Yêu cầu đầu ra là cơ sở khoa học đề xuất hệ thống “Tiêu chí–chỉ số”C&I cho mỗi loại phân vị đơn vị phân vùng : Miền, khu, vùng, tiểu vùng … , Áp dụng bộ Tiêu chí -chỉ số để phân vùng lãn
Trang 1BÁO CÁO
Nghiên c ứu Phân vùng sinh thái Lâm nghiệp tại Việt Nam
Cơ quan điều hành: RCFEE
Trang 2M ỤC LỤC
1 Đặt vấn đề 5
2 T ổng quan về phân vùng sinh thái lâm nghiệp 6
2.1 Phân vùng lãnh th ổ 6
2.2 Cấp phân vị và tên gọi 7
2.3 Phân vùng sinh thái 8
2.3.1 Phương pháp luận trong phân vùng sinh thái 8
2.3.2 Phân vùng sinh thái lâm nghi ệp 9
3 Th ảm thực vật rừng Việt Nam và đặc trưng phân bố 11
3.1 Nh ững nhân tố ảnh hưởng và phân bố tự nhiên của rừng Việt Nam 11
3.2 Tổng hợp các kiểu rừng sử dụng trong phân vùng STLN 12
4 Cơ sở khoa học của các tiêu chí phân vị theo mục tiêu nghiên cứu 13
4.1 Khí hậu-thủy văn 14
4.1.1 Phân lo ại khí hậu ở Việt Nam 15
4.1.2 Phân v ị khí hậu 15
4.1.3 Tiêu chí và ch ỉ số phân loại khí hậu 15
4.1.4 Khuy ến nghị phân loại khí hậu cho phân vùng STLN 16
4.2 Địa hình-địa mạo 17
4.2.1 Kinh nghi ệm quốc tế và Việt Nam 17
4.2.2 Phân lo ại 17
4.2.3 Phân vị 18
4.2.4 Tiêu chí 19
4.3 Th ổ nhưỡng-lập địa 19
4.3.1 Kinh nghi ệm quốc tế và Việt Nam 19
4.3.2 Phân lo ại 20
4.3.3 Phân v ị 21
4.3.4 Tiêu chí và ch ỉ số 21
4.4 Phân vùng STLN 24
4.4.1 Kinh nghi ệm quốc tế và Việt Nam 24
4.4.2 Phân lo ại 25
4.4.3 Tiêu chí phân vùng sinh thái lâm nghiệp 26
5 B ộ tiêu chí của hệ thống phân vùng sinh thái lâm nghiệp 27
6 K ết quả và thảo luận 39
6.1 Xây dựng bảng dữ liêu 39
6.2 Bình lu ận về kết quả và khuyến nghị sử dụng 39
7 Tài li ệu tham khảo 40
Trang 3CÁC T Ừ VIẾT TẮT
C & I Bộ tiêu chí và chỉ số sinh thái để phân vùng
COP Hội nghị các bên
ĐDSH Đa dạng sinh học ĐTQHR Điều tra quy hoạch rừng
FAO Tổ chức Nông lương thế giới
FSIV Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
GHGs Khí nhà kính
HST Hệ sinh thái
HSTR Hệ sinh thái rừng
IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
IUCN Liên minh Bảo tồn thiên nhiên quốc tế
KHNN Khí hậu nông nghiệp
LHQ Liên hợp quốc
MB Miền bắc Việt Nam (từ đèo Hải Vân)
MN Miền nam Việt Nam (từ đèo Hải Vân)
MRV Đo đếm, lập báo cáo và thẩm định
NN-PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
REDD Giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng
REL Kịch bản phát thải tham khảo
RCFEE Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng
STLN Sinh thái lâm nghiệp
TCLN Tổng cục lâm nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 4UNESCO Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa của liên hiệp quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
UNDP Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
UNEP Chương trình môi trường của liên hiệp quốc
UN-REDD Chương trình giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng của LHQ UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hiệp quốc
WWF Quỹ Quốc tế bảo tồn thiên nhiên
Trang 51 Đặt vấn đề
Tăng phát thải khí nhà kính là nguyên nhân gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu, làm biến đổi khí hậu rõ nét trong những năm gần đây, được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Để hạn chế phát thải khí nhà kính trên thế giới, chủ yếu là khí carbonic (CO2) một mặt các nước phát triển cần cam kết giảm phát thải , mặt khác cần bảo vệ phát triển rừng nhất là ở các nước nhiệt đới vì rừng là bể hấp thụ và lưu trữ khí Cacbonic Với ý nghĩa đó tại Hội nghị lần thứ 13 (COP 13) diễn ra tại Bali, Indonesia vào tháng 12/2007, các bên liên quan đã thông qua Kế
hoạch Hành động Bali (Bali Action Plan) trong đó có đề xuất lộ trình xây dựng và đưa REDD
trở thành một cơ chế chính thức thuộc hệ thống các biện pháp hạn chế biến đổi khí hậu trong tương lai, đặc biệt là sau khi giai đoạn cam kết đầu tiên của Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2012 REDD là viết tắt cụm từ tiếng Anh Reduced Emission from Deforestation and Forest Degradation nghĩa là Giảm phát thải khí nhà kính gây ra do mất rừng và suy thoái rừng
Ở Việt Nam, REDD được thực hiện thông qua 3 tổ chức của Liên hiệp quốc là UNDP, FAO và UNEP và được gọi tắt là chương trình UN -REDD Một trong những mục tiêu chính của UN-REDD Việt Nam là hỗ trợ Tổng Cục Lâm Nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các cơ quan đầu mối thiết lập được và quản lý các công cụ để thực hiện một chương trình REDD hiệu quả, minh bạch, công bằng Đảm bảo rằng các cơ quan đầu mối có khả năng
đo lường giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng một cách chính xác và tuân thủ đúng các tiêu chuẩn quốc tế
Trong các hoạt động liên quan đến tính toán giảm phát thải thì việc xây dựng mức phát thải tham khảo (Reference Emision Level = REL) và hệ thống đo đếm, lập báo cáo và thẩm định (Measurement, Reporting and Verification - MRV) là hết sức quan trọng Ở cấp độ đánh giá
mức quốc gia, các tính toán về hấp thụ và phát thải chủ yếu dựa trên số liệu về phân vùng sinh thái của các kiểu rừng cơ bản của Việt Nam Trên cơ sở các kiểu rừng trong một phân vùng sinh thái có năng suất sinh học tương đối đồng nhất, chúng ta có thể tính toán sơ bộ mức hấp
thụ/ phát thải toàn quốc cho lĩnh vực lâm nghiệp
Cho tới nay chưa có hệ thống phân vùng sinh thái lâm nghiệp nào tại Việt Nam Có chăng chỉ
là các hệ thống ph ân loại rừng, hay phân chia các kiểu thảm thực vật rừng, mà không định vị được các kiểu đó được phân bố tự nhiên tại đâu ? trung tâm vùng phân bố, phạm vi phân bố, và
dự báo tiềm năng năng suất của mỗi vùng ,ứng với mỗi kiểu rừng ra sao ? Các câu hỏi này chính là nôi dung của việc phân vùng sinh thái lâm nghiệp nhằm mục đích làm cơ sở cho việc xây dựng các kịch bản phát thải tham khảo (REL), và đo đếm, lập báo cáo và thẩm định (MRV)
Để xây dựng chiến lược phát triển ngành 10 năm, 15 năm, hay lập quy hoạch lâm nghiệp cho
từng kế hoạch 5 năm khi chưa phân vùng STLN, ngành lâm nghiệp thường dùng khái niệm 8 vùng kinh tế lâm nghiệp, xuất hiện vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ trước Từ thập kỷ 90 sau khi
hợp nhất các bộ lâm nghiệp, nông nghiệp, Thủy lợi, ngành lâm nghiệp thường sử dụng có hiệu
quả hệ thống 7 vùng sinh thái nông nghiệp, với các tiêu chí xác định vế địa hình, khí hậu, đất đai
Trang 6Song, một mặt các tiêu chí và chỉ số về khí hậu, thủy văn, đất đai, để phân vùng sinh thái nông nghiệp khác với các hệ sinh thái rừng , cho dù nó có chung ý nghĩa về vùng phân bố và năng
suất tạo ra sản phẩm nông lâm nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, sự khác nhau của
hệ sinh thái rừng ngoài sản xuất sản phẩm tiêu dung, lại còn phải tạo ra 1 dạng sản phẩm quan
trọng hơn nữa, đó là dịch vụ môi trường sinh thái bảo vệ sự sống còn trên trái đất, mà REDD chính là 1 dạng dịch vụ đang được chú ý để góp phần chống biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó
Việt Nam và cả vùng lưu vực sông Me kong được dự báo là 1 trong các vùng chịu tác động lớn
nhất Công trình này, lần đầu tiên phân vùng sinh thái lâm nghiệp Việt Nam trong hoàn cảnh các hệ sinh thái rừng nguyên sinh đã bị phá hủy quá nhiều, lại không tiến hành nghiên cứu khảo sát, tuy vậy đã thừa kế được nhiều kinh nghiệm, nhiều số liệu của các công trình phân vùng tại
Việt Nam về khí hậu-thủy văn, thổ nhưỡng-lập địa, địa hình-địa chất, sinh thái nông nghiệp Yêu cầu đầu ra là cơ sở khoa học đề xuất hệ thống “Tiêu chí–chỉ số”(C&I) cho mỗi loại phân
vị (đơn vị phân vùng : Miền, khu, vùng, tiểu vùng … ), Áp dụng bộ Tiêu chí -chỉ số để phân vùng lãnh thổ Viêt Nam phục vụ mức độ quy hoạch, tổ chức quản lý (vĩ mô), chỉ ra sự phân bố
một hoặc một số hệ sinh thái chủ yếu (tạm thời chưa nghiên cứu dự báo năng suất sinh học), định vị được phân vùng sinh thái lâm nghiệp thuộc các phân vị, có tên gọi, ranh giới trên bản
đồ 1/ 1.000.000 đến 1/250.000, đó là nhiệm vụ khó khăn trong thời gian giới hạn chỉ 4-6 tháng Trong các phương pháp truyền thống dã được chọn lọc và thừa kế, phương pháp chuyên gia tỏ
ra rất hiệu quả, nhưng đòi hỏi các nhà sinh thái lâm nghiệp lâm nghiệp đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn
2.1 Phân vùng lãnh th ổ
Những cơ sở pháp lý đầu tiên của nhà nước về phân vùng lãnh thổ của các ngành kinh tế, các ngành chuyên môn từ các năm thạp kỷ 60,70 thế kỷ trước là thông tư 193/UB/VP ngày 11/2/1963 của Ban phân vùng kinh tế thuộc Ủy Ban Kế hoạch nhà nước, và Quyết định 270/CP ngày 30/9/1977 của Hội đồng Chính Phủ, nay là Chính phủ đã hướng dẫn và thực hiện việc phân vùng kinh tế theo các chuyên ngành cụ thể dưới đây:
Trang 7Các chuyên ngành đã tiến hành phân vùng 1 hay nhiều phương án mục tiêu, và sử dụng kết quả phân vùng trong nhiều năm nay Hai phân vùng có liên quan chặt chẽ đến sinh thái lâm nghiệp
là phân vùng địa lý tự nhiên và phân vùng khí hậu thủy văn
Phân vùng địa lý tự nhiên
Ngành địa lý tự nhiên chuyên nghiên cứu, phát hiện hệ thống các khu vực tự nhiên đồng nhất
về phát sinh, do đó mà có những đặc thù riêng, không lặp lại trong không gian
Có hai nhân tố phát s inh chủ yếu, một là nhân tố địa đới chi phối bởi sự phân bố năng lượng
mặt trời không đồng đều trên trái đất, tạo ra các vành đai nóng, ôn hòa, lạnh, và các đới rừng,
xa van, hoang mạc Hai là nhân tố phi địa đới chi phối bởi năng lượng kiến tạo trong lòng đất, hình thành các châu lục, vùng núi, cao nguyên, đồng bằng, các miền địa chất - địa hình phân hóa chi tiết trong các xứ
Tại các khu vực địa lý nhỏ hơn nữa, có sự thống nhất của cả hai nhân tố, tạo nên các tổng thể lãnh thổ có sự đồng nhất cao Phân vùng địa lý tự nhiên bao gồm cả hai khâu phân vị và phân
loại Ngoài phân vùng tổng hợp nói trên còn có phân vùng từng thành phần địa lý tự nhiên như phân vùng địa mạo, phân vùng khí hậu thủy văn, phân vùng thổ nhưỡng, phân vùng sinh vật, các phân vùng này sẽ bổ sung cho nhau làm tăng thêm tính khoa học và tính thực tiễn cho mỗi
loại phân vùng thành phần
Phân vùng khí h ậu thủy văn
Hệ thống phân vị sơ đồ phân vùng khí hậu dựa trên hai đặc trưng, một là phân hóa về tài nguyên nhiệt, hai là phân hóa về tài nguyên ẩm Hiện nay đang sử dụng phổ thông hai phân vị
là miền khí hậu và vùng khí hậu (theo Nguyễn Đức Ngữ, 2008)
Miền khí hậu: phân định theo tài nguyên nhiệt (biên độ/ năm, tổng bức xạ/năm); hiện có hai
miền là miền bắc và miền nam
Vùng khí h ậu : Trên mỗi miền, theo chỉ tiêu mưa ẩm (mùa mưa, ba tháng mưa cao nhất) đã
phân vùng lãnh thổ thành 7 vùng khí hậu thủy văn sau đây: vùng Tây Bắc, vùng Đông Bắc, vùng Đồng bằng Bắc Bộ, vùng Bắc trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ, vùng Tây nguyên, vùng Nam bộ
Có sự khác nhau trong việc phân chia lãnh thổ theo ngành chuyên môn so với phân vùng sinh thái nông nghiệp, hoặc vùng sinh thái lâm nghiệp mà chúng ta đang nghiên cứu kể cả tên gọi
của phân vị cơ bản là vùng, ví dụ vùng Đồng bằng Bắc bộ hay vùng Đồng bằng Sông Hồng, vì trong vùng còn có hệ thống sông Thái Bình chẳng hạn
2.2 C ấp phân vị và tên gọi
Hiện chưa có sự nhất quán trong tên gọi, số lượng và khái niệm của các cấp phân vị không phải
chỉ do mục đích của sự phân vùng, mà còn tùy thuộc vào quan niệm và phương pháp của tác
giả hay nhóm tác giả phân vùng Các văn bản nói trên đã hướng dẫn 7 cấp phân vị cảnh quan sinh thái (CQST) từ cấp thấp nhất, đó là:
Trang 8 1 Diện Cảnh quan sinh thái, 2 Dạng cảnh quan sinh thái, 3 Cảnh quan sinh thái, 4 Vùng sinh thái, 5 Khu sinh thái , 6 Miền sinh thái, 7 Xứ sinh thái
Trong thực tiễn, phân vùng lãnh thổ của từng ngành kinh tế hay từng lĩnh vực chuyên môn, không nhất thiêt phải sử dụng 7 cấp phân vị kể trên, mà căn cứ mục dích của việc phân vùng
Ví dụ Phân vùng địa mạo Viêt Nam và các nước lân cận của Lê Đức An (1985) trên bản đồ 1/1.000.000 đã dùng 4 cấp phân vị vĩ mô và gọi tên gần như theo hệ thống hành chính là :
Nước địa mạo
Tỉnh địa mạo,
Miền địa mạo
Vùng địa mạo
Hội khoa học đất phân vùng địa lý thổ nhưỡng Việt Nam (1996) trên bản đồ tỷ lệ 1/ 1.000.000
cũng đã dung 4 cấp phân vị vĩ mô và đặt tên sát với tên trong thông tư 193/ UB-VP năm 1963
của Ban phân vùng kinh tế là : 2 miền, 6 á miền, 16 khu, 142 vùng
2.3 Phân vùng sinh thái
Phân vùng sinh thái cũng là 1 dạng phân vùng lãnh thổ như vừa mô tả tại tiết 2.1 nhưng nội dung phân vùng lại là các hệ sinh thái khác nhau
2.3.1 P hương pháp luận trong phân vùng sinh thái
Phân vùng sinh thái có vai trò hết sức quan trọng trong việc phân định địa lý tự nhiên, không
gian môi trường, xác định các quy luật sinh thái đặc thù của từng vùng, tiểu vùng Phân vùng
hiểu một cách đơn giản là sự phân chia lãnh thổ thành những đơn vị nhỏ hơn, nhưng có chung 1
hoặc vài tiêu chí đã chọn Có rất nhiều lo ại phân vùng khác nhau ví dụ: Phân vùng địa lý tự nhiên; Phân vùng địa chất; Phân vùng khí hậu; Phân vùng thủy văn; Phân vùng sinh thái nôn g nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi
Trong tổng quan này sẽ tổng hợp các hệ thống phân vùng lâm nghiệp từ trước đến này làm cơ
sở lựa chọn các tiêu chí phân vùng sinh thái lâm nghiệp ở VN
Trước hết, cần phải tìm hiểu một số khái niệm làm cơ sở cho việc phân vùng sinh thái:
C ảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý và có
chức năng sinh thái của hệ sinh thái (HST) đang tồn tại và phát triển ở trên đó
C ấu trúc của cảnh quan sinh thái gồm có cấu trúc của cảnh quan và cấu trúc của HST
lồng vào nhau trong một thể thống nhất Ví dụ về cấu trúc cảnh quan: nền đá, địa hình,
thổ nhưỡng, sinh vật, thủy văn, khí hậu…; về cấu trúc HST: vật chất vô cơ, hữu cơ, sinh
vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy
D ạng cảnh quan sinh thái được đặc trưng bởi sự đồng nhất nền đá và các thể hình thái
về tiểu hoặc trung địa hình đơn giản; tiểu hoặc khí hậu địa phương; các đặc điểm thủy văn quy mô tương ứng; các đơn vị đất; các quần xã thực vật
Trang 9 Ch ức năng sinh thái là sự vận động và biến đổi vật chất, năng lượng và hình thái của
các thành phần cấu trúc trên Ví dụ: ngọn núi, đồng bằng, các mô hình sản xu ất nông nghiệp, lâm nghiệp…
Vùng sinh thái là một đơn vị lãnh thổ có cấu trúc đồng nhất tương đối bới tính trội phát sinh của một kiến trúc địa chất thuộc một đới địa chất; Tập hợp các thể hình thái đại địa hình được đặc trưng tổng hợp tất cả các hợp phần tự nhiên: khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật…Ví dụ: vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Ngư nghiệp…
Khu sinh thái được hình thành bởi một đới cấu trúc địa chất có chung lịch sử phát triển
và đặc điểm kiến tạo là tập hợp các thể hình thái đại địa hình lớn hơn vùng sinh thái, có đặc điểm chung về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật…Ví dụ: vùng kinh tế, tỉnh, thành…
Mi ền sinh thái được hình thành trong miền địa chất hay khu vực địa chất có chung đặc
điểm của cấu trúc lớp vỏ trái đất chi phối các miền khí hậu và cùng với thảm thực vật ứng với miền khí hậu đó Ví dụ: miền xích đạo, ôn đới, nhiệt đới…
X ứ sinh thái: Là cấp phân vị lớn nhất, quy mô lục địa và đại dương được đặc trưng bởi
phần lãnh thổ gồm nhiều miền sinh thái Xứ sinh thái thường đề cập đến từng lục địa
H ệ sinh thái là đơn vi cơ bản của cảnh quan tự nhiên Theo Odum, hệ thông cảnh quan
tự nhiên bao gồm bốn kiểu hệ sinh thái cơ bản:
i) Các hệ thống sản xuất, ở đó diễn thế được con người kiểm soát liên tục nhằm duy trì
mức năng suất cao;
ii) Các hệ thống bảo tồn hay tự nhiên, nơi cho phép hay tạo điều kiện cho qúa trình
diễn thế tự nhiên tiến tới trạng thái bền vững;
iii) Các hệ thống liên hợp, trong đó kết hợp cả hai kiểu trạng trên; và
iv) Các hệ thống đô thị và khu công nghiệp h ay những khu vực không thật quan trọng
về mặt sinh học
Phân vùng mang những đặc tính là: (i) tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại); (ii) tính ước định
ranh giới (có thể xác định hoặc không); và (iii) tính chủ quan trong phân vùng thể hiện mục đích của phân vùng theo ý thức mong muốn của con người
Phân vùng phải bảo đảm các nguyên tắc: (i) Có sự đồng nhất tương đối của sự phân hóa các
chỉ tiêu phân vùng; (ii) Có sự lựa chọn các nhân tố trội trong khi xem xét các biểu hiện mang tính ổn định của HST tự nhiên; (iii) Bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ tiện cho việc khai thác, bảo vệ
và quản lý vùng
2.3.2 Phân vùng sinh thái lâm nghi ệp
Hệ sinh thái rừng bao gồm các kiểu thảm thực vật rừng trong cả nước được phân chia và sử
dụng theo các phương pháp, các mục đích khác nhau, mà sẽ trình bày kỹ trong tiết 5.2 sắp tới, Cho tới nay, chưa có công trình phân vùng STLN nào ở Việt Nam được thực hiện , vì vậy quan
tâm đầu tiên là về cơ sở khoa học phương pháp luận trong phân vùng sinh thái
Trang 10Phân vùng sinh thái có vai trò hết sức q uan trọng trong việc phân định địa lý tự nhiên, không
gian môi trường, xác định các quy luật sinh thái đặc thù của từng vùng, tiểu vùng Phân vùng
hiểu một cách đơn giản là sự phân chia lãnh thổ thành những đơn vị nhỏ hơn Có rất nhiều loại phân vùng khác nhau ví dụ: Phân vùng địa lý tự nhiên; Phân vùng địa chất; Phân vùng khí hậu; Phân vùng thủy văn; Phân vùng sinh thái nôn g nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi Trong tổng quan này sẽ tổng quan các hệ thống phân vùng lâm nghiệp từ trước đến này làm cơ sở lựa chọn các tiêu chí phân vùng sinh thái lâm nghiệp ở VN
Trước hết, cần phải tìm hiểu một số khái niệm làm cơ sở cho việc phân vùng sinh thái:
C ảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý và có
chức năng sinh thái của hệ sinh thái (HST) đang tồn tại và phát triển ở trên đó
C ấu trúc của cảnh quan sinh thái gồm có cấu trúc của cảnh quan và cấu trúc của HST
lồng vào nhau trong một thể thống nhất Ví dụ về cấu trúc cảnh quan: nền đá, địa hình,
thổ nhưỡng, sinh vật, thủy văn, khí hậu…; về cấu trúc HST: vật chất vô cơ, hữu cơ, sinh
vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy
D ạng cảnh quan sinh thái được đặc trưng bởi sự đồng nhất nền đá và các thể hình thái
về tiểu hoặc trung địa hình đơn giản; tiểu hoặc khí hậu địa phương; các đặc điểm thủy văn quy mô tương ứng; các đơn vị đất; các quần xã thực vật
Ch ức năng sinh thái là sự vận động và biến đổi vật chất, năng lượng và hình thái của
các thành phần cấu trúc trên Ví dụ: ngọn núi, đồng bằng, các mô hình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp…
Vùng sinh thái là một đơn vị lãnh thổ có cấu trúc đồng nhất tương đối bới tính trội phát sinh của một kiến trúc địa chất thuộc một đới địa chất; Tập hợp các thể hình thái đại địa hình được đặc trưng tổng hợp tất cả các hợp phần tự nhiên: khí hậu , thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật…Ví dụ: vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Ngư nghiệp…
Khu sinh thái được hình thành bởi một đới cấu trúc địa chất có chung lịch sử phát triển
và đặc điểm kiến tạo là tập hợp các thể hình thái đại địa hình lớn hơn vùng sinh thái, có đặc điểm chung về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật…Ví dụ: vùng kinh tế, tỉnh, thành…
Mi ền sinh thái được hình thành trong miền địa chất hay khu vực địa chất có chung đặc
điểm của cấu trúc lớp vỏ trái đất chi phối các miền khí hậu và cùng với thảm thực vật ứng với miền khí hậu đó Ví dụ: miền xích đạo, ôn đới, nhiệt đới…
X ứ sinh thái: Là cấp phân vị lớn nhất, quy mô lục địa và đại dương được đặc trưng bởi
phần lãnh thổ gồm nhiều miền sinh thái Xứ sinh thái thường đề cập đến từng lục địa
H ệ sinh thái là đơn vi cơ bản của cảnh quan tự nhiên, gồm các hệ thống tự nhiên, nơi
cho phép hay tạo điều kiện cho qúa trình diễn thế tự nhiên tiến tới trạng thái bền vững; Phân vùng mang những đặc tính là: (i) tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại); (ii) tính ước định
ranh giới (có thể xác định hoặc không); và (iii) tính chủ quan trong phân vùng thể hiện mục đích của phân vùng theo ý thức mong muốn của con người
Phân vùng phải bảo đảm các nguyên tắc: (i) Có sự đồng nhất tương đối của sự phân hóa các
ỉ tiêu phân vùng; (ii) Có sự lựa chọn các nhân tố trội trong khi xem xét các biểu hiện mang
Trang 11tính ổn định của HST tự nhiên; (iii) Bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ tiện cho việc khai thác, bảo vệ
và quản lý vùng
3.1 Nh ững nhân tố ảnh hưởng và phân bố tự nhiên của rừng Việt Nam
Lãnh thổ Việt Nam nằm hoàn toàn trong đai nhiệt đới, và thuộc vùng có khí hậu gió mùa Tuy
vậy các kết quả nghiên cứu phân vùng khí hậu tự nhiên lại cho thây có sự chênh lệch đáng kể
về các tiêu chí chi phối sự phát sinh, phát triển của các hệ sinh thái rừng, và hệ sinh thái nông nghiệp, đó là: Tổng nhiệt độ năm, biên độ ngà y và biên độ năm, có 1 mùa đông Các tiêu chí này tạo ra sự chênh lệch đáng kể về kích thước (đường kính, chiều cao, thể tích cây, khối lượng
gỗ và biomass, đặc biệt là ở các hệ sinh thái rừng hỗn loại thường xanh nhiệt đới (kiểu 1) và hệ sinh thái rừng ngập mặn (kiểu 6)
Trong khi nhân tố vĩ độ, và nhân tố địa đới ảnh hưởng không rõ rệt đến các hệ sinh thái rừng
và năng suất si nh học của chúng, thì sự chênh lệch theo độ cao lại có ảnh hưởng lớn tới việc hình thành các hệ sinh thái ôn đới núi cao (các kiểu phụ theo độ cao: Ia, Ib, Ic), và năng suất sinh học của chúng, thông qua nhiệt độ, lượng mưa, giớ chiếu sáng, thổ nhưỡng, địa mạo , mô
tả kỹ các kiểu rừng trong tiết 5.2 Hai phần ba diện tích lãnh thố Việt Nam là đồi núi, trong đó phân bố thực vật từ độ cao 1.000 m là có thay đổi rõ nét, trong khi các dãy Bi-đúp, Chư-yang-sin, Ngọc Linh ở miền Nam có độ cao trên 2.000 m, cò n ở miền Bắc thì nhiều dãy tương tự
hoặc cao hơn nữa, cho đến cao nhất là dãy Hoàng-Liên, có đỉnh Phrang-si-pang cao 3.143 m
Năm 1943 số liệu diện tích rừng Việt Nam đầu tiên được công bố là 14,3 triệu ha (P.Maurant, 1943), khi đó toàn bộ là rừng tự nhiên, đa số là nguyên sinh Qua 2 cuộc chiến tranh 1945 -
1954, và 1965-1975 diện tích này giảm xuống 11,2 triệu ha, tốc độ giảm nhanh nhất là 15 năm sau khi đất nước thống nhất thì năm 1990 đạt mức thấp nhất là 9,17 triệu ha, chiếm 64 % diện tích rừng thống kê ban đầu, từ đó nhờ các chương trình 327, 661 và điều kiện giảm thiểu sức
ép lương thực, củi đốt, nên diên tích rừng tăng dân lên 11,3 triệu ha vào năm 2000 và 13,3 triệu ha năm 2009, chiếm xấp xỉ 93 % diện tích rừng ban đầu Tuy nhiên diện tích tăng chủ yếu
là 3 triệu ha rừng trồng, còn rừng tự nhiên phục hồi chậm hơn, các hệ sinh thái nguyên sinh chỉ còn lại trong vùng lõi của các khu Bảo tồn hoặc các vườn quốc gia Bảng 1 chỉ rõ su thế thay đổi diện tích rừng của Việt Nam trong 60 năm vừa qua
B ảng 3-1 Sự thay đổi diên tích rừng từ năm 1943 (đơn vị tính : triệu ha)
Trang 121995 8,252 1,050 9,302 28,2 0,12
2005 10,283 2,334 12,617 36,4 0,15 + 2,432 +15,4
2009 10,339 2,920 13,259 39,1 0,15 + 4,084 + 36,4 (Ngu ồn : TCLN, 2010)
Tổng trữ lượng gỗ cũng giống như tổng sinh khối cây sống đều chung quy luật giảm thiểu theo
thời gian nói trên, nhưng phục hồi thì lại chậm hơn
Năm 1990 tổng trữ lượng gỗ là 657 triệu m3
Năm 2000 là 782 triệu m3
Năm 2005 là 812 triệu m3
Khi phân vùng STLN thì tổng trữ lượng gỗ sẽ được thống kê theo vùng, nhưng nó chỉ phản ánh
khối lượng hiện trạng của rừng, chứ chưa thể dự báo tiềm năng năng suất của các hệ sinh thái
R ừng trồng 53.545 1.710 15.444 1.611 9.048 15.278 2.896 2.819 4.739
(Nguồn: Bộ NN-PTNT QĐ 1267 ngày 05-05-2009)
3.2 T ổng hợp các kiểu rừng sử dụng trong phân vùng STLN
Các HSTR nguyên sinh là bằng chứng quan trọng chứng minh các điều kiện sinh thái đã hình thành và đảm bảo sự tồn tại lâu đời của chúng trên các vùng lãnh thổ Việt Nam S ong, trong quá trình phát triển lâu đời, chính các nhân tố sinh thái cũng thay đổi hoặc từ từ, hoặc đột xuất, đặc biệt là nhân tố con người (nhân tác) đã để lại cho thế hệ chúng ta một bức khảm phong phú nhưng quá phức tạp các loại rừng, đa phần là thứ sinh hoặc nhân tạo, mà vừa được trình bày tóm tắt cả phương pháp luận, cả hiệu quả áp dụng của từng hệ thống để có đủ cơ sở chọn lọc các kiểu rừng chính (tương đương hệ sinh thái) trong phân vùng lãnh thổ
Trang 13Trong 10 kiểu rừng đã chọn lọc lần này đã bao gồm đầy đủ các kiểu rừng tự nhiên, nguyên sinh, thứ sinh đang trong quá trình diễn thế, và cũng đã đưa vào cả các hệ rừng trồng, các loại
thảm thực vật chưa thành rừng (trảng, truông theo Thái văn Trừng, 1963; Ib, Ic theo phân loại
hiện trạng bổ sung) để bao quát mọi hình thái thảm thực vật rừng
Bảng 3 liệt kê tên 10 kiểu rừng chính và ký hiệu (mã số) mỗi kiểu rừng, với 4 kiểu phụ cho
khối rừng tự nhiên hỗn loại (xem phần 5.2.3 , và 3 kiểu phụ cho đất lâm nghiệp chưa có rừng xem phần 5.3.1
B ảng 3-3 Các kiểu rừng (chính và phụ), được sử dụng để phân vùng STLN
Ký hi ệu Kiểu rừng
1 Rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa ẩm ; các kiểu phụ:
1a: vùng thấp, < 500 m ở miền Bắc, < 700 m ở miền Nam
1b: vùng thấp Nam Bộ, ưu hợp họ Dầu
1c: Đồi, núi thấp và trung bình 500-1500 m ở miền Bắc, 700-2000m ở miền Nam 1d: Núi cao > 1500m ở miền Bắc, >2000m ở miền Nam
2 Rừng hỗn loài nửa rụng lá
3 Rừng hỗn loài trên núi đá vôi
4 Rừng lá kim, hỗn loài lá rộng lá kim
5 Rừng thưa, rụng lá theo mùa, ưu thế họ Dầu (khộp)
10c: Thảm cây bụi câ gỗ tái sinh (>200 cây/ha)
Về lý thuyết, tiêu chí quan trọng nhất để phân vùng STLN là sự tồn tại của của các HST (hay
kiểu rừng đó) trên phạm vi vùng phân chia, vì vậy nếu đã có HST nguyên sinh, mà cao đỉnh gọi
Trang 14là climax nào đó, thì các nhân tố sinh thái chỉ còn là hệ thống lý thuy ết tạo ra hoàn cảnh môi trường hình thành (phát sinh) nên HST đó để tham khảo Song trong đa số trường hợp tại cấp phân vị thấp, như tiểu vùng, khi HST nguyên sinh không còn nữa thì cần tới các tiêu chí tạo ra
môi trường phát sinh và phát triển của HST đó theo nguyên lý “hoàn cảnh sinh thái nào thì kiểu
rừng đó” Đây chính là cơ sở để dự báo hoặc tại đây đã từng tồn tại HST nguyên sinh này, hoặc
diễn thế thứ sinh các kiểu rừng hiện tại đang theo x u hướng phục hồi lại nguyên mẫu HST nguyên sinh đó
Trong phạm vi công trình chuyên sâu về sinh thái rừng, khi xem xét 5 nhân tố si nh thái phát sinh thì nhân tố thứ 5 “nhân tác” sẽ là ý chí con người, thân thiện hay tàn phá thiên nhiên, nó đã
từng học được nhiều bài học và quyết định hướng đi cho tương lai Nhân tố “khu hệ thực vật”
là chân lý thực tiễn xác nhận tính đúng đắn của sự phân bố tự nhiên các kiểu rừng nguyên sinh, nhưng nay bị thay bằng các kiểu trung gian , hoặc đang suy thoái, hoặc đang phục hồi, và phải được coi là các đối tượng hiện thực khách quan của lý thuyết phân vùng,
Ba tiêu chí sinh thái còn lai , gọi tắt là khi hậu, địa hình, thổ nhưỡng là 3 hệ thống quan trọng
nhất để tạo ra môi trường phát sinh của các kiểu rừng mà ta phân vùng, song trong từng phân vị (cấp phân vùng), từng trường hợp cụ thể nhân tố nào là chủ đạo , nhân tố nào it gây tác động lại
là do tính quy luật của các kết quả nghiên cứu, hoặc kinh nghiệm chuyên gia chỉ ra
Trong sự liên quan như một nhân tố sinh thái của sự hình thành và phát triển các HSTR, mỗi nhân tố đã kiến nghị các tiêu chí và chỉ số (C&I) hỗ trợ cho ngành lâm nghiệp lựa chọn, các khuyến nghị cho mỗi phân vị khi phân vùng STLN
4.1 Khí h ậu-thủy văn
Trên thế giới có nhiều hệ thống, nhiều phương pháp phù hợp cho các điều kiện khác nhau thường phân loại khí hậu theo các hệ thống sau đây:
Phân lo ại của Koppen (1918-1936): Trên cơ sở kết hơp chỉ số nhiệt độ, lượng mưa
Sau này Trewartha bổ sung kết hợp thành hệ thống Koppen-Trewartha, tạo ra hệ thông phân loại khí hậu thế giới 7 nhóm từ A đến H, từ vùng quá nóng đến vùng cực lạnh, đặc trưng bởi chỉ số : “số tháng có nhiệt độ trung bình bằng hoặc trên 18o
C”, từ nhóm C thì
so với nhiệt độ trên 10o
C,
H ệ Thornthwaite: Là hệ thống Koppen có kết hợp giám sát sự bốc thoát hơi nước trong
1 khu vực Nó cũng sử dụng chỉ số ẩm và độ khô cằn để biết lượng ẩm đẫ được thảm
thực vật sử dụng
Phân lo ại của Holdridge, 1947, 1967: Đây là hệ thống “sinh khi hậu” để phân loại đất
đai và lập bản đồ, áp dụng trên toàn cầu
Hệ thống được tích hợp từ 3 chỉ số là: Nhiệt độ sinh học, vĩ độ và đai cao
Ngyên t ắc phân vùng sinh thái của FAO (Zhu, 1997; Preto, 1998) Đây là hệ thống
phân loại khí hậu có yếu tố sinh thái rừng
Trang 154.1.1 Phân lo ại khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam đã nghiên cứu việc phân vùng lãnh thổ theo chuyên ngành khí hậu goi tên là Phân vùng khí hậu MB Việt Nam (1964), Phân vùng khí hậu tự nhiên (Nguyễn Hữu Tài, 1985, Nguyễn Đức Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu , 2004) Hệ thống này đang được sử dụng rộng rãi trong cả nước, với 7 vùng khí hậu là: Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây nguyên, Nam bộ
Cũng đã hoàn thành nhiều công trình Phân vùng khí hậu cho nhiều chuyên ngành khác, như Phân vùng khí hậu xây dựng (Nguyễn Việt Liễn, 1984, 2002) như Phân vùng khí hậu nông nghiệp (Lê Quang Huỳnh, 1985), v.v
4.1.2 Phân v ị khí hậu
Các sơ đồ phân vùng khí hậu tự nhiê n Việt Nam của Nguyễn Hữu Tài (1985), Nguyễn Đức
Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu (2004) có một hệ thống chỉ tiêu khá tương đồng, có thể mô tả tóm
tắt như sau:
Miền khí hậu: Là cấp phân vị dùng để thể hiện sự khác biệt về khí hậu có liên quan đến ảnh hưởng của gió mùa mùa đông trong đó sự hạ thấp của nhiệt độ mùa đông dẫn đến hình thành 2 mùa nóng lạnh có vai trò quyết định
Vùng khí hậu : Là cấp cơ sở của sơ đồ, thể hiện sự khác nhau về khí hậu có liên quan đến ảnh hưởng của gió mùa mùa hè dẫn đến sự khác nhau về mùa mưa ở các vùng
Tiểu vùng khí hậu: Là cấp phân vị bổ xung nhằm thể hiện chi tiết hơn sự phân hóa khí
hậu trong mỗi vùng, được biểu hiện qua nhiều đặc trưng khí hậu khác nhau
4.1.3 Tiêu chí và ch ỉ số phân loại khí hậu
Mi ền Khí hậu
Chỉ tiêu chính : Biên độ năm của nhiệt độ (∆to
C) Chỉ tiêu sử dụng để phân chia 2 miền là (∆t=8o
C), ngoài ra còn 2 chỉ tiêu kết hợp là: tổng xạ trung bình năm Q=140 kcal và tổng số giờ
Tiêu chí được sử dụng gồm: Lượng mưa năm, tổng nhiệt độ năm, biên độ năm và biên
độ ngày của nhiệt độ, số ngày có going
Trang 164.1.4 Khuy ến nghị phân loại khí hậu cho phân vùng STLN
Số liệu là cở sở quan trọng để thử nghiệm mô hình, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và định các đường ranh giới Với tỷ lệ khá lớn 1/250000, số liệu sử dụng buộc phải là số liệu lưới với mật
độ đủ dầy (với độ phân giải cỡ 1-5km) Việc xử lý, hiệu chỉnh theo số liệu quan trắc có vai trò đặc biệt quan trọng
Phương pháp phân vùng hướng chính vào các phương pháp truyền thống thuộc nhóm các phương pháp địa lý khí hậu như đã phân tích ở trên Hệ thống phân vị sẽ theo quy hoạch chung
của dự án với 2 cấp cơ bản là vùng và tiểu vùng Các phương pháp và hệ thống chỉ tiêu của các
sơ đồ phân loại khí hậu thế giới của Koppen, Köppen-Trewartha, Holdridge; các bản đồ phân
vùng khí hậu Việt Nam cùng với hệ thống phân vị và chỉ tiêu phân vùng là tài liệu tham khảo quan trọng Việc nghiên cứu các chỉ tiêu khí hậu sinh thái cũng như việc tổ hợp các đặc trưng khí hậu cơ bản tạo thành các phức hợp phản ánh được mối quan hệ giữa khí hậu với sinh trưởng, năng suất cây rừng sẽ là hướng phát triển hệ thống phân vị và chỉ tiêu phân vùng Theo
thảo luận và đề xuất 3 phân vị (2 miền, 8 vùng, 46 tiểu vùng) thì chỉ số cho mỗi phân vị được
đề xuất trong bảng 4, với nhận xét là:
Khí hậu ảnh hưởng lớn tới phân chia Miền và Vùng
Khí hậu ảnh hưởng ít tới phân chia Tiểu vùng
B ảng 4-1 Tiêu chí về khí hậu cho mỗi phân vị phân vùng STLN
và năm:
∆H = ∆Tngày- ∆Tnăm = (Tmax_tbn – Tmin_tbn) – (Ttbmax – Ttbmin)
- PER mùa hè
T_mùa lạnh T_mùa nóng
Rtnnăm R_mùamưa R_mùakhô
Thực tế ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu đến các phân vị lớn của phân vùng STLN là rất
mạnh, cho đến c ấp Tiểu vùng đã khó xác định chế độ khí hậu đặc thù cho tiểu vùng, do đó thường mô tả đặc điểm trung bình của các yếu tố phổ biến nhất như nhiệt độ, lượng mưa
Trang 174.2 Địa hình - địa mạo
4.2.1 Kinh nghi ệm quốc tế và Việt Nam
Nhóm nhân tố địa chất /địa mạo là những nhân tố có sự hình thành lâu dài trong lịch sử kiến tạo
của trái đất, quyết định sự hình thành các đại dương và các lục địa, hình thái và thành phần vật
chất của vỏ trái đất Tuy nhóm nhân tố địa chất/địa mạo không ảnh hưởng trực tiếp đến thành
phần các kiểu thảm thực vật, nhưng chúng lại là những nhân tố có tác dụng chi phối ảnh hưởng
của những nhân tố khác như khí hậu, thuỷ văn, đá mẹ, thổ nhưỡng, v.v, đến các hệ sinh thái lâm nghiệp Nhóm nhân tố địa chất/địa mạo ảnh hưởng đến sự hình thành, thành phần loài, v.v
và phân bố của hệ sinh thái lâm nghiệp thông qua những yếu tố sau:
Độ lục địa: là khoảng cách từ vùng đó đến biển ảnh hưởng đến tiểu khí hậu, hình thành nên các khu vực có khí hậu lục địa và khí hậu đại dương
Độ cao, hướng sườn, độ dốc: là những nhân tố ảnh hưởng đến chế độ tiểu khí hậu Độ cao hình thành nên các đai độ cao với đặc trưng khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau ảnh hưởng đến phân bố các loài thực vật Trong điều kiện Việt Nam, giới hạn vành đai á nhiệt đới vùng núi thấp ở miền
Bắc là 600 - 700m, ở miền Nam là 1.000m do miền Nam gần xích đạo hơn miền Bắc Thái Văn
Trừng (1978, 1999) phân chia thảm thực vật trong một vùng thành hai nhóm lớn: nhóm các
quần thể thực vật theo độ vĩ và nhóm các quần thể thực vật theo độ cao;
Nền tảng đá mẹ khác nhau dẫn đến hình thành các loại đất khác nhau;
Nhóm nhân tố địa chất /địa mạo ở nước ta có ảnh hưởng hệ sinh thái lâm nghiệp qua các tính
di cư thực vật vào lãnh thổ Việt Nam
Hướng ưu thế của địa hình là hướng Tây Bắc - Đông Nam, vuông góc với hướng gió mùa Đông Bắc ngăn cản bớt không khí lạnh từ phía Bắc tràn về
Mặt cắt ngang của dãy Trường Sơn không đối xứng, sườn tây dốc thoải, sườn đông dốc cao ngay gần bờ biển Do vậy, việc phòng hộ là rất quan trọng cho miền Trung
Do tính hiểm trở của hệ thống núi đá vôi của Việt Nam nên hiện nay vẫn còn có một hệ sinh thái rừng nhiệt đới đặc hữu mà không phải nước nào cũng có
Việt Nam kéo dài hơn 15 độ vĩ nên giới hạn dưới của vành đai á nhiệt đới vùng núi ở hai miền nam bắc khác nhau Ở miền Bắc là 600 - 700 m, ở miền Nam là 1.000 m
4.2.2 Phân lo ại
Nghiên cứu sớm nhất về phân vùng địa mạo ở MB Việt Nam do Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự
Lập thực hiện năm 1963, sau đó M.A.Zubasenco năm 1967, và Lê Đức An năm 1972, 1974,
1985
Trang 18Hai chỉ tiêu quan trọng nhất trong phân vùng lãnh thổ theo địa hình /địa mạo là :
Kiến trúc hình thái (KTHT),
Trạm trổ (Bức khảm) hình thái (TTHT)
Lê Đức An đã tiến hành phân vùng địa mạo Bắc Việt Nam và chia ra 57 vùng Sau khi nước nhà thống nhất, ông tiếp tục nghiên cứu và xây dựng sơ đồ phân vùng địa mạo thống nhất cho toàn lãnh thổ Việt Nam, mà trước hết là phần lục địa (Lê Đức An, 1979,1985) Phân vùng địa
mạo được Lê Đức An tiến hành theo 2 chỉ tiêu nói trên (KTHT) và (CTHT), bởi lẽ khi phân chia các đơn vị địa mạo cấp bậc khác nhau, ông dựa vào quan hệ giữa cấu trúc kiến tạo với địa hình, lịch sử phát triển của nó, các phức hợp thạch học, cũng như đặc điểm của các quá trình ngoại sinh, và cuối cùng là kết quả tác động qua lại của các yếu tố đó, thể hiện ở hình thái và
vị trí độ cao của lãnh thổ.
4.2.3 Phân v ị
Vùng địa mạo theo đặc điểm chạm trổ hình thái, và kiến trúc hình thái
Vùng địa lý tự nhiên: đặc trưng bởi một dạng địa hình, một kiểu khí hậu, một dạng thổ nhưỡng,
một thảm thực vật tương đối đồng nhất
Vùng địa lý thổ nhưỡng là lãnh thổ toàn vẹn, đồng nhất về cấu trúc lớp phủ thổ nhưỡng, nằm
trong một vùng đất đai nông nghiệp, một vùng địa lý thổ nhưỡng thường, một loại đất chính quyết định phương hướng sản xuất
Tiêu chí để phân chia các vùng địa mạo, địa lý tự nhiên, địa lý thổ nhưỡng tương đối khác nhau nhưng đều liên quan đến địa chất/địa mạo Đấy là sự thống nhất về độ cao và hình thái địa hình (vùng địa mạo) hay cùng một dạng địa hình tương đối đồng nhất (vùng địa lý tự nhiên) hoặc
một lãnh thổ toàn vẹn (vùng địa lý thổ nhưỡng)
Vùng sinh thái lâm nghiệp và vùng sinh thái nông nghiệp có diện tích lớn hơn rất nhiều so với các vùng địa mạo (và cả vùng địa lý tự nhiên, vùng đia lý thổ nhưỡng), thậ m chí lớn hơn cả
miền địa mạo hoặc khu địa lý thổ nhưỡng hoặc khu địa lý tự nhiên Tây Nguyên
Các tỷ lệ phân vùng đều là tỷ lệ nhỏ (1/1.000.000 và 1/500.000) nếu so với tỷ lệ dự kiến của đề tài là phân vùng sinh thái lâm nghiệp tỷ lệ 1/250.000
Trong sơ đồ phân vùng địa mạo của Lê Đức An, có 9 miền, với 16 phụ miền So sánh với sơ đồ phân vùng Địa lý thổ nhưỡng của Hội Khoa học đất Việt Nam, cũng cùng có 16 khu địa lý thổ nhưỡng nhưng ranh giới phân bố của các phụ miền địa mạo và các khu địa lý thổ nhưỡng có khác nhau
Từ 16 phụ miền địa mạo, Lê Đức An phân thành 92 vùng địa mạo Trong khi đó từ 16 khu địa
lý thổ nhưỡng, các tác giả Hội Khoa học đất Việt Nam chia thành 142 vùng địa lý thổ nhưỡng
bởi vì phân vùng địa mạo là phân vùng đơn ngành Như vậy, khi phân vùng sinh thái lâm nghiệp cần sự đồng nhất của nhiều yếu tố tự nhiên hơn thì rõ ràng số lượng các đơn vị sinh thái lâm nghiệp ở cấp tương đương vùng địa mạo có thể tăng lên
Trang 19Trong sơ đồ phân vùng địa lý thổ nhưỡng, khu vực Tây Nguyên có 3 khu địa lý thổ nhưỡng và
20 vùng địa lý thổ nhưỡng Ranh giới các khu và các vùng địa lý thổ nhưỡng gần như trùng với
3 khu địa lý tự nhiên và 21 vùng địa lý tự nhiên mặc dù công tác nghiên cứu được tiến hành ở hai tỷ lệ khác nhau với hai đối tượng nghiên cứu khác nhau Cả hai dạng phân vùng này có tính
tổng hợp cao hơn so với phân vùng địa mạo
4.2.4 Tiêu chí
B ảng 4-2 Tiêu chí về địa chất/ địa mạo để phân vùng STLN
C ấp phân vị Tiêu chí địa chất/địa mạo
Miền Thống nhất về nguồn gốc địa hình và đặc điểm kiến tạo
Vùng Thống nhất về hình thái địa hình (núi , đồi, cao nguyên, đồng bằng )
Tiểu vùng Tập hợp thống nhất của nham thạch, kiểu địa hình, đai cao
4.3 Th ổ nhưỡng - lập địa
Thổ nhưỡng và lập địa là 2 nhân tố khác nhau nhưng liên quan mật thiết với nhau nên thường được nghiên cứu trong cùng 1 nhân tố sinh thái Mặt khác, phân loại đất hay thổ nhưỡng và phân loại lập địa cũng thuộc 2 hệ thống lý thuyết khác nhau, và ở đây, công trình này quan tâm
chủ yếu đến tác động của thổ nhưỡng và phân vùng thổ nhưỡng đến các tiêu chí và hệ thống phân vùng sinh thái lâm nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam
4.3.1 Kinh nghi ệm quốc tế và Việt Nam
Theo các tác giả Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Xuân Quát, Đinh Thanh Giang (2011) thì về phân loại đất ở Thế giới có 3 khuynh hướng chính là:
Phân loại đất theo phát sinh (của Docutraep V.V, còn gọi là phương pháp địa lý so sánh) với 5 yếu tố phát sinh khí hậu, địa hình, đá mẹ, sinh vật và tuổi địa chất là 5 tiêu chí quan trọng đầu tiên trong phân loại đất tự nhiên
Phân loại đất Soil Taxanomy (Mỹ) theo quan điểm định lượng tính chất và chuẩn đoán định lượng tầng phát sinh dựa trên cơ sở quan hệ giữa tính chất đất và hình thái phẫu
diện để phân loại đất
Phân lọai đất theo FAO – UNESCO là hệ thống phân loại mang tính quốc tế trên cơ sở tiêu chuẩn của Soil Taxanomy dựa vào định lượng các tính chất đất, các dấu hiệu chuẩn đoán phân loại đất theo nhóm, loại, v.v
Việt Nam phân loại đất, (thực ra cũng đã là phân vùng) tiến hành qua 3 giai đoạn:
Trước 1954, chủ yếu là các công trình của người Pháp cũng đã bắt đầu hướng vào điều
kiện phát sinh phát triển tính chất đất phân chia các nhóm đất, lấy ví dụ như nhóm đất
đỏ latêritic và nhóm đất phù sa của Castagnol E.M (1950)
Trang 20 Từ 1954 đến 1975, ở miền Bắc có phân loại đất theo địa lý phát sinh của Fritlan V.M và các nhà thổ nhưỡng Việt Nam (1959); ở miền Nam có phân loại đất chịu ảnh hưởng của trường phái Soil Taxanomy do Moormann F.R chủ biên (1960)
Từ 1975 đến 2010 đã xây dựng phân loại đất toàn quốc dùng cho bản đồ đất Việt Nam
tỷ lệ 1/1000.000 (1980) hoàn thiện theo quan điểm phát sinh học có 13 nhóm với 30
loại và bảng phân loại đất quốc gia theo phương pháp định lượng FAO–UNESCO–WRB (1998) vừa có quan hệ gắn bó với phân loại trên, vừa để hội nhập
Hệ thống phân loại đất ở Việt Nam theo hệ thống 4 cấp: Nhóm – loại (đơn vị) – loaị phụ (đơn
vị phụ ) – biến chủng Nhóm và loại theo quan điểm và chỉ tiêu như phân loại đất quốc tế và phù hợp với thực trạng đất Việt Nam Loại phụ được thể hiện cả mức độ và độ sâu xuất hiện
kết von, glây nhiều - ít, nông - sâu Biến chủng sử dụng quan hệ thành phần cơ giới đất có quan
hệ với đá mẹ theo 3 cấp hoặc 6 cấp
Về phân loại lập địa, ảnh hưởng vào Việt Nam cũng có 3 xu hướng, chúng khác nhau ở cấp bậc phân loại, tiêu chí và chỉ số xác đinh :
Phương pháp phân vùng lập địa lâm nghiệp với 4 cấp phân vị do chuyên gia CHDC Đức chuyển giao từ 1970, đã và đang được sử dụng có hiệu quả trong cả nước cho đến nay
Trường phái Liên xô cũ do Tchertov (1977,1981) áp dụng thử với 3 tiêu chí: đá mẹ, địa hình, độ thoát nước
Đề xuất từ nghiên cứu và thực tiễn phân loại 6 cấp lập địa của Nguyễn Văn Khánh (1996)
4.3.2 Phân lo ại
Hai phương pháp phân loại là: Fritlan, 1959 ở miền Bắc, và FAO-UNESCO, 1998 trong cả nước đã đưa đến 2 kết quả sau đây :
a) Hệ thống phân loại đất theo phát sinh (Fritlan, 1959) các cấp sau:
Lớp đất, Lớp phụ(hay Nhómđất), Loại, loạiphụ, Chủng, Biến chủng, Bậc
Trong đó loại đất là đơn vị phân loại cơ bản trong hệ thống và dùng để xây dựng bản đồ đất Bản đồ đất miền Bắc tỉ lệ 1: 500.000 được xây dựng năm 1973 và bản đồ đất Việt Nam tỉ lệ 1:1.000.000 được xây dựng năm 1976 Nay nhóm Đất -lập địa đã sử dụng được thành quả nghiên cứu cơ bản này làm tiêu chí tham gia phân vùng STLN là sự vận dụng mềm dẻo và hiệu
quả, xem bảng 6 về đề xuất tiêu chí và chỉ số (C&I) thổ nhưỡng tham gia phân vùng STLN
Bảng phân loại gồm 13 nhóm đất và 30 loại, (xem phụ lục 1).
b) Hệ thống phân loại của FAO-UNESCO, 1998 có 4 cấp sau :
- Nhóm đất chính (Major soil groupings)
- Đơn vị đất (Soil Units) tương đương loại đất theo phân loại phát sinh
Đơn vị phụ (Soil sub-units)
Trang 21- Pha đất hay tướng đất (Phase)
“Đơn vị đất” là đơn vị phân loại cơ bản Bảng phân loại có 21 nhóm đất chính và 61 đơn vị đất Số lượng nhóm đất và đơn vị đất so bảng phân loại theo phát sinh nhiều gấp 2 lần do một
nhóm đất theo phân loại phát sinh có thể gồm nhiều nhóm đất theo phân loại FAO-UNESCO và ngay cả một loại đất trong phân loại phát sinh có thể là một nhóm đất hoặc một nhóm đất có nhiều đơn vị đất trong phân loại FAO-UNESCO
4.3.3 Phân v ị
Phân vùng địa lý thổ nhưỡng
Hệ thống phân vị 4 cấp là : Miền > Á miền > Khu > Vùng
Dựa trên bản đồ đât tỷ lệ 1/1.000.000 (1976) xây dựng sau khi nước nhà thống nhất, ban biên
tập bản đồ đất đã xây dựng dự thảo Phân vùng địa lý thổ nhưỡng
Miền, 2 miền địa lý thổ nhưỡng với ranh giới tự nhiờn là đèo Hải Vân là miền địa lý
thổ nhưỡng phớa Bắc và miền địa lý thổ nhưỡng phớa Nam
Á mi ền, chia ra 6 á miền trong phạm vi của 2 miền, khác nhau về khí hậu, thủy văn, thổ
nhưỡng và sinh vật MB có 3 á miền, MN cũng có 3 á miền
Khu, được chia ra trong phạm vi á miền, do khác nhau về địa chất địa mạo, và đặc điểm
sử dụng đất nông nghiệp Miền Bắc có 8 khu , miền Nam cũng có 8 khu
Vùng, là đơn vị phân vùng cơ sở thấp nhất Dựa trên bản đồ đất VN tỷ lệ 1/1.000.000 xây dựng năm 1976 cho cả nước thì có 142 vùng của 16 khu địa lý thổ nhưỡng
Phân vùng lập địa
Lập địa là một phạm vi lãnh thổ nhất định với tất cả những yếu tố của ngoại cảnh ảnh hưởng tới sinh trưởng của sinh vật mà chủ yếu là thực vật Theo nghĩa hẹp lập địa bao gồm 3 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, theo nghĩa rộng nó bao gồm 4 thành phần: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thế giới động thực vật
a) Phân vùng lập địa lâm nghiệp của chuyên gia CHDC Đức ở VN,1970 gồm 4 cấp phân vị:
Vùng sinh trưởng > Khu sinh trưởng > Phạm vi bức khảm > Dạng lập địa
Các tác giả đã phân miền Bắc thành 7 vùng sinh trưởng và 22 khu sinh trưởng
b) Đề xuất phân vùng lập địa của Nguyễn Văn Khánh (1996): 6 cấp phân vị là
Miền > Á miền > Vùng > Tiểu vùng > Dạng đất đai > Dạng lập địa
Đề xuất này chưa được áp dụng trong thực tiễn
4.3.4 Tiêu chí và ch ỉ số
Các chuyên gia đất và lập địa thấy rằng phân vị Miền phân chia theo chiều dài 15 vĩ độ do đã
tạo ra 2 vùng khí hậu khác nhau là vùng nhiệt đới điển hình ở miền Nam, và nhiệt đới không điển hình (có mùa lạnh 1-3 tháng) ở miền Bắc, nhưng sự khác nhau về phân loại đất và lập địa thì không rõ nét, so với chênh lệch về độ cao để hình thành lớp đất nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình Do vậy, sự đóng góp của nhân tố đất –lập địa đối với phân vùng STLN chủ yếu vào phân
Trang 22vị nhỏ hơn là vùng và tiểu vùng thông qua tiêu chí phân loại theo phát sinh 13 nhóm đất (lớp
phụ) và 30 loại đất
Ba cơ sở để đề xuất tiêu chí đất- lập địa tham gia phân vùng STLN là :
Phân loại các kiểu rừng hay hệ sinh thái tự nhiên
Các cấp phân vị đã chọn theo mục tiêu nghiên cứu
Quan hệ giữa loại đất và loại rừng, nói cách tổng quát là giữa đất đai và quần xã thự c
vật
Hai cơ sở đầu đã được xác định trong các mô tả trên , cơ sở thứ 3 chính là quy luật phù hợp
giữa sinh vật và ngoại cảnh Mỗi loại đất chỉ có thể phù hợp cho một hay 1 số loại rừng, ngược
lại mỗi loại rừng cũng chỉ mọc được trên 1 hoặc 1 số loại đất giới hạn nào đó
Tổng hợp kết quả đề xuất phân chia của các nhóm, lựa chọn, thống nhất các cấp phân vị, và đề
xuất dựng bản đồ
Nguyên t ắc chọn phân vị : Miền – Vùng - Tiểu vùng
Trong đó Vùng và Tiểu vùng là các phân vị chủ yếu
Phân vùng sinh thái cần phải dựa trên một đơn vị cơ bản, từ đơn vị cơ bản này sẽ có các đơn vị
cấp trên và đơn vị cấp dưới theo hệ thống phân cấp Như vậy theo nhiệm vụ của dự án thì đơn
vị vùng sinh thái laam nghiệp phải là đơn vị cơ bản Đơn vị cấp trên có thể gọi là khu và trên
nửa là miền Trong bảng đề xuất này tạm coi tiểu vùng là đơn vị cơ bản và đơn vị trên đó là vùng và miền Vì nếu gọi tiểu vùng là vùng thì vùng phải gọi là khu (sẽ không quen với những người lâm nghiệp hiện nay)
Các tiêu chí để phân chia vùng:
Có sự đồng nhất tương đối về một kiểu kiến trúc địa chất –địa mạo, cùng lịch sử phát triển tạo nên một hình thái đại địa hình được đặc trưng bởi sự phân hóa không lớn về khí hậu, thổ nhưỡng dưới sự tác động tương hỗ của hoàn lưu và địa hình
Có những đặc điểm tương đồng về nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển và cấu trúc
của các quần hệ thực vật
Có chung đặc điểm cộng đồng dân tộc tạo nên mức độ tương đồng về tác động kỹ thuật vào tự nhiên
Có tính toàn vẹn lãnh thổ (không lặp lại), tương đối thống nhất về ranh giới địa chính
cấp tỉnh (một tỉnh không nên nằm trong hai vùng)
3 Các tiêu chí phân chia ti ểu vùng:
Có cùng một dạng cảnh quan đồng nhất tương đối về nền đá mẹ và hình thái địa hình;
tiểu khí hậu; đơn vị đất và các quần xã thực vật
Tương đối đồng nhất nền nhiệt ẩm và các nhân tố chủ đạo hình thành kiểu rừng và năng suất
Có ranh giới nằm gọn trong 1 vùng sinh thái lâm nghiêp và bảo đảm không tách biệt về
mặt không gian đối với một tiểu vùng