Cũng như nhiều địa phương khác, việc giải toả, di dời, tái định cư ở Điện Biên không chỉ dừng lại ở việc đưa một bộ phận dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác mà liên quan đến rất nhiều vấ
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TỈNH
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
"THỰC TRANG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN"
MÃ SỐ: VVH&PTDT.08.12 (ĐÃ SỬA SAU NGHIỆM THU)
Cơ quan chủ trì: VIỆN VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN
Chủ nhiệm đề tài: TS NGUYỄN THỊ TUYẾN
Trang 2CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TỈNH
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
THỰC TRANG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ -
XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN
MÃ SỐ: VVH&PTDT.08.12
Xác nhận của Cơ quan chủ trì Viện Văn hoá và Phát triển
Đề tài đã hoàn thiện kết quả thực hiện nhiệm
vụ sau khi nghiệm thu chính thức
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH
CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 15
1.1 LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ-XÃ HỘI VÀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-XÃ HỘI 15 1.1.1 Lý luận về đời sống văn hóa-xã hội 15 1.1.2 Lý luận về xây dựng đời sống văn hoá-xã hội 26 1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 33 1.2.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên 33 1.2.2 Điều kiện văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên 40 1.3 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 43 1.4 QUAN ĐIỂM TRIỂN KHAI VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 45
Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ - XÃ HỘI TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 47
2.1 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG SINH THÁI NHÂN VĂN 47 2.1.1 Khái quát về môi trường sinh thái nhân văn tộc người vùng Tây Bắc 47 2.1.2 Khái quát về thực trạng môi trường sinh thái vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La 49 2.1.3 Thực trạng môi trường sinh thái nhân văn vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên 52 2.2 THỰC TRẠNG VỀ PHÂN BỐ ĐẤT Ở VÀ TỔ CHỨC CƯ TRÚ TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA Ở ĐIỆN BIÊN 57 2.2.1 Khái quát về nhà ở và cách thức cư trú truyền thống của các tộc người
ở Tây Bắc 57 2.2.2 Thực trạng phân bố đất ở và tổ chức đời sống cư trú tại các khu tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên 58
Trang 42.3 THỰC TRẠNG GIAO ĐẤT SẢN XUẤT, TRIỂN KHAI SẢN XUẤT
TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA Ở ĐIỆN BIÊN 63
2.3.1 Khái quát về sản xuất truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc 63
2.3.2 Thực trạng giao đất và tổ chức sản xuất tại vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên 64
2.4 THỰC TRẠNG VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ THU NHẬP, TIÊU DÙNG CỦA NGƯỜI DÂN CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 81
2.4.1 Thực trạng đào tạo nghề và tạo việc làm 81
2.4.2 Thực trạng thu nhập và chi dùng của người dân 89
2.5 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TỘC NGƯỜI TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 92
2.5.1 Thực trạng ngôn ngữ, trang phục, ẩm thực 92
2.5.2 Thực trạng đời sống phong tục, tập quán 94
2.6 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA Ở ĐIỆN BIÊN 101
2.6.1 Hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động 103
2.6.2 Hoạt động câu lạc bộ, nhà văn hóa 106
2.6.3 Hoạt động thư viện, sách báo 108
2.6.4 Hoạt động văn nghệ quần chúng, xem nghệ thuật và tham gia lễ hội 108 2.6.5 Hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa 111
2.6.6 Hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí 115
Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ-XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 118
3.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ-XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY 118
3.1.1 Những mặt đạt được 118
3.1.2 Những điểm còn hạn chế cần được quan tâm 121
Trang 53.2 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 124
3.2.1 Thời cơ và thách thức mới trong phát triển văn hóa - xã hội vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên 124
3.2.2 Sự phát triển văn hoá - xã hội gắn với mở rộng giao lưu văn hoá 127
3.2.3 Sự biến đổi của văn hoá-xã hội sẽ dẫn đến việc hình thành lối sống mới 128
3.3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 129
3.3.1 Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế và khôi phục sinh kế cho người dân nhằm tạo sự ổn định về đời sống văn hóa-xã hội 129
3.3.2 Nhóm giải pháp tổ chức, thực hiện 131
3.3.3 Nhóm giải pháp kiểm tra, giám sát 135
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 136
3.4.1 Kiến nghị với Đảng và Nhà nước 136
3.4.2 Kiến nghị đối với địa phương 137
KẾT LUẬN 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo khu vực 36
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất các ngành nông lâm ngư nghiệp 38
Bảng 1.3: Số lượng người bị ảnh hưởng trực tiếp của nhà máy thủy điện Sơn La tính theo dân tộc trong năm 1998 44
Bảng 2.1: Số lượng người bị ảnh hưởng trực tiếp của nhà máy thủy điện Sơn La tính theo dân tộc trong năm 1998 49
Bảng 2.2: Đánh giá biến động không gian của môi trường tự nhiêndo xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La 51
Bảng 2.3: Đánh giá của người dân về hiệu quả sử dụng công trình hạ tầng kỹ thuật tại các điểm tái định cư thuỷ điện Sơn La ở Điện Biên 59
Bảng 2.4: Đánh giá của người dân về quan hệ gia đình ở bản TĐC 60
Bảng 2.5: Đánh giá của người dân về trường lớp, giáo viên, chi phí học tập của con em ở vùng TĐC 61
Bảng 2.6: Thông tin của người dân TĐCvề việc khám, chữa bệnh và mức độ hài lòng 61
Bảng 2.7: Danh mục 17 Nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng cho lao động nông thôn (Kèm theo Quyết định số:796 /QĐ-UBND ngày 25/8/2011 của UBND tỉnh Điện Biên) 87
Bảng 2.8: Thông tin của người dânvề nguồn thu nhập chính của hộ gia đình TĐC 89
Bảng 2.9: Đánh giá của người tham gia trả lời phiếu điều tra về mức sống của gia đình mình so với những gia đình khác xung quanh 90
Bảng 2.10: Vật dụng có trong gia đình người dân tái định cư 91
Bảng 2.11: Đánh giá của người dân về việc 100
duy trì phong tục, tập quán, lễ nghi truyền thống ở bản TĐC 100
Bảng 2.12: Thông tin của người dân về việc tiếp nhận thông tin ở bản TĐC 104
Bảng 2.13: Phương tiện nghe nhìn có trong gia đình người dân TĐC 105
Bảng 2.14: Thông tin của người dân về việc 109
được xem phim và đoàn nghệ thuật biểu diễn 109
Bảng 2.15: Thông tin của người dân TĐC về việc tham gia lễ hội 110
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Là một trong ba tỉnh tham gia vào việc xây dựng thủy điện Sơn La, tới nay Điện Biên đã hoàn thành triển khai theo quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư 11 khu, 11 điểm tái định cư trên địa bàn các huyện Tủa chùa, Mường Nhé, Mường Chà, thị xã Mường Lay và thành phố Điện Biên Phủ Cũng như nhiều địa phương khác, việc giải toả, di dời, tái định cư ở Điện Biên không chỉ dừng lại ở việc đưa một bộ phận dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác mà liên quan đến rất nhiều vấn đề trong xây dựng nơi ở cũng như triển khai các vấn đề đời sống của người dân như biến đổi về môi trường sinh thái, sản xuất, việc làm, văn hoá, giáo dục đào tạo, sự tiếp cận các dịch vụ và thị trường, các quan hệ xã hội v.v…
Tái định cư (TĐC) đang thực sự là một quá trình thay đổi có tính hệ thống về kinh tế - văn hoá - xã hội của một bộ phận dân cư tham gia tái định
cư cũng như các cộng đồng sở tại nơi đón dân ở Điện Biên Những chính sách
và những hành động hỗ trợ thiết thực đã và đang tỏ rõ vai trò quyết định trong việc ổn định cuộc sống người dân hậu tái định cư Bên cạnh đó, những bất cập trong công tác tái định cư cũng cho thấy các vấn đề xã hội nảy sinh mà nếu không giải quyết tốt sẽ dẫn tới nguy cơ tụt hậu, thậm chí là mất trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn
Từ khi triển khai thực hiện Dự án di dân, tái định cư thuỷ điện Sơn La,
tỉnh Điện Biên luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành ở Trung ương Tỉnh Điện Biên đã đặc biệt quan tâm việc tháo gỡ những vướng mắc trong chính sách bồi thường, hỗ trợ ở tất cả các khu di dân, tái định cư cũng như thực hiện cơ chế chỉ định thầu cho các
dự án cần cấp thiết triển khai; giải quyết nguồn vốn tạm ứng để triển khai một
số dự án hạ tầng tái thiết đô thị thị xã Mường Lay Các Cấp uỷ đảng, chính
Trang 9quyền, các tổ chức chính trị-xã hội từ tỉnh đến huyện, xã luôn quan tâm và xác định tái định cư là nhiệm vụ chính trị số 1 trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành nên việc xây dựng các khu tái định cư đã đạt được những kết quả nhất định Về cơ bản, công tác di dân, tái định cư của tỉnh Điện Biên được đại bộ phận nhân dân đồng tình ủng hộ, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự và
an toàn xã hội trên địa bàn được đảm bảo
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, phương án di dân, tái định cư của tỉnh Điện Biên cũng đã có sự thay đổi lớn so với Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ Việc tiến hành rà soát, điều chỉnh lại gần như từ đầu các dự án cho phù hợp với nhiệm vụ di dân gắn với tái thiết đô thị khiến cho khối lượng công việc trở nên nặng nề hơn nhiều và làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ chung của dự án di dân, tái định cư trên địa bàn toàn tỉnh
Do những tồn tại lịch sử về công tác quản lý nhà nước đối với thị xã Mường Lay (thị xã Lai Châu cũ) nên việc đo đạc quy chủ, xác định chính xác nguồn gốc đất đai, tổ chức, hướng dẫn kê khai tài sản của từng hộ dân bị kéo dài Quá trình di dân, tái định cư trên địa bàn thị xã Mường Lay gắn liền với việc tái thiết thị xã theo Nghị định số 25/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính và đổi tên thị xã Lai Châu thành thị
xã Mường Lay dẫn đến khối lượng công việc rất lớn Mặt bằng thi công các công trình hạ tầng thiết yếu để bố trí dân cư trên địa bàn thị xã Mường Lay rất khó khăn, phải di chuyển tạm nhiều lần; mặt bằng bố trí tái định cư cho hộ dân nông nghiệp trên địa bàn thị xã Mường Lay rất hạn chế, việc tạo ra quỹ đất sản xuất theo quy định tại Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là rất khó khăn Một số dự án thành phần thuộc dự án di dân tái định cư mẫu Nậm Chim sau đầu tư không mang lại hiệu quả (dự án trồng mía), một số dự án mang lại hiệu quả chưa cao (dự án thủy lợi Nậm Chim) Các dự án về cải tạo đất và hỗ trợ sản xuất trên ruộng bậc thang chưa đồng bộ
và triệt để nên sau khi hết thời gian được hỗ trợ số diện tích canh tác trên đều
Trang 10chưa phát huy hiệu quả đầu tư Các mô hình thử nghiệm để xác định loại cây con phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng khu tái định cư chưa được khẳng định để nhân ra đại trà
Bên cạnh đó, người dân còn có tư tưởng ỷ nại, trông chờ vào sự đầu tư,
hỗ trợ của Nhà nước, chưa thực sự thấy rõ quyền và nghĩa vụ của mình Sự phối hợp tuyên truyền, giáo dục để người dân phát huy vai trò và tính chủ động trong sản xuất giữa các cấp các ngành còn chưa được thường xuyên, liên tục nên dẫn đến những hạn chế không nhỏ
Thực tế trên đặt ra những đòi hỏi trong việc tập trung chỉ đạo tiếp tục đầu tư hoàn thiện các công trình hạ tầng thiết yếu, thực hiện các chính sách hỗ trợ
ổn định đời sống, phát triển sản xuất cũng như kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những khó khăn, vướng mắc phát sinh của các hộ dân sau tái định cư để giải quyết, đảm bảo ổn định cuộc sống cho nhân dân tại các khu tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn Điện Biên
Để đánh giá sự biến đổi về văn hoá, xã hội cũng như dự báo xu thế hậu tái định cư thuỷ điện Sơn La của các khu dân cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Điện Biên phối hợp với cơ quan nghiên cứu là Viện Văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu đề tài Thực trang và giải pháp
xây dựng đời sống văn hoá - xã hội vùng tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên nhằm góp phần nhận diện, giải quyết những vấn đề thực
tiễn của công tác tổ chức hậu di dân, tái định cư cũng như một số giải pháp hỗ trợ, nâng cao trách nhiệm của người dân sau tái định cư
Để giải quyết tối đa những vấn đề đặt ra đối với các dự án, các chương trình tái định cư, cần thực sự chú trọng đến những yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường để người dân không phải chịu những xáo trộn, những tổn thất cả “hữu hình” và “vô hình” do giải toả, di dời và tái định cư mang lại Các cuộc điều tra xã hội học nhằm tìm hiểu đầy đủ thông tin kinh tế, văn hoá,
Trang 11xã hội và nguyện vọng của các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án, những nghiên cứu toàn diện về công tác tổ chức di dân tái định cư sẽ giúp có được những chính sách bồi thường, giải toả, tái định cư thích hợp cũng như xây dựng được định hướng nghề nghiệp, công ăn việc làm của người dân sau này
3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ thực trạng đời sống văn hoá-xã hội, đề tài đề xuất các giải pháp xây dựng đời sống văn hoá-xã hội vùng tái định cư thuỷ điện Sơn
La trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quán triệt đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, đồng thời vận dụng tổng hợp các phương pháp sau:
- Nghiên cứu lý thuyết: Đề tài nghiên cứu những cơ sở lý luận khoa học
về đời sống văn hoá-xã hội nhằm tạo cơ sở cho việc phân tích, đánh giá
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng trong phân tích làm rõ
những thực trạng đời sống văn hoá-xã hội, đề tài đề xuất các giải pháp xây dựng đời sống văn hoá-xã hội vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay
- Phương pháp thống kê so sánh: Đề tài sử dụng các số liệu thống kê để
hệ thống hóa, khái quát hóa, phân loại, so sánh nhằm đưa ra những kết luận
Trang 12trong nghiên cứu thực trạng đời sống văn hoá-xã hội vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay
- Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài, trên cơ
sở nghiên cứu thực địa, thực hiện quan sát, phỏng vấn, ghi chép… để nắm bắt đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: Trên cơ sở các ý kiến phân tích, đánh giá
của các chuyên gia thông qua các hội thảo và tọa đàm khoa học sẽ được tổ chức trong quá trình nghiên cứu để điều chỉnh, thẩm định nội dung nghiên cứu của đề tài
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định rõ quan niệm về đời sống văn hóa-xã hội, xây dựng đời sống văn hoá-xã hôi; lý do lựa chọn cách tiếp cận trong nghiên cứu của đề tài
- Chỉ ra những mặt làm được và những hạn chế, nguy cơ cần được xử lý
và những nội dung cần hướng tới trong việc xây dựng và phát triển đời sống văn hoá-xã hội vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay
- Là tài liệu tham khảo hữu ích trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng như hoạch định chính sách phát triển của địa phương
6 TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Có thể nhận thấy một số nội dung có liên quan đến việc nghiên cứu của
đề tài như sau:
Thứ nhất là các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về lãnh đạo, quản lý công tác xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, đó là:
Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam; Đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII (1998) về xây dựng và phát triển
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị số
Trang 1339/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác văn
hoá - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Chương trình
phối hợp số 556/CTPHH /VHTT- UBDTMN ngày 21 tháng 2 năm 2000 của
Bộ Văn hoá thông tin và Uỷ ban dân tộc miền núi về đẩy mạnh công tác bảo
tồn, phát triển văn hoá thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số năm 2000
- 2005; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX về công tác dân tộc; Kết luận của Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ngày 20/7/2004 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII về "xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam đậm
đà bản sắc dân tộc" trong những năm sắp tới; Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày
1/6/2012, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về một
số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 Trực tiếp bàn vè vấn
đề đời sống văn hóa-xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số là Nghị quyết
lần thứ bảy BCHTW Đảng khóa IX về công tác dân tộc Trên cơ sở đánh giá
tình hình các dân tộc thiểu số và công tác dân tộc trong 15 năm đổi mới, Nghị quyết đã chỉ rõ những thành tựu cơ bản và những hạn chế yếu kém, đồng thời
đề ra những quan điểm cơ bản, mục tiêu cụ thể và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, chính
trị, an ninh-quốc phòng ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số Mới đây, Nghị
quyết số 15-NQ/TW, ngày 1/6/2012, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 -
2020 cũng là văn kiện quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề
về bảo đảm an sinh xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Đối với lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII
về "xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc",
Nghị quyết số 33, Hội nghị Trung ương lần thứ 9 khoá XI về xây dựng và
phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trên cơ sở tiếp tục những vấn đề căn cốt đặt ra từ Nghị quyết Trung
Trang 14ương 5 khoá VIII về xây dựng nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, thồng nhất trong đa dạng, Nghị quyết số 33 đặt ra mục tiêu “xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện -
mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Trên cơ sở yêu cầu xây dựng một môi trường văn hoá phù hợp, Nghị quyết nhấn mạnh đến vai trò của toàn hệ thống chính trị, của cộng đồng cơ sở và gia đình trong việc “từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xă hội.”
Các văn kiện này tạo cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu đề tài
Thứ hai là các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai và công tác di dân tái định cư bao gồm các bộ Luật, các Nghị định, Thông tư làm cơ sở pháp lý
cho việc xem xét các vấn đề liên quan đến đề tài như:
Luật đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003; Nghị định
số 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 9/01/2007 của
Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ di dân
và tái định cư Dự án thuỷ điện Sơn La; Quyết định số 190/2003/QĐ-TTG
ngày 16/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách di dân thực hiện quy
hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003-2010…
Thứ ba là các công trình nghiên cứu về công tác di dân, tái định cư
trên một số phương diện như hiệu quả của chính sách tái định cư, thực trạng
tái định cư và các khuyến nghị bổ sung hoàn thiện chính sách và các giải pháp triển khai công tác tái định cư ở các công trình thuỷ điện Đây là những nội
Trang 15dung tham khảo hữu ích tạo được cái nhìn tổng thể làm căn cứ cho những đánh giá của đề tài bao gồm:
Thứ ba là những nghiên cứu chuyên sâu về biến đổi văn hoá xã hội sau
di dân tái định cư có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như:
Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển
đất nước, đề tài khoa học cấp Nhà nước thuộc chương trình KX.06 do PGS
Nguyễn Văn Huy làm chủ nhiệm đề tài (Viện Sử học - Trung tâm Khoa học
xã hội và Nhân văn Quốc gia, 1996) đã đề cập nội dung nghiên cứu tính đa dạng của văn hoá các dân tộc nước ta; nghiên cứu ưu và khuyết của sự phát triển văn hoá các dân tộc ở giai đoạn 1945-1975; phác hoạ một mô hình tổng thể phát triển văn hoá các dân tộc nước ta
Văn hoá làng của các dân tộc Thái, Hmông ở một số tỉnh miền núi Tây
Bắc và việc phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện hiện nay - đề tài
cấp Bộ do TS Ngô Ngọc Thắng làm Chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,1997) đã xác định ảnh hưởng của văn hoá các dân tộc Thái, H’mông đối với văn hoá xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc trong điều kiện hiện tại, trình bày các yếu tố hợp thành văn hoá bản làng ở các dân tộc như văn hoá vật chất, văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần; xem xét việc sử dụng các yếu tố văn hoá bản làng truyền thống trong việc xây dựng bản làng văn hoá các dân tộc trong điều kiện hiện tại và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy các yếu tố truyền thống trong việc xây dựng bản làng văn hoá dân tộc;
Đánh giá một số tác động ảnh hưởng đến việc giữ gìn và phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số (1991-2000) - đề tài cấp cơ sở do Chu
Tuấn Thanh làm chủ nhiệm đề tài (Vụ Chính sách dân tộc, Hà Nội, 2001) đã trình bày khái quát những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống; phân tích, đánh giá các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến một số khía cạnh của văn hoá: nhà cửa, y
Trang 16phục, trang sức, văn hoá vật chất - lễ hội, văn hoá phi vật thể - quan hệ dòng họ, gia đình văn hoá và quan hệ xã hội; đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số
Nghiên cứu một số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu
số liên quan đến các công trình thuỷ điện do Nguyễn Lâm Thành làm Chủ
nhiệm đề tài (Viện Dân tộc, Hà Nội, 2004) đã đánh giá về vấn đề tái định cư ở các công trình thuỷ điện, về chính sách của Đảng và Nhà nước ta và khuyến nghị các giải pháp trong việc triển khai công tác tái định cư ở các công trình thuỷ điện;
Một số giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống vùng dân tộc thiểu số do Hoàng Công Dũng làm chủ nhiệm đề tài (Viện
Dân tộc, 2004) đã cho thấy một số vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển du lịch và bảo tồn văn hoá truyền thống; Nêu thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và vấn đề bảo tồn văn hoá dân tộc; Đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số
Lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc nước ta hiện nay do
PGS,TS Đỗ Đình Hãng làm chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005) đã đề cập về không gian văn hoá của người Thái
ở Tây Bắc nước ta, đánh giá thực trạng lễ hội truyền thống của người Thái và
đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc;
Đời sống văn hoá và xu hướng phát triển văn hoá một số dân tộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá - Đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình KX.05 giai đoạn 2001 - 2005
do GS,TS Trần Văn Bính làm chủ nhiệm đề tài (Viện Khoa học xã hội Việt Nam Hà Nội, 2005) đã đề cập về văn hoá các dân tộc thiểu số trước yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và văn hoá một số dân tộc ở Tây
Trang 17Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; đánh giá thực trạng đời sống văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ và đưa ra kiến nghị về các giải pháp phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số ở nước ta trong tình hình hiện nay;
Phát huy nội lực từng vùng và các dân tộc nhằm đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các tỉnh miền núi, vùng cao Tây Bắc nước ta hiện nay do PGS,TS Nguyễn Quốc Phẩm làm chủ nhiệm đề
tài (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005) đã chỉ ra đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội, dân cư - tộc người và những tiềm năng, nội lực của các tỉnh miền núi, vùng cao Tây Bắc nước ta; Phân tích thực trạng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh Tây Bắc và việc phát huy nội lực từng vùng và các dân tộc; Đề xuất phương hướng và giải pháp khai thác tiềm năng, phát huy nội lực từng vùng, từng dân tộc nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn miền núi, vùng cao Tây Bắc hiện nay
Văn hoá, xã hội trong quá trình xây dựng thuỷ điện Sơn La, quá trình hội nhập, những giải pháp cơ chế, chính sách đáp ứng do Nguyễn Như Hải làm Chủ
nhiệm đề tài (Sở KHCN Sơn La, 2006) đã đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội Sơn
La trong thời kỳ 1996-2003, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng tác động chủ yếu đối với sự phát triển và mặt hạn chế về kinh tế-xã hội của tỉnh; Dự báo những biến động về kinh tế - xã hội nhân văn trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống dân cư khi xây dựng thuỷ điện Sơn La và quá trình hội nhập; Đề xuất những giải pháp cơ chế nhằm đưa kinh tế - xã hội Sơn La tiếp tục phát triển đi lên
Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ tổ chức lãnh thổ và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc dưới tác động của công trình thuỷ điện Sơn La do TS Nguyễn Bá Ân làm chủ nhiệm đề tài (Viện Chiến
lược phát triển - Bộ Kế hoạch Đầu tư, Hà Nội, 2007) đã đưa ra một số vấn đề
lý luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc; Phân tích, đánh giá
Trang 18các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường vùng Tây Bắc; Đề xuất phương hướng tổ chức lãnh thổ vùng Tây Bắc dưới tác động của công trình thuỷ điện Sơn La, các giải pháp phát triển vùng Tây Bắc theo hướng phát triển bền vững dưới tác động của thuỷ điện Sơn La
Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta - Đề tài cấp Bộ do
PGS,TS Nguyễn Duy Bắc làm chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2007) đã đề cập một số vấn đề lý luận về văn hoá, giá trị văn hoá, biến đổi giá trị văn hoá; nêu sự vận động của các giá trị văn hoá ở nước ta thời kỳ trước đổi mới; phân tích sự biến đổi giá trị nhân cách văn hoá, giá trị văn hoá trong điều kiện xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đề xuất các giải pháp xây dựng giá trị văn hoá trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La
do ThS Nguyễn Thị Thanh Huyền làm chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008) đề cập về vị trí, tầm quan trọng của việc khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn
La, đánh giá thực trạng khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La
Biến đổi văn hoá ở vùng tái định cư của đồng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay - Đề tài cấp Bộ do TS Nguyễn Thị Tuyến làm chủ nhiệm đề tài
(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2010) đã đề cập một số vấn đề lý luận về văn hoá, giá trị văn hoá, biến đổi giá trị văn hoá; nêu sự
Trang 19vận động và biến đổi của các giá trị văn hoá ở vùng tái định cư của đồng dân tộc thiểu số ở Tây Băc; phân tích sự biến đổi giá trị nhân cách văn hoá, giá trị văn hoá trong điều kiện tái định cư; đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển văn hoá trong điều kiện tái định cư của đồng dân tộc thiểu số ở Tây Băc tại các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên)
Thứ tư là một số sách viết về các dân tộc thiểu số nước ta nói chung:
Cơ hội và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu số hiện nay của Viện
Dân tộc do Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành năm 2009 Nội dung cuốn sách này đề cập đến những vấn đề sau: Tổng quan về tình hình dân số, kinh
tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số ở nước ta; Một số vấn đề phương pháp luận cho việc nghiên cứu, dự báo cơ hội và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu
số Việt Nam gia nhập WTO; Một số yêu cầu đổi mới trong bối cảnh hội nhập Điều đáng nói là cuốn sách chọn mẫu nghiên cứu là vùng miền núi phía Bắc, nên đây sẽ là một nguồn tham khảo có giá trị khi nghiên cứu đời sống văn hóa
- xã hội của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Điện Biên, cho dù trong cuốn sách nhiều chỗ còn khái lược và một số vấn đề của vùng dân tộc thiểu số
đề cập chưa được thỏa đáng
Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam do Nguyễn Đăng Thành
chủ biên và Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2010 Cuốn sách tập hợp một số công trình nghiên cứu được tuyển chọn của Đề án : “Luận cứ
và giải pháp phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số nước ta đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Viện Xã hội học (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh)
Đề cập đến đời sống văn hóa của từng dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc, có thể kể đến những cuốn sách sau:
Thứ năm là một số bài nghiên cứu liên quan đến tái định cư thuỷ điện Sơn
La và đời sống văn hóa-xã hội của các dân tộc thiểu số ở Điện Biên bao gồm:
Trang 20Công tác định canh, định cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc của Nguyễn Đức Truyền; Đánh giá của Đoàn giám sát của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về di dân, tái định cư công trình Thuỷ điện Sơn La: đảm bảo công bằng, dân chủ, công khai ; Di dân 30 năm vẫn chưa xong
của Hà Yên; Di dân tái định cư công trình thuỷ điên Sơn La, một số vấn đề
cần quan tâm của Trần Lê Trân ; Nghiên cứu một số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến các công trình thuỷ điện của
Nguyễn Lâm Thành; Vấn đề tái định cư cho người dân vùng lòng hồ thuỷ
điện nhìn từ góc độ xã hội học quản lý của Tống Văn Chung; Tái định cư cho khu vực lòng hồ thuỷ điện - Công tác quy hoạch và những vấn đề kinh tế - xã hội của Đỗ Đức Viêm; Một số kinh nghiệm từ hiện trạng qui hoạch, thiết kế xây dựng nhà ở tái định cư khu vực miền núi của Nguyễn Trọng Khang, Lê Thuý
Hà; Tác động của tái định cư đến thiết kế không gian ở của Nguyễn Thị Thanh Mai; Tái định cư trong các dự án phát triển: Chính sách và thực tiễn của Phạm
Mộng Hoa, Lâm Mai Lan
Phát triển kinh tế với giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu
số ở miền núi phía Bắc của tác giả Hoàng Thị Hương, đăng trên tạp chí Lý
luận chính trị, số 11, năm 2010
Thực trạng cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường ở một số xã của 3tỉnh Điện Biên, Lào Cai và Lai Châu năm 2009 của Trần Minh Hải và nhiều
tác giả khác, đăng trên tạp chí Nghiên cứu y học, số đặc biệt, năm 2010
Nguyên nhân và xu hướng biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc Tây Bắc của tác giả Nguyễn Thị Yến, đăng trên tạp chí Văn
hóa dân gian, số 2, năm 2010
Tục làm ma của người Tày Khao (Thái Trắng) ở Mường Lay của tác
giả Hoàng Mai Lan, đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 6, năm 2010
Cộng đồng các dân tộc ở Điện Biên/ Dulichvietnam.asia/vn Bài báo
cung cấp thông tin khái quát về 21 dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Trang 21Ưu tiên phát triển văn hóa các dân tộc rất ít người./
wwwbaodienbienphu info.vn ngày 7/9/2012
Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người./ wwwbaomoi.com Điện Biên: Phát huy giá trị làng nghề vùng dân tộc thiểu số./
wwwbaomoi.com, tháng 5/2012
Nhìn một cách tổng quát, lượng tư liệu liên quan đến các vấn đề nghiên cứu của đề tài đời sống văn hóa - xã hội của các dân tộc thiểu số ở các điểm tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên là khá nhiều Mỗi tư liệu có một cách tiếp cận vấn đề riêng với mức độ, phạm vi nghiên cứu khác nhau Mặc dầu những tư liệu đó chưa trình bày một cách hệ thống tất cả các vấn đề về đời sống văn hóa -xã hội của các dân tộc thiểu số ở các điểm tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên cả về lý luận cũng như thực tiễn, song đó là những tài liệu tham khảo quý, có giá trị, cần được kế thừa trong quá trình triển khai nghiên
cứu đề tài
Trang 22
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ - XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THUỶ ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN
1.1 LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ-XÃ HỘI VÀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-XÃ HỘI
1.1.1 Lý luận về đời sống văn hóa-xã hội
1.1.1.1 Khái niệm đời sống văn hoá - xã hội
Thứ nhất, hiện nay trong các từ điển tiếng Việt ở nước ta, chưa có từ
điển nào giới thiệu cụm từ “đời sống văn hoá - xã hội” và giải thích nó như một khái niệm Các khái niệm “đời sống văn hoá” hay “đời sống vật chất”,
“đời sống tinh thần” và “đời sống xã hội” đã được ghi trong một vài từ điển, song cũng không được định nghĩa rõ ràng Vì vậy, xác lập khái niệm công cụ
cho việc triển khai đề tài “thực trạng và giải pháp xây dựng đời sống văn hoá
- xã hội vùng tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên” là một vấn đề hết sức
cần thiết Bởi, nếu không xác định rõ đối tượng nghiên cứu thì không thể tiến hành nghiên cứu và sẽ không đem lại hiệu quả
Thứ hai, “đời sống văn hoá - xã hội” có phải là một khái niệm chỉ một
đối tượng, một sự vật, hiện tượng hay chỉ là sự kết hợp hai thực từ “văn hoá” với “xã hội” là những từ có chức năng định danh để tạo nên một câu mà thôi
Để làm rõ điều này, chúng ta phải dựa vào lý luận triết học, văn hoá học, ngôn ngữ học để phân tích kết cấu cụm từ “đời sống văn hoá - xã hội” và phải đặt
nó trong thực tiễn xã hội cũng như tập quán ngôn ngữ hiện nay
Thứ ba, phạm trù “khái niệm”, theo giải thích của từ điển triết học là:
Hình thức cơ bản của tư duy, phản ánh những thuộc tính chung, bản chất của
sự vật, hiện tượng, quá trình hiện thực - là kết quả của sự tổng hợp, khái quát biện chứng các tài liệu kinh nghiệm, các khái niệm hình thành từ trong quá
Trang 23trình lâu dài con người nhận thức các qui luật khách quan của thế giới và cải tạo thế giới ( ) Khái niệm là sản phẩm lịch sử của quá trình nhận thức xã hội, của kinh nghiệm thực tiễn, nó là công cụ nhận thức giúp con người có những kinh nghiệm và tri thức mới Khái niệm không vĩnh viễn, không tĩnh
mà động, thay đổi luôn để phản ánh hiện thực luôn biến chuyển
Vì tất cả ở trong giới tự nhiên đều có liên hệ, đều phát triển, nghĩa là tất
cả đều chuyển hoá từ cái nọ sang cái kia, nên các khái niệm của con người, để
có thể là sự phản ánh đúng đắn và biện chứng các sự vật, hiện tượng cũng phải có liên hệ, linh hoạt, mềm dẻo “Biện chứng của khái niệm là sự phản ánh tự giác sự vận động biện chứng của hiện thực khách quan” [41]
Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý- chủ biên), phạm trù khái
niệm là một danh từ với hai nghĩa: 1) Hình thức phản ánh hiện thực dạng khái quát sự vật, hiện tượng và những mối liên hệ giữa chúng; 2) Sự hiểu biết, hình dung đại khái về vấn đề, đối tượng nào đó [27]
Thứ tư, “đời sống” được hiểu là “toàn bộ nói chung những hoạt động
trong một lĩnh vực nào đó của con người, của xã hội” [27] Khi nói đời sống, nghĩa là nhấn mạnh việc xem xét hệ thống các hoạt động diễn ra dựa trên những điều kiện nhất định của một lĩnh vực nào đó
Thứ năm, dấu gạch ngang (-) giữa hai từ là để chỉ một chỉnh thể vấn đề
gồm hai bộ phận, tuy không phải là một nhưng gắn bó hữu cơ, xâm nhập vào nhau, biểu hiện qua nhau; tạo thành nghĩa diễn đạt một phạm vi vấn đề của đời sống xã hội trong tập quán ngôn ngữ ở nước ta, kiểu như là “kinh tế - xã hội” hay “chính trị - xã hội”
Từ các quan niệm trên, đề tài xác định quan niệm về đời sống văn hoá – xã hội như sau:
“Đời sống văn hoá - xã hội” là toàn bộ những hoạt động của con người
thuộc phạm vi văn hoá, xã hội nói chung
Trang 24“Đời sống văn hoá - xã hội vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn
tỉnh Điện Biên” là toàn bộ những hoạt động của con người thuộc phạm vi văn
hoá, xã hội nói chung đã và đang diễn ra trong điều kiện tái định cư hiện nay
Quan niệm về “đời sống văn hoá - xã hội” nêu trên đặt trong nghiên cứu
“thực trạng và giải pháp xây dựng đời sống văn hoá - xã hội vùng tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên” và được nhận diện như sau:
Trước hết, “đời sống văn hoá - xã hội” là một hình dung về vấn đề nhằm nhận diện vấn đề của thực tiễn tái định cư vùng tộc người thiểu số, khi mà mọi
vấn đề về văn hoá và xã hội đang đan xen nhau, những điều kiện cho hoạt động văn hoá và các hoạt động văn hoá cụ thể còn chưa làm được nhiều bởi phải ưu tiên giải quyết các vấn đề xã hội…
Thứ hai, về bản chất, vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La còn ở giai đoạn
hình thành chưa ổn định, để đạt tới sự xem xét vấn đề văn hoá, cần có sự quát sát mở rộng hơn tới các vấn đề xã hội Nói cách khác, chính các vấn đề xã hội
là những yếu tố chi phối, thậm chí quyết định tới các vấn đề văn hoá Bởi vậy
cách quan niệm về “đời sống văn hoá - xã hội” ở đây còn được hiểu là xem
xét văn hoá từ các vấn đề xã hội hay kết hợp với sự xem xét các vấn đề xã hội, thấy vấn đề văn hoá từ trong các vấn đề xã hội nổi cộm từ thực tiễn vùng tái định cư Và vì vậy, khái niệm “đời sống văn hoá - xã hội” cũng chính là “hình
thức phản ánh hiện thực dạng khái quát sự vật, hiện tượng và những mối liên
hệ giữa chúng” của vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên (nét nghĩa thứ nhất của định nghĩa “khái niệm” nêu trên)
Thứ ba, nghiên cứu này đang được thực hiện nên “đời sống văn hoá”
cũng là khái niệm mở, khái niệm đang vận động, cần thiết để phản ánh hiện thực đời sống xã hội đặt trong mối quan hệ tổng thể các vấn đề đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Trang 25Thứ tư, trong phát triển, con người cần tuân thủ những nguyên tắc xây
dựng xã hội phát triển bền vững Trong đó phải đảm bảo được sự hài hoà giữa các nhân tố như kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ và môi trường sinh thái
Một trong những mục tiêu quan trọng mà quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa hướng tới là phải xây dựng ý thức, nhận thức, lối sống, hành vi mang tính văn hóa sinh thái - nhân văn nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường sống nói chung dựa trên những yếu tố đã hình thành mang tính truyền thống cũng như xây dựng thêm những gía trị mới phù hợp, có lợi nhất cho cộng đồng
Tái định cư thuỷ điện Sơn La là một công cuộc lớn nhằm tái thiết những vùng dân cư hết sức quan trọng trong phát triển cũng như giữ vững an ninh và chủ quyền quốc gia ở Tây Bắc Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng đời sống văn hoá xã hội vùng tái định cư trên địa bàn tỉnh Điện Biên sẽ được đặt trong tổng thể vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La và xem xét từ góc độ sinh thái nhân văn nhằm tìm ra những đặc điểm riêng của vùng tại địa bàn tỉnh Điện Biên cũng như những vấn đề chung của toàn vùng tái định cư với đặc trưng sinh thái Tây Bắc tại 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên
Tiếp cận sinh thái nhân văn đứng trên quan điểm xem vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Điện Biên là một hệ sinh thái nhân văn mà
sự phát triển bền vững của hệ bị chi phối bởi các điều kiện về môi trường, kinh tế, xã hội, văn hoá Đây là cách xem xét vấn đề từ những điều kiện căn cốt của phát triển bền vững, đặt các khu tái định cư cũng như chủ thể của nó
là đồng bào các dân tộc tham gia di dân tái định cư trong mối quan hệ với môi trường trước và sau tái định cư với những thay đổi nhiều mặt Từ đó thấy được thực trạng đời sống cũng như những vấn đề đặt ra cần được giải quyết
1.1.1.2 Cơ cấu của “đời sống văn hoá - xã hội”
Thứ nhất, về bản chất, “đời sống văn hoá - xã hội” có ý nghĩa một hệ vấn
đề của đời sống bao gồm văn hoá và xã hội Khi chúng ta trừu tượng hoá, tách
Trang 26đời sống văn hoá - xã hội ra khỏi các vấn đề liên quan là chính trị, kinh tế, đồng thời cũng tách hai vấn đề “văn hoá” và “xã hội” thành hai hệ thống tương đối để phân tích các vi hệ của nó nhằm có những nhận thức cần thiết sẽ thấy như sau:
Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội Đời sống xã hội
là một phức thể những hoạt động của con người, nhằm đáp ứng những nhu cầu của con người Trong đó có các hoạt động văn hoá đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, làm cho con người tồn tại với tư cách một sinh thể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn hoá Xã hội càng tiến hoá, nhu cầu văn hoá và sự đáp ứng nhu cầu đó ngày càng cao, thể hiện trình độ phát triển Người Các hoạt động đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, đó chính là các hoạt động văn hoá [78]
Đời sống văn hoá chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hoá trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hoá và sự giao lưu văn hoá nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá của một cộng đồng Nói cách khác, đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong những môi trường nhất định để duy trì sự sống, tái tạo
và sáng tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng sống của chính con người Bản chất phức thể của đời sống văn hóa là mối quan hệ biện chứng giữa con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa và các dạng hoạt động văn hóa, các sản phẩm văn hóa trong những điều kiện hoàn cảnh
cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống cộng đồng
Mặt khác, có thể thấy, đời sống văn hoá cũng chính là môi trường văn hoá, nghĩa là nơi diễn ra mọi hoạt động sống của con người, trong đó có sự hoà trộn giữa văn hoá cá nhân với văn hoá cộng đồng để trực tiếp hình thành phẩm giá và lối sống theo các giá trị chân, thiện, mỹ hướng con người và xã hội phát triển theo tinh thần nhân văn - nhân bản
Trang 27Như vậy, đời sống văn hoá thực chất là mặt tự giác thể hiện như một
nhu cầu thiết yếu của đời sống con người Nội dung của mặt tự giác ấy là các
giá trị văn hoá (vật chất, tinh thần và các quan hệ văn hoá) được vận động, bộc lộ trong các hoạt động sống, các quan hệ xã hội nhằm tạo ra sự hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Với tư cách là loại hoạt
động "thực hiện" các giá trị, hoạt động văn hóa là hoạt động mang tính sáng tạo, thể hiện một cách tập trung nhất năng lực văn hóa, khả năng sáng tạo và phương thức sinh hoạt của cá nhân và cộng đồng
Nếu như đời sống vật chất hay đời sống xã hội là khái niệm chỉ những hoạt động sống của con người thì đời sống văn hóa như một khái niệm có tính
bao trùm để chỉ mặt giá trị của đời sống vật chất và đời sống xã hội mà nếu
thiếu đi, đời sống của con người chỉ còn là một chuỗi các hoạt động hướng tới nhu cầu bản năng Ý nghĩa của đời sống văn hóa còn được nhìn thấy trong mối quan hệ giữa đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng Đời sống cộng đồng như chiếc nôi nuôi dưỡng, quy định đời sống cá nhân Đời sống cộng đồng sung túc, lành mạnh là điều kiện để cá nhân có một đời sống no ấm, lành mạnh Đời sống cộng đồng như chiếc "thẻ bảo hiểm" cho đời sống cá nhân Ngược lại, đời sống của những cá nhân làm nên đời sống cộng đồng, phản ánh những mặt riêng biệt của đời sống cộng đồng Văn hóa cộng đồng cần đến sự đóng góp của văn hóa cá nhân… Cá nhân no ấm, hạnh phúc mới có xã hội giàu mạnh
Trong thực tiễn của đời sống văn hoá nước ta hiện nay, khái niệm "đời sống văn hoá" gắn liền với khái niệm "xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở" Bởi lẽ, đời sống văn hóa ở cơ sở chính là nội hàm trong khái niệm đời sống văn hoá nói chung, nhưng nó ở diện hẹp tại khu vực, một vùng, miền, một địa điểm cụ thể mang lại những khảo sát chính xác nhất ở từng khía cạnh nhỏ nhất của đời sống văn hóa, từng hoạt động văn hóa, từng con người văn hóa, từng quan hệ văn hóa
Trang 28Vấn đề xã hội trong "đời sống văn hóa - xã hội"
Như trên đã trình bày, xã hội là một phức thể hoạt động của con người
nhằm đáp ứng mọi nhu cầu sống của con người, là tất cả những gì gắn với con người, với xã hội loài người nhằm phân biệt với "cái tự nhiên" Nghĩa là những vấn đề liên quan đến sự tồn tại, phát triển của con người và các cộng đồng người Tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá đều là vấn
đề xã hội Thậm chí quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng có thể coi là vấn đề xã hội Đây là nghĩa rộng của phạm trù "xã hội" [20] Tương ứng với các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội ta thấy có các khái niệm
"đời sống kinh tế", "đời sống chính trị", "đời sống văn hóa" và "đời sống xã hội" theo nghĩa hẹp
Xã hội theo nghĩa hẹp đang được nhiều nhà nghiên cứu hiểu như con
người với những mối quan hệ nhiều mặt của họ Quan hệ này chỉ nẩy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng của con người Xã hội theo nghĩa hẹp chính là khía cạnh nhân văn, là bản chất người được thể hiện ở các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng của họ [20]
Vấn đề xã hội là các vấn đề phát sinh từ các quan hệ xã hội Các quan
hệ xã hội rất rộng lớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người và các cộng đồng dân cư như: quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, quan hệ giữa các dân tộc trong cơ cấu xã hội - dân tộc đến hiện tượng diễn tiến xã hội:
sự xuất hiện, phát triển hay sự suy thoái của mỗi nhóm, tầng lớp người trong
xã hội, sự mất cân đối về phân bổ dân cư, sự biến chuyển về vai trò, vị trí của con người, nhóm cũng như các quan hệ giữa các giai tầng, sự vận động và biến đổi của các loại hình nghề nghiệp, vấn đề lao động và việc làm của nguồn lao động…
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nội dung các vấn đề xã hội Song cho đến nay phần lớn các nhà khoa học và các nhà lãnh đạo, quản
lý, chuyên gia trong lĩnh vực xã hội đều nhất trí cho rằng, các vấn đề xã hội
Trang 29không chỉ giới hạn trong một số nội dung như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội mà chúng bao gồm một phạm vi rộng lớn như điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc… Hoặc như trong Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1-6-
2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã xác định: các lĩnh vực xã hội
đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhất là giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi
người có công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, công tác gia đình và bình đẳng giới; [23]
Cũng có thể khái quát vấn đề xã hội thành các nhóm sau:
- Nhóm các vấn đề tác động trực tiếp đến sản xuất của xã hội:
+ Sự phù hợp của việc làm với sức khỏe, trình độ, năng lực… của người lao động;
+ Sự sắp xếp, phân bố, hỗ trợ cần thiết, phù hợp cho người lao động; + Sự quan tâm đến an sinh, tránh rủi ro, tai nạn lao động hay mất việc làm do nhiều lý do khác nhau, trong đó có việc di dời toàn bộ và tái định cư trong điều kiện đất đai đền bù trở lại chỉ đạt được tỷ lệ thấp cả về khối lượng
và chất lượng đất …
- Nhóm vấn đề phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội:
+Tiền lương, tiền công, lao động;
+ Tiền thưởng, phúc lợi xã hội;
+ Bảo hiểm xã hội;
+ Cứu trợ xã;
+ Ưu đãi xã hội;
+ Đền bù cho những người đã hy sinh, quyền lợi riêng cho lợi ích chung trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa như nhường đất canh tác, chuyển nơi cư trú… để xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi, làm đường và xây dựng đô thị, doanh nghiệp…
- Nhóm vấn đề liên quan đến việc cư trú và nhà ở:
Trang 30+ Việc thực hiện quyền tự do cư trú vào các đô thị lớn hay việc tái định cư sau khi bị thu hồi đất và chuyển chỗ ở vì các công trình công cộng hiện nay; + Việc thực hiện quyền có nhà ở của nhiều đối tượng xã hội: người nghèo, nạn nhân của thiên tai (và cả nhân tai); các thành phần xã hội yếu thế: công nhân các khu công nghiệp, sinh viên các trường đại học, cao đẳng thu nhập thấp hoặc chưa có thu nhập
- Nhóm vấn đề gắn với văn hóa giáo dục:
+ Khả năng hưởng thụ nền giáo dục, đào tạo lại, học tập suốt đời
+ Sáng tạo và hưởng thụ giá trị văn hóa nghệ thuật, thông tin đại chúng, giải trí, tiếp cận các dịch vụ văn hóa
Các nhóm vấn đề nêu trên gắn với việc hình thành và phát triển của cá nhân thành viên cũng như cộng đồng xã hội, với việc ổn định chính trị - xã hội với xây dựng đạo đức, lối sống xã hội
Nghiên cứu các vấn đề xã hội là nghiên cứu những khác biệt xã hội về quy mô, mức độ; làm rõ nguyên nhân xã hội của những khác biệt ấy để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm tạo ra sự công bằng, bình đẳng, tiến bộ
xã hội và phát triển toàn diện con người
Giải quyết các vấn đề xã hội là để khắc phục những phân hóa, mâu thuẫn và khác biệt xã hội, để điều tiết các quan hệ xã hội nhằm phát huy khả năng của toàn xã hội vào những mục tiêu chung
Thứ hai, “văn hoá-xã hội’’ còn là hệ thống hoạt động xã hội có tính vấn đề
kép gắn bó hữu cơ, xâm nhập vào nhau, biểu hiện qua nhau Chẳng hạn, chúng ta thực hiện hoạt động nâng cao dân trí hay xoá đói giảm nghèo, thì đây không chỉ là vấn đề văn hoá hay vấn đề xã hội thuần tuý Nâng cao dân trí nhìn từ góc độ văn hoá là một nội dung văn hoá giáo dục, hoạt động văn hoá
và có ý nghĩa nhân văn; nhìn từ góc độ xã hội là một vấn đề xã hội, nội dung công tác xã hội, cũng mang ý nghĩa nhân văn Xoá đói giảm nghèo nhìn từ góc độ xã hội là một vấn đề xã hội, nội dung công tác xã hội mang ý nghĩa
Trang 31nhân văn, nhân bản; nhìn từ góc độ văn hoá là một hoạt động đạo đức thuộc phạm trù cái thiện - một trong ba giá trị phổ quát của văn hoá và đối với nước
ta, hoạt động xoá đói giảm nghèo còn mang ý nghĩa tương thân, tương ái trong truyền thống văn hoá dân tộc, thể hiện trình độ nhân văn, nhân bản của dân tộc, của thời đại
1.1.1.3 Các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của đời sống văn hoá - xã hội
Như đã đề cập trong phần lý luận về đời sống văn hóa - xã hội ở trên, đời sống văn hóa - xã hội là một bộ phận của đời sống xã hội, có quan hệ hữu cơ với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, nghĩa là có sự tác động qua lại với các yếu tố
đó Do vậy, khi nói đến các yếu tố tác động đến sự phát triển đời sống văn hóa
- xã hội, không thể không nghiên cứu các yếu tố thuộc hai lĩnh vực trên
Sự tác động của các yếu tố chính trị
Các yếu tố chính trị bao gồm tư tưởng chính trị - xã hội, quan điểm đường lối chủ trương của Đảng và pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển đời sống văn hóa - xã hội vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La nói riêng Đồng thời là việc tổ chức thực hiện các tư tưởng, đường lối, pháp luật, chính sách đó như thế nào trên thực tiễn
Tác động của yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế có vai trò rất to lớn ảnh hưởng đến sự phát triển đời sống văn hóa - xã hội: vừa tạo nguồn lực vật chất, vừa tạo tiền đề cho việc phát triển đời sống văn hóa - xã hội và thực hiện các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển văn hóa - xã hội Các yếu tố hạ tầng như trạm, trường, đường, điện phục vụ dân sinh đã bước đầu được cải thiện rõ rệt Hiện nay trên cả nước hầu như đã có đường giao thông đến trung tâm các xã, điện thắp sáng đã được kéo đến tất cả các xã (trừ một số xã khó khăn), mạng lưới điện thoại,
Trang 32mạng Intenet đã về nông thôn Những điều kiện vật chất, kỹ thuật ấy đã tạo nên sự thuận lợi cho sinh hoạt hàng ngày của nhân dân phục vụ cho việc nâng cao mức sống văn hóa - xã hội hơn trước đây
Kinh tế phát triển cũng tạo điều kiện cho sự phân công lại lao động, phân bố lại dân cư, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đô thị hóa diễn ra
đã tác động sâu rộng đến đời sống xã hội Cơ cấu sản xuất thay đổi cũng kéo theo cơ cấu ngành nghề ở đô thị hóa, khu công nghiệp và cả vùng nông thôn miền núi thay đổi
Các yếu tố khác tác động đến sự phát triển đời sống văn hóa - xã hội
Ngoài yếu tố chính trị, kinh tế ra thì sự phát triển của đời sống văn hóa
- xã hội còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, chẳng hạn yếu tố quốc tế, yếu tố tự nhiên và yếu tố nội sinh của đời sống văn hóa - xã hội
+ Yếu tố quốc tế: xu thế toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa quốc tế hiện nay đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đất nước ta trong đó có đời sống văn hóa - xã hội Chẳng hạn, sự suy thoái của kinh tế thế giới, sự giảm sút của các chương trình viện trợ, cho vay vốn ODA kéo theo sự suy giảm kinh tế nước ta và sẽ hạn chế sự phát triển đời sống văn hóa - xã hội…
+ Yếu tố tự nhiên: vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và thiên tai diễn ra ở nước ta: bão tố, lụt lội, bệnh dịch, cháy rừng… cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống văn hóa - xã hội của cả nước, của các vùng, miền + Yếu tố nội sinh của đời sống văn hóa - xã hội: sự tác động của văn hóa đến xã hội và ngược lại Nếu trình độ, năng lực văn hóa được nâng cao hoạt động văn hóa tích cực, sản phẩm văn hóa phong phú và có giá trị cao sẽ tác động đến lĩnh vực xã hội phát triển Ngược lại trình độ năng lực văn hóa thấp, hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa tiêu cực, sẽ kìm hãm sự phát triển lĩnh vực xã hội Các lĩnh vực xã hội có sự phát triển tích cực hoặc tiêu cực cũng tác động một cách xuôi thuận hay kìm hãm lĩnh vực văn hóa…
Trang 33Các yếu tố nêu trên là những yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển đời sống văn hóa - xã hội nói chung Khi nghiên cứu sự phát triển đời sống văn hóa - xã hội của một địa phương, một vùng chúng ta cần phải phân tích
kỹ hơn các yếu tố tác động một cách cụ thể và phải chú ý đến các yếu tố có tính đặc thù của địa phương, của vùng
1.1.2 Lý luận về xây dựng đời sống văn hoá-xã hội
1.1.2.1 Khái niệm xây dựng đời sống văn hoá - xã hội
Ở cấp vĩ mô, xây dựng đời sống văn hoá-xã hội hướng tới việc xây dựng các điều kiện nhằm bình ổn xã hội và đời sống văn hoá cộng đồng
Việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc và ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái theo chủ trương của Đảng về chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng và bình ổn xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng thời thực hiện tốt tinh thần Nghị quyết lần thứ bảy BCHTW Đảng khóa IX về công tác dân tộc, Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1/6/2012, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về một số vấn đề
về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 theo một số điểm như sau:
Về việc làm, thu nhập và giảm nghèo:
- Hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất
để người dân có thu nhập và tiến tới thu nhập ổn định
- Khôi phục lại các nghề thủ công truyền thống, sử dụng tối đa mọi nguồn nhân lực lao động tại các vùng tái định cư, nhằm tạo thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống cho bà con
- Mở các lớp đào tạo nghề mới và kiên trì vận động bà con tham gia học Đồng thời, sau khi đào tạo nghề, cần có sự phối hợp giữa chính quyền các cấp trong việc đầu tư sản xuất, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra để giúp người dân có thu nhập
Về trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trang 34Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục có những hình thức
hỗ trợ người dân, nhất là những hộ thuộc diện nghèo một cách phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội trong hậu tái định cư Thực hiện tốt công tác hỗ trợ đột xuất, bảo đảm người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời Hoàn thiện cơ chế, chính sách và phương thức tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp đột xuất; mở rộng sự tham gia hỗ trợ của cộng đồng
Về bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn:
- Bảo đảm giáo dục tối thiểu, tiếp tục kết hợp với thực hiện các chiến lược, chương trình, đề án về giáo dục khác nhằm mở rộng và tăng cường các chế độ hỗ trợ, nhất là đối với thanh niên, thiếu niên thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng tái định cư để bảo đảm phổ cập giáo dục bền vững, tạo điều kiện đề con em đồng bào tái định cư được đến học tập trong các trường dân tộc nội trú, mở rộng mô hình trường bán trú từ nhà trẻ, mầm non cho đến các cấp phổ thông và đào tạo chuyên nghiệp để hình thành bộ máy cán bộ có trình độ quay về xây dựng quê hương
- Bảo đảm y tế tối thiểu
Tiếp tục kết hợp với việc triển khai chiến lược, các chương trình, đề án
về y tế nhằm cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở tuyến cơ sở, nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế, ưu tiên các điểm tái định cư như các trường hợp vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
- Bảo đảm nhà ở tối thiểu cho người dân các vùng tái định cư
- Bảo đảm nước sạch, trên cơ sở những đầu tư từ dự án tái định cư thuỷ điện Sơn La, cần tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn trong các năm tiếp theo để cải thiện cơ bản tình trạng sử dụng nước sinh hoạt của người dân tái định cư, đặc biệt là ở các vùng núi cao thiếu nước
Trang 35- Bảo đảm thông tin, tăng cường thông tin truyền thông đến người dân đảm bảo người dân tái định cư cũng được hưởng lợi từ Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa
Trong xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng, cần có sự quản lý các
hoạt động văn hóa, văn nghệ nhằm khai thác và phát triển mọi giá trị văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc, tạo ra sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hóa;
- Nâng cao hiểu biết và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân Hướng dẫn nhân dân về nếp sống văn hóa, văn minh, chống các hủ tục, mê tín dị đoan
- Phát huy trách nhiệm của của cộng đồng trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin đại chúng gắn với các phương tiện vui chơi giải trí, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa - tinh thần của nhân dân đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá cộng đồng và xây dựng đời sống văn hoá cộng đồng trong điều kiện mới
Ở cấp vi mô, xây dựng đời sống văn hoá - xã hội gắn liền với việc xây
dựng đời sống cộng đồng khu dân cư với các nội dung sau:
- Phát triển kinh tế, làm giầu chính đáng, xoá đói giảm nghèo
- Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh, nâng cao tình cảm yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Nhà nước
- Xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, thực hiện tốt quy ước của làng, xã, khu phố; thực hiện tốt nếp sống văn minh - lành mạnh - tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, giỗ tết, lễ hội và các sinh hoạt xã hội khác; Giữ gìn
và phát huy thuần phong mĩ tục và đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc
- Xây dựng môi trường văn hoá sạch - đẹp - an toàn, giữ gìn nhà ở, nơi làm việc, nhà vệ sinh ngăn nắp, gọn gàng, sạch đẹp; Tích cực phòng chống các tệ nạn mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, tham nhũng
Trang 36- Xây dựng các thiết chế văn hoá - thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá - thể thao cơ sở, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống; Tổ chức các hoạt động giao lưu, sáng tạo, hưởng thụ văn hoá
1.1.2.2 Các hoạt động xây dựng đời sống văn hoá-xã hội cấp vi mô (khu dân cư)
Cần cụ thể hoá và bổ sung nội dung xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư cho phù hợp và thiết thực với từng địa bàn hoạt động thông qua một số hoạt động sau:
Thứ nhất, hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động
Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động là phổ biến rộng rãi trong công chúng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, động viên nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị của trung ương và địa phương, đồng thời nêu gương người tốt việc tốt, phê phán những thói hư tật xấu, góp phần tạo dựng nếp sống văn hóa lành mạnh ở cơ sở Thông tin, tuyên truyền và cổ động có nhiều hình thức như: bằng tin tức, bằng lời nói trực tiếp, bằng hình thức trực quan và bằng các hình thức văn nghệ để phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, sự chỉ đạo các biện pháp cụ thể của chính quyền cơ sở để nhân dân thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh nhất định Với nhiều hình thức tổ chức, tập hợp quần chúng gần gũi, sinh động cổ
vũ nhân dân hành động cách mạng tự nguyện và thiết thực, công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động dấy lên các phong trào, các cuộc vận động sôi nổi, không chỉ ở địa phương mà lan rộng trong cả nước, không chỉ trong nội bộ cán bộ, đảng viên mà lan tỏa ra toàn xã hội
Thứ hai, hoạt động câu lạc bộ, nhà văn hóa
Câu lạc bộ là một tổ chức xã hội tập hợp theo nguyên tắc tự nguyện của những người có chung sở thích, nhằm tiến hành các hoạt động thuộc các lĩnh
Trang 37vực chính trị - xã hội, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn học nghệ thuật, thể thao và các hoạt động vui chơi giải trí khác
Hoạt động câu lạc bộ nhằm thu hút đông đảo quần chúng tham gia vào các hoạt động văn hóa theo sở thích, thông qua đó mà tiến hành giáo dục đối với công chúng, đồng thời cơ quan văn hóa và các ngành, các giới đứng ra tổ chức để công chúng tự đáp ứng các nhu cầu văn hóa của họ theo hướng lành mạnh và tiến bộ Các câu lạc bộ tổ chức các lớp học để nâng cao trình độ nghiệp vụ, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, sinh hoạt chuyên đề, bổ sung kiến thức, kích thích mọi người tham gia các quá trình sáng tạo văn hóa, nghệ thuật hoặc ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào đời sống Tùy theo điều kiện mỗi nơi, có thể thành lập một số loại câu lạc bộ phù hợp
Thứ ba, hoạt động thư viện, sách báo
Sách báo là nguồn tri thức vô tận, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao hiểu biết cho mọi người Vì vậy, thư viện, phòng đọc sách đã thường xuyên chiếm một vị trí quan trọng hoạt động khai trí của cơ quan văn hóa
Muốn cho việc đọc sách, báo được phổ biến rộng rãi trong công chúng thì người hướng dẫn phải biết lựa chọn, giới thiệu các loại sách, báo có tác dụng thiết thực đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của công chúng, ngoài ra còn phải chú ý tới nhu cầu đọc sách, báo đối với thanh, thiếu nhi, hướng dẫn và thu hút lớp trẻ đọc sách, báo lành mạnh, tiến bộ để nâng cao nhận thức và tự hoàn thiện về nhân cách
Thứ tư, hoạt động giáo dục truyền thống văn hóa - lịch sử cách mạng
Văn hóa là hệ thống những chuẩn mực xã hội biểu hiện ra trong lối sống, nếp sống và tinh thần của một cộng đồng hay quốc gia dân tộc
Văn hóa truyền thống là di sản văn hóa tinh thần mà các thế hệ từ xa xưa, tổ tiên ông cha chúng ta sáng tạo ra, để lại cho đời sau Văn hóa truyền thống được kết tinh lại thành một hệ giá trị phổ quát: chân, thiện, mỹ truyền
từ đời này sang đời khác và trở thành di sản văn hóa dân tộc Di sản văn hóa
là cái gốc, đó chính là cội nguồn bản sắc dân tộc
Trang 38Thứ năm, hoạt động văn nghệ quần chúng
Hoạt động văn nghệ quần chúng là một dạng hoạt động văn nghệ không chuyên hấp dẫn, phong phú và không thể thiếu ở các đơn vị văn hóa cơ sở Nó thu hút đông đảo quần chúng tham gia thể hiện ở mọi lứa tuổi, phản ánh kịp thời và sinh động cuộc sống đa dạng của nhân dân địa phương, đáp ứng những đòi hỏi về thưởng thức, nhu cầu sáng tác và biểu diễn nghệ thuật của quần chúng Qua đó bồi dưỡng năng lực nhận thức thẩm mỹ, xây dựng thị hiếu thẩm mỹ theo hướng lành mạnh, tiến bộ
Thứ sáu, hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa
Nếp sống là toàn bộ mô thức ứng xử của con người, biểu hiện trong mối quan hệ của nó đối với thiên nhiên, với xã hội và với bản thân Những mô thức ứng xử đó được vận dụng và được lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống, trở thành thói quen, thành phong tục Đó cũng là một hệ thống chuẩn mực xã hội được cộng đồng chấp nhận và tự nguyện thực hiện với một mạng lưới qui tắc ứng xử vô cùng đa dạng, nhưng thường biểu hiện tập trung nhất trong việc cưới, việc tang và lễ hội
Việc xây dựng các mô hình nghi thức về lễ cưới, lễ tang, ban hành qui chế về tổ chức lễ hội truyền thống, qui định các ngày lễ, tết là nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đấu tranh bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và
mê tín dị đoan, đó cũng chính là những điểm chủ chốt trong xây dựng nếp sống văn hóa
Gắn với nếp sống văn hóa còn có vấn đề xây dựng gia đình văn hóa với
tư cách là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách Các chính sách của nhà nước chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ, nâng cao
ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người Tiêu chuẩn xây dựng gia đình văn hóa là: no ấm, hạnh phúc và tiến bộ
Thứ bảy, hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí
Trang 39Hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí không chỉ nhằm mục đích
tăng cường thể chất mà còn rèn luyện phẩm chất tinh thần như ý chí bền bỉ,
lòng dũng cảm, hoạt bát, thông minh và tinh thần tập thể, đồng đội, ngoài ra
cũng như các hoạt động vui chơi khác, hoạt động thể dục thể thao có tác dụng
giải trí, giảm căng thẳng đầu óc sau một thời gian làm việc liên tục, vì vậy mà
có sức hấp dẫn đối với mọi lứa tuổi
Ở những nơi có điều kiện như nhà văn hóa, hội trường, sân bãi thì có
thể xây dựng thành các điểm vui chơi thường xuyên Nơi chưa có điều kiện
thì nên tổ chức hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí vào những ngày lễ
hội để tạo khí thế, rồi hình thành nên các hoạt động vui chơi, giải trí thường
xuyên tại đơn vị văn hóa cơ sở
Thứ tám, hoạt động xã hội từ thiện
Thuộc phạm vi của hoạt động văn hóa - xã hội còn phải kể đến các tổ
chức từ thiện, hoạt động của Hội chữ thập đỏ cơ sở, tổ chức cứu giúp những
vùng bị thiên tai, lũ lụt, những người mắc bệnh tàn tật, chất độc da cam, trẻ
em mồ côi Cơ quan văn hóa có thể đứng ra tổ chức các đêm văn nghệ từ
thiện, các cuộc thi đấu có bán vé vì mục đích từ thiện hoặc tổ chức các sinh
hoạt văn hóa văn nghệ phục vụ các đối tượng từ thiện
Thứ chín, hoạt động quản lý văn hóa thông tin cơ sở
Quản lý là một hoạt động điều hành của người có trọng trách chỉ đạo,
giám sát, đôn đốc nhằm đảm bảo cho các hoạt động văn hóa thông tin cơ sở
phát triển đúng hướng, làm cho các chương trình, kế hoạch công tác được thực
hiện Trong công tác quản lý, có việc phải xây dựng, có việc phải ngăn ngừa,
nghiêm cấm theo qui chế và hướng dẫn Khi cần thiết có thể xử phạt theo luật
pháp hiện hành Cần chú ý rằng, văn hóa trong thời kỳ mở cửa và chống” diễn
biến hòa bình” có thể diễn ra nhiều vấn đề phức tạp,cho nên công tác văn hóa
thông tin ở cơ sở cần năng động, kịp thời và vững vàng, không để kẽ hở cho
các thế lực đối lập lợi dụng cũng như tránh các vấn đề tiêu cực trong cộng
Deleted:
Trang 40đồng Cần có các biện pháp ngăn ngừa không cho các sản phẩm phi văn hóa
và xấu độc thẩm lậu vào dân chúng (phim, ảnh, sách báo, băng nhạc có nội dung dâm ô, kích động bạo lực, chia rẽ đoàn kết, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Chính phủ và reo rắc mê tín dị đoan) Các cán bộ văn hóa cần nắm vững các loại văn bản quản lý nhà nước, các văn bản qui định khác của ngành Văn hóa nhằm tăng cường năng lực quản lý, đảm bảo vừa xây, vừa chống đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, đặc biệt là cơ sở Ngoài ra, để quản lý tốt các hoạt động văn hóa thông tin cơ sở, cần có sự tổ chức hợp lý, qui định chặt chẽ, phối hợp với các lực lượng liên ngành kiểm tra thường xuyên, bảo đảm thông tin, báo cáo hai chiều trên xuống-dưới lên kịp thời, liên tục
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-XÃ HỘI VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN SƠN LA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN
1.2.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên
Điện Biên là tỉnh mới được thành lập trên cơ sở tách ra từ tỉnh Lai
Châu (cũ) theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26-11-2003 về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Trong khi đó, quá trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La lại diễn ra trước thời điểm này, tức là trước khi tỉnh Điện Biên được thành lập Trong những năm qua, nhờ sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, kinh tế-xã hội tỉnh Điện Biên đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức, đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực Cơ cấu thành thị và nông thôn trong năm 2013 cho thấy dân số khu vực nông thôn chiếm 84,9%, lao động nông thôn chiếm trên 85% tổng số lao động cả tỉnh, nhưng tổng giá trị gia tăng của khu vực nông nghiệp chỉ chiếm 25,9% trong tổng GRDP cả tỉnh
Về tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tiêu QH 2006 về giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển của Điện Biên giai đoạn 2006-2010 thì đến nay đã