Thiết kế chuồng nuôi Qua quá trình điều tra khảo sát Kỳ đà ngoài tự nhiên và kết quả phỏng vấn hộ gia đình nhóm tiến hành thiết kế và cải tạo chuồng nuôi như sau: Khu vực chuồng nuôi 10
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CG CÔNG NGHỆ
ĐÀO NHÂN LỢI
BÁO CÁO XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Phân 1 MỤC TIÊU NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.1.1 Mục tiêu chung 3
1.1.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2 Nội dung nghiên cứu 3
1.2 Địa điểm nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4.1 Thiết kế chuồng nuôi 5
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 11
2.1 Kết quả điều tra khảo sát hiện trạng Kỳ đà 11
2.1.1 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, tập tính của Kỳ đà hoa trong môi trường tự nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường nhé 11
2.1.2 Kết quả khảo sát hộ gia đình chăn nuôi kỳ đà 13
2.2 Nghiên cứu tập tính của kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt 17
2.2.1 Tập tính bắt mồi 18
2.2.2 Tập tính sử dụng nước 19
2.2.3 Tập tính tắm nắng 19
2.2.4 Tập tính lẩn trốn và đe doạ kẻ thù 20
2.2.5 Hoạt động theo mùa của Kỳ đà 20
2.2.6 Quá trình lột xác của Kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt 22
2.3 Nghiên cứu xác đinh thức ăn của kỳ đà 25
2.3.1 Thành phần thức ăn của Kỳ đà 25
2.3.1.1 Thành phần thức ăn của kỳ đà nhỏ (1-4 tháng tuổi) 25
2.3.1.2 Thành phần thức ăn của Kỳ đà hậu bị và trưởng thành 25
2.3.2 Khối lượng thức ăn của Kỳ đà 28
2.3.2.1 Khối lượng thức ăn của Kỳ đà 1 – 4 tháng tuổi 28
2.3.1.2 Khối lượng thức ăn của Kỳ đà từ 5 – 16 tháng tuổi 30
Trang 32.3.2.2 Khối lượng thức ăn của Kỳ đà 33
2.3.2.3 Hệ số sử dụng thức ăn 34
2.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của kỳ đà 37
2.4.1 Sự tăng trưởng của cá thể Kỳ đà (1 -16 tháng tuổi) 37
2.4.2.1 Tăng trưởng trọng lượng (g) 37
2.4.2.2 Tăng trưởng về kích thước (mm) 38
2.4.2 Sự tăng trưởng kỳ đà hoa (>14 tháng tuổi) 40
2.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản của Kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt 44
2.5.1 Kĩ thuật tạo chuồng cho Kỳ đà đẻ 44
2.5.2 Một số đặc điểm sinh sản của kỳ đà 44
2.5.3 Nghiên cứu thành phần và chất lượng trứng 46
2.5.4 Khả năng ấp nở bằng phương pháp nhân tạo 47
2.6 Đánh giá tình hình bệnh tật của Kỳ đà 51
2.6.1 Một số loại bệnh thường gặp ở Kỳ đà 51
2.6.2 Tỷ lệ bị bệnh 53
2.6.3 Tỷ lệ sống chết của các cá thể trong các mô hình thí nghiệm 53
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 55
4.1 Kết luận. 55
4.2 Khuyến nghị 55
Trang 4dã có mặt ở hầu khắp các nước khí hậu nhiệt đới, nhất là những vùng rừng núi và thường sống trong những gốc cây, hốc đá, kẽ hở đất, đá… Ban ngày thường ngủ, nghỉ, ban đêm đi kiếm ăn Kỳ đà hoa thích ẩn mình trong các hang hốc, thích ngâm mình, săn mồi nơi sông suối Da kỳ đà hoa lớn làm đồ mĩ nghệ, đồ lưu niêm có giá trị thương mại cao được nhiều người người ưa thích, mật kỳ đà ngâm rượu hoặc sấy khô làm thuốc để chữa nhiều bệnh như bệnh động kinh, hen, nhức mỏi xương cốt, kiết lỵ, Thịt kỳ đà hoa là thực phẩm đặc sản rừng rất thơm ngon và bổ dưỡng được thị trường rất ưa chuộng (hiện thời giá bán 1kg kỳ đà trên thị trường khoảng 400.000 đồng/kg, riêng túi mật giá khoảng 300.000 đồng) Nhân nuôi với số lượng lớn có thể chuyển về các thành phố lớn bán cho các nhà hàng đặc sản thì giá trị còn cao hơn nhiều vì ở những nơi này nhu câu về sản phẩm từ động vật hoang dã là rất lớn.Vì vậy, hiện nay ở ngoài tự nhiên kỳ đà hoa đang bị săn bắt rào riết và đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, Sách đỏ Việt Nam (2007) xếp kỳ đà ở mức nguy cấp (EN) và trong Nghị định 32 ở nhóm IIB (động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) Mặt khác, thành phố Điện Biên là thành phố du lịch có nhiều các nhà hàng đặc sản, quán ăn và mỗi năm đón hàng trăm nghìn khách du lịch đến thăm,…do vậy sẽ có nhu cầu rất cao về sản phẩm này Như vậy, việc nhân nuôi loài này là cần thiết không những tạo thu
Trang 5cho Điện Biên
Thức ăn của kỳ đà hoa cũng rất đơn giản bao gồm sâu bọ, côn trùng, cóc, ếch nhái, gà vịt, chim chóc hoặc có thể tập cho kỳ đà ăn trứng gia cầm, cua, tôm, cá hay thịt, lòng gia súc, gia cầm, đây là những thức ăn rất phổ biến và dễ kiếm Kỳ đà hoa cũng rất ít bị bệnh, kĩ thuật xây dựng chuồng đơn giản, nguyên vật liệu dễ kiếm, giá con giống không cao (khoảng 100.000 đồng/con giống), như vậy việc nhân nuôi kỳ đà hoa rất phù hợp với nuôi quy mô hộ gia đình
Tóm lại, kỳ đà hoa là loài bò sát có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên ngoài tự nhiên mật độ, trữ lượng đã bị giảm sút không còn khả năng khai thác Thực tế đòi hỏi phải nhân nuôi, phát triển số lượng cá thể để vừa đáp ứng như cầu của thị trường, vừa làm giảm áp lực săn bắn và góp phần bảo tồn nguồn gen quí hiếm Mặc dù đã có một số cơ sở bước đầu chăn nuôi thành công loài này, tuy nhiên cho đến nay, những hiểu biết và tài liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái loài, về kỹ thuật chăm sóc và đặc biệt là kỹ thuật nuôi sinh sản, nhân giống còn rất hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật nhân nuôi kỳ đà hoa là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn góp phần tăng thu nhập cho người dân
Trang 6Phân 1 MỤC TIÊU NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 1.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dụng 1 Điều tra khảo sát
- Điều tra các đặc điểm sinh học, tập tính của kỳ đà trong điều kiện
tự nhiên
- Khảo sát hiện trạng chăn nuôi kỳ đà ở một số cơ sở nuôi nhốt
Nội dụng 2 Theo dõi tập tính của kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt Nội dung 3 Nghiên cứu xác định thức ăn cho kỳ đà hoa
Nội dung 4 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của kỳ đà hoa
Nội dung 5 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản cơ bản của kỳ
đà trong điều kiện nuôi nhốt
Nội dung 6 Đánh giá tình hình bệnh tật của kỳ đà hoa
1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trang 7- Địa điểm 1 Thí nghiệm về nuôi kỳ đà hậu bị được bố trí tại tỉnh Điện Biên
- Địa điểm 2 Thí nghiệm về kỳ đà nhỏ và kỳ đà sinh sản được bố trí tại Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Nông – Lâm nghiệp, Trường Đại học Tây Bắc, Thuận Châu, Sơn La
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu thành phần thức ăn và sinh trưởng của cá thể Kỳ đà hoa
Đối tượng nghiên cứu gồm 10 cá thể kỳ đà hoa (5 cá thể thời kỳ hậu bị (14 tháng tuổi) và 5 cá thể kỳ đà nhỏ (7 ngày tuổi) Nguồn giống do Công ty Cổ phần dịch vụ và Thương mại rắn Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc cung cấp Bố trí thí nghiệm nuôi Kỳ đà thể hiện trong bảng sau:
+ Công thức 1 Thí nghiệm bố trí theo dõi thức ăn và sinh trưởng của Kỳ
đà hoa hậu 14 tháng tuổi tại Thành phố Điện Biên
Bảng 2.1 Số lượng cá thể kỳ đà hậu bị và các chỉ số ban đầu
Chuồng
nuôi
Số cá thể
Chiều dài
cơ thể (mm)
Khối lượng
cơ thể (g)
Chiều dài cơ thể (mm)
Khối lượng
cơ thể (g)
Trang 8thể Chiều dài
cơ thể (mm)
Khối lượng
cơ thể (g)
Chiều dài cơ thể (mm)
Khối lượng
cơ thể (g)
+ Bố trí thí nghiệm theo dõi một số đặc điểm sinh sản
Thí nghiệm theo dõi sinh sản được bố trí 27 cá thể kỳ đà theo tỷ lệ (1 đực : 1 cái; 1 đực 2 cái; 1 đực: 3 cái) được bố trí tại Trung tâm thực nghiệm Nông – Lâm nghiệp, Thuận Châu, Sơn La
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Thiết kế chuồng nuôi
Qua quá trình điều tra khảo sát Kỳ đà ngoài tự nhiên và kết quả phỏng vấn hộ gia đình nhóm tiến hành thiết kế và cải tạo chuồng nuôi như sau:
Khu vực chuồng nuôi 100 m2 được bố trí làm 2 khu chính:
+ Khu chuồng nuôi: Diện tích 60 m2, xung quanh chuồng nuôi được xây bằng gạch nền đá hoa, tương xung quanh được tô láng nhẵn bằng xi măng cát, chiều cao của tường 4m, được tô láng nhẵn để kỳ đà không thể leo ra được, bên trên được lợp kín bằng tôn hay Phiproxy măng, bên trong chuồng nuôi được bố trí như sau:
Hang chú ẩn cho kỳ đà (02 hang) kích thước 2 x 2 x 0,8 m bên trên được lợp bằng phiproxi măng
Hệ thống lồng nuôi làm bằng lưới sắt B40 khung thép (5 lồng) kích thước lồng (1 x 1,5 x 1m) hay bằng gỗ, kích thước mắt lưới 2 x 3 cm Giá sưởi ấm cho kỳ đà vào mùa đông (2 giá): Các giá được đóng bằng gỗ, có 4 tầng, khoảng cách giữa các tầng là 12 cm, tầng cuối cùng
Trang 9của giá có bố trí hệ thống bóng điện sưởi, xung quanh dùng bạt hay vải phủ kín để giữ nhiệt
+ Khu vực sân chơi: Diện tích 80m2 xung quanh khu sân chơi được rào kín bằng tôn nhẵn hoặc bằng tường gạch tô láng nhẵn để ngăn cản kỳ
đà ra ngoài Bên trong sân chơi được bố trí như sau:
Bể nước cho kỳ đà hoa: Kích thước bể (3x1x0,5m), trong bể có van thoát nước để vệ sinh bể được dễ dàng
Khu chuồng nuôi
Khu sân chơi
1 Hang chú ẩn, 2 Bể nước, 3 Giá cho Kỳ đà trú đông, 4 Lồng nuôi kỳ đà
Hình 2.1 Chuồng thí nghiệm nuôi Kỳ đà
1.3.1 Phương pháp thực hiện nội dung 1 Điều tra Khảo sát
+ Điều tra theo tuyến
Lập 5 tuyến tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, mỗi tuyến điều tra 3 lần mỗi lần 5 ngày, tuyến dài 5 – 10 Km, tùy theo điều kiện địa hình, tuyến phải đi qua các vùng sông suối nơi có Kỳ đà phân bố
Tiến hành điều tra: Dấu vết của Kỳ đà để lại như phân của Kỳ đà, thức ăn thừa, dấu vết để lại, kiểu sinh cảnh ưa thích của Kỳ đà, thức ăn của Kỳ đà, hang hốc trú ẩn của Kỳ đà
+ Khảo sát một số mô hình chăn nuôi Kỳ đà tại các cơ sở chăn nuôi:
Trang 10Số lượng nuôi nhốt, Các dạng chuồng trại, cách bố trí nội thất, thức
ăn thường sử dung, cách chế biến thức ăn, phương pháp chăm sóc Kỳ đà, hiệu quả kinh tế của mô hình
1.3.2 Phương pháp thực hiện nội dung 2 Theo dõi tập tính của Kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt
Tại các công thức thí nghiệm tiến hành quan sát 1 tuần 1 lần 24/24
h trong suốt thời gian nghiên cứu để xác định một số tập tính cơ bản như: + Tập tính bắt mồi của kỳ đà, tập tính tự vệ, tập tính sử dụng nước, tập tính tắm nắng, thời gian hoạt đông của kỳ đà
Kết quả ghi vào mẫu biểu sau
Bảng 2.3 Mẫu biểu điều tra theo dõi tập tính của Kỳ đà
Ngày tháng điều tra……… Thời tiết điều tra……… Người điều tra……… Địa điểm………
1.3.3 Phương pháp thực hiện nội dung 3 Nghiên cứu xác định thức ăn cho Kỳ đà hoa
Thành phần và chế độ thức ăn của mỗi loài rất khác nhau Do vậy cần nghiên cứu tìm ra những loài làm thức ăn phù hợp, loại thức ăn ưa thích, tỷ lệ các thành phần thức ăn và khẩu phần ăn hàng ngày
Thành phần thức ăn
Dựa vào kết quả điều tra khảo sát, tham khảo tài liệu tiến hành cho
ăn nhiều loại thức ăn khác nhau xem con vật ăn những loại thức ăn nào
Từ đó xác định được các danh lục các loại thức ăn mà con vật sử dụng
Trang 11Thức ăn được cắt thành từng miếng nhỏ, mỗi miếng có trọng lượng khoảng 10 g, Thời gian cho ăn bắt đầu từ 9h sáng đến 3 h chiều tiến hành đếm số lượng miếng ăn mà con vật tiêu thụ
Số liệu thu thập được ghi ở mẫu biểu sau:
Bảng 2.4 Mẫu biểu điều tra xác định thành phần thức ăn của Kỳ đà Stt Ngày
Số lượng lượng tiêu thụ
N: là số lượng loại thức ăn mà con vật sử dụng
- Xác định khẩu phần ăn
Tiến hành cân lượng thức ăn trước khi cho ăn và sau khi cho ăn với mỗi loại thức ăn để xác định khối lượng thức ăn kỳ đà tiêu thụ qua các tháng
Bảng 2.5 Mẫu biểu điều tra xác khối lượng thức ăn của Kỳ đà Stt Ngày
M: là khối lượng thức ăn từng loại mà cá thể kỳ đà tiêu thụ trong 1 ngày đêm
* Xác định khối lượng từng loại thức ăn mà kỳ đà tiêu thụ trong 1 ngày
M = (M tr – M s ) Trong đó:
Trang 12Mtr: Tổng khối lượng thức ăn cho ăn (g) Ms: Tổng khối lượng thức ăn thừa (g)
- Khối lượng thức ăn trung bình cho 1 cá thể Kỳ đà trong tháng (g)
M tb = (M 1 +M 2 +M 3 +M 4 + M 5 )/5 Mtb: Khối lượng thức ăn trung bình cho 1 cá thể kỳ đà theo giai đoạn tuổi
M i (j = 0,1,2…5) là khối lượng thức ăn cá thể thứ i tiêu thụ trong tháng
- Hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR)
FCR = Lượng thức ăn tiêu thụ (g)/Khối lượng cơ thể tăng lên (g)
- Chi phí thức ăn cho kỳ đà theo các giai đoạn tuổi và trong suốt quá trình nuôi
CPTA = FCR x Giá thức ăn
1.3.4 Phương pháp nghiên cứu nội dung 4: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của Kỳ đà
+ Tăng trưởng tương đối về khối lượng (g)
Phương pháp cân: Cân con vật định kỳ 15 ngày một lần để xác định
sự gia tăng trọng lượng con vật trong tháng (cần vào giữa tháng và ngày cuối cùng của tháng)
Xác định tăng trưởng tương đối theo trọng lượng cơ thể (RP%):
RP% = (P2 – P1)/((P2 + P1)/2)*100%
Trong đó: P1: là trọng lượng cơ thể ở lần đo cuối tháng trước
P2: là trọng lượng cơ thể con vật lần đo cuối tháng sau + Tăng trưởng tương đối về chiều dài (mm)
Phương pháp đo: Khi đo tay giữa đầu kỳ đà áp sát thân con vật xuống đất (tránh con vật cắn), kéo thẳng con vật, tay giữ gốc đuôi (tránh
bị quật) đo chiều dài từ mút mõm đến mút đuôi (mm)
Xác định tăng trưởng tương đối theo chiều dài
RP% = (L2 – L1)/((L2 + L1)/2)*100%
Trong đó: L1: Là chiều dài cơ thể ở lần đo cuối tháng trước
L2: là chiều dài cơ thể con vật lần đo cuối tháng
Trang 131.3.5 Phương pháp thực hiện nội dung 5 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản cơ bản của kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt
+ Bố trí thí nghiệm
Công thức thí nghiệm: Tỷ lệ đực cái được ghép đôi theo công thức:
1 đực/ 1 cái, 1 đực 2 cái, 1 đực 3 cái mỗi công thức 3 lần nhắc lại
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh sản
Theo dõi, ghi chép tỷ mỷ các biểu hiện của con vật như: Các biểu hiện khi động dục của con vật, thời gian ghép đôi, số trứng trong một lứa, mùa sinh sản
+ Nghiên cứu chất lượng trứng
Trứng đẻ ra đem xác định khối lượng trứng, chỉ số hình dạng trứng CSHD = D/d (D là đường kính lớn nhất của trứng, d là đường kính nhỏ)
+ Khả năng ấp nở bằng phương pháp nhân tạo
Trứng được đẻ ra đem ấp ở nhiệt độ trong khoảng từ 28 – 320C, độ
ẩm 80 – 90%
+ Xác định: tỷ lệ trứng có phôi (%), tỷ lệ ấp nở (%), tỷ lệ nuôi sống (%), thời gian ấp (ngày), trọng lượng của kỳ đà mới nở (g)
Trứng của kỳ đà sẽ nở sau 80 – 90 ngày, trong quá trình ấp hàng ngày theo dõi nhiệt độ, độ ẩm thường xuyên
1.3.6 Phương pháp nghiên cứu nội dung 6: Đánh giá tình hình bệnh tật của Kỳ đà
Trong quá trình nghiên cứu quan sát, theo dõi, phát hiện các cá thể
bị bệnh, các loại bệnh tật thường gặp ở Kỳ đà từ đó tìm hiểu các nguyên nhân, triệu chứng bệnh cho từng loại bệnh, từ đó đề xuất các biện pháp phòng, chữa bệnh hiệu quả
- Dựa trên các kết quả quan sát các thí nghiệm, tổng hợp đề xuất xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi Kỳ đà
Trang 14CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
2.1 Kết quả điều tra khảo sát hiện trạng Kỳ đà
2.1.1 Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, tập tính của Kỳ đà hoa trong môi trường tự nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường nhé
2.1.1.1 Thức ăn của Kỳ đà hoa trong điều kiện tự nhiên
Qua quá trình điều tra khảo sát trên 5 tuyến, phỏng vấn 28 người dân địa phương có kinh nghiệm trong nghề rừng chúng tôi đã thống kê được thành thức ăn của kỳ đà bao gồm các loại sau
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn của Kỳ đà trong điều kiện tự nhiên
Trang 15Như vậy, trong môi trường nuôi nhốt ta có thể cho Kỳ đà ăn cá, cóc, nghóe, đây là những nguồn thức ăn tương đối phong phú và dễ kiếm
2.1.1.2 Nơi sống của Kỳ đà
Qua quá trình điều tra khảo sát chúng tôi thấy môi trường sống của
Kỳ đà rất phong phú, chúng thường sống trong các gốc cây, hốc đá, kẽ hở của đất đá Kỳ đà thường bơi lội và kiếm ăn trong hay gần các lưu vực nước đặc biệt là những suối nhiều nước, có nước quanh năm Ban ngày thường phơi mình trên các mỏm đá hay thân cây đổ để tắm nắng, trong những ngày trời nắng
Hình 2.1 Sinh cảnh sống của Kỳ đà hoa (Ảnh phải Suối Chung chải, ảnh trái
Suối Nậm La, xã Mường nhé)
Trang 162.1.1.3 Hang ổ của Kỳ dà
Hang ổ của kỳ đà khá đơn giản chúng thường lợi dụng những khe
đá, những hốc đất, hốc cây ven khe suối, hay đào hang bên các bãi cát ít người qua lại ven suôi
Các hang và nơi hoạt động kiếm ăn của kỳ đà chủ yếu ở gần các lưu vực nước như vậy trong môi trường nuôi nhốt ta có thể bố trí hệ thống các
bể nước để kỳ đà hoạt động
2.1.2 Kết quả khảo sát hộ gia đình chăn nuôi kỳ đà
Nhóm đã tiến hành khảo sát 02 mô hình chăn nuôi tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Số lượng nuôi nhốt của hai hộ gia đình là 50 cá thể, mỗi các thể nặng khoảng 3 kg bắt đầu nuôi vào khoảng tháng 3 – 4 năm 2013
- Chọn giống Kỳ đà
Chọn những con to khỏe có kích thước trung bình trở lên Chọn con giống để nuôi thương phẩm khi kỳ đà khoảng 3-4 tháng tuổi, trọng lượng đạt 0,5 – 1 kg kg/con
Nhận biết con cái con đực: Cách nhận biết kỳ đà đực, kỳ đà cái bằng cách lật ngửa bụng con kỳ đà để quan sát gốc đuôi và lỗ huyệt:
- Kỳ đà đực: Gốc đuôi phồng to, lỗ huyệt lồi và có gờ, khi bóp vào gốc đuôi sẽ thấy gai giao cấu màu đỏ thẫm lòi ra ở lỗ huyệt
- Kỳ đà cái: Đuôi thon nhỏ, lỗ huyệt nhỏ lép, khi bóp vào gốc đuôi không có gai giao cấu lòi ra
- Sinh sản của kỳ đà
Chọn con giống sinh sản nên chon con to khỏe (3 kg trở lên), không
bị bệnh hay mang dị tật, da sáng màu
Trang 17Kỳ đà hiện nay ở Việt Nam nói chung và đặc biệt khu vực phía bắc việc nhân giống rất khó thành công vì vậy các hộ gia đình nuôi thương phẩm là chủ yếu Nguồn giống chủ yếu lấy từ các tỉnh phía miền Trung ra Các hộ gia đình cũng tiến hành nhân giống vào năm 2012 nhưng công thành công, nguyên nhân do ở miền bắc có mùa động lạnh vào thời gian này kỳ đà thường chết mặt khác việc ấp trứng cũng rất khó thành công
Các hộ gia đình thường bắt đầu nuôi kỳ đà vào khoảng tháng 4 vì thời tiết lúc này bắt đầu nóng, thích hợp cho kỳ đà sinh trưởng và phát triển và khi kỳ đà được khoảng 3.5 kg một con thì bán (bán trước mùa đông vào khoảng tháng 10 – 11)
- Chuồng trại chăn nuôi Kỳ đà
Qua quá trình khảo sát tại hộ gia đình chúng tôi thấy chuồng nuôi
Kỳ đà khá đơn giản và thường có 01 dạng kiểu chuồng như sau:
Chuồng nuôi Kỳ đà nên bố trí trong vườn nhà Chuồng trại 4 mặt được xây bằng gạch cao 1,5 mét được trát xi măng nhẵn, mặt trên được căng lưới thép B40, mắt lưới nhỏ Phần hang trú ẩn được lợp bằng phibro
xi măng Khu vực nuôi có điện tích từ 20 – 30 m2 Chuồng được chia làm
3 khu (hình 3.1)
+ Chuồng cho Kỳ đà trú ẩn phần này được cao khoảng 0,8 m và rộng 1 mét dài khoảng 3 mét (có thể chia làm 3 ngăn) được lợp bằng Phibro xi măng bên trên có thể phủ cành là cây để tránh nắng
+ Khu sân chơi rộng khoảng 5 – 10 mét vuông dùng để cho kỳ đà tắm nắng hoạt động và ăn uống Khu này nên đổ đất cát pha hay trồng cỏ, cây thấp để tranh nắng trong những ngày nắng nóng
Trang 18+ Khu bể bơi: Tùy theo diện tích chuồng mà bố trí cho phù hợp bể sâu khoảng 50 cm dài 2 mét và rộng 1 mét Nếu bể nhỏ phải thay nước thường xuyên
4 m
3 m Hình 2.2 Sơ đồ chuồng nuôi kỳ đà hộ gia đình
Trang 19Cá lớn cắt khúc nhỏ khoảng 20 g cho ăn tươi sống
6
Chuột Cả con Chuột nhỏ để cả con,
chuột lướn chắt khúc nhỏ khoảng 20 g
Rửa sạch, chắt khúc nhỏ cho ăn tươi sống Chú ý loại bỏ
mỡ trước khi cho Kỳ
đà ăn Mỗi ngày cho Kỳ đà ăn 1 lần vào khoảng từ 10 h sáng đến 15 h chiều thì dọn sạch phần thức ăn thừa Nếu trong thời gian chăn nuôi mà thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ xuống thấp trời lạnh thì dừng cho Kỳ
Trang 20đà ăn vì kỳ đà ăn trong khoảng thời gian này dễ bị bệnh tiêu chảy vì thức
ăn khó tiêu
Qua quá trình phỏng vấn các hộ gia đình cho biết thức ăn yêu thích
nhất của Kỳ đà là Cóc ((Mabuya multifasciata) và Ngóe (Limnonectes
limnocharis) Tuy nhiên những thức ăn này rất tốn kém và đắt tiền nên có
thể mua cá, phế thải lò mổ hay gà thải loại về cho Kỳ đà ăn để phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Khẩu phần ăn hàng ngày của kỳ đà, đây là loài ăn thịt cho lên nhu cầu lượng thức ăn không cao nên cho ăn bằng 10 % trọng lượng cơ thể của chúng (cho 2 -3 ngày ăn) Trước khi cho ăn vệ sinh sạch sẽ máng ăn
- Phương pháp chăm sóc và phòng trị bệnh cho kỳ đà
Trong quá trình nuôi cần chú ý các bước sau
+ Sau mỗi ngày phải vệ sinh sạch sẽ chuồng trại loại bỏ phân và các thức ăn thừa trong chuồng trại
+ Định kỳ cân 1 tháng 1 lần để biết tăng trọng của kỳ đà Những cá thể nhỏ cần nhốt riêng chăm sóc và cho ăn riêng
+ Định kỳ 1 tháng 01 lần chộn thuốc cho kỳ đà ăn hay uống thuốc chống tiêu chảy
2.2 Nghiên cứu tập tính của kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt
Quá trình nghiên cứu kỳ đà hoa trong điều kiện nuôi, chúng tôi đã ghi nhận được một số tập tính cơ bản của kỳ đà hoa; điều này là rất cần thiết bởi hiểu được tập tính của chúng sẽ tạo cơ sở chủ động trong việc nhân nuôi
Trang 212.2.1 Tập tính bắt mồi
Quan sát 31 lần bắt mồi của kỳ đà hoa, chúng tôi thấy có sự khác nhau giữa việc sử dụng thức ăn động (cóc, ngoé, thằn lằn bóng) và thức ăn tĩnh (phổi, da) Nhìn chung có 3 giai đoạn chính là: rình mồi, đớp mồi và nuốt mồi
Giai đoạn rình - tiếp cận mồi:
Kỳ đà phát hiện mồi bằng cơ quan Jacốpson và sự cử động của lưỡi chẻ đôi Khi ra khỏi hang kỳ đà thường kết hợp giữa động tác bò chậm rãi, rón rén với sự cử động thò ra thụt vào của lưỡi Kỳ đà phản ứng với thức
ăn tĩnh chậm, khoảng 1-3 phút và thường có sự thăm dò cẩn thận Với mồi động thì chúng cảm nhận cả bằng mắt, tai và mũi nên thời gian phát hiện sớm hơn so với mồi tĩnh, chỉ 5-15 giây chúng đã hướng về phía con mồi, chúng tiến gần mục tiêu và đớp lấy con mồi cực nhanh, thời gian khoảng 0,5 - 0,6 giây
Giai đoạn ngoạm - đớp mồi:
Với thức ăn tĩnh, việc đớp mồi diễn ra rất thong thả, chúng há miệng ngoạm lấy thức ăn nuốt chậm rãi, nếu nhiều miếng dính vào nhau thì chúng dùng chân trước để giữ các miếng sau khi nuốt xong chúng lại tiếp tục há miệng ngoạm lấy miếng khác Với thức ăn động, chúng đớp vào phần ngang thân của con vật, chúng ngoạm chặt con vật và dùng sức mạnh của cử động cổ để lắc và đập con mồi xuống nền để con mồi chết chúng mới nuốt, nếu con vật quá to chúng dùng chân trước giữ mồi phối hợp với răng để xé con mồi ra thành những phần nhỏ
Giai đoạn nuốt mồi:
Sau khi đã ngậm con mồi trong miệng khoảng 2-5 giây kỳ đà bắt đầu nuốt Trong khi nuốt mồi, chúng cử động cổ theo hướng phải-trái, có
Trang 22khi chúng cố ưỡn cổ ra phía trước, mắt nhắm lại để đẩy con vật vào sâu hơn
2.2.2 Tập tính sử dụng nước
Kỳ đà là một loài động vật mà sự hoạt động của chúng gắn liền với nguồn nước, chúng thường sống gần các nguồn nước: bờ sông, bờ suối
Kỳ đà sử dụng nước như phương tiện trốn tránh kẻ thù: Khi cảm thấy có
sự nguy hiểm, kỳ đà thường lao rất nhanh từ trên cây, lưới sắt, trần hang xuống bể nước để lẩn trốn Chúng có thể ngâm mình dưới nước liên tục đến 30 phút Kỳ đà thường xuyên tắm mình trong bể nước, sau khi ăn mồi xong chúng xuống bể nước ngâm khoảng 5-15 phút, rồi lại tiếp tục lên ăn mồi
Thường gặp khi nhiệt độ cao, kỳ đà ra tắm từ rất sớm và thời gian chúng ngâm mình trong bể nước cũng lâu hơn
2.2.3 Tập tính tắm nắng
Kỳ đà là loài động vật biến nhiệt Nhiệt độ là yếu tố khởi động nhịp sinh học hoạt động mùa và hoạt động ngày đêm Trong mùa đông khi nhiệt độ môi trường xuống thấp kỳ đà thường trú trong hang Những hôm trời nắng to kỳ đà thường bò ra khỏi hang, trèo bám vào lưới sắt hoặc nằm dưới nền đất để sưởi ấm Khi sưởi khỏi hang, trèo bám vào lưới sắt hoặc nằm dưới nền đất để sưởi ấm Khi sưởi nắng cơ thể chúng thường duỗi thẳng trên nền đất để diện tích tiếp xúc với ánh nắng mặt trời là lớn nhất Khi mặt trời dịch bóng chúng cũng dịch chuyển vị trí phù hợp với hướng chiếu xuống của mặt trời Thời gian tắm nắng kéo dài 15 - 45 phút tuỳ thuộc vào mùa
Trang 232.2.4 Tập tính lẩn trốn và đe doạ kẻ thù
Kỳ đà cũng như các loài động vật khác, chúng có tập tính tự vệ rất phong phú
Khi gặp những mối đe doạ bất ngờ kỳ đà hoa thường lao mình rất nhanh từ cành cây, bờ tường xuống bể nước, chúng trốn trong đó cho đến khi cảm thấy an toàn mới bò ra khỏi bể nước
Kỳ đà hoa có đuôi dài, sắc và rất khoẻ, do đó đuôi là một vũ khí lợi hại để chống lại kẻ thù Khi kẻ thù ở gần chúng thường tự vệ bằng cách quay đuôi lại về phía kẻ thù, dùng sức mạnh của đuôi để tấn công kẻ thù Bên cạnh dùng sức mạnh của đuôi, kỳ đà ngoảnh đầu về phía đối thủ, hai chân trước nâng phần trước lên vẻ rất dũng mãnh, cổ trương lên, miệng rít những tiếng dài, liên hồi tỏ ý không hề sợ hãi Với sự phản kháng đó, nếu
kẻ thù vẫn tiếp tục tấn công thì kỳ đà thường lùi dần dần để lẩn trốn
2.2.5 Hoạt động theo mùa của Kỳ đà
Có thể chia thời gian hoạt động trong chu kỳ một ngày đêm của Kỳ
đà thành 2 dạng chính là thời gian hoạt động tĩnh và thời hoạt động tích cực Hoạt động tĩnh bao gồm ngủ và nghỉ ngơi Hoạt động tích cực bao gồm tất cả các hoạt động còn lại của Kỳ đà như di chuyển, ăn, uống, chơi đùa, Số liệu quan sát thời gian hoạt động của Kỳ đà thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.3 Phân bố thời gian hoạt động tích trung bình của cá thể Kỳ
đà
Năm Tháng
Dạng hoạt động Hoạt động tích cực Thời gian ngủ
Trang 24Hình 2.3 Biểu đồ hoạt động của Kỳ đà các thời gian trong năm
Qua số liệu nghiên cứu cho thấy mùa hoạt động của Kỳ đà bắt đầu
từ tháng 3 cho đến tháng 11 trong năm
Đầu mùa hoạt động (cuối tháng tháng 3) nhiệt độ môi trường tăng dần lên so với giai đoạn trước đó vào tháng (12, 1, 2) đây là dấu hiệu khởi động cho quá trình hoạt động của kỳ đà Lúc này Kỳ đà bắt đầu ra khỏi hang để kiếm ăn nhằm bù lại phần năng lượng đã tiêu tôn trong quá trình trú đông cũng như năng lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng và các
Trang 25quá trình sinh lý khác Trong giai đoạn này nhiệt độ môi trường còn tương đối thấp, kỳ đà chủ yếu là hoạt động sưởi nắng để nâng cao thân nhiệt
Giữa mùa hoạt động: Ứng với thời gian từ tháng 4 đến cuối tháng
10 kỳ đà thường ra khỏi hang sớm và kết thúc hoạt động ngày muộn hơn các giai đoạn khác Từ tháng 4 đến tháng 5, hoạt động của kỳ đà mạnh mẽ hơn tháng 3 và đạt cực đỉnh vào tháng 6 đến tháng 8 vì lúc này nhiệt độ và
độ ẩm là cao nhất, thích hợp cho kỳ đà sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên thời điểm này độ ẩm tương đối thấp chỉ khoảng 70% (gió Lào) cho nên Kỳ đà thường có hiện tượng tắm mình trong bể nước với thời gian dài
để điều hòa thân nhiệt
Cuối mùa hoạt động ứng với thời gian từ tháng 10 đến tháng 12, thời gian này nhiệt độ môi trường đã giảm xuống so với giai đoạn trước nhưng vẫn tương đối thuận lợi cho hoạt động của kỳ đà hoa
Mùa trú đông (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau) thời gian này kỳ
đà nằm trong chuồng không ra và rất ít hoạt động Kỳ đà thường ra khỏi chuồng vào những hôm trời nắng to, chúng trèo vào bám vào lưới sắt, hay
ra nằm dưới các tấm phibro xi măng để sưởi ấm Khi trú đông chúng nằm thành từng đám trong chuồng những hôm trời rét đậm chúng có hiện tượng làm cuộn tròn lại với nhau
2.2.6 Quá trình lột xác của Kỳ đà trong điều kiện nuôi nhốt
Kỳ đà hoa thuộc lớp Bò sát được bao bọc bởi lớp vảy sừng đặc trưng có tác dụng bảo vệ con vật khỏi những tác động bất lợi của môi trường Trong quá trình sống lớp vỏ này luôn được thay thế bằng lớp vỏ mới Đây là hoạt động sinh lý của con vật nó phản ánh quá trình sinh trưởng và phát triển của con vật
2.2.6.1 Các giai đoạn của quá trình lột xác
Trang 26Căn cứ vào những dấu hiệu diễn biến của quá trình lột xác chúng tôi chia ra làm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị lột xác, giai đoạn lột xác chính thức và giai đoạn sau khi lột xác
- Giai đoạn chuẩn bị lột xác
Giai đoạn này kéo dài từ 2 đến 5 ngày, với các dấu hiệu sau:
Khi bước vào giai đoạn chuẩn bị lột xác con vật có biểu hiện uể oải kém hoạt động và ăn ít Da con vật lúc này trông rất nhợt nhạt và khô, giai đoạn đầu mắt đỏ chuyển dần sang màu trắng nhợt sau đó màu mắt trở lại bình thường Con vật liên tục xuống nước nhiều lần trong ngày
- Giai đoạn lột xác chính thức
Đây là giai giai đoạn con vật trút bỏ lớp vỏ cũ để thay bằng lớp vỏ mới Có hai hình thức lột xác:
Hình thức thứ 1:
Con vật ngâm mình trong
nước, đầm mình trong bùn cho lớp
da cũ bết vào bùn sau đó bùn khô
và tự bong ra kéo theo lớp da cũ
Hình thức thứ 2:
Con vật thường bò ra khỏi
nơi trú ẩn, quan sát và lựa chọn địa
điểm (giá thể) và thời điểm thích
hợp để lột xác Xác lột ra của kỳ đà không nguyên vẹn mà là sự bong ra của các mảng da ở các phần khác nhau Trong quá trình lột xác có sự đan xen về thời gian lột xác giữa các phần khác nhau của cơ thể Căn cứ vào
vị trí lột xác của cơ thể chúng tôi chia ra các giai đoạn:
Hình 2.4 Lột xác ở phần đầu
Trang 27Hình 2.5 Lột xác ở phần chi và đuôi
Lột da phần đầu (Hình 3.3): Khi bắt đầu lột xác kỳ đà tiến đến gần
và cọ gáy vào giá thể (thành hang, gốc cây, thành bể nước) hoặc ủi xuống nền đất để da cũ bong ra
Lột da phần thân: Kỳ đà thường chà xát lưng vào thành cửa chuồng, gốc cây để các mảng da lưng bong ra, chúng lúc lắc phần thân để tấm da lưng cũ được rách ra thành những mảng nhỏ, từ những vết rách đó cùng với sự cử động của thân đã làm bong các mảng da Khi làm bong phần da bụng, kỳ đà thường bò đến những ụ đất hoặc thành bể để da bụng cọ xát vào giá thể làm bong dần các mảng da
Lột da phần chi (hình 3.4):
Sự vận động của con vật đã làm
rách phần da giữa nách, bẹn và
phần da thân, trong quá trình da
chi được bong theo chiều từ trong
ra đến tận cùng các ngón chân
Lột da phần đuôi: Trong
quá trình lột xác, đuôi là phần
được bong ra sau cùng Các mảng
da đuôi được bong ra nhờ sự cử động nhịp nhàng của đuôi
- Giai đoạn sau lột xác
Đây là khoảng thời gian
sau khi trút bỏ lớp vỏ cũ đến chu
kỳ lột xác tiếp theo Lớp vỏ cũ
bong ra thay ào đó là một lớp vỏ
mới, bóng đẹp và lộ nét hoa văn
rõ ràng Sau lột xác hoạt động
dinh dưỡng của kỳ đà tăng lên Hình 2.6 Kỳ đà sau khi lột xác
Trang 282.3 Nghiên cứu xác đinh thức ăn của kỳ đà
2.3.1 Thành phần thức ăn của Kỳ đà
2.3.1.1 Thành phần thức ăn của kỳ đà nhỏ (1-4 tháng tuổi)
Dựa vào thông tin qua nguồn tài liệu, qua phỏng vấn người dân địa phương và các chuyên gia chăn nuôi chúng tôi đã tiến hành các thí nghiệm khác nhau, chúng tôi xác định được danh lục thức ăn của Kỳ đà con như sau:
Bảng 2.4 Thành phần thức ăn của kỳ đà con
Chặt từng miếng nhỏ, mỗi miếng 1 –
Chặt từng miếng nhỏ, mỗi miếng 1 –
2 g
3 Châu chấu Sử dụng thân Loại bỏ hết chân
4 Dế mèn Thân Loại bỏ chân và đầu
2.3.1.2 Thành phần thức ăn của Kỳ đà hậu bị và trưởng thành
Kỳ đà là loài bò sát ăn thịt và ăn tạp, chúng có thể ăn nhiều loại động vật và côn trùng khác nhau, kỳ đà thường thích săn bắt và ăn những con mồi sống, nhưng với con mồi chết kỳ đà cũng ăn được Thức ăn của
kỳ đà là cóc, ếch, nhái, gà, vịt, tôm, cá, cua, chuột, ốc, chim chóc, thịt động vật các loại, hay thịt thứ cấp, có thể dùng phụ phẩm động vật để
Trang 29heo,…) Những loài côn trùng cũng là thức ăn của kỳ đà như: sâu bọ, cào cào, châu chấu, chuồn chuồn, cánh cam, nhện, mối, gián, ong, bướm, hoặc
có thể tập cho kỳ đà ăn trứng gia cầm
Dựa vào thông tin qua nguồn tài liệu, qua phỏng vấn thợ săn và các chuyên gia chăn nuôi chúng tôi đã tiến hành thí 10 thí nghiệm cho kỳ đà
ăn nhiều loại thức ăn khác nhau và xác định được danh lục thức ăn như sau: