bản (quặng sắt, nhôm, đồng…)

giảm nhẹ và đã biến động rất mạnh trong kỳ do những lo ngại về việc những căng thẳng gia tăng giữa thương mại Trung Quốc và Mỹ cũng như việc Trung Quốc tiếp tục thắt chặt tiền tệ.

Nhóm thực phẩm (gạo, thịt, đường…) có xu hướng

tăng nhẹ đi ngang do cầu ổn định và nguồn cung lương thực khá dồi dào

Đồng USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác

Kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng tích cực cùng với việc FED hai lần tăng lãi suất trong kỳ đã giúp đồng USD lên giá mạnh US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đã tăng mạnh 3.29% trong kỳ

Đồng Nhân dân tệ mất giá mạnh Căng thẳng thương

mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã dẫn tới đà lao dốc của Đồng Nhân dân tệ trong kỳ Tỷ giá USD/CNY có lúc chạm 6.7 mức thấp nhất trong vòng một năm trở lại đây

Ngoại trừ Yên Nhật vẫn giữ được mức tăng giá nhẹ

so với USD (tăng 2,58% so với đầu năm), các đồng tiền chủ chốt khác đều có mức mất giá từ 1,2-2,4% so với USD Cá biệt có một số đồng tiền mất giá khá mạnh so với đầu năm như Rupee Ấn Độ (6,69%), Won Hàn Quốc (4,5%) và Rupiad Indonesia (4,33%)

Trang 5

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM 6 THÁNG

ĐẦU NĂM 2018

GDP tăng trưởng khả quan đạt 7,08% so với cùng

kỳ nhờ sự bứt phá của nhóm ngành công nghiệp

chế biến, chế tạo Hoạt động của các nhóm ngành

kinh tế trong kỳ có nhiều diễn biến khả quan

Ngành nông nghiệp khẳng định xu hướng phục hồi

rõ nét khi đạt mức tăng 3,28%, ngành thủy sản đạt

kết quả khá tốt với mức tăng 6,41%, cũng là mức

tăng trưởng cao nhất 8 năm qua

Ngành công nghiệp tăng 9,28%, cao hơn nhiều mức

tăng 7,01% và 5,42% của cùng kỳ năm 2016 và năm

2017 Điểm sáng của khu vực này là sự tăng trưởng

mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

với mức tăng 13,02% (là mức tăng cao nhất trong 7

năm gần đây) Tuy nhiên công nghiệp khai khoáng

vẫn tăng trưởng âm (giảm 1,3%)

Ngành xây dựng duy trì được mức tăng trưởng khá

với tốc độ 7,93%

Khu vực dịch vụ tăng 6,90%, đây là mức tăng trưởng

cao nhất 7 năm gần đây trong đó một số ngành có

đóng góp tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung

gồm có Bán buôn và bán lẻ (8,21%), hoạt động tài

chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,58%, dịch vụ

lưu trú và ăn uống tăng 7,02%, ngành vận tải, kho

bãi tăng 7,67%, hoạt động kinh doanh bất động sản

tăng 4,12%

Lĩnh vực sản xuất tiếp tục thể hiện sự tích cực khi

PMI tháng 6 đạt 55,7 điểm, là mức cao nhất trong

vòng 7 năm trở lại đây.Nguyên nhân là do các doanh

nghiệp duy trì sự lạc quan và đặt kỳ vọng cao vào

sản lượng sản xuất do có số lượng đơn đặt hàng mới

tăng trưởng mạnh nhất trong lịch sử

Nguồn: GSO

-2.00%

0.00%

2.00%

4.00%

6.00%

8.00%

10.00%

6T2011 6T2012 6T2013 6T2014 6T2015 6T2016 6T2017 6T2018

Tăng trưởng các ngành

Nông, lâm thủy sản Công nghiệp xây dựng Dịch vụ

0.00% 20.00% 40.00% 60.00% 80.00% 100.00% 120.00%

0.00%

1.00%

2.00%

3.00%

4.00%

5.00%

6.00%

7.00%

8.00%

6T2011 6T2012 6T2013 6T2014 6T2015 6T2016 6T2017 6T2018

Tỷ trọng các ngành

Nông, lâm thủy sản Công nghiệp xây dựng

Chỉ số quản trị mua hàng PMI

Nguồn: GSO

Trang 6

Tháng 7 năm 2018

Lạm phát đảo chiều và đang có xu hướng tăng mạnh trở lại trong Quý 2

Lạm phát có xu hướng nhích dần vào cuối kỳ cụ thể CPI tháng 4 tăng 0,08%, tháng 5 tăng 0,55% và tháng

6 tăng 0,61% Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2018 tăng 3,29% so với bình quân cùng

kỳ năm 2017, điều này gây áp lực kiểm soát lạm phát vào 6 tháng cuối năm trong bối cảnh xuất hiện ngày càng nhiều rủi ro vĩ mô trong và ngoài nước Giá cả các mặt hàng có ảnh hưởng mạnh tới chỉ số CPI tăng nhanh như: dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, giá lương thực, giá xăng dầu Trong đó, giá xăng dầu liên tục tăng nhanh kể từ đầu năm 2017, phản ánh đà tăng của giá xăng dầu thế giới

Vốn FDI tiếp tục tăng trưởng tích cực; Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore là top 3 quốc gia đầu tư FDI lớn nhất

Trong 6 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu

tư nước ngoài đạt 20,33 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ Vốn FDI giải ngân 8,37 tỷ USD, tỷ lệ vốn Giải ngân/đăng ký ở mức 41% Nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 17 ngành lĩnh vực Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với tổng

số vốn đạt 7,91 tỷ USD, chiếm 38,9% tổng số vốn đầu

tư đăng ký Tuy nhiên tỷ trọng tỷ trọng vốn đăng ký

đầu tư vào ngành chế biến, chế tạo đã bị thu hẹp đáng

kể xuống mức 38,9% từ mức trên 70% trong giai đoạn 2014-2016. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 5,54 tỷ USD Đứng thứ ba là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,5 tỷ USD, chiếm 7,4% tổng vốn đầu tư đăng ký

Có 87 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, trong đó Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư 6,47 tỷ USD, chiếm 31,8% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký 5,06 tỷ USD; Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,39 tỷ USD

16.03%

12.20%

6.73%

4.77%

0.86% 1.72% 4.15% 3.29%

0.00%

5.00%

10.00%

15.00%

20.00%

Lạm phát

4.29% 7.06%

13.95%

25.68%

0.00%

0.50%

1.00%

1.50%

0.00%

10.00%

20.00%

30.00%

mặt hàng

lương thực dịch vụ giáo

dục giá xăng dầu mặt hàng

dịch vụ y tế

Các yếu tố tác động lên CPI

Tỷ lệ tăng giá (trái) Đóng góp vào CPI (phải)

0.0%

20.0%

40.0%

60.0%

80.0%

100.0%

120.0%

140.0%

0

5,000

10,000

15,000

20,000

25,000

Vốn đầu tư FDI

100,000

200,000

300,000

400,000

FDI đăng ký theo ngành

Nguồn: GSO, ABS Research

Nguồn: MPI, ABS Research

Trang 7

Thương mại hàng hóa tăng trưởng khả quan, cán

cân thương mại quay trở lại nhập siêu

Tính đến hết tháng 6 năm 2018, cán cân thương mại

ghi nhận thặng dư 2.7 tỷ USD

Sau 4 tháng đầu năm thương mại thặng dư thì nhập

siêu đã bắt đầu quay trở lại trong tháng 5 và tháng

6 Nguyên nhân chủ yếu là bởi khối doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 71% kim ngạch

xuất khẩu) đã tăng trưởng xuất khẩu chậm lại trong

quý II ở hầu hết các mặt hàng: điện thoại (tăng

12%); điện tử, máy tính (tăng 19%)

Chênh lệch trong hoạt động sản xuất và xuất nhập

khẩu của khối doanh nghiệp trong nước và khối

FDI ngày càng lớn, khối doanh nghiệp trong nước

tiếp tục nhập siêu 12,94 tỷ USD (tăng 5,6% so với

cùng kỳ năm 2017), khối doanh nghiệp FDI xuất

siêu 15,65 tỷ USD (tăng 48%)

Cán cân ngân sách tiếp tục thâm hụt, nợ công nằm

trong giới hạn cho phép

Cán cân ngân sách thâm hụt trở lại tuy nhiên ở mức

thấp bằng 1,9% dự toán, chủ yếu do thu NSNN đạt

khá Tổng thu 582,1 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%

(yoy) Tỷ trọng đóng góp ngân sách khu vực ngoài

quốc doanh tăng từ 15,8% (2017) lên 16,2% trong

khi khu vực quốc doanh (16,5%/10,5%) và FDI

(14,5%/13%) đều giảm; Chi NSNN đạt 586,03

nghìn tỷ, bằng 38,4% dự toán, trong đó chi NS cho

ĐTPT đạt mức thấp do giải ngân vốn ĐTXDCB chỉ

đạt 26,9% Điều này cho thấy tiến độ giải ngân vốn

đầu tư công vẫn còn chậm

Nợ công tiếp tục đảm bảo, các chỉ tiêu nợ 2017 nằm

trong giới hạn Quốc hội cho phép với nợ công/GDP

khoảng 61,4%, nợ Chính phủ khoảng 51,8% GDP,

nợ được Chính phủ bảo lãnh khoảng 9% GDP Dự

kiến các chỉ tiêu về nợ công tiếp tục đảm bảo trong

năm 2018, riêng nợ được Chính phủ bảo lãnh sẽ

giảm nhẹ theo xu hướng giảm của năm 2017 (dư nợ

Chính phủ bảo lãnh đến cuối năm 2017 giảm xấp xỉ

500 triệu USD so với năm 2016)

Nguồn: GSO, ABS Research

Xuất nhập khẩu phân theo khối kinh tế

(Triệu usd)

-10 -5 0 5

0 50 100 150

6T/10 6T/11 6T/12 6T/13 6T/14 6T/15 6T/16 6T/17 6T/18

Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại

(tỷ usd)

Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại (phải)

Nguồn: GSO, ABS Research

Nguồn: GSO

Cân đối ngân sách Nhà nước

Trang 8

Tháng 7 năm 2018

Lãi suất qua đêm liên ngân hàng (%)

Nguồn: SBV, ABS research

Tỷ giá USD/VND

Nguồn: SBV, ABS research

Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành linh hoạt, cân đối giữa mục tiêu ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng tín dụng chậm lại, tăng trưởng tín dụng 6

tháng đầu năm 2018 toàn nền kinh tế đạt 6,35%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước (7,54%) Cơ cấu tín dụng tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo tăng 7,7%, nông nghiệp nông thôn tăng 7,2%, doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trên 3%

Tăng trưởng huy động vốn vượt lên tăng trưởng tín dụng, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng

7,78% (cùng kỳ năm 2017 tăng 5,89%) Cơ cấu huy động vốn vẫn chủ yếu là huy động VNĐ (chiếm tỷ trọng trên 90% tổng huy động), huy động USD tiếp tục giảm và chiếm dưới 10% tổng huy động

động VND dao động ở mức 4,2%-8% (lãi suất huy động bình quân khoảng 5,2%) Lãi suất cho vay tiếp tục được giữ ở mức ổn định Theo thống kê, mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-6,5%/năm đối với ngắn hạn, 9%-10%/năm đối với trung và dài hạn

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng tương đối dồi dào, việc NHNN liên tục mua vào lượng lớn ngoại tệ

tương đương với việc bơm ròng ra thị trường khoảng gần 210 nghìn tỷ đồng cùng với việc huy động vốn trong kỳ tăng mạnh hơn tăng trưởng tín dụng đã giúp các ngân hàng ổn định thanh khoản và đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho nền kinh tế Lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh về mức 1% từ nửa cuối tháng 6, thấp hơn nhiều

so với cùng kỳ năm 2017

Tỷ giá căng thẳng vào Quý II do ảnh hưởng từ thế giới,

tỷ giá tăng 1,1% so với đầu năm, chủ yếu tăng mạnh kể

từ đầu tháng 4 năm 2018 do ảnh hưởng từ chính sách2 lần nâng lãi suất của FED Trong bối cảnh xung đột thương mại giữa các nền kinh tế chủ chốt gia tăng (Hoa

Kỳ, EU, Trung Quốc), các quốc gia tiếp tục có xu hướng làm yếu đồng tiền nội địa của mình nhằm hỗ trợ hoạt động xuất khẩu Trong thời gian tới, khi xung đột thương mại càng diễn ra căng thẳng hơn, Trung Quốc

có thể tiếp tục phá giá đồng tiền nội tệ của mình để tạo cạnh tranh trong thương mại Đây là một rủi ro rất lớn đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam

0

1

2

3

4

5

6

22,500

22,600

22,700

22,800

22,900

23,000

23,100

23,200

Tỷ giá NHTM Tỷ giá thị trường tự do

Trang 9

DỰ BÁO KINH TẾ VĨ MÔ 6 THÁNG CUỐI

NĂM 2018

Tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm tiếp tục tốt

tuy nhiên tác động của các nhân tố bất ổn sẽ dần

lộ diện

Tiếp nối đà tăng trưởng ấn tượng 6 tháng đầu năm,

chúng tôi cho rằng kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục ổn

định, tăng trưởng tốt trong 6 tháng cuối năm hướng

tới đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% mà Chính phủ

đặt ra từ đầu năm dù tình hình kinh tế thế giới diễn

biến phức tạp làm tăng mức độ rủi ro của thị

trường

- Triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn tương đối khả

quan với mức tăng trưởng đạt 3,9% năm 2018 (theo

IMF) tuy nhiên đã xuất hiện những nhân tố như các

căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc, Mỹ

- EU …tạo nên những rủi ro có thể ảnh hưởng tới

cục diện kinh tế của các nước này

- Khu vưc FDI tiếp tục đóng vai trò quan trọng

trong việc duy trì đà tăng trưởng GDP trong 6 tháng

cuối năm Nhóm ngành công nghiệp chế tác tiếp tục

là động lực cho tăng trưởng của nền kinh tế

- Lạm phát giữ ở mức ổn định dưới 4% nhờ khả

năng giá dầu sẽ được giữ ổn định trong 6 tháng

cuối năm, giá thực phẩm không còn sức ép tăng

mạnh như 6 tháng đầu năm cùng với định hướng

kiểm soát chặt chẽ lạm phát của Chính phủ như

không tăng giá điện, chỉ điều chỉnh giá dịch vụ y tế,

giáo dục nếu điều kiện cho phép vào thời điểm phù

hợp

- Tỷ giá chịu áp lực lớn của việc tăng giá khi

đồng USD có xu hướng tăng trên thị trường toàn

cầu tuy nhiên với dự trữ ngoại hối được củng cố và

duy trì ở mức tương đối an toàn với 63,4 tỷ USD

cùng chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng

Nhà nước linh hoạt, chủ động theo diễn biến thị

trường chúng tôi cho rằng tỷ giá có điều chỉnh cũng

không quá 2% trong năm 2018

- Chính sách tiền tệ sẽ vẫn tiếp tục thận trọng theo đó mặt bằng lãi suất không có biến động mạnh trong nửa cuối năm 2018 với tăng trưởng tín dụng ở mức 17% năm 2018

- Chính sách tài khóa đã bớt căng thẳng hơn nhờ nguồn thu từ thoái vốn doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên chúng tôi cho rằng nguồn thu này sẽ không mấy tích cực vào nửa cuối năm do tiến trình cổ phần hóa Nhà nước đang có phần chậm lại cùng với sự thận trọng của dòng vốn nước ngoài vào các thị trường đang phát triển khi đồng USD tăng giá và rủi

ro bất ổn toàn cầu tăng lên Do đó thâm hụt ngân sách và áp lực nợ công vẫn tiếp tục là một yếu tố rủi

ro đối với nền kinh tế

Mặc dù đã có nhiều đánh giá của các tổ chức uy tín

về tác động của căng thẳng thương mại giữa các nước lớn đặc biệt của Mỹ và Trung Quốc đến nền kinh tế Việt Nam, phần lớn đều cho rằng ảnh hưởng

sẽ không lớn trong bối cảnh Việt Nam có cả cơ hội

và thách thức, chúng tôi cho rằng có rất nhiều yếu tố khó lường đối với phản ứng của các nước trước căng thẳng thương mại do Mỹ khởi xướng bên cạnh sự thất thường khó đoán của Tổng thống Mỹ Do đó chúng tôi nhận định tác động của các nhân tố bất ổn

sẽ dần lộ diện vào nửa cuối năm 2018 và ảnh hưởng

sẽ rõ ràng hơn vào năm 2019

Nguồn: ABS Research

Trang 10

Tháng 7 năm 2018

Thị trường 6 tháng cuối năm biến động bởi các yếu tố hỗ trợ và rủi ro đan xen

Triển vọng vĩ mô 6 tháng cuối năm tiếp tục khả quan cùng với việc thị trường chứng khoán trở lại mức định giá tương đối hấp dẫn với FWD PE ở mức 14.5x so với 16.4x và PEG ở mức 0.8x so với 1.2x của các nước trong khu vực (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippin) là những yếu tố hỗ trợ cho việc thu hút dòng vốn vào thị trường

Tuy nhiên, những rủi ro từ căng thẳng thương mại thế giới đặc biệt là chiến tranh thương mại Trung – Mỹ sẽ khiến dòng tiền đầu tư có xu hướng rút khỏi các thị trường đang phát triển Việc rút vốn đã xảy ra trong 6 tháng đầu năm 2018 và chúng tôi cho rằng xu hướng này tiếp tục có khả năng tiếp diễn trong 6 tháng cuối năm tuy nhiên quy mô phụ thuộc vào diễn biến của cuộc chiến thương mại giữa các nước lớn Mức độ ảnh hưởng đối với các nước thuộc nền kinh tế mới nổi nói chung và Việt Nam nói riêng phụ thuộc vào mức độ tham gia trong chuỗi cung ứng thương mại và hệ thống tài chính toàn cầu của từng nước Mặc dù sự xâm nhập của Việt Nam trên thị trường thế giới chưa lớn nhưng đây là rủi ro hiện hữu cản trở đà tăng của thị trường chứng khoán

và gây sức ép tâm lý tiêu cực đối với nhà đầu tư

Với các nhân tố hỗ trợ và rủi ro đan xen như vậy, chúng tôi cho rằng sẽ có những cơ hội đầu tư xuất hiện trong các nhịp tăng giảm đan xen của thị trường VN Index biến động trong khoảng từ 830 – 1000 điểm

Chúng tôi khuyến nghị nhà đầu tư giao dịch thận trọng trong 6 tháng cuối năm Đối với các nhà đầu tư tương đối ưa thích rủi ro và đầu tư ngắn hạn, có thể tận dụng các cơ hội đầu tư trong các nhịp tăng giảm (chúng tôi sẽ

có các phân tích và khuyến nghị trong các báo cáo ngày,tuần) Đối với các nhà đầu tư có mức độ ưa thích rủi

ro thấp, có thể quan tâm đầu tư các cổ phiếu ổn định có tỷ suất cổ tức cao hoặc trái phiếu doanh nghiệp có lợi tức, thời hạn và điều khoản phù hợp với khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư

Ngày đăng: 23/05/2021, 03:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w