1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO “ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP; SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ, LAO ĐỘNG; SỰ MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ”

30 16 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 645,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN TÌNH HÌNH ĐÔ THỊ HÓA BÌNH DƯƠNG Mã số: 02 Thuộc chương trình nghiên cứu: 20 năm đô thị hóa Bình Dương - Những vấn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ĐÔ THỊ VÀ PHÁT TRIỂN

TÌNH HÌNH ĐÔ THỊ HÓA BÌNH DƯƠNG

Mã số: 02 Thuộc chương trình nghiên cứu: 20 năm đô thị hóa Bình

Dương - Những vấn đề thực tiễn

BÁO CÁO “ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP;

SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ, LAO ĐỘNG; SỰ

MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ”

Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Văn Nam

TS Trương Hoàng Trương

Bình Dương, tháng 12/2019

Trang 2

Mục lục

1 Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp 2

2.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4

3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Dương 14

4 Chuyển dịch cơ cấu lao động 19

5 Nội thị mở rộng 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

Báo cáo “Đánh giá thực trạng: Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp; sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động; sự mở rộng và phát triển không gian đô thị”

1 Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp

Quá trình hình thành và phát triển của các KCN có hai giai đoạn gồm giai đoạn trước năm 1997 và giai đoạn sau năm 1997 Trong đó, dấu mốc năm

1997 là dấu mốc quan trọng khi địa giới hành chính tỉnh Sông Bé được tách ra làm hai tỉnh riêng là Bình Dương và Bình Phước

Năm 1996, tỉnh Bình Dương cấp phép xây dựng KCN VSIP, do công ty Becamex IDC làm chủ đầu tư, có tổng diện tích đất quy hoạch là khoảng 500ha, trụ sở ban quản lý đặt tại số 8 Đại lộ Hữu Nghị, VSIP, Thị xã Thuận

An, tỉnh Bình Dương Có tổng số vốn đầu tư la 98 triệu USD Đây là KCN được hình thành dựa trên sự thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ giữa Việt Nam

và Singapore được xem là một trong những KCN điển hình của Việt Nam về chất lượng dịch vụ và cơ sở hạ tầng Nơi đây thu hút các dự án về công nghệ cao, công nghiệp sạch, như điện, điện tử, hóa mỹ phẩm, gốm, gạch mỹ nghệ, giấy, bao bì, thực phẩm, dược phẩm, Bên cạnh đó còn có KCN Việt Hương được xây dựng và đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư đã thực hiện: 49,57 tỷ đồng Diện tích đất đã cho thuê lại: 25,07 ha; đạt tỷ lệ lấp kín: 100% với tổng vốn đầu tư: 56,4 tỷ đồng

Tỉnh Sông Bé chia tách thành Bình Dương và Bình Phước Sự kiện này

đã có tác động đến quá trình hình thành các KCN trên địa bàn tỉnh Theo đó, việc phân tách địa giới hành chính của tỉnh đã ảnh hưởng đến quá trình quy hoạch đất cấp phép xây dựng cho các KCN sau đó của tỉnh Bình Dương

Đến năm 2000, KCN Tân Đông Hiệp A được đưa vào hoạt động, khởi đầu cho quá trình tái khởi động quy hoạch và xây dựng các KCN Sau đó, liên tục các năm từ 2002 đến 2007 các KCN mới được ra đời Trong đó năm 2007, đánh dấu mốc 10 năm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại, hóa của tỉnh Bình Dương mới với 5 KCN mới được đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động như An Tây, Phú Tân, Phú Gia, Đất Cuốc, Đống An 2

Trang 4

Trong quá trình các KCN tăng lên số lượng thì vai trò các doanh nghiệp trong nước, tiêu biểu những doanh nghiệp địa phương khi được hỗ trợ, từng bước khẳng định được thương hiệu và tạo dấu ấn cho những sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ của địa phương như KCN Bình Dương và KCN Sóng Thần

Tính đến năm 2017, trên toàn tỉnh đã có 33 KCN lớn nhỏ, tập trung 598 nhà máy, xí nghiệp của hơn 33 quốc gia và vùng lãnh thổ vào hợp tác đầu tư Nhiều doanh nghiệp dưới dạng hợp tác như Singapore - Mỹ - Ấn Độ, Singapore - Nhật Bản - Việt Nam, Singapore - Việt Nam, Việt Nam - Malaysia, Việt Nam - Thụy Điển, Brunei - Đài Loan, Việt Nam - Đài Loan, Hoa Kỳ - Đài Loan, Nhật Bản - Indonesia, Hàn Quốc - Hoa Kỳ, Các quốc gia

có sự đầu tư lớn vào Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Pháp, Đức…Trong đó quy mô về diện tích và vốn đầu tư

ở các KCN mang tính hợp tác quốc tế có mức độ đầu tư rất cao tiêu biểu như các KCN hợp tác giữa Việt Nam – Singapore VSIP I, VSIP II, VSIP II-A có tổng diện tích gần 2000 ha và có số vốn đầu tư hơn 4 tỷ USD (trang thông tin điện tử UBND tỉnh Bình Dương về các KCN tỉnh Bình Dương) Trong đó, tính riêng KCN VSIP II-A – KCN mới nhất và đang được đầu tư ở Bình Dương tính đến năm 2016 đã thu hút 136,130 triệu USD vốn đầu tư vào hơn

1000 ha đất tại các xã: Vĩnh Tân, Tân Bình, thị xã Tân Uyên và xã Hòa Lợi, thị xã Bến Cát (trang thông tin điện tử UBND tỉnh Bình Dương về KCN Việt Nam – Singapore II-A, 2015)

Các ngành nghề đầu tư sản xuất chủ yếu trong các KCN bao gồm công nghiệp điện máy, sản xuất máy móc, thiết bị phụ tùng điện công nghiệp và điện gia dụng; công nghiệp điện tử, tin học, thông tin viễn thông; công nghiệp nhẹ: đồ chơi trẻ em, may mặt, da giày, các sản phẩm gốm sứ, thủy tinh, pha lê; Chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu (thực phẩm, mì ăn liền); Các ngành gia công cơ khí như sản xuất, lắp ráp đồng hồ, các thiết bị, dụng cụ quang học; Ngành cơ khí chế tạo, sửa chữa máy mọc, cơ khí xây dựng; Công nghiệp sản xuất gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, trang thiết bị văn phòng, khách sạn, trang trí nội thất; Các sản phẩm nhựa, kim khí, dụng cụ gia đình; Cơ khí chế tạo máy móc, thiết bị, lắp ráp và chế tạo các phương tiện giao thông vận tải, máy móc xây dựng, kết cấu xây dựng bằng bê tông và thép; Công nghiệp chế biến nông, lâm

Trang 5

sản bao gồm: chế biến cao su, điều, cà phê, thức ăn gia súc, gỗ; Công nghiệp nhẹ bao gồm may mặc, điện, điện tử; Thủ công mỹ nghệ, dịch vụ…

2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự chuyển dịch cơ cấu phụ thuộc hoàn toàn các chuyển biến của nền kinh tế, trong đó là sự chuyển dịch tỷ trọng giữa các khu vực kinh tế Trong trường đô thị hóa thì sự chuyển dịch đi theo hướng khu vự công nghiệp và thương mại sẽ dần dần chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tổng sản phẩm của địa phương

2.1 Chuyển biến kinh tế - tiền để của chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Khi một nền kinh tế chuyển biến, nhất là chuyển biến theo hướng tăng

tỷ trọng công nghiệp và thương mại, thì nền kinh tế ấy sẽ kích hoạt sự biến đổi

xã hội, đưa đến sự khởi đầu của một quá trình đô thị hóa Nền kinh tế của Bình Dương sau tái lập với chủ trương thúc đẩy đô thị hóa, đã đưa ra nhiều biện pháp phát triển công nghiệp của tỉnh

2.1.1 Chuyển biến trong công nghiệp

Bình Dương thúc đẩy phát triển công nghiệp ngay sau khi được tái lập

Từ nền tảng đã có trước khi tái lập trong mô hình những cụm và KCN đầu tiên, chính quyền tỉnh đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa Các khu công nghiệp tiếp tục được thành lập, đồng thời năng suất được thúc đẩy Trong ba năm từ năm 1997 đến năm 2000 , tốc độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp Bình Dương luôn ở mức cao, trung bình 32,4%/năm trong giai đoạn 1997 -

2000, cao hơn khá nhiều so với các tỉnh, thành khu vực Đông Nam Bộ, vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước (bảng 1)

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của Bình Dương so với một số tỉnh, thành vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước (1997 - 2000)

Trang 6

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Dương, 2000, tr.7

Bảng trên cho thấy, tốc độ tăng trưởng công nghiệp Bình Dương cao và đều đặn qua các năm và nhất trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hơn cả Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh, là các địa phương có truyền thống công nghiệp lâu đời hơn Bình Dương

Năm năm sau từ 2001 - 2005, kinh tế công nghiệp tiếp tục phát triển nhanh và ngày càng đa dạng về ngành nghề và quy mô Các KCN được triển khai ở phía Nam cơ bản đã lấp đầy diện tích và tiếp tục phát triển thêm các khu, cụm công nghiệp phía Bắc Cụ thể, trên địa bàn tỉnh đến năm 2005 đã có

13 KCN đi vào hoạt động, trong đó một số KCN đã lấp kín hơn 90% diện tích như khu KCN Sóng Thần I, Đồng An, Việt Hương, Tân Đông Hiệp A, VSIP I,… Giá trị sản xuất của công nghiệp cao và ổn định, bình quân tăng 35,6%/năm

Trong giai đoạn 2006 – 2010 định hướng phát triển công nghiệp của

Bình Dương tập trung vào những mục tiêu phát triển công nghiệp toàn diện, vừa đẩy mạnh tăng trưởng về quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng phát triển theo hướng bền vững, theo như quan điểm của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020 là phát triển công nghiệp gắn với phát triển dịch vụ, phát triển đô thị và bảo vệ môi trường

Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, Bình Dương đề ra các định hướng là 1/ Phát triển công nghiệp với công nghệ tiên tiến, sản phẩm có sức cạnh tranh cao Xây dựng chương trình ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chủ lực tạo giá trị lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ; 2/ Đẩy mạnh phát triển các KCN, cụm công nghiệp theo quy hoạch; 3/ Tập trung đầu tư hạ tầng Khu liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Bình Dương theo hướng hiện đại, phấn đấu đến năm 2010 có trên 50% diện tích đất đưa vào sử dụng (Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII, tr.90)

Sự thay đổi chiến lược trong định hướng này thể hiện rõ ở mục tiêu phát triển công nghiệp không còn chú trọng vào mở rộng quy mô mà tập trung vào phân phối lại địa bàn và nâng cao chất lượng theo hướng “phát triển công nghệ hiện đại, tiên tiến sản xuất hàng hóa có sức cạnh tranh cao” Cụ thể, cần

“chú trọng đầu tư chiều sâu và phát triển các ngành mũi nhọn có lợi thế, có

Trang 7

trình độ công nghệ cao, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến, nhiều hàm lượng trí tuệ, có giá trị gia tăng lớn, ít gây ô nhiễm môi trường, hạn chế dần tỷ trọng các ngành công nghiệp mang nặng tính gia công, các ngành công nghệ trung bình và lạc hậu không có khả năng cạnh tranh” (Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII, tr 30)

Năm 2006, Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐND về Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 – 2020 trong đó nêu bật định hướng phát triển công nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa thể hiện quan đểm phát triển công nghiệp gắn với các yêu cầu của phát triển bền vững, tiến bộ, công bằng xã hội và bảo

vệ môi trường và phát triển công nghiệp gắn chặt với phát triển dịch vụ, phát triển công nghiệp nông thôn, tạo động lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

Để hiện thực hóa quy hoạch này, Bình Dương bắt đầu thực hiện những chính sách điều chỉnh bằng cách không mở thêm các khu, cụm công nghiệp trong đô thị vốn là nơi dân cư đông đúc, đồng thời từng bước chuyển đổi các

cơ sở công nghiệp nằm trong các khu dân cư sang công nghệ sạch; di dời các

cơ sở gây ô nhiễm như lò gạch ngói, cơ sở nhuộm, mạ, hóa chất, thuốc trừ sâu, trại chăn nuôi, giết mổ gia súc, chuyển diện tích đất đai các cơ sở này sang các mục đích dân dụng

Bên cạnh đó, chính quyền tỉnh chủ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các KCN trên địa bàn các huyện phía Bắc như Bến Cát, Bắc Tân Uyên và xa hơn

là Phú Giáo và Dầu Tiếng, vốn là những địa phương còn thưa dân cư, mật độ thấp, quỹ đất còn dồi dào Chính quyền khuyến khích các cơ sở công nghiệp mới từ khu vực phía Nam lên khu vực phía Bắc thông qua việc tăng cường đầu

tư ngân sách xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông thôn, nhất là hệ thống đường giao thông, giúp nối liền hoạt động thông thương giữa các vùng Kết quả của việc điều chỉnh này là sự mở rộng của sản xuất công nghiệp về mặt lãnh thổ, phần nào được thể hiện qua sự gia tăng của số cơ sở sản xuất công nghiệp tại các huyện, thị trên địa bàn tỉnh (bảng 2)

Trang 8

Bảng 2: Sự gia tăng của số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương (2000 - 2010)

Bảng trên cho thấy tỉnh Bình Dương đã thành công trong việc đưa các

cơ sở sản xuất tập trung dần ở các huyện phía Bắc, giảm tải cho khu vực phía Nam, nơi có những KCN đầu tiên của Bình Dương Huyện Bến Cát đến năm

2000 có 918 cơ sở công nghiệp, huyện Tân Uyên, có 1.289 cơ sở, còn huyện Dầu Tiếng, một nơi xa xôi ở cực Bắc của Bình Dương, cũng có được 243 cơ

sở

Sự tập trung cơ sở sản xuất công nghiệp tại phía Nam là một điển hình cho thấy mối liên quan giữa phát triển công nghiệp với hiện tượng đô thị hóa Trong mười năm từ 2000 đến 2010 của quá trình công nghiệp hóa, các KCN phân bố chủ yếu trên địa bàn huyện Dĩ An và huyện Thuận An; khoảng cách giữa các KCN ngắn (Phạm Ngọc Côn, 1999, tr.89) (dưới 10 km); loại hình sản xuất tương đồng, tập trung vào ngành hàng tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, dệt may Đây là mô hình kinh tế công nghiệp phổ biến tại địa phương trong giai đoạn “phôi thai” của quá trình đô thị hóa và thống nhất với lý thuyết chu

kỳ phát triển, lan tỏa từ đô thị lớn sang các vùng lân cận

Thực tế diễn ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thấy những địa phương tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao cũng là nơi tốc độ tăng dân số nhanh và quá trình phát triển đô thị cũng diễn ra mạnh mẽ nhất Trong giai

đoạn 1997 - 2010, địa bàn tập trung công nghiệp nhiều nhất thường là các xã

và một số thị trấn của các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát và Tân Uyên Các

Trang 9

địa phương này sau một thời gian công nghiệp hóa, thu hút mạnh mẽ người nhập cư, dân cư tập trung ngày càng tăng, đã có bước tiến nhanh về phát triển

đô thị Đến cuối năm 2010, hai huyện Dĩ An, Thuận An đã trở thành thị xã (đô thị loại III), kéo theo các đơn vị hành chính trực thuộc cũng được nâng lên cấp phường (đô thị loại IV)

Từ đó, cũng có thể nhận định rằng chính sách phân bố lại công nghiệp của Bình Dương trong nửa sau thập niên 2000 ngoài việc giúp nâng cao tăng trưởng kinh tế, còn là biện pháp điều tiết quá trình đô thị hóa nhằm giảm bớt tình trạng mất cân bằng về phân bố đô thị, thúc đẩy xu hướng tiến về phía Bắc

của quá trình phát triển đô thị Sự điều chỉnh này đồng thời phản ánh sự tác

động ngược trở lại của quá trình đô thị hóa đối với sự phát triển kinh tế công nghiệp, thể hiện ở chỗ: nguyên nhân của việc tái định hướng kinh tế công

nghiệp chính là hệ quả của quá trình đô thị hóa tự phát và thiếu đồng đều giữa các huyện, thị, gây mất cân bằng về phân bố dân cư và chỉ số tăng trưởng kinh

tế

Quan hệ mật thiết giữa kinh tế công nghiệp và đô thị hóa còn được thể hiện trong định hướng mô hình quy hoạch phát triển công nghiệp mới từ giữa thập niên đầu của thế kỷ XXI dưới dạng thức các KCN - đô thị - dịch vụ Tiêu biểu là dự án Khu Liên hợp Công nghiệp - Đô thị - Dịch vụ Bình Dương chính thức được khởi động từ năm 2006, nằm cách trung tâm thị xã Thủ Dầu Một khoảng 8 km, có tổng diện tích 4.196 ha trên địa bàn các xã Phú Mỹ, Định Hòa của thị xã Thủ Dầu Một; xã Phú Chánh, Tân Hiệp, Tân Vĩnh Hiệp của huyện Tân Uyên và xã Hòa Lợi của huyện Bến Cát Khu Liên hợp bao gồm các KCN nhằm thu hút đầu tư các ngành công nghiệp tiên tiến, ít gây ô nhiễm môi trường; phát triển các loại hình dịch vụ chất lượng cao và hình thành các khu đô thị mới theo hướng hiện đại, gắn với việc phát triển công nghiệp và dịch vụ, trong đó ưu tiên các dự án phát triển nhà ở cho công nhân và chuyên gia trong các KCN tập trung; tạo công ăn việc làm cho người lao động tại Khu Liên hợp

2.1.2 Chuyển biến trong thương mại - dịch vụ

“Thị (chợ)”, một thuật ngữ đơn giản của tiếng Việt để chỉ một hợp phần không thể thiếu được của đô thị, mà hiện nay với thuật ngữ hiện đại là khu vực

Trang 10

thương mại dịch vụ, một hợp phần quan trọng trong quá trình biến đổi của một nơi nào đó thành đô thị Cùng với khu vực công nghiệp, “thị”, khu vực thương mại – dịch vụ cũng cần phải được kích hoạt phát triển để có thể đẩy mạnh quá trình đô thị hóa Vì vậy khu vực này cũng được tỉnh Bình Dương thúc đẩy phát triển Vốn đã có nền tảng phần nào trong lĩnh vực này với các chợ truyền thống như chợ Thủ Dầu Một, chợ Lái Thiêu, chợ Búng , các cảng sông như cảng An Sơn, cảng Bà Lụa , từ khi được tái lập, kinh tế thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bình Dương ổn định với hệ thống nội thương phân bố đều khắp, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Mặt hàng phong phú được khuyến khich bởi cơ chế thoáng nên việc luân chuyển hàng hóa dễ dàng;

giá hàng hóa khá ổn định trên cơ sở giá trị và quan hệ cung - cầu Tổng mức

bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ không ngừng tăng lên theo từng năm với tốc độ bình quân khoảng 27,2%/năm, cao hơn khá nhiều so với tốc độ tăng của

cả nước Đóng góp của thương mại - dịch vụ trong tổng giá trị GDP của tỉnh

giai đoạn 2000 - 2010 đạt trung bình 25,9%/năm (NGTK tỉnh Bình Dương,

2010, tr.33) Giai đoạn 2010 – 2017, tốc độ bình quân khoảng 28,5% mỗi năm

Biểu đồ 2: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh Bình Dương (1997 - 2017) (Đơn vị: tỷ VNĐ)

Nguồn: NGTK tỉnh Bình Dương, 1997 - 2017, tr.193

Tuy nhiên, do hoạt động thương mại - dịch vụ liên quan chặt chẽ với

quá trình đô thị hóa dưới tác động của quy luật cung cầu nên phân bố và phát triển không đều giữa các địa phương Cụ thể, sự phân hóa Nam - Bắc vẫn hiện

Trang 11

hữu trong quá trình tăng trưởng của hệ thống thương mại - dịch vụ, phản ánh

rõ nét tác động của quá trình đô thị hóa đối với sự phát triển của kinh tế

thương mại - dịch vụ

Biểu đồ 3: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của các huyện, thị

Bình Dương trong giai đoạn 1997 – 2015 (đơn vị: tỉ đồng)

Nguồn: NGTK tỉnh Bình Dương 1997 - 2015

Tại các địa bàn tập trung sản xuất và dân cư đông đúc như thị xã Thủ

Dầu Một, huyện Thuận An và Dĩ An, hoạt động mua bán diễn ra ngày càng

nhộn nhịp Trong khi đó, hai huyện Phú Giáo và Dầu Tiếng dân cư thưa thớt,

nên tăng trưởng của kinh tế thương mại - dịch vụ diễn ra chậm chạp hơn

nhiều Sự thiếu cân đối này không những thể hiện ở sự chênh lệch về giá trị

thương mại - dịch vụ giữa các huyện, thị, mà còn qua số lượng số đơn vị kinh

doanh trong lĩnh vực kinh tế này (bảng 3)

Thành phố Thủ Dầu Một Huyện Dầu Tiếng Thị xã Bến Cát

Huyện Phú Giao Thị xã Tân Uyên Thị xã Dĩ An

Thị xã Thuận An Huyện Bắc Tân Uyên Huyện Bàu Bàng

Trang 12

Bảng 3: Số lượng đơn vị kinh doanh thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng và dịch vụ phân theo huyện, thị của Bình Dương (2006 - 2010)

Cùng với những chuyển biến trong sản xuất hàng hóa, hoạt động

thương mại - dịch vụ không ngừng được đa dạng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu

ngày càng cao của sản xuất và dân sinh Mạng lưới thương mại bán lẻ, biểu trưng bằng các chợ, được mở rộng liên tục Bên cạnh các chợ cũ, nhiều chợ mới được lập ra khắp nơi với quy mô lớn, nhỏ khác nhau Chất lượng thương mại - dịch vụ cũng được cải thiện, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu mua sắm ngày càng cao của người dân

Hệ thống chợ của Bình Dương được hình thành qua nhiều thời kỳ khác nhau, phần lớn được xây dựng từ trước năm 1975, trong đó chợ Thủ Dầu Một, chợ Lái Thiêu, chợ Búng là ba chợ có lịch sử lâu đời nhất Trên địa bàn tỉnh có hai chợ đầu mối: chợ Dầu Tiếng, hình thành từ năm 1989, tiếp nhận và lưu thông hàng hóa từ thị xã Thủ Dầu Một đi Tây Ninh và ngược lại; chợ Tân Khánh tiếp nhận và lưu thông mặt hàng nông sản và sành sứ với 30% hàng hóa bán sỉ cho thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam Bộ, 70% bán lẻ tại chợ và các vùng lân cận

Qua thời gian, bên cạnh nhiều chợ cũ đã được nâng cấp hoặc xây dựng lại, một số chợ mới được thành lập như chợ Đông Hòa, Ngãi Thắng, Bình An, Phú Hòa,… Số lượng chợ vì thế không ngừng tăng lên Nếu như năm 2003, Bình Dương mới có khoảng 44 chợ (trong đó có 2 chợ loại I, 9 chợ loại II và

Trang 13

33 chợ loại III) thì đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh đã có 86 chợ, trong đó có

11 chợ được xếp loại I

Việc khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của hệ thống chợ ở khu vực nông thôn Trong giai đoạn 2007 - 2010, Bình Dương đã tiến hành xây dựng

12 chợ, xây lại 5 chợ trên địa bàn nông thôn với tổng vốn đầu tư là 56,4 tỷ đồng Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước là 6 tỷ đồng, vốn đầu tư của tư nhân

và doanh nghiệp là 50,4 tỷ đồng Tổng số chợ nông thôn trên địa bàn tỉnh đến cuối năm 2010 là 58 chợ, trong đó có 28/60 số xã nông thôn có chợ, đạt 46,7% (Đà Bình, 2011) Ngoài hệ thống chợ chính quy, các điểm dân cư liên tục xuất hiện và ngày càng đông đúc dẫn việc hình thành của chợ tự phát (chợ tạm, chợ

“chồm hổm”) Hình thức buôn bán chủ yếu tại các chợ này là kinh doanh tại gia hoặc thuê mặt bằng để kinh doanh; mặt hàng chính là thực phẩm, nhu yếu phẩm Chợ tự phát song hành tồn tại, đôi khi còn nhộn nhịp hơn các chợ chính quy Nhiều nơi, chợ được xây dựng mới theo quy hoạch không cạnh tranh được với chợ tự phát nên chỉ hoạt động cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa Đây là một trong những vấn đề khó giải quyết trong bài toán quy hoạch thương mại đô thị không chỉ trên địa bàn tỉnh Bình Dương mà còn phổ biến ở nhiều địa phương khác trong quá trình đô thị hóa

Ưu điểm của loại hình chợ này là tính tiện ích cao do được hình thành ngay trong cộng đồng dân cư, giá cả hợp lý, đáp ứng nhanh những nhu cầu sinh hoạt thường nhật cho đại bộ phận công nhân lao động thu nhập thấp Tuy nhiên, mặt trái của chợ tự phát là ảnh hưởng xấu đến mỹ quan đô thị Đến cuối năm 2010, trên địa bàn tỉnh tồn tại nhiều “điểm nóng” về chợ tự phát: thành phố Thủ Dầu Một có 01 điểm gần ngã tư Sở sao; huyện Thuận An có 02 điểm

ở khu phố 1B, phường An Phú và điểm trên tuyến tỉnh lộ 43 gần chợ Đồng An; huyện Dĩ An có điểm ở khu tái định cư Sóng Thần; huyện Tân Uyên có điểm trên tuyến đường ĐT 747 thuộc thị trấn Thái Hòa,… Tại những nơi này, thường xuyên diễn ra tình trạng lấn chiếm lòng lề đường, cản trở giao thông, ảnh hưởng an ninh trật tự; việc vứt rác bừa bãi gây mất vệ sinh, tác động xấu đến môi trường cũng rất phổ biến

Bên cạnh các chợ theo mô hình truyền thống, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại nhanh chóng được phát triển Từ năm 2004, các siêu thị, trung

Trang 14

tâm thương mại bắt đầu được xây dựng, hoạt động tại Bình Dương như siêu thị Vinatex, trung tâm thương mại Center, trung tâm thương mại Đồng An, trung tâm thương mại Sóng Thần Plaza, trung tâm thương mại Minh Sáng Trong những năm tiếp theo, Bình Dương còn thu hút nhiều thương hiệu lớn như City Mart, Co-op Mart, Big C, Nguyễn Kim, Điện Máy, Thế giới di động, Viễn thông A, FPT Shop,… đặt chi nhánh kinh doanh, làm cho hoạt động thương mại càng đa dạng và hiện đại Đến năm 2010, tỉnh Bình Dương đã có 7 trung tâm thương mại, 10 siêu thị kinh doanh tổng hợp và 11 siêu thị chuyên doanh phân bố tập trung ở thị xã Thủ Dầu Một và các thị trấn trung tâm các huyện Dĩ An, Thuận An, Bến Cát (ngày càng lớn Ngoài việc thu hút người dân tại chỗ đến mua sắm, đối tượng hướng đến của các trung tâm thương mại còn mở rộng đến các khu vực lân cận

Sự ra đời của các siêu thị, trung tâm thương mại không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân mà còn tác động làm thay đổi nhận thức và thói quen mua sắm của họ; góp phần định hình lối sống mới cho người dân đô thị Nếu như trước đây, người tiêu dùng thường chỉ mua những thứ mà họ cho là cần thiết phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt trong ngày hoặc vài ngày thì nay họ đã tính đến việc mua đồ dùng dự trữ cho nhiều ngày Lý

do là quá trình đô thị hóa ảnh hưởng đến quỹ thời gian mua sắm của người dân, đặc biệt là công nhân công nghiệp Họ thường làm việc cả tuần và dành thời gian cuối tuần vào việc mua sắm Thêm vào đó, so với “đi chợ” trước đây, hình thức “đi siêu thị” mới này không chỉ nhằm vào việc “mua hàng”, mà còn là hoạt động giải trí Việc kết hợp nhiều loại hình dịch vụ giúp các siêu thị, trung tâm thương mại thu hút được đông đảo người dân đến tham quan mua sắm kết hợp ăn uống và vui chơi, thư giãn

Dưới tác động của quá trình đô thị hóa, nhiều loại hình kinh doanh, dịch vụ nhỏ cũng xuất hiện và nhanh chóng “nở rộ” Ở một số điểm dân cư gần các KCN, để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của lao động nhập cư và dân bản địa, đã xuất hiện các siêu thị “mini”, cửa hàng tiện ích tự chọn, song hành cùng những quầy hàng tạp hóa Các hoạt động buôn bán nhỏ, dịch vụ ăn uống trở nên tấp nập, tập trung chủ yếu ở các KCN, dọc theo các tuyến đường chính và các khu dân cư mới, phục vụ cho công nhân nhập cư và người dân

Trang 15

địa phương Sự phát triển của các loại hình thương mại - dịch vụ này làm thay đổi nhanh chóng cảnh quan khu vực xung quanh

3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Dương

3.1 Chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế các huyện, thị - Bối cảnh của chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bình Dương

Định hướng phân vùng kinh tế cho Bình Dương đã được đề xuất ngay

từ năm 1986, theo đó “Bến Cát, Tân Uyên là vùng trọng điểm lương thực,… Thuận An và Thị xã mạnh về tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và có phần du lịch” (Đảng bộ tỉnh Sông Bé, 1996, tr.39) Đến giữa thập niên 1990, trên địa bàn tỉnh Bình Dương cơ bản đã định hình hai vùng kinh tế, là 1/ vùng kinh tế phía Nam (thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An) đẩy mạnh sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và 2/ vùng kinh tế phía Bắc (hai huyện Bến Cát

và Tân Uyên) tập trung vào sản xuất nông nghiệp

Ở khu vực phía Nam, huyện Thuận An (từ năm 1999 tách thành hai huyện Dĩ An và Thuận An) giữ vai trò vùng công nghiệp trọng điểm Tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành của các huyện, thị trên địa bàn này rất nhanh, trong

đó ngành công nghiệp đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Riêng thị xã Thủ Dầu Một, do nằm ở vị trí trung tâm của Bình Dương cả về mặt địa lí lẫn phân

cấp hành chính, đóng vai trò đô thị thương mại - dịch trạm; trong thời kỳ Đổi

mới tiếp tục giữ chức năng trung tâm điều tiết giao thương của tỉnh nên cơ cấu

kinh tế thương mại - dịch vụ là chủ yếu

Các huyện phía Bắc như Bến Cát, Tân Uyên (từ năm 1999 Bến Cát tách thành Bến Cát và Dầu Tiếng; Tân Uyên tách thành Tân Uyên và Phú Giáo) giữ vai trò trọng yếu trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chuyên canh cây công nghiệp Tuy không giữ vị trí chủ đạo trọng việc đẩy nhanh tăng trưởng GDP nhưng vùng kinh tế nông nghiệp phía Bắc là nơi cung ứng nguyên, vật liệu cho sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Qua đó, quan

hệ tương hỗ giữa các vùng kinh tế của Bình Dương được duy trì, tạo ra sức mạnh nội lực thúc đẩy kinh tế phát triển

Trong những năm đầu thế kỷ 21, trước áp lực bùng nổ dân số và sự

thiếu cân bằng về chỉ số phát triển kinh tế - xã hội giữa các địa phương, tỉnh

Bình Dương chủ trương tái cơ cấu các vùng kinh tế bằng cách mở rộng địa

Ngày đăng: 23/05/2021, 03:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w