1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO KHOA HỌC NGHIÊN CỨU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁC VĂN NGHỆ SĨ CẦN THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG DANH, HUỲNH NĂNG NHIÊU, ĐIÊU HUYỀN, QUỐC THANH, CHÍ SINH

181 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở tổng quan tài liệu về kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đất Cần Thơ vào nửa đầu thế kỷ XX, trong hai cuộc kháng chiến, lịch sử hình thành và một số lý thuyết cơ bản về nghệ thuật

Trang 1

SỞ VHTT TP CẦN THƠ UBND THÀNH PHỐ CẦN THƠ BẢO TÀNG THÀNH PHỐ SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁC VĂN NGHỆ SĨ CẦN THƠ:

NGUYỄN PHƯƠNG DANH, HUỲNH NĂNG NHIÊU, ĐIÊU HUYỀN,

NĂM 2006

Trang 2

BÁO CÁO KHOA HỌC

NGHIÊN CỨU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁC VĂN NGHỆ SĨ CẦN THƠ:

NGUYỄN PHƯƠNG DANH, HUỲNH NĂNG NHIÊU, ĐIÊU HUYỀN,

QUỐC THANH, CHÍ SINH

- CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : CN HOÀNG BỬU HIẾU

- CƠ QUAN CHỦ TRÌ : BẢO TÀNG TP CẦN THƠ

- CƠ QUAN QUẢN LÝ : SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

TP CẦN THƠ

NĂM 2006

Trang 3

NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

Chủ nhiệm đề tài:

Bà Hoàng Bửu Hiếu, Cử nhân Văn hóa,

Giám đốc Bảo tàng TP Cần Thơ

Phó Chủ nhiệm đề tài:

1 Soạn giả Nhâm Hùng, Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Ủy

viên Thường vụ Hội Văn học Nghệ thuật TP Cần Thơ, Chuyên viên Sở Văn hóa Thông tin TP Cần Thơ

2 Ông Huỳnh Đỉnh Chung, Cử nhân Văn hóa, Phó Giám đốc Bảo tàng TP

Cần Thơ

Cán bộ tham gia thực hiện:

1 Soạn giả Nhâm Hùng, Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Ủy

viên Thường vụ Hội Văn học Nghệ thuật TP Cần Thơ, Chuyên viên Sở Văn hóa Thông tin TP Cần Thơ, nghiên cứu về Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Phương Danh (Tám Danh) và Nghệ sĩ Huỳnh Năng Nhiêu (Bảy Nhiêu)

2 Ông Thái Ngọc Anh, Cử nhân Văn hóa, Trưởng Phòng Quản lý Nghiệp

vụ - Sở Văn hóa Thông tin TP Cần Thơ, nghiên cứu về Soạn giả Điêu Huyền

3 Ông Nguyễn Trung Vinh, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh

Cần Thơ, nguyên Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cần Thơ, nghiên cứu về Soạn giả Quốc Thanh và Soạn giả Chí Sinh

4 Bà Nguyễn Thị Mỹ, Cử nhân Khoa học, Trưởng Phòng Kiểm kê - Bảo

quản - Bảo tàng TP Cần Thơ, Thư ký Ban Chủ nhiệm đề tài

5.Bà Nguyễn Lê Thanh Trúc, Kế toán - Bảo tàng TP Cần Thơ

***

Trang 4

TÓM TẮT NỘI DUNG, KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Nhằm có thêm tài liệu khoa học, khẳng định sự đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc, văn hóa Cần Thơ - Đề tài nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của 5 văn nghệ sĩ, quê quán ở Cần Thơ đã qua đời, được tiến hành từ năm 2004 đến nay Nhóm tác giả đã sưu tầm, tra cứu nhiều nguồn tư liệu, gặp gỡ nhân chứng, gia đình các nghệ sĩ

Trên cơ sở tổng quan tài liệu về kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đất Cần Thơ vào nửa đầu thế kỷ XX, trong hai cuộc kháng chiến, lịch sử hình thành và một

số lý thuyết cơ bản về nghệ thuật sân khấu cải lương Qua kiểm chứng, đối chiếu

tư liệu, thảo luận đã cho thấy phạm vi nghiên cứu vượt xa hơn mục tiêu của đề

tài Báo cáo khoa học được thực hiện với những nội dung trọng tâm:

- Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Phương Danh, nghệ danh Tám Danh 1976), với sự nghiệp kép hát lừng danh; sự nghiệp đạo diễn để lại dấu ấn quan trọng: đưa “vũ đạo vào sân khấu cải lương”; sự nghiệp đào tạo - nghiên cứu lý luận: biên soạn được tập giáo trình, đưa vào giảng dạy nhiều thế hệ diễn viên trong Nam, ngoài Bắc Ngoài ra, ông còn có sự nghiệp chính trị khá dày dạn, giữ nhiều cương vị cao trong giới văn học nghệ thuật Ông cùng với nghệ sĩ Bảy Nhiêu, thuộc lớp tiên phong, có công xây dựng và phát triển nền nghệ thuật cải lương ở thời kỳ rực rỡ nhất

(1901 Nghệ sĩ Huỳnh Năng Nhiêu, nghệ danh Bảy Nhiêu: có nhiều sáng tạo trong cách ca, lối diễn Sự nghiệp sáng tác: có hàng chục vở tuồng và bản nhạc

Hoài tình nổi tiếng rất lâu Ông còn đưa ra nhiều cung cách quản lý (Bầu gánh)

khá thành công Đặc biệt, đã viết nhiều thiên hồi ký báo chí, có giá trị lịch sử về sân khấu cải lương

- Soạn giả Điêu Huyền, đóng góp nhiều cho sân khấu kháng chiến chống Pháp ở Cần Thơ Là một soạn giả hàng đầu của sân khấu cải lương miền Nam trước và sau ngày giải phóng, trong vùng địch tạm chiếm, biên soạn và hợp soạn

nhiều vở tuồng mang tính kinh điển: Tiếng hò Sông Hậu, Tìm lại cuộc đời,

Khách sạn Hào Hoa,

- Soạn giả Quốc Thanh và Soạn giả Chí Sinh hoạt động trong thời kháng chiến chống Mỹ ở tỉnh Cần Thơ Hai tác giả có nhiều công lao trong xây dựng, lãnh đạo Đoàn Văn công Cần Thơ; sáng tác và ứng dụng tốt tác phẩm cải lương ngắn, mang tính thời sự cao, hiện nay còn lưu lại một số tác phẩm có giá trị

Kết luận, nhóm tác giả đã nêu lên những phát hiện mới và hiệu quả của đề tài; khẳng định tầm vóc và sự đóng góp của các văn nghệ sĩ nêu trên

Mặt hạn chế nêu một số lĩnh vực nghệ thuật khác có liên quan tới Nghệ sĩ Nhân dân Tám Danh, nghệ sĩ Bảy Nhiêu chưa được làm rõ Sự nghiệp hoạt động nghệ thuật của các soạn giả Quốc Thanh, Chí Sinh còn thiếu độ dày

Phần kiến nghị các hướng phát huy của đề tài: in sách, làm phim, tài liệu giảng dạy ở trường nghệ thuật, nghiên cứu, chọn tên các văn nghệ sĩ nêu trên để đặt tên trường, tên đường, đơn vị nghệ thuật

Cuối cùng là các phần: tài liệu tham khảo, phụ lục danh mục hoạt động sân khấu cải lương và các hiện vật có liên quan đến đối tượng nghiên cứu./

Trang 5

MỤC LỤC

VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG

1.1 Cần Thơ với những bước phát triển ban đầu

1.2 Cần Thơ trong hai thời kỳ kháng chiến

1.3 Khởi phát về văn hóa

1.4 Lược sử nghệ thuật cải lương Nam bộ và sự phát triển cải

lương Cần Thơ

1.4.1 Đờn ca tài tử ra đời

1.4.2 Hình thức ca ra bộ, một bước phát triển mới

1.4.3 Phong trào thành lập những “gánh hát kim thời”

1.4.4 Nghệ thuật cải lương định hình và phát triển vào thập niên 20

(thế kỷ XX)

1.5 Sân khấu cải lương Cần Thơ trong hai cuộc kháng chiến

1.5.1 Cải lương Cần Thơ trong chín năm kháng chiến chống thực

dân Pháp

1.5.2 Cải lương Cần Thơ thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ

1.6 Quê hương các văn nghệ sĩ

1.6.1 Mấy nét về vùng đất Nhơn Nghĩa (Phong Điền, Cần Thơ) nơi

sinh của Nghệ sĩ Nhân dân Tám Danh và soạn giả Điêu Huyền

1.6.2 Mấy nét về vùng đất Thốt Nốt (Cần Thơ) nơi sinh của nghệ sĩ

Bảy Nhiêu

1.6.3 Mấy nét về vùng đất Long Thạnh (Phụng Hiệp, Hậu Giang) nơi

sinh của soạn giả Quốc Thanh

1.6.4 Mấy nét về vùng đất Thường Thạnh (Cái Răng, Cần Thơ) nơi

sinh của soạn giả Chí Sinh

Chương 2

KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG

VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 6

2.1 Một số lý thuyết về nghệ thuật cải lương

2.1.1 Tuồng (kịch bản) cải lương, là khâu quan trọng đầu tiên

2.1.2 Công việc dàn dựng - đạo diễn

2.1.3 Nghệ thuật biểu diễn

2.1.4 Các hình thức hỗ trợ khác

2.1.5 “Gánh cải lương” và “Bầu gánh”

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Xây dựng đề cương, xác định rõ mục tiêu, nội dung, phạm vi,

địa bàn nghiên cứu

2.2.2 Phỏng vấn nhân chứng, thân nhân

2.2.3 Xử lý tài liệu

2.2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3 Nhận định chung

Chương 3

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 Cuộc đời, sự nghiệp của Nghệ sĩ Nhân dân Tám Danh

(Nguyễn Phương Danh, 1901-1976)

3.1.1 Tiểu sử

3.1.2 Sự nghiệp diễn viên (kép hát) với những nét nổi bật

3.1.3 Sự nghiệp đạo diễn, dàn dựng

3.1.4 Sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu lý luận

3.1.5 Sự nghiệp quản lý và sự nghiệp chính trị

3.2.4 Sự nghiệp quản lý (bầu gánh) và kinh doanh nghệ thuật

3.2.5 Sự nghiệp viết báo (trang kịch trường) với những thiên hồi ký

Trang 7

4/ Kiến nghị hướng phát huy đề tài

Mấy ý kiến cuối cùng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Danh mục hoạt động sân khấu của nghệ sĩ Huỳnh Năng Nhiêu

- Danh mục hiện vật, tài liệu liên quan đến Nghệ sĩ Nhân dân Tám

Danh và nghệ sĩ Bảy Nhiêu

- Danh mục hiện vật, tài liệu liên quan đến soạn giả Điêu Huyền

- Danh mục hình ảnh, tư liệu của soạn giả Quốc Thanh và soạn giả

Chí Sinh

- Hình ảnh: chân dung và những hoạt động liên quan đến Nghệ sĩ

Nhân dân Nguyễn Phương Danh, nghệ sĩ Huỳnh Năng Nhiêu, soạn

giả Điêu Huyền, soạn giả Quốc Thanh và soạn giả Chí Sinh

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

Vùng đất Cần Thơ xưa và nay vẫn là nơi ươm mầm cho nhiều tài năng văn học nghệ thuật, với những tên tuổi đã được biết đến: Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị, soạn giả Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước…

Tiếp tục khám phá, tìm hiểu về những danh nhân xứ sở miệt vườn, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp văn hóa nước nhà cũng như địa phương, lần này, Sở Văn hóa Thông tin - Bảo tàng Cần Thơ đi vào lĩnh vực nghệ thuật sân khấu cải lương, thực hiện đề tài nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp những văn nghệ sĩ quê quán ở Cần Thơ đã qua đời, thuộc các thế hệ trước

Cải lương là loại hình nghệ thuật sân khấu, một ngành kịch hát dân tộc, tuy còn non trẻ nhưng do theo kịp với trào lưu, nhịp sống mới của thời đại nên chưa đầy một thế kỷ đã có sự vươn lên mạnh mẽ, trở thành niềm đam mê, món

ăn tinh thần không thể thiếu của hàng triệu người, một nét văn hóa Nam bộ mang tính đặc trưng

Trong sự phát triển đó, vùng đất Cần Thơ lâu nay luôn tự hào là một trong những cái nôi sinh thành và thúc đẩy ngành nghệ thuật cải lương lớn lên Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ, bầu gánh, soạn giả nổi tiếng xuất thân từ “Tây Đô”, góp phần đưa cải lương Cần Thơ đi khắp lục tỉnh, trong cả nước và hải ngoại Vì vậy, việc nghiên cứu sâu về những con người Cần Thơ, đã góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật dân tộc này, giờ đây rất cần thiết và có ý nghĩa tích cực Điều đó, thực hiện đúng chủ trương bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng

Trên tinh thần đó, dựa vào nền tảng lý thuyết về lịch sử hình thành và phát triển cũng như đặc điểm, đặc trưng của nghệ thuật sân khấu cải lương, trong đề

tài này, nhóm tác giả quan tâm nghiên cứu nội dung trọng tâm: Tiểu sử, sự

nghiệp của 5 văn nghệ sĩ Cần Thơ, với những nét nổi bật nhất, tiêu biểu nhất,

theo trình tự hoạt động và thời gian:

1 Nghệ sĩ Nhân dân Tám Danh, quê ở Nhơn Nghĩa, Phong Điền, Cần Thơ, các lĩnh vực: nghệ thuật biểu diễn cải lương qua những vai diễn để đời, sự nghiệp làm “Bầu gánh” Đặc biệt là những nỗ lực vượt qua gian khó trong tham gia 9 năm kháng chiến chống Pháp ở miền Nam cũng như những đóng góp và thành quả to lớn của ông trong xây dựng nền sân khấu cải lương cách mạng ở giai đoạn tập kết ra miền Bắc, khẳng định tầm vóc lớn của một nghệ sĩ Nam bộ được Bác Hồ yêu mến

2 Nghệ sĩ Bảy Nhiêu, quê ở Thốt Nốt, Cần Thơ thuộc lớp nghệ sĩ tiên phong, một thời lừng danh trong và ngoài nước, có nhiều thành tựu nổi bật trong nghệ thuật biểu diễn (kép hát); nghệ thuật quản lý (Bầu gánh), nghệ thuật soạn tuồng - viết bài ca Đặc biệt, ông đã để lại cho đời những trang sử liệu hết sức

Trang 9

quý giá về quá trình hình thành và phát triển của sân khấu cải lương, qua những thiên hồi ký báo chí

3 Soạn giả Điêu Huyền quê ở Nhơn Nghĩa, Phong Điền, Cần Thơ một cây bút cự phách trong lĩnh vực sáng tác tuồng cải lương tại Sài Gòn, thời kỳ trước và sau ngày miền Nam giải phóng, đã soạn và hợp soạn những vở cải

lương nổi tiếng mang tính kinh điển như: Tiếng hò sông Hậu, Tìm lại cuộc đời,

Khách sạn Hào Hoa Ngoài ra, ông còn có nhiều đóng góp cho quê hương Cần

Thơ, nhất là giai đoạn tham gia kháng chiến chống Pháp, xây dựng sân khấu cải lương kháng chiến

4 Soạn giả Quốc Thanh, liệt sĩ, quê ở Long Thạnh, Phụng Hiệp, Hậu Giang, nổi rõ với hai lĩnh vực: quản lý, lãnh đạo đơn vị nghệ thuật kháng chiến

và biên soạn tác phẩm, kịp thời phục vụ tuyên truyền, mở ra hướng đi có hiệu quả cho sân khấu cải lương thời chống Mỹ

5 Soạn giả Chí Sinh, liệt sĩ, quê ở Thường Thạnh, Cái Răng, Cần Thơ với vai trò lãnh đạo, quản lý và sáng tác Ông khá thành công với thể loại ca cổ, ca kịch cải lương ngắn, nhiều tác phẩm vẫn còn được công chúng mến mộ

Hiện nay, có rất ít sách, tài liệu, công trình nghiên cứu về nghệ thuật cải lương được xuất bản; cũng chưa có một hội thảo khoa học mang tầm quốc gia,

đi đến thống nhất, nhận định một cách đầy đủ xung quanh về nghệ thuật cải lương Buổi đầu hình thành như thế nào? Ai lập gánh đầu tiên? Ai viết tuồng cải

lương đầu tiên? Ai đưa bài Dạ cổ hoài lang (vọng cổ) lên sân khấu? Những

người đầu tiên mang cải lương ra nước ngoài biểu diễn, đem lại hiệu quả gì? Ngoài ra việc xây dựng nền sân khấu cải lương cách mạng ở miền Bắc, sân khấu cải lương kháng chiến ở miền Nam, cải lương - văn công kháng chiến ở Cần Thơ, cải lương miền Nam trong vùng địch tạm chiếm và sau ngày giải phóng có những vấn đề gì cần qua tâm?

Trong đề tài này, nhóm tác giả hết sức cố gắng để làm sáng tỏ, thông qua cuộc đời sự nghiệp của các đối tượng nghiên cứu Cụ thể là sự nỗ lực thu thập cho được những tư liệu có giá trị; chọn lọc, phân tích những phát hiện mới về lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật cải lương nói chung, cũng như nghệ thuật cải lương Cần Thơ Mặt khác, qua nghiên cứu khẳng định tầm vóc sự nghiệp, công lao các lớp nghệ sĩ tiên phong, lớp nghệ sĩ kháng chiến quê quán ở Cần Thơ Từ đó, giúp các cơ quan quản lý văn hóa, các đơn vị nghệ thuật, Trường Văn hóa Nghệ thuật vận dụng vào các hoạt động thực tiễn về nghiệp

vụ Đồng thời, có nguồn tư liệu mới để bổ sung vào sách “Địa chí”, “Nhân vật chí” Cần Thơ ngày thêm phong phú, rạng rỡ

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Hoàng Bửu Hiếu

Trang 10

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÙNG ĐẤT CẦN THƠ TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG

Cuối thế kỷ thứ XIX, thực dân Pháp sau khi chiếm xong Nam kỳ (1867) dần ổn định việc cai trị, bắt đầu công cuộc khai thác các nguồn lợi kinh tế, nhứt

là vùng phía Tây sông Hậu Phục vụ cho ý đồ này, Pháp thành lập tỉnh Cần Thơ vào năm 1876, lỵ sở đóng tại thôn Tân An (tức chợ Cần Thơ ngày nay) Các quận trực thuộc là: Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Trà Ôn, Cầu Kè, Cái Vồn Lúc này, quận Thốt Nốt (giáp ranh Ô Môn - tỉnh Cần Thơ) thuộc tỉnh Long Xuyên, nhưng Thốt Nốt khá thông thương với Cần Thơ, bởi quận lỵ sát bờ sông Hậu, ghe, tàu lên xuống Cần Thơ, Ô Môn mỗi ngày Các con rạch Thốt Nốt, rạch Cần Thơ Bé… có nhiều nhánh chảy qua vùng Cần Thơ

1.1 CẦN THƠ VỚI NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN BAN ĐẦU

Người từ miền ngoài đi lập nghiệp qua bờ Tây sông Hậu, chiếm cứ các gò đất cao, dọc theo bờ sông hoặc theo các con rạch lớn Họ ưa thích nơi “sông sâu nước chảy” vừa tiện lợi việc đi lại, vừa có nước tưới tiêu Không bao lâu, kỹ thuật đào mương lên liếp lập vườn được ứng dụng: miệt vườn Cần Thơ nhanh chóng hình thành bao gồm các dãy đất dọc theo rạch Cần Thơ tới Phong Điền, rạch Bình Thủy ăn qua vùng đất Ô Môn

Miệt vườn Cần Thơ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX có thể hình dung là những vườn cam, quít, dừa, cau, chuối bạt ngàn bao quanh tỉnh lỵ Cần Thơ, quanh chợ Cái Răng, chợ Ô Môn (chợ Thới An Đông) Sự sung túc đến độ sánh với miệt vườn vùng trên như Cái Bè, Cái Mơn, Sa Đéc… là những nơi có

nghề vườn phát triển sớm hơn: Diện tích vườn ở Cần Thơ năm 1904 có: “Cau

1600 mẫu”, “Trầu 150 mẫu”, “Cam quít 70 mẫu”, “Chuối 200 mẫu”, “Măng cụt 15 mẫu” Kinh tế phát triển, người đến ở, làm vườn ngày thêm đông Trong

khi dân số ở tỉnh lỵ Cần Thơ (thôn Tân An) có 10.000 người, thì “Làng Long

Tuyền ở rạch Bình Thủy gồm 11.939 dân, làng Nhơn Ái (Phong Điền) với 10.464 dân Những số liệu trên cho thấy sự tập trung dân cư ở miệt vườn, bởi

huê lợi vườn cao hơn ruộng từ 5 - 10 lần (1)

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền Anh có thương em thì cho bạc cho tiền Đừng cho lúa gạo, xóm giềng cười chê

Câu hát dân gian cho thấy sự sung túc của tuyến miệt vườn, hai bên bờ dọc theo rạch Cần Thơ, sông Hậu

(1) Văn minh miệt vườn - Sơn Nam, NXB Văn hóa 1992

Trang 11

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiến hành đào kinh xáng Xà No 1903), rồi đào kinh Ngã Bảy - Phụng Hiệp (1905-1915), vùng Cần Thơ - Hậu Giang có thêm hàng chục ngàn mẫu ruộng Lúa từ Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu chuyển lên, xay xát tại các nhà máy Bảy Ngàn, Cái Răng rồi đưa thẳng lên Sài Gòn - Chợ Lớn xuất cảng Chợ Cái Răng phát triển nhà phố san sát, các chành lúa mở ra thu hút một khối lượng lớn lúa gạo chỉ sau Sài Gòn - Chợ Lớn

(1901-Từ năm 1901-1906, mức sản xuất lúa của tỉnh Cần Thơ mỗi năm 116.000 tấn, đứng hạng nhứt Nam kỳ về nông nghiệp Song song đó, công nghiệp cũng có bước phát triển mạnh với nhiều nhà máy xay lúa, công xi rượu, cơ khí… Đáng chú ý, từ năm 1923, tại làng Phú Hữu (huyện Châu Thành), có nghiệp chủ bỏ ra

số tiền lớn để lập nhà máy sản xuất gạch ngói có kỹ thuật cao nhất, nhì trong vùng, đến năm 1946 mới ngưng hoạt động do chiến tranh

Kinh tế phát triển mạnh, Cần Thơ nghiễm nhiên trở thành “trung tâm miền Tây” - mà người ta quen gọi dần là “Tây Đô” Nhà lồng chợ Cần Thơ được xây dựng qui mô, sừng sững ở ngã ba sông Hậu Cùng với phát triển kinh tế, người Pháp chú trọng mở đường lộ xe, xây phố, lập chợ ở những trung tâm dân

cư Đường lộ xe Cần Thơ - Sóc Trăng, Cần Thơ - Rạch Giá được đắp dần Phà Cần Thơ cũng ráo riết thi công, đến năm 1918 là hoàn thành Tới cuối thập niên

20 (thế kỷ XX) thì tuyến xe đò Cần Thơ - Sài Gòn được thông suốt, xe đò chạy

từ Cần Thơ lên Sài Gòn khoảng 6 tiếng đồng hồ Đường thủy có tàu đi Sài Gòn, Nam Vang và những tỉnh lân cận Khu vực tỉnh lỵ Cần Thơ mở rộng, đặt nhiều trụ sở hành chính của Pháp Về giáo dục, năm 1917, chính quyền Pháp lập trường Trung học Collége, nhưng mới là ký túc xá, mãi đến năm 1921 mới chính thức mở lớp bổ túc chương trình tiểu học đầu tiên với 36 học sinh Trước

đó, tại Cần Thơ đã có trường Trung học Võ Văn đón học sinh con nhà khá giả,

từ các quận lân cận học nội trú (thời điểm này các quận mới có sơ học) Ở lĩnh vực y tế, từ năm 1895, Pháp đã xây dựng Bệnh viện Cần Thơ quy mô 100 giường Các huyện lỵ đều có trạm y tế, bảo sanh nhà nước, bên cạnh nhiều nhà thuốc tây mới mở

Khu vực nội ô Cần Thơ mở rộng khá nhanh, nhiều khách sạn, tửu lầu mọc lên Đường phố, nhà ngói xây cất nhiều đến nỗi 6 lò gạch trong vùng không đủ cung Dân tứ xứ đổ về làm ăn mỗi ngày nhiều thêm, “Tây Đô” dần hình thành trở thành danh gọi quen thuộc

1.2 CẦN THƠ TRONG HAI THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN

Cuộc khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân Cần Thơ vừa xây dựng chính quyền cách mạng, vừa bước vào cuộc kháng chiến đầy gian khổ khi Pháp trở lại xâm lược Trong 9 năm đánh địch, từ chiến công của Đội Cảm tử Quốc gia Tự vệ cuộc đánh vào Bộ chỉ huy Pháp ở Cái Răng do

Lê Bình chỉ huy, rồi bốn trận Tầm Vu (1947-1948) lập nên chiến công vang dội, đến trận chiến thắng Cái Sình (Vị Thanh) năm 1952, nhấn chìm tàu chiến Pháp

đã đi vào lịch sử, tinh thần “trường kỳ kháng chiến” vì độc lập, giải phóng dân tộc đã trở thành nguồn sức mạnh cổ vũ ý chí gan thép, để quân và dân Cần Thơ chiến đấu ròng rã trong 3.000 ngày đêm gian khổ, góp phần cùng cả nước hoàn

Trang 12

thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp, dẫn đến Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ (1954)

Tuy nhiên, nhân dân ta chưa vui hưởng hòa bình được bao lâu, thì đế quốc

Mỹ nhảy vào can thiệp, dựng lên chế độ tay sai Ngô Đình Diệm Cùng với cả nước, quân dân Cần Thơ “Đồng khởi” bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với biết bao hy sinh, gian khổ trước sự đàn áp, khủng bố dã man của

đế quốc và tay sai Tại Cần Thơ chúng lập Bộ Chỉ huy đầu não vùng 4 chiến thuật, với bộ máy chiến tranh cực kỳ hiện đại Lực lượng cách mạng với 3 mũi đánh địch: chính trị, binh vận và vũ trang đã giáng cho kẻ thù nhiều đòn chí tử, làm nên bao chiến công hiển hách như: trận đánh đồn Quang Phong (Phương Bình - Phụng Hiệp), trận tiêu diệt chi khu Một Ngàn (Châu Thành), trận tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) đánh thẳng vào hang ổ đầu não địch tại thị xã Cần Thơ Đặc biệt, trận chiến thắng đẩy lùi 75 tiểu đoàn địch lấn chiếm

ở Long Mỹ, đã đánh dấu một trong những chiến công oanh liệt nhất của lịch sử kháng chiến, góp phần tiến tới cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm

1975, giải phóng Cần Thơ

Trong điều kiện chiến tranh, nhưng vùng đất và con người Cần Thơ cũng

có những bước phát triển về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội ngay trong lòng địch ở đô thị, cũng như vùng giải phóng ở nông thôn

Chủ trương phát động nhân dân “tăng gia sản xuất”, công cuộc cải cách ruộng đất đã cấp 240.000ha đất cho nông dân, đã làm biến đổi bộ mặt nông thôn giải phóng thời chống Pháp Ở giai đoạn chống Mỹ, phong trào lập “ấp chiến đấu”, bám trụ “một tấc khi đi, một ly không rời” khiến cho chủ trương lập ấp chiến lược của địch thất bại Tuy trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhưng nông thôn Cần Thơ vẫn là địa bàn đứng chân vững vàng của lực lượng cách mạng, trong suốt hai thời kỳ kháng chiến

Trong khi đó, ở khu vực đô thị, các chế độ thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai chỉ tập trung mọi nguồn lực cho chiến tranh, nên không có nhiều dấu ấn quan trọng như hồi đầu thế kỷ XX Ở Cần Thơ, thời chống Mỹ địch xây dựng các sân bay, bến cảng khá sớm, chủ yếu phục vụ quân sự Từ năm 1945 đến năm

1975, vùng đất Cần Thơ chỉ có một số phát triển đáng chú ý:

Hệ thống đô thị từ trung tâm tỉnh lỵ đến các huyện lỵ được mở rộng thêm, với đường giao thông bộ nối liền; lập các hãng xe đò chạy đường dài, đường ngắn Cần Thơ vẫn là vựa lúa lớn, với hệ thống nhà máy xay xát khắp nơi, cũng

là đầu mối kinh tế quan trọng nhứt ở miền Tây, mệnh danh Tây Đô Từ năm

1960, nông nghiệp Cần Thơ bắt đầu cơ giới hóa với gần 3.000 máy cày, máy xới Năm 1966, ở một số nơi nông dân bắt đầu sản xuất lúa “Thần Nông”, tăng lên 2 vụ/năm Về công nghiệp, từ năm 1966 chế độ cũ thành lập Khu kỹ nghệ Trà Nóc, xây dựng Nhà máy nhiệt điện Trà Nóc cung cấp điện cho nhiều tỉnh Lĩnh vực thương mại có sự phát triển khá nhanh với hàng trăm đại lý mua bán

xe mô tô, cơ khí điện máy… mở ra ở thị xã Cần Thơ và các huyện lỵ

Trang 13

Về giáo dục, thời Pháp chỉ có trường trung học, đến năm 1966 Viện Đại học Cần Thơ được thành lập Bệnh viện Thủ khoa Nghĩa (nay là Bệnh viện đa khoa Trung ương) với 300 giường được xây dựng, bên cạnh Bệnh viện Quân y Phan Thanh Giản (nay là Viện Quân y 121) Song song đó, hệ thống phát thanh truyền hình mang tính “Trung tâm của vùng 4 chiến thuật” cũng được xây dựng, sớm đưa vào hoạt động trong năm 1968 Thời gian từ năm 1969 đến ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975), chính quyền Sài Gòn không đầu tư xây dựng thêm ở Cần Thơ những công trình lớn nào đáng kể, ngoài những căn cứ quân sự phục vụ chiến tranh

Tóm lại, tình hình kháng chiến bên cạnh sự phát triển nhất định về kinh

tế, văn hoá, xã hội ở tỉnh Cần Thơ là điều kiện để các hoạt động văn hóa nghệ thuật dựa vào đó mà phát triển, với hai hướng rõ rệt: trong vùng giải phóng và khu vực đô thị địch tạm chiếm Cuộc kháng chiến tuy đầy gian khổ, hy sinh, mất mát nhưng cũng sản sinh ra bao người con ưu tú, đã dũng cảm chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Trong đó, có những chiến sĩ là nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, nhà quay phim, họa sĩ, nhạc sĩ…

1.3 KHỞI PHÁT VỀ VĂN HOÁ

Song song với sự phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh lỵ Cần Thơ giờ đây cũng

là trung tâm của cái nôi văn minh miệt vườn, khởi phát nhiều nhân tố và hình thức văn học nghệ thuật Có thể ghi nhận một số nét nổi bật:

Làng Long Tuyền (Bình Thủy) là quê quán của nhà thơ - Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, một trong bốn rồng vàng của đất Đồng Nai - Cửu Long về thơ ca

Ông cũng là nhà soạn tuồng đầu tiên ở vùng đất này, qua vở Kim Thạch Kỳ

Duyên

Cử nhân Phan Văn Trị người Bến Tre, khi Pháp chiếm Nam kỳ, về tỵ địa dạy học tại làng Nhơn Ái (Phong Điền) Cụ cử Trị là một nhà thơ yêu nước, có

tư tưởng chống thực dân Pháp nổi tiếng với trận bút chiến cùng Tôn Thọ Tường

Ông Trương Duy Toản (người quê ở Tam Bình - Vĩnh Long), một trí thức yêu nước, một nhà báo nổi tiếng đầu thế kỷ XX, cũng có thời gian “an trí”, lánh thực dân Pháp về ở tại làng Nhơn Ái (Phong Điền) Tại đây, ông đỡ đầu và viết nhiều bài ca cho Ban tài tử Ái Nghĩa Đây là ban tài tử mạnh nhứt ở Cần Thơ lúc bấy giờ, thu hút nhiều nghệ nhân Làng Nhơn Ái (Châu Thành) cũng là nơi xuất thân của kép Tám Danh Từ nhỏ Tám Danh đã biết chơi đờn ca tài tử, hát cho nhiều nhà hàng, khách sạn khắp lục tỉnh Sau này, trở thành một nghệ sĩ lừng danh Ông Trương Duy Toản trở thành soạn giả đầu tiên, góp phần nâng từ ca

tài tử lên ca ra bộ, với bài Bùi Kiệm thi rớt trở về, cũng là người đầu tiên soạn

hoàn chỉnh một kịch bản sân khấu cải lương cho gánh Đồng Bào Nam (Mỹ Tho)

Ngoài ra, về thơ ca lưu truyền rằng đất Long Tuyền (Bình Thủy) còn là nơi ra đời của “Tao Đàn Bà Đồ” (nay vẫn còn địa danh xóm Bà Đồ ở Bình Thủy) sánh với “Chiêu Anh Các” (Hà Tiên), “Bạch Mai Thi Xã” (Gia Định)

Trang 14

Tao Đàn Bà Đồ là nơi nhiều thi sĩ đất Nam kỳ lui tới như cụ Đồ Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Hiển Đạo…

Về văn nghệ dân gian: đất Cần Thơ cũng sinh ra điệu hò Cần Thơ, hò Ngã Bảy Thầy dạy hò ở Cái Tắc, Phong Điền được tín nhiệm lúc bấy giờ, bởi lối bẻ câu, bẻ chữ như câu ca dao:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

Anh có thương em thì cho bạc cho tiền…

Được thầy hò bẻ lại, khi kinh xáng Xà No đào xong:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em thì mua cho một chiếc đò

Ở miệt trên, vùng Thốt Nốt cũng sản sinh ra nhiều nghệ nhân, soạn giả, bầu gánh nổi tiếng với Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền, Vương Có, Trần Ngọc Đảnh, Huỳnh Năng Nhiêu (Bảy Nhiêu), …

Các quận, làng dần ổn định đời sống, khai thác kinh tế, nên đình làng cũng được xây cất theo Hầu như, mỗi làng đều có một đình Các đình lớn như Bình Thủy, Tân An, Thường Thạnh, Thới An, Nhơn Ái đều được triều đình Huế sắc phong “Thành Hoàng Bổn Cảnh” khá sớm Đình Bình Thủy có lối kiến trúc đẹp, khang trang được vua Tự Đức sắc phong từ năm 1852 (hiện nay vẫn giữ dáng vẻ truyền thống, được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích cấp quốc gia) Cũng thời gian này, Cần Thơ cũng ra đời những gánh hát bội lớn như gánh Bầu Bòn Cô Năm Nhỏ quê ở Cái Vồn, trở thành ngôi sao đứng đầu Nam kỳ, được trong giới tôn là hậu tổ nghề hát bội

Khi tuyến “văn minh miệt vườn” Cần Thơ càng dài thêm vào đầu thế kỷ

XX, các hình thức văn hóa hiện đại cũng bắt đầu xuất hiện ở Cần Thơ:

Hai tờ báo đầu tiên được xuất bản năm 1911, tại tỉnh lỵ đã có nhà máy in, lấy tên “Imprimerie de L'ouest” Tờ báo thứ nhứt bằng Pháp ngữ là tuần báo Le Courrier De L'ouest, chủ nhiệm là luật sư người Pháp Gallois Montbrum, vị chủ bút người Việt tên Võ Văn Thơm, quản lý là ông Trần Đắc Nghĩa Ra đời ít lâu,

tờ báo đình bản, do in bằng Pháp ngữ, ít người đọc Rút kinh nghiệm này, năm

1912 ông Võ Văn Thơm đứng ra làm chủ nhiệm tờ “An Hà Nhật Báo” bằng tiếng Việt, ông Trần Đắc Nghĩa vẫn quản lý, được nhiều văn thi sĩ hợp tác

Năm 1913, báo đổi tên “An Hà Báo” Đây là tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), ra đời chỉ sau tờ Gia Định Báo ở Nam kỳ

Nhờ có nhà in sớm, việc xuất bản sách văn học cũng phát triển với các

tiểu thuyết: Bẩm ông chủ của Huỳnh Văn Tân, Quán bên đường, thơ của Trực

Trần Lúc này, ông Hồ Biểu Chánh, vừa là Chủ quận Ô Môn, cũng vừa là nhà văn viết nhiều tiểu thuyết nói về miệt vườn, nổi tiếng đến sau này

Trước năm 1920, Cần Thơ đã có hát bóng câm Năm 1918, thấy việc kinh doanh nghệ thuật có lợi nhuận khá, một doanh nhân là Thầy Lý bỏ tiền xây rạp

Trang 15

hát tại trung tâm tỉnh lỵ, tên là rạp Mesner, mọi người quen gọi là rạp Thầy Lý (địa điểm gần chợ Cần Thơ ngày nay) Sau khi khai trương, nhiều gánh lớn đổ

về hát Khán giả Cần Thơ quen dần với các hình thức nghệ thuật mới

Năm 1922, tại chợ Thốt Nốt gánh Tập Ích Ban ra đời nhanh chóng vươn

ra khắp lục tỉnh Đến năm 1927, ông Trần Đắc Nghĩa đứng ra lập gánh hát cải lương Trần Đắc giao cho Năm Châu làm thầy tuồng và điều hành toàn diện Chỉ trong thời gian ngắn, Trần Đắc trở thành 1 trong 2 đại ban của Nam kỳ, vang tiếng một thời (cùng với gánh Phước Cương - Mỹ Tho) lưu diễn tận Hà Nội Sau

đó gặp cơn khủng hoảng kinh tế toàn cõi Đông Dương, nên rã gánh vào năm

1933

Những thập niên đầu thế kỷ XX, Cần Thơ nhanh chóng phát triển mọi mặt, độ sung túc chỉ đứng sau Sài Gòn - Chợ Lớn, không chỉ tác động các quận trong tỉnh mà còn lan xa cả Nam kỳ Quận Thốt Nốt (thuộc tỉnh Long Xuyên), chỉ cách “Tây Đô” 40 cây số, cố nhiên chịu ảnh hưởng Cần Thơ qua sự giao lưu nhiều mặt , trong đó có văn hóa nghệ thuật

Thời điểm thập niên đầu thế kỷ XX, những tỉnh, quận, làng nằm dọc theo

bờ sông Hậu đều có điều kiện phát triển sớm về mọi mặt Từ đầu nguồn Châu Đốc dài xuống Long Xuyên, Thốt Nốt, Ô Môn, Cần Thơ, Trà Ôn là một tuyến đường sông chiến lược ra thẳng biển Đông Người đi mở đất lấy đó làm trục mở mang việc giao thương qua lại, ngày càng nhộn nhịp Giao lưu văn hóa nghệ thuật, cũng đi liền theo đó Từ thời hát bội phát triển, cũng như những Ban ca ra

bộ mạnh ở Nam kỳ lục tỉnh đều cập bến hát dọc theo sông Tiền hoặc sông Hậu Đến thời cải lương hình thành,với sự ra đời của các rạp hát mới, số lượng khán giả càng gia tăng Đây là điều kiện quyết định cho loại hình sân khấu “cải lương” chiếm lĩnh đời sống văn hóa, trở thành một ngành kinh doanh hốt bạc, thu hút những bầu gánh, thầy tuồng và nghệ nhân, nghệ sĩ

Tỉnh lỵ Cần Thơ gắn liền với miệt vườn “Cái Răng - Ba Láng - Vàm Xáng - Phong Điền” lên tới Ô Môn, trở thành cái nôi sinh thành Ban tài tử Ái Nghĩa nổi tiếng, cùng lớp nghệ sĩ, nghệ nhân tiên phong của sân khấu cải lương sau này

Phía vùng trên Thốt Nốt, nửa chịu ảnh hưởng tỉnh lỵ Long Xuyên, cách

đó non 20 cây số, nửa gắn bó nhiều mặt với Cần Thơ Là nơi hội tụ nhiều trí thức, nhân sĩ, đặc biệt là các nghệ nhân, nghệ sĩ đờn ca tài tử (ĐCTT), sân khấu

cải lương Trong lớp nghệ nhân, nghệ sĩ ở Cần Thơ - Thốt Nốt xưa nêu trên,

Tám Danh (Nguyễn Phương Danh) và Bảy Nhiêu (Huỳnh Năng Nhiêu) trở thành lớp nghệ sĩ tiên phong theo nghề và thành danh sớm nhứt Trong cuộc

kháng chiến chống Pháp, vùng đất Cần Thơ đã sản sinh ra soạn giả Điêu Huyền tài năng, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước các soạn giả Quốc Thanh, Chí Sinh nối tiếp con đường sân khấu kháng chiến Họ là những người có công xây dựng bộ môn nghệ thuật cải lương từ buổi ban đầu, cho đến thời kỳ kháng chiến (kể cả trong vùng địch tạm chiếm, và sau ngày giải phóng) góp phần cho

nghệ thuật cải lương định hình, phát triển rực rỡ trên phạm vi cả nước

Trang 16

1.4 LƯỢC SỬ NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG NAM BỘ

Điểm qua các quyển sách, công trình nghiên cứu về lịch sử sân khấu cải

lương, đã xuất bản đang được lưu hành, sử dụng khá nhiều, đó là: Nghệ thuật

sân khấu Việt Nam của Trần Văn Khải, Khai Trí, Sài Gòn năm 1966; Hồi ký Năm mươi năm mê hát cải lương của Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm 1968; Hồi

ký Những mảnh tình nghệ sĩ của Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Sĩ Tiến, Nhà xuất bản (Nxb) Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) 1986; Nghệ thuật cải

lương những trang sử của Trương Bỉnh Tòng, các bài viết của Giáo sư Hoàng

Như Mai trong sách Địa chí văn hóa TPHCM, 1998 Có thể nói, dù còn một vài

chi tiết khác biệt, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu “tiền bối” đã khá thống nhất về mặt lịch sử

Quá trình thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã tổng hợp thu thập thêm nhiều

sự kiện, chi tiết có mối quan hệ mật thiết với Cần Thơ - Thốt Nốt xưa; với quá trình hình thành nghệ thuật sân khấu cải lương từ buổi ban đầu, đến hai thời kỳ kháng chiến ở vùng đất này Qua đó, phác thảo mấy nét khái quát về lược sử hình thành và phát triển nghệ thuật cải lương Nam bộ - Cần Thơ:

Trong xu thế canh tân, cải cách diễn ra mạnh mẽ hồi đầu thế kỷ XX, nhất

là tại Hà Nội, Sài Gòn Trước sự suy tàn của Nho học và các hình thức văn học nghệ thuật truyền thống - lĩnh vực sân khấu cũng có nhiều ý kiến đòi hỏi cải

cách “Trong phong trào cải cách, mà nhiều người gọi là cải lương, vấn đề cải

lương sân khấu được nêu lên Đối tượng cải lương là hát bội, loại hình sân khấu phổ thông lúc bấy giờ” (Hoàng Như Mai, Địa chí Văn hóa TPHCM, trang 170) Đó là đòi hỏi phải “cải lương” đối với nhiều lĩnh vực, trong đó có nghệ

thuật sân khấu Vì vậy, khắp Nam kỳ lục tỉnh, một phong trào tìm tòi, đổi mới hoạt động nghệ thuật rộ lên: Từ nhạc lễ chuyển sang đờn ca tài tử; Từ đờn ca tài

tử tiến lên ca ra bộ, hát chặp để rồi hình thành ngành nghệ thuật cải lương hoàn chỉnh cho đến ngày nay

1.4.1 Đờn ca tài tử ra đời

Nhạc lễ được truyền vào đất Đồng Nai - Cửu Long gắn với các dịp lễ hội cộng đồng, bước đầu cùng với hát bội khơi dậy phong trào sinh hoạt văn hóa của nhân dân Tuy nhiên, nhạc lễ thường chỉ phục vụ cho lễ tế Hát bội thì cả năm mới về hát ở đình Trong khi đó, nhu cầu sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của cư dân đòi hỏi ngày càng cao hơn Bởi lẽ, ruộng vườn trù phú, phố chợ mở ra; lớp người giàu, khá ngày càng nhiều! Mặt khác, khi vào vùng đất mới các nhạc sư, nhạc quan cũng thêm nguồn cảm hứng sáng tạo

Từ thực tế trên, nhạc lễ dần được chỉnh lý, mở rộng, phát triển; kết hợp cùng các làn điệu dân ca, sáng tác bản nhạc mới, bài ca mới Phong trào dạy đờn

ca ngày càng thịnh hành, với lớp học trò mới Nhạc lễ từ đó cách tân thành nhạc tài tử

Đầu thế kỷ XX, từ chỗ nhạc tài tử chủ yếu là chơi theo bản đờn, sau khi

có bài ca mới, phong trào càng phát triển mạnh khắp Nam kỳ lục tỉnh, gọi là chơi đờn ca tài tử Sinh hoạt nghệ thuật mới này đã cuốn hút mọi giới từ công

Trang 17

chức, thợ thủ công (thợ bạc, thợ hớt tóc), đến con cháu các nhà quyền quí, địa chủ Nhà giàu, hương chức, hội tề có đám tiệc (quan, hôn, tang, tế) nhứt thiết phải mời cho được Ban ĐCTT Từ năm 1909-1915, nhiều tập bài ca tài tử được

ấn hành như sách “Lục tài tử”, “Thập tài tử”, “Tứ tài tử”, “Bát tài tử” Ngoài các đám tiệc, ĐCTT là dịp để bạn bè gặp mặt nhau, tiếng đờn lời ca thay cho lời tâm

sự Có thể ghi nhận 3 hình thức sinh hoạt ĐCTT phổ biến ở Nam kỳ lục tỉnh vào thời thịnh hành nhất:

- ĐCTT trong nhà (đám tiệc)

- ĐCTT ngoài vườn, dưới những đêm trăng sáng, bạn bè đờn ca hội tụ

- Đờn ca trên ghe thương hồ ở các chợ, ngã ba, ngã tư sông

Để nâng cao nghệ thuật, sinh hoạt ĐCTT thường có các cuộc so tài cao, thấp giữa hai ban Ai rớt nhịp thì kể như “thua” phải về ôn luyện lại

Phong cách chơi ĐCTT dần phân chia thành 2 miền: Đại biểu cho nhóm miền Đông (từ Mỹ Tho, Long An, Chợ Lớn trở lên), có các nghệ nhân bậc thầy như: Ông Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi), là người có công chấn chỉnh, truyền dạy

bộ môn nhạc lễ, sáng tác nhiều bài bản mới, chuyển hơi điệu hình thành phong cách ĐCTT Đại biểu cho nhóm miền Tây là Ông Trần Quang Quờn (Ký Quờn) quê ở Vũng Liêm (Vĩnh Long) Năm 1916-1917 ông sáng tác bài ca Bá Lý Hề theo điệu Tứ Đại Oán

Thời gian thịnh hành nhứt, có các ban ĐCTT khá nổi tiếng như: Ban tài tử

Mỹ Tho của ông Tư Triều, Ban tài tử Vĩnh Kim (Châu Thành, Tiền Giang) của ông Bảy Triều, Ban tài tử của ông Tống Hữu Định ở Vĩnh Long Thời kỳ này, ở Cần Thơ có Ban tài tử Ái Nghĩa (Phong Điền) được ông Trương Duy Toản đỡ

đầu, viết các bài ca: Lão Quán Ca, Vân Tiên mù, Khen chàng Tử Trực, Thương

nàng Nguyệt Nga Ở Bạc Liêu có Ban tài tử Nhạc Khị nổi tiếng, Ông Cao Văn

Lầu (học trò Nhạc Khị) sáng tác bài Dạ cổ hoài lang (tiền thân bài vọng cổ sau

này) Vùng Long Xuyên - Thốt Nốt, phong trào ĐCTT cũng khá phát triển với

nhiều nghệ nhân đờn bậc thầy

1.4.2 Hình thức ca ra bộ, một bước phát triển mới

Thập niên đầu của thế kỷ thứ XX, là thời kỳ có những chuyển biến cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội, Pháp ổn định nền móng cai trị Công cuộc khai thác lớn về kinh tế ở vùng đất Nam kỳ được tiến hành, văn hóa phương Tây

du nhập về các đô thị Việc giao lưu ra nước ngoài cũng nhiều hơn: nhiều con cái nhà địa chủ, hương chức hội tề được đi du học bên Tây Ở lĩnh vực nghệ thuật sân khấu, lần đầu tiên Ban ĐCTT của ông Tư Triều ở Mỹ Tho đi lưu diễn

ở Pháp, tiếp thu nhiều nét mới về cách đờn ca trên sân khấu Tại Sài Gòn, song song với nhiều ban tài tử trình diễn ở các rạp, các nhà hàng, các vở “kịch Tây” bắt đầu biểu diễn, nhưng chưa thu hút mấy

Trong khi nghệ thuật hát bội gần như bế tắt, không có hướng phát triển mới, thì bộ môn ĐCTT bắt đầu có những chuyển biến có tính sáng tạo, cách tân Tại Vĩnh Long, Ban tài tử của ông Tống Hữu Định lưu diễn nhiều nơi Ông Trần

Trang 18

Quang Quờn cải tiến cây đờn nguyệt cổ điển thành cây đờn kìm kêu lớn, phù hợp với nhiều bài bản tài tử Ở các tỉnh khác, các Ban ĐCTT cũng mở rộng việc giao lưu, đường lối chơi tài tử từ “thính phòng” hướng đến chỗ đông người, có khi tại rạp hát

Trong quá trình tìm tòi cái mới, cộng với việc tiếp thu cái hay của người nước ngoài về sân khấu Năm 1915, tại huyện Vũng Liêm (Vĩnh Long) ông Tống Hữu Định (còn gọi là ông Phó Mười Hai) một tay chơi hào phóng, qui tụ nhiều anh, chị, em ĐCTT nổi tiếng đã mạnh dạn đề ra lối chơi mới:

Ông cho 3 người thử vai: Bùi Kiệm, Bùi Ông, Nguyệt Nga đứng trên bộ ván ngựa vừa ca, vừa ra điệu bộ với bài Tứ đại oán, tựa: Bùi Kiệm thi rớt trở về,

do ông Trương Duy Toản sáng tác Cuộc “thể nghiệm” được nhiều người tán thưởng Sau đó, các ban, gánh ca ra bộ được thành lập, đi biểu diễn khắp nơi, công chúng đón nhận nhiệt liệt Năm 1917, ông Lê Văn Thận, tức André Thận (thầy Thận) thành lập gánh xiếc có hát bóng câm, rồi ca ra bộ tại Sa Đéc

Theo hồi ký của nghệ sĩ Bảy Nhiêu: Năm 1917, gánh thầy Thận có hát bóng câm và ca tài tử về diễn ở Thốt Nốt Năm 1918, gánh “carabo” của thầy Thận lại về chợ Thốt Nốt, hoàn toàn bỏ xiếc, bỏ hát bóng mà chỉ có ca tài tử và

ca ra bộ khá ăn khách, qua lớp: Bùi Kiệm de Nguyệt Nga Đây có lẽ là gánh hát

ca ra bộ đầu tiên có doanh thu, kết quả khả quan Tuy vậy, chỉ một năm sau do

lỗ lã, phải sang lại trọn gánh cho ông Châu Văn Tú (tức Thầy Năm Tú) ở Mỹ Tho, từ đó đổi tên là “Gánh thầy Năm Tú” Tại gánh này, ông Trương Duy Toản được mời soạn cho những bài ca mới, rồi gộp những bài lẻ lại thành tiết mục hẳn

hoi, thiên về “ca để diễn” Bài Bùi Kiệm thi rớt trở về được phát triển thêm, để người ca dễ ra bộ Sau đó là các chặp Hạnh Nguyên cống Hồ, Trang Tử cổ bồn

ca Lần đầu tiên, diễn viên gánh thầy Năm Tú được thu dĩa cho hãng Pathé tại

Sài Gòn

Có thể nói từ gánh ca ra bộ của thầy Thận (Sa Đéc) đến gánh thầy Năm

Tú, nghệ thuật trình diễn dần được sắp xếp có kịch bản, tiếp tục nâng lên theo lối “hát chặp” Tính chuyên nghiệp của các gánh ca ra bộ này cũng dần rõ nét: gánh hát có tổ chức, lực lượng đông đảo; có tiết mục, phông màn, được trình diễn ở rạp (thay vì nhà hàng) Đặc biệt, các nghệ nhân, tài tử trước đây dần dần chuyển thành “đào, kép” hát như hát bội, hoàn toàn sống bằng nghề hát Sự phát triển này, đã góp phần làm thay đổi tập quán chỉ mê xem hát bội trước đây, hình thành kiểu cách xem hát mới, cho thấy sinh hoạt thưởng thức nghệ thuật ở vùng

đô thị ngày càng văn minh hơn

1.4.3 Phong trào thành lập những “Gánh hát kim thời”

Sau các gánh thầy Thận (Sa Đéc), gánh thầy Năm Tú (Mỹ Tho) mở đầu cho việc đưa bộ môn ĐCTT lên sân khấu, ca ra bộ rồi hát chặp được công chúng khán giả nhiệt liệt tán thưởng Tại Thốt Nốt, gánh thầy Thận diễn suốt 15 đêm liền, thiên hạ vẫn chen, lấn mua vé Thấy làm ăn được nhiều gánh mới thành lập Ở Mỹ Tho vợ chồng ông Tư Đa, bà Tư Sự lập gánh treo bảng hiệu: “Gánh hát kim thời Đồng Bào Nam” Ý nghĩa muốn nói, đây là gánh hát kiểu thời nay,

Trang 19

để cho thấy khác với hát bội, hát Quảng, hát Tiều Tháng 3/1919, gánh Đồng Bào Nam về Cần Thơ, hát tại rạp Messner (thường kêu là rạp Thầy Lý) Đây là gánh hát được tổ chức, quản lý theo lối mới thành lập ở Mỹ Tho năm 1918, vừa mới về cung cách kinh doanh, vừa được tiếp tục nâng lên về nghệ thuật, rút kinh nghiệm từ các gánh thầy Thận, thầy Năm Tú

Tới Cần Thơ, gánh cho đi quảng cáo (rao bảng) bằng xe song mã, có dàn đờn, trống Tây, có hề vẽ mặt đi kèm, cờ tam sắc treo khắp xe Về nghệ thuật

gánh trình diễn tuồng Cô Ba lưu lạc, Lưu Bình Dương Lễ với cô đào chánh trẻ,

đẹp là Năm Phỉ, cùng kép Hai Giỏi (mới độ 16-17 tuổi) Các vở tuồng này hát nhiều màn, có sơn thủy và diễn xuất theo những tình tiết, hoàn cảnh của vở tuồng Cũng tại gánh này, lần đầu tiên chủ gánh mướn một thầy tuồng chuyên viết tuồng, tập tuồng tên là Jean Joseph (người Việt - quốc tịch Pháp), đào kép thường kêu là thầy Răng Những chi tiết nêu trên cho thấy: nghệ thuật sân khấu

“kim thời” bắt đầu đi vào lề lối chính quy, việc tổ chức kinh doanh khá chặt chẽ; nghệ thuật mở rộng, nâng cao chất lượng với đủ các khâu: tuồng tích, thầy tuồng thường trực; lực lượng đào, kép, dàn nhạc, bố trí mỹ thuật, kỹ thuật, sân khấu theo kiểu tân thời

Đồng thời với gánh Đồng Bào Nam, các gánh Nam Đồng Ban (Mỹ Tho), Tân Phước Nam (Sóc Trăng)… Phong trào lập gánh rộ lên khắp Nam kỳ lục tỉnh Có nơi gọi là “gánh hát kim thời”, có chỗ thì kêu là “gánh hát tân thời”

1.4.4 Nghệ thuật cải lương định hình và phát triển mạnh vào thập

niên 20 (thế kỷ XX)

Đến đầu thập niên 20 (thế kỷ XX), Nam kỳ lục tỉnh có 4 gánh hát lớn (Đại Ban) ra đời, cũng là những gánh tiên phong của sân khấu cải lương đó là: Thầy Năm Tú (Mỹ Tho), Nam Đồng Ban (Mỹ Tho), Văn Hí Ban (Chợ Lớn) Tân Thinh (Sài Gòn) Sau đó gánh Tập Ích Ban (Thốt Nốt) được thành lập, soạn tuồng, tập tuồng qua đầu năm 1921 mới khai trương

Thời điểm này các gánh đều được tổ chức chính quy, có đầu tư lớn về cơ

sở vật chất kỹ thuật, cạnh tranh về nghệ thuật qua việc sử dụng tuồng tích; đào, kép giỏi được trả lương cao Sự phát triển này có mấy điểm đáng chú ý:

- Thứ nhứt, là vai trò của nhà tổ chức, như: ông Tống Hữu Định ở Vĩnh

Long, mạnh dạn cho ca ra bộ trên sân khấu Đây là bước ngoặt quan trọng nhứt, cũng là nền móng ban đầu hình thành sân khấu cải lương sau này

- Thứ hai, sự sáng tạo của tác giả - thầy tuồng, là việc nâng ca ra bộ lên

thành “hát chặp”, gom các bài ca lẽ lại thành tiết mục hẳn hoi Công đầu này

thuộc về ông Trương Duy Toản, với các tiết mục Bùi Kiệm thi rớt trở về, Kim

Kiều hạnh ngộ Qua thời sân khấu định hình, ông lại tiếp tục soạn thành những

vở tuồng: Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, Trang Tử cổ bồn ca, Hạnh Nguyên cống

Hồ… đây là cột mốc quan trọng về nguồn gốc ra đời những kịch bản cải lương

đầu tiên, khơi nguồn cho nghề “soạn giả - thầy tuồng” phát triển, với hàng loạt các vở tuồng xã hội, tuồng Tàu, tuồng Tây, tuồng lịch sử của ta Qua đó, xuất hiện lớp soạn giả tiên phong: Trương Duy Toản, Mộc Quán - Nguyễn Trọng

Trang 20

Quyền, Nguyễn Công Mạnh, Trần Phong Sắc, Lâm Hoài Nghĩa, Nguyễn Quốc Biểu, Đào Châu, Đặng Công Danh (Mười Giảng) …

- Thứ ba, là xuất xứ từ “cải lương”: Giữa năm 1920, tại Sài Gòn - ông

Trương Văn Thông (người Sa Đéc) lập gánh hát Tân Thinh, lần đầu tiên dùng danh hiệu “Gánh cải lương Tân Thinh”, dưới bảng hiệu có 2 câu liễn, nêu mục đích, tôn chỉ của gánh:

Cải cách hát ca theo tiến bộ Lương truyền tuồng tích sánh văn minh

Từ đây về sau nhiều gánh cũng làm theo, đề tên “gánh cải lương” rồi các cụm từ “tuồng cải lương”, “đào, kép cải lương” được thông dụng “Coi hát cải lương” dần trở thành một nếp sống quen thuộc trong dân gian

Sau thời kỳ hình thành, sân khấu cải lương nhanh chóng phát triển, cực thịnh nhứt trong suốt thập niên 20, 30 (thế kỷ XX), chiếm lĩnh “thị trường” nghệ thuật, trở thành “món ăn tinh thần” được ưa chuộng nhất trong đời sống xã hội thời bấy giờ

Theo đà phát triển, cải lương vượt ra ranh giới Nam kỳ, đến tận miền Trung, miền Bắc với 2 đại ban là gánh Trần Đắc (Cần Thơ) và Phước Cương (Mỹ Tho) Khoảng năm 1925-1926, Gánh Tập Ích Ban (Thốt Nốt) cũng “tiến quân” sang Campuchia lưu diễn hàng tháng trời Năm 1933 gánh Phước Cương một gánh cải lương Việt Nam đầu tiên sang Pháp lưu diễn suốt gần 1 năm, với nhóm nghệ sĩ lừng danh: Năm Phỉ, Bảy Nhiêu, Tám Danh qua các trích đoạn

tuồng: Phụng Nghi Đình, Xử án Bàng Quý Phi, Tứ đổ tường

Về mặt nghệ thuật cải lương tiếp tục có sự cách tân nhiều mặt như: soạn tuồng tích mới, truyền dạy các thế hệ đào, kép mới, nhiều bài bản mới Năm

1920, cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Bạc Liêu) sáng tác bản Dạ cổ hoài lang nhưng

chưa thịnh hành lắm, bởi chủ yếu chỉ hát trong những cuộc chơi ĐCTT ở địa phương Vào năm 1922, khi gánh Tập Ích Ban lưu diễn đến Bạc Liêu - nghệ sĩ

Bảy Nhiêu nghe được bài Dạ cổ hoài lang thấy hay, nên đem truyền lại cho

nhiều nghệ sĩ khác Đồng thời, cố soạn giả Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền

đưa bản Dạ cổ hoài lang lên sân khấu cải lương, qua 20 câu do nhân vật Châu

Bá Hòa hát, trong tuồng Châu Trần phải nghĩa Theo hồi ký của nghệ sĩ Bảy Nhiêu, lúc này chưa có gánh hát nào sử dụng bản Dạ cổ hoài lang, ông chính là

người đi truyền dạy từng lời ca, ngón đờn cho các gánh bạn

Chỉ sau mấy năm ra đời cho tới năm 1928-1931 về sau, sân khấu cải lương trở thành một ngành nghệ thuật “sân khấu mới”, đúng với nghĩa “cải lương” đối lại với hát bội “Cải lương” được thể hiện từ kịch bản văn học, cho đến nghệ thuật trình diễn

Đi từ nhạc lễ, ĐCTT, ca ra bộ, hát chặp, đến nghệ thuật sân khấu cải

lương là một quá trình “cải cách hát ca”, “lương truyền tuồng tích” theo lối mới,

phù hợp với nhịp sống đương đại, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của đại đa số công

Trang 21

chúng khán giả Bởi lẽ, nghệ thuật hát bội không còn phù hợp với thị hiếu xã hội đang phát triển

Bên cạnh những bảng hiệu của các gánh cải lương đầu tiên, là lớp nghệ sĩ tiên phong, đã góp phần quan trọng vào việc vun đắp cho nền móng ban đầu của một ngành nghệ thuật mới, đó là những Hai Giỏi, Năm Phỉ, Tám Cang, Tám Danh, Bảy Nhiêu, Ba Du, Ba Vân, Năm Châu, Phùng Há, Bảy Nam… mà tên tuổi, công lao, sự nghiệp của họ đã gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nền sân khấu cải lương nước nhà

1.5 SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG CẦN THƠ TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN

Sau giai đoạn phát triển rực rỡ vào thập niên 20, 30 (thế kỷ XX), nhìn chung sân khấu cải lương bắt đầu gặp khó khăn bế tắc Một phần do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế của cả nước, phần khác do sự phát triển ồ ạt, nhưng lại thiếu đường hướng rõ ràng Cụ thể là tuồng tích khá phức tạp đủ kiểu loại: tuồng Tàu, tuồng Tây, tuồng Ấn Độ, tuồng La Mã, tuồng Ả Rập, tuồng Hồng Công… khiến cho khán giả giảm đi niềm đam mê loại hình nghệ thuật này

Từ năm 1940-1945, xuất hiện kiểu tổ chức tập hợp các tài danh của nhiều gánh, diễn chung một số vở tuồng như “Đại hội chư ban” tại rạp Nguyễn Văn Hảo (1943) Giai đoạn này, số gánh bị rã khá nhiều, nhưng lập mới thì ít Chỉ còn một số gánh lớn, cố gắng cầm cự qua ngày

Tại Cần Thơ, Long Xuyên sau gánh Tập Ích Ban, Trần Đắc, Tân Tân, Nam Phương… Ở Cái Răng, có Ban cải lương Đồng Tâm ra đời, được công

chúng hoan nghênh với các vở tuồng của soạn giả Nguyễn Bá Thọ: Một chữ

đồng (xã hội), Uất trì giả điên, Đông giao tỉ tiển (Phụng Kiều - Lý Đáng), Mẫu

tử đoàn viên (Bao Công) Ghi nhận sự kiện này, nhà nghiên cứu Huỳnh Minh

trong sách “Cần Thơ xưa và nay” viết: “…Ngành ca kịch Tây Thành cũng từng

đóng góp vào việc tô điểm bộ môn sân khấu trong lĩnh vực văn hóa” Ngoài

Nguyễn Bá Thọ, lúc này Cần Thơ các soạn giả Lâm Tồn, Thanh Giang có nhiều

Đó là sự hình thành “dòng nghệ thuật cải lương kháng chiến” ở khu vực nông thôn, góp phần cổ vũ động viên tinh thần yêu nước, đánh giặc của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Tám Danh, một tên tuổi lẫy lừng người Cần Thơ ra chiến khu kháng chiến Lúc này một nghệ sĩ khá nổi tiếng trong làng dĩa nhạc Sài Gòn

là Công Thành quê ở Đầu Sấu (Cái Răng), cũng bỏ ra chiến khu Xin trích một

số đoạn về hoạt động sân khấu cải lương thời kỳ chống Pháp ở Cần Thơ theo

sách Địa chí Cần Thơ:

Trang 22

“Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (vào tháng 9 năm 1945), đoàn tuyên truyền lưu động tỉnh được thành lập, vừa tuyên truyền, vừa diễn kịch, vở

“Thiếu nhi thời loạn” của soạn giả Điêu Huyền, tiêu biểu cho giai đoạn này Rồi phong trào đờn ca tài tử - cải lương trong các cơ quan, đơn vị bộ đội, trong nhân dân phát triển rộng khắp Những bài ca cổ, ca cảnh, chặp cải lương ngắn được sáng tác với nội dung ca ngợi gương chiến đấu anh dũng của bộ đội, nhân dân; vận động sản xuất nuôi quân; thanh niên tòng quân; đả kích địch …

đã phát triển loại hình nghệ thuật non trẻ này với sức sống mới, thể hiện tinh thần yêu nước, căm thù giặc Pháp xâm lược Điều mà cải lương vùng đô thị không nói được như: gương anh hùng La Văn Cầu, Phan Đình Giót lấp lỗ châu mai, Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng, chiến thắng Tầm Vu, đội cảm tử Lê Bình…

Tuy nhiên, nói đến dòng nghệ thuật cải lương cách mạng trong giai đoạn chống Pháp, ở Nam Bộ không ai có thể quên, đã có giai đoạn loại hình nghệ thuật này bị cấm vì cho là ủy mị, rên rỉ, mất nước Nhưng cũng từ sự sai lầm ấu trĩ ấy, chúng ta càng thấy sức sống mãnh liệt của cải lương, nhất là bài vọng cổ

đã ăn sâu vào tâm não của bộ đội, nhân dân và cán bộ ta tới cỡ nào

Ở Phụng Hiệp, những bậc cao niên đã trải qua thời kỳ này kể rằng: Năm

1949 khi có lệnh cấm cải lương - vọng cổ rồi, lâu lâu, người thì nhớ tiếng nhạc lời ca, người ghiền được đờn, được hát Kẻ nhớ nghề, người ghiền nghe, lén rủ nhau kéo vô tận Lung Kè Ba, xa dân cư hàng 6 - 7 cây số ngàn, mang theo thịt quay, rượu đế, hàng chục xuồng kề lại, trên lung láng hoang vu đó, tiếng nhạc lời ca hoà quyện thâm trầm, tri âm tri kỷ Bất chấp muỗi mòng, gió mưa, sương lạnh Họ đờn ca, lai rai sáng đêm cho đã thèm Cứ thế, lâu lâu lại tổ chức một lần Mỗi lần có cả Huyện ủy, Huyện đội, cán bộ, trai gái tham gia ngày một đông Phải chăng, vì thế mà sau này, khi có lệnh cho phục hồi loại hình nghệ thuật này thì Phụng Hiệp thành lập ngay Đoàn cải lương Trường Thắng Ngoài biểu diễn phục vụ nhân dân trong huyện nhà, đoàn còn đi diễn sang tỉnh Sóc Trăng và các huyện bạn Những vở diễn tiêu biểu của đoàn gồm Tam Tạng thỉnh kinh, Một gia đình hai thế hệ, Hoàng cung đẫm máu do Trang Quốc Sử và Huỳnh Sơn Đàng vừa phụ trách đoàn, vừa sáng tác - dàn dựng

Cũng vào khoảng giữa năm 1952, Đoàn cải lương Lam Sơn thuộc Ty Thông tin tỉnh Cần Thơ ra đời, do soạn giả Điêu Huyền làm Trưởng đoàn Vở cải lương “Mười năm gian khổ” do ông soạn đã trở thành vở diễn chính của đoàn Lúc đầu, diễn trọn vở tuồng trong một đêm Sau vì quá dài nên chia làm hai phần diễn hai đêm Người diễn viên thời ấy đến nay đã 80 tuổi Đó là ông Trọng Hùng thủ vai Hai Lành, một nông dân ủng hộ nghĩa quân Lam Sơn, phò Nguyễn Trãi Ông kể: ngày ấy, Đoàn cải lương Lam Sơn lần đầu tiên tập hợp để

ra mắt tại Mười Hai Ngàn, kinh xáng Ô Môn, xã Tân Hoà (giữa đường Bà Đầm

- Thác Lác) Phương tiện vận chuyển của đoàn bằng chiếc ghe chèo khoảng 200

- 300 giạ Đi đến đâu mượn ván ngựa của nhân dân làm sân khấu, mượn đèn măng-sông của dân làm ánh sáng biểu diễn Phông hậu, cánh gà lấy vải treo lên Ông chín Điều (Điêu Huyền) vừa là Trưởng đoàn, soạn giả, kiêm luôn hoạ

Trang 23

sĩ vẽ phông giữa: cảnh rừng núi Chí Linh Đó là tài sản chính của đoàn trong đêm diễn Còn lại, mọi thứ sân khấu dàn cảnh, phông phi tất tất là của dân Đoàn đi đến đâu là cùng ăn cùng ở với nhân dân, được dân mến thương như ruột thịt Đến năm 1954, tập kết, đoàn phục vụ hai đêm để tiễn cán bộ, chiến sĩ

và con em Cần Thơ thân yêu chuẩn bị xuống tàu ra miền Bắc Sau đó, đoàn giải thể …”

Về hoạt động cải lương trong vùng bị tạm chiếm ở Cần Thơ, cũng như khu vực đô thị không mấy phát triển Chủ yếu là các gánh ở Sài Gòn về hát tại rạp lớn Trong khi đó, một bộ phận nghệ sĩ, soạn giả có tên tuổi bỏ vào chiến khu Tra cứu nhiều tư liệu, sách, báo không thấy nêu hoạt động cải lương trong vùng tạm chiếm ở Cần Thơ trong giai đoạn này

Từ năm 1954, hòa bình tái lập lại ở các đô thị, nông thôn nhưng không khí bất an vẫn gieo rắc, do bọn địch rắp tâm truy lùng những người kháng chiến cũ Cho đến khi Đảng ta chủ trương đấu tranh chính trị, các đội nhóm văn nghệ, xóm, ấp được thành lập, dùng lời ca tiếng hát, điệu múa, cổ vũ cuộc đấu tranh với kẻ thù

1.5.2 Cải lương Cần Thơ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ

Với Luật 10/59, đặt “cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, rồi thực hiện chủ trương lập khu trù mật, ấp chiến lược…chế độ Mỹ Diệm tại Cần Thơ tiến hành khủng bố khắp nơi, hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng

Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra đời (1959) chuẩn

bị Đồng khởi trên toàn miền Nam Đồng thời với việc xây dựng các lực lượng

vũ trang, Tỉnh ủy Cần Thơ quyết định thành lập Đoàn Văn công Cần Thơ Đoàn

ra mắt tại kinh Huyện Hy, xã Nhơn Nghĩa do đồng chí Quốc Thanh làm Trưởng đoàn với các diễn viên nòng cốt: Tám Đỏ, Hoàng Giác, Trọng Hùng, Ba Kiên, Hữu Đức, Thu Hồng, Kim Phỉ, Bảy Hằng, Minh Thơ, Thế Minh, Lý Wầy… tiết

mục cải lương đầu tiên là Chén cháo Chí Linh (trích từ vở cải lương Mười năm

gian khổ của soạn giả Điêu Huyền) Tháng 6 năm 1961, Đoàn Văn công Cần

Thơ vinh dự phục vụ lễ ra mắt Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Cần Thơ tại xã Thạnh Xuân (huyện Châu Thành) Nhân dân khắp nơi kể cả ngoài thành thị cũng kéo vô xem, hết lời khen ngợi nghệ thuật cách mạng

Sự phát triển của Đoàn Văn công Cần Thơ, được sách Địa chí Cần Thơ

ghi nhận khá rõ nét: “Đoàn Văn công Cần Thơ ngày một phát triển Đội ngũ

sáng tác đông hơn, kịch bản, tiết mục, chương trình phong phú hơn, được bổ sung nhiều nam, nữ diễn viên trẻ, đẹp, ca hay Tác giả có: Chí Sinh, Trần Văn, Quốc Thanh, Hoàng Hà sáng tác các vở cải lương: Cửa thiền đẫm máu, Nợ nước tình nhà, Hoa mùa xuân, Tiếng nổ đầu xuân, Hòn máu xẻ đôi… Diễn viên

có thêm: Trọng Hữu, Hoàng Đạt, Kim Khoa, Kim Ên, Út Kiền… Năm 1963, đồng chí Huỳnh Sơn Đàng thay đồng chí Quốc Thanh và một thời gian sau đồng chí Hoàng Hà làm Trưởng đoàn

Đến năm 1965, vùng giải phóng càng mở rộng, đoàn phát triển rất đông

và do yêu cầu thưởng thức văn nghệ của nhân dân nên Đoàn Văn công Cần Thơ

Trang 24

được tách ra làm hai đoàn: Đoàn cải lương do đồng chí Ba Kiên làm Trưởng đoàn, Đoàn ca múa do đồng chí Thanh Bình làm Trưởng đoàn để hoạt động Cuối năm 1969, sau các đợt tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chiến trường Cần Thơ ngày càng ác liệt, Đoàn lại chia thành 3 đội văn công xung kích theo các đơn vị chiến đấu, các vùng địch hậu, trong đồng bào giáo dân ở các địa bàn trong tỉnh Đến năm 1972, vùng giải phóng của ta được mở rộng đoàn tập hợp lại trở lại thành Đoàn Văn công Cần Thơ, do đồng chí Thanh Bình làm Trưởng đoàn, phục vụ liên tục trong tỉnh cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng”

Thời kỳ chống Mỹ, hoạt động sân khấu cải lương trong vùng địch tạm chiếm ở Cần Thơ chỉ tập trung tại đô thị (nội thành Cần Thơ và một số thị trấn cấp quận) Từ thập niên 60 (thế kỷ XX) do sự phát triển lấn lướt của điện ảnh tại Sài Gòn, nên nhiều đoàn cải lương “cấp trung ban” phải chạy về miền Tây, thường xuyên hát ở nội thành Cần Thơ Thấy kinh doanh được, nhiều nhà tư sản

bỏ vốn cất rạp tại nội thành Cần Thơ như rạp Minh Châu (sau giải phóng đổi tên

là Thống Nhất), rạp Huỳnh Cẩm Vân (sau ngày giải phóng đổi tên là rạp Hậu Giang) Tại thị xã Vị Thanh có rạp Mỹ Thanh (xây dựng năm 1974, sau ngày giải phóng là Trung tâm Văn hóa huyện Vị Thanh) Thời gian này, nổi lên một

số nghệ sĩ, bầu gánh ở Cần Thơ, thành danh như: bầu Kim Chưởng, nghệ sĩ Phượng Liên… Đến thời điểm sau ngày giải phóng 30/4/1975, có tới 28 đoàn nghệ thuật với gần 1.000 diễn viên (hầu hết là cải lương), đăng ký hoạt động tại Hậu Giang - Cần Thơ

Tóm lại, sân khấu cải lương Cần Thơ trong hai thời kỳ kháng chiến nổi lên với dòng cải lương cách mạng, đứng chân ở địa bàn nông thôn; hình thành một phương thức hoạt động phục vụ tuyên truyền với tiết mục trang bị gọn nhẹ, lực lượng nghệ sĩ diễn viên mới, chịu đựng hy sinh gian khổ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc kháng chiến ở địa phương Trong khi đó, dòng cải lương ở vùng địch tạm chiếm, chỉ bám các đô thị lớn hoạt động cầm chừng, nguồn diễn viên, kịch bản phụ thuộc hầu hết vào sân khấu cải lương Sài Gòn Tại Cần Thơ rất ít soạn giả, nghệ sĩ, tuồng tích nổi tiếng; khẳng định được

giá trị nghệ thuật

1.6 QUÊ HƯƠNG CÁC VĂN NGHỆ SĨ

1.6.1 Mấy nét về vùng đất Nhơn Nghĩa (Phong Điền, Cần Thơ) nơi sinh của NSND Tám Danh và soạn giả Điêu Huyền

Làng Nhơn Nghĩa nằm bên bờ trái rạch Cần Thơ, cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 15 km về hướng Tây Nam trên tuyến đường sông nổi tiếng

đã đi vào thơ ca: Cái Răng - Ba Láng - Vàm Xáng - Phong Điền

Cho đến thế kỷ XIX vùng này vẫn còn nhiều rừng rậm hoang vu, chưa

được khai phá bao nhiêu Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức

biên soạn dưới thời Gia Long (1802-1820) có đoạn:

Trang 25

“Đường đi qua chỗ Nê - Trạch (Ba Láng) từ cuối Đông qua mùa Xuân nước kiệt, bùn keo, ngăn lấp Từ mùa Hạ qua mùa Đông nước mưa tràn ngập bờ bến, ghe thuyền phải cỡi trên cỏ, trên bèo mà đi ”

Trong vùng Nhơn Nghĩa ngày nay vẫn còn nhiều địa danh mang dấu ấn thời hoang sơ: Rạch Trầu Hôi, Rạch So Đũa, Rạch Sung, Bưng Đá Nổi, Lung

Cột Cầu… Theo học giả Vương Hồng Sển trong sách Tự vị Tiếng nói Miền

Nam, địa danh Xà No có nguồn gốc từ tiếng Khmer: Snor; Snor là cây điên điển

(điền thanh) Sóc Snor là sóc có nhiều cây điên điển

Vùng đất hoang sơ này ngày xưa có rất nhiều thú dữ, đặc biệt là voi và rắn Người xưa còn nhiều chuyện kể về nhiều đàn voi lớn từ vùng trên đi xuống phía các vùng trũng: Xà No, Phụng Hiệp để tìm cỏ, lau sậy, nguồn nước Voi lớn đi lâu ngày tạo thành các đường mòn Trên đường từ Hậu Giang - Rạch Giá ngày nay vẫn còn nhiều địa danh: Lung Tượng, Láng Tượng Đến những năm

đầu thế kỷ XX, vùng này voi vẫn còn lộng hành Sách Nam Kỳ phong tục nhân

vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong xuất bản năm 1909 có đoạn :

“Nguyên xưa đất rộng hẳn hòi, Kinh chưa đào mở, rạch ngòi chưa thông

Qua mùa nước ngập mênh mông, Voi trên sông Lớn xuống rông băng ngàn, Lâu lâu quen ở đã an,

Dậm bờ đạp lúa cả đoàn hơn trăm

Kinh đào đường mở mấy năm,

Xà No, Đông Lợi, Láng Hầm, Ô Môn

Lũ voi sanh đẻ dập dồn, Các ông thợ bắn các thôn hiệp vầy

Biết bao công cán nặng dày, Bốn mươi dư thớt bắn rày mới an ”

(Ngày xưa gọi voi : thớt voi) Những người cao niên ở Nhơn Nghĩa, Nhơn Ái ngày nay vẫn còn kể chuyện có một con mãng xà to lớn sinh sống trong vùng, lớn đến độ có thể nuốt chửng vào bụng một con nai to

Ngược dòng lịch sử xa hơn, ở ấp Nhơn Thành, xã Nhơn Nghĩa, Bảo tàng thành phố Cần Thơ đã phối hợp với các cơ quan chức năng khai quật được nhiều

di vật của nền Văn hóa Óc Eo có niên đại khoảng thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ

VI

Từ cuối thế kỷ XIX nhiều cư dân miền Bắc, miền Trung đã men theo rạch Cần Thơ vào khai khẩn, lập nghiệp ở vùng Phong Điền, lập ra thị tứ Phong Điền Dân cố cựu đến khai phá vùng này có lẽ có nguồn gốc từ huyện Phong Điền của tỉnh Thừa Thiên - Huế Vào vùng đất mới, họ muốn lưu giữ một chút

gì của cố hương nên cũng đặt tên làng mới là Phong Điền Còn cầu Trường Tiền, tên cây cầu nổi tiếng ở Kinh đô Huế được đặt cho cây cầu nhỏ bắc qua

Trang 26

rạch Mỹ Khánh gần chợ Mỹ Khánh, nằm bên bờ phải của rạch Cần Thơ, cách Vàm Xáng không xa lắm

Vùng đất Nhơn Nghĩa bắt đầu sôi động từ khi thực dân Pháp tiến hành đào kinh xáng Xà No Theo sáng kiến của hai người Pháp: Duval và Guéry, năm

1893 Toàn quyền Đông Dương De Lanessan tổ chức đấu thầu công trình đào kinh xáng Xà No ở thủ đô Paris Công ty Montvenoux đã trúng thầu với giá 35 xu/m2 đất bùn Năm 1901, Công ty này đã huy động đến đây 4 chiếc xáng: Loire, Nantes, Mỹ Tho 1 và Mỹ Tho 2 Mỗi chiếc có công suất 350 mã lực, mỗi gàu múc được 375 lít, thổi đất bùn xa 60 mét, có thể đào sâu từ 2,5 - 9 mét Do xáng chạy bằng máy hơi nước nên thực dân Pháp phải huy động về đây hàng ngàn dân phu để dọn cây cối, đốn củi làm chất đốt Chỗ xáng neo đậu trở thành

địa danh Vàm Xáng Lẫn trong đất bùn do xáng múc lên người ta còn tìm thấy

nhiều loại xương thú lớn như voi, cá sấu

Trong số dân phu có nhiều người là tù thường phạm hay cướp phá, quấy rối Dân làng nhiều lần phải tổ chức đánh trả quyết liệt với số dân phu này Chiếc máy xáng cồng kềnh, to lớn như một con “quái thú” là biểu tượng cho nền văn minh công nghiệp, là một hiện tượng lạ cho người nông dân trong vùng:

“Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành, Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành bỏ em” ( Ca dao)

Năm 1903 kinh xáng Xà No được hoàn thành, bề ngang trên mặt rộng 60 mét, chiều ngang dưới đáy rộng 40 mét Lễ khánh thành được tổ chức rất long trọng, Toàn quyền Đông Dương đích thân xuống dự Hàng ngàn dân chúng và hương chức hội tề các làng lân cận được huy động đến Vàm Xáng Buổi lễ có biểu diễn quân nhạc của Pháp, nghệ thuật dân tộc Việt, Khmer và chưng bè thủy lục

Kinh xáng đào xong, một vùng đất đai rộng lớn hai bên bờ kinh được tháo chua, xổ phèn, đường giao thông nối liền từ Cần Thơ đến Vị Thanh, qua sông Cái Lớn rồi ra Rạch Giá, vùng biển phía Tây đất nước

Tiếng lành đồn xa, hàng ngàn nông dân ở các vùng khác kéo đến sinh cơ lập nghiệp trên nền đất mới dọc theo hai bên bờ kinh xáng

Thực dân Pháp có chính sách ưu tiên cho người Pháp hoặc người Việt có

quốc tịch Pháp được trưng khẩn đất đai Nhà văn Sơn Nam viết: “Thực dân bày

ra luật ưu tiên cho người Pháp, người Âu; mỗi người có thể trưng khẩn 1.000

ha, 5 năm sau mới đóng thuế trọn vẹn” (Sơn Nam - Cần Thơ xưa, Báo Cần Thơ

số 261 - 1994) Nhiều đồn điền có qui mô lớn được lập ra ở vùng Cần Thơ, Sóc

Trăng Ở Nhơn Nghĩa, riêng Guéry được cấp không 2.500 ha Đồn điền Albert Gressier (Đồn điền Ông Kho) thành lập ở Bảy Ngàn có qui mô rất lớn, qui tụ 3.000 hộ tá điền Đồn điền có nhà máy xay xát với 450 công nhân làm việc, mỗi ngày xay 300 tấn lúa

Kinh xáng Xà No trở thành trục giao thông thủy quan trọng Đình làng Nhơn Ái, rồi Chợ Vàm Xáng được hương chức hội tề làng Nhơn Ái đứng ra xây

Trang 27

dựng năm 1907 Lúa gạo sản xuất trong vùng nhanh chóng tăng năng suất, trở thành hàng hóa vận chuyển về Mỹ Tho, Sài Gòn, xuất cảng

“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền Anh có thương em thì cho bạc, cho tiền

Đừng cho lúa gạo xóm giềng họ hay ” (Ca dao)

Bên cạnh lúa gạo, nghề làm vườn cũng nhanh chóng phát triển Cam, quít trở thành đặc sản nổi tiếng trong vùng với tên gọi chung: “Cam Phong Điền” Vườn quít Xiêm đầu tiên trong vùng là vườn quít của ông Lê Quang Hinh ở Nhơn Ái lập ra từ năm 1910 Cam, quít từ chợ Vàm Xáng, chợ Phong Điền tỏa

đi buôn bán, trao đổi khắp nơi Nghề làm vườn phát triển đã tạo nên những con người thuộc về “văn minh miệt vườn” với những trai thanh, gái tú:

“Hò ơ trai nào bảnh bằng trai Nhơn Ái, đầu thì hớt chải, tóc tém bảy ba, mặc pyjama, khăn bàn choàng cổ Thấy em gái Ba Xuyên ngồ ngộ, muốn cùng ai thố lộ đôi lời

Hò ơ cấy cày cực (mệt) lắm em ơi, theo anh về vườn ăn trái

Hò ơ theo anh về vườn ăn trái, một đời ấm no.”

(Câu hò đối đáp trong vở Tiếng hò sông Hậu - Soạn giả Điêu Huyền)

Vùng Vàm Xáng - Phong Điền cũng là nơi nổi tiếng với nghề đóng xuồng, ghe, đặc biệt là loại ghe hầu Ghe hầu được đóng rất khéo léo, chạm trổ cầu kỳ chuyên dùng cho địa chủ, các nhà giàu có ngày xưa đi đám tiệc, đi chợ hoặc đi xem hát Câu hát xưa còn truyền lại:

“Bước xuống cầu, cầu oằn, cầu oại; bước xuống thoàng (thuyền), thoàng chích, thoàng nghiêng

Cả tiếng kêu người nghĩa Phong Điền: duyên đây không kết, người nghĩa tìm nơi đâu?”

Vùng đất Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền cũng là nơi có bề dày truyền thống Năm 1868 một lãnh tụ tên là Đinh Sâm (có tài liệu ghi là Võ Đình Sâm) dựa vào địa thế vùng đồng lầy Láng Hầm chiêu mộ những người trong vùng nổi lên khởi nghĩa chống thực dân Pháp Quân khởi nghĩa của Đinh Sâm đã kéo vào Phong Điền giết chết Cai tổng Nguyễn Văn Vĩnh Thực dân Pháp phải huy động lực lượng từ Mỹ Tho xuống đàn áp rất khốc liệt Đây có thể nói là một cuộc khởi nghĩa kháng Pháp khá sớm ở miền Tây Nam bộ Hàng trăm nghĩa quân bị giết, hàng trăm người khác bị bắt đưa đi lưu đày biệt xứ Nhưng ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa vẫn còn âm ỉ kéo dài nhiều năm sau đó

Cử nhân Phan Văn Trị (1830-1910) hưởng ứng phong trào “tỵ địa” - bất hợp tác với thực dân Pháp, năm 1868 từ Vĩnh Long đã về Phong Điền - Trà Niền mở trường dạy học, bốc thuốc và âm thầm tham gia các hoạt động yêu nước: liên lạc với các chí sĩ khác trong vùng, làm thơ lên án bọn tay sai cho thực dân Pháp Cụ Cử Trị đã có cuộc bút chiến nổi tiếng với tên tay sai Tôn Thọ Tường

Trang 28

“Đừng mượn oai hùm rung nhát khỉ Lòng ta sắt đá há lung lay”

(Thơ bút chiến của Cử nhân Phan Văn Trị )

Cụ cử Trị có một người học trò rất trung thành ở Phong Điền là ông Lê Quang Chiểu (1853-1924) Xuất thân trong một gia đình gia thế, lại có học thức, ông bị Pháp gọi ra làm Cai tổng Ông có ý định tìm cách ngăn chặn dã tâm của thực dân, giúp đỡ dân nghèo Ý định không thể thực hiện được, ông Lê Quang Chiểu từ chức năm 1897 Ông cũng là một nhà thơ yêu nước với nhiều bài thơ rất khí khái :

“Hạc lẫn bầy gà thương lũ trẻ Chồn mang lốt cọp gớm cho bây”

Năm 1903 ông Lê Quang Chiểu tập hợp những bài thơ văn yêu nước của các sĩ phu cùng thời, trong đó có nhiều bài thơ của cụ Cử Trị giao cho Nhà in

“Claude cùng đồng nghiệp” ở Sài Gòn xuất bản thành quyển Quốc âm thi hợp

tuyển Quyển Quốc âm thi hợp tuyển được phổ biến rộng rãi trong vùng

Ở Phong Điền có một nhóm ĐCTT hình thành rất sớm và hoạt động rất mạnh: Ban tài tử Ái Nghĩa (ghép từ tên hai làng Nhơn Ái và Nhơn Nghĩa) Ông Trương Duy Toản (1885-1957) là một chí sĩ yêu nước quê ở Vĩnh Long tham gia phong trào Duy Tân, Đông Du Khoảng năm 1914-1915 ông bị thực dân Pháp đưa về an trí ở Phong Điền Ở đây, ông đã sáng tác một số bài ca

có nội dung tiến bộ như: Lão quán ca, Khen chàng Tử Trực, Thương nàng

Nguyệt Nga Về sau, khi rời Phong Điền về cộng tác cho Gánh hát Thầy Năm

Tú ở Mỹ Tho, cụ Trương Duy Toản đã ghép các bài ca lẻ này thành một tiết mục

ca ra bộ đầu tiên : Bùi Kiệm thi rớt trở về Sau đó, phát triển thành tuồng cải lương Kiều Nguyệt Nga Cụ Trương Duy Toản được xem là người đầu tiên biên

soạn tuồng cải lương ở Nam Bộ

Ban tài tử Ái Nghĩa về sau cộng tác của các nghệ nhân Ban ĐCTT Bình Thủy phát triển thành Gánh cải lương Ái Nghĩa Gánh cải lương Ái Nghĩa, có các nghệ sĩ Tám Quắn (danh ca trong vùng), Sáu Hóa (đờn tranh), Sáu Cận (anh của Soạn giả Điêu Huyền - đờn cò), Tám Đỏ (anh của Soạn giả Điêu Huyền - diễn viên) và nhiều đào, kép khác Gánh Ái Nghĩa đi biểu diễn ở nhiều nơi trong tỉnh Cần Thơ cho đến những năm 1940 mới tan rã

Phong Điền cũng là nơi sớm có gánh cải lương thuộc loại “đại ban” về hát Khoảng năm 1923, khi gánh Tập Ích Ban - gánh cải lương đầu tiên của Cần Thơ đang diễn ở rạp Thầy Lý (Cần Thơ), Ban hương chức hội tề làng Nhơn Ái

đã mời gánh này về hát 3 đêm trong dịp lễ cúng đình với giá 1.200 đồng

Hai làng Nhơn Nghĩa, Nhơn Ái có thể nói là vùng đất có nhiều gia đình có truyền thống đam mê nghệ thuật Trong đó có thể kể đến: gia đình NSND Nguyễn Phương Danh (1901-1976) ở Vàm Xáng, có truyền thống 3 đời theo nghiệp hát; Điêu Huyền (1915-1983) một soạn giả bậc thầy của sân khấu cải lương miền Nam trước ngày giải phóng Ngoài ra, còn có nghệ nhân Tám Trống với hơn 50 năm chuyên làm đạo cụ, phục trang cho các gánh hát lớn ở miền

Trang 29

Nam Nơi đây, cũng có nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân từng làm Trưởng, Phó các đoàn nghệ thuật, văn công của tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang (2)

“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền” là một vùng quê có bề dày

truyền thống, văn hóa, kinh tế sớm phát triển, nơi đã sản sinh ra nhiều văn nghệ

sĩ lớn cho quê hương, đất nước

1.6.2 Mấy nét về vùng đất Thốt Nốt (Cần Thơ) nơi sinh nghệ sĩ Bảy Nhiêu

“Thốt Nốt ngang qua Trà Mòn

Miếu chùa tế tự vuông tròn lễ nghi”

Học giả Vương Hồng Sển cho rằng từ xa xưa, Thốt Nốt là một gò đất cao ráo có trồng nhiều cây thốt nốt, một cây thuộc họ dừa mọc rất nhiều nơi ở Nam

bộ

Theo sách Thời sự cẩm nang 1939, Thốt Nốt là 1 trong 3 quận của tỉnh

Long Xuyên (Thốt Nốt, Chợ Mới, Châu Thành) Quận Thốt Nốt giáp giới giữa 3 tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá và Sa Đéc lúc bấy giờ có 2 tổng: Định Mỹ và An Phú

Đến đầu thế kỷ XX, Thốt Nốt đã khá phát triển nhờ vị trí trung tâm giữa 3 tỉnh lớn: Cần Thơ, Long Xuyên, Sa Đéc

Làng Thạnh Hòa - Trung Nhứt ở vàm rạch Thốt Nốt trên sông Hậu, là chỗ mua bán lúa gạo và cá khô, dân cư sung túc và đông đến nỗi phải phân tách ra nhứt, nhì

Phần đất thuộc tổng Định Mỹ cũ, hiện nay thuộc huyện Thốt Nốt (Cần Thơ) còn tổng An Phú thuộc huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) Tổng Định Mỹ nằm ven sông Hậu, có rạch Thốt Nốt và kinh Cái Sắn, có cù lao Tân Lộc được gọi là

Cù Lao cát vì được cát bồi Sau này còn gọi “hòn đảo ngọt” vì nước ngọt, phù sa cây trái 4 mùa, trồng nhiều mía và có nhiều lò đường

Thốt Nốt là một vùng đất màu mỡ nên một số “chủ Tây” và “địa chủ” dựa vào thế lực của chính quyền thực dân đã tập trung về đây chiếm đất khai thác đồn điền trồng lúa Hầu hết ruộng đất ở Thốt Nốt đều của địa chủ Tây và Việt, trong đó có đồn điền Cờ Đỏ, chiếm trên 5.000ha Nông dân, phần lớn làm tá điền cho địa chủ

Ghi chú (2) :

+ Đ/c Lê Quang Kiên ( Ba Kiên ) - Trưởng Đoàn Văn công Cần Thơ + Đ/c Phạm Hồng Thái (Ba Xệ) - Trưởng Đoàn Văn công Cần Thơ, Chính trị viên Đoàn Cải lương Hậu Giang

+ Đ/c Nguyễn Trọng Hùng (1920) - Trưởng Đoàn Cải lương Hậu Giang III (1977)

+ Đ/c Nguyễn Thanh Liêm - Trưởng Đoàn Ca Múa Kịch Hậu Giang (1985-1986), Trưởng Đoàn Cải lương Hậu Giang, Hậu Giang II (1989 - 1993)

Trang 30

Để nâng cao sản lượng lúa, thu nhiều lợi nhuận, Pháp đã cho xây dựng hệ thống giao thông và thủy lợi Về giao thông, chủ yếu dựa vào sông Hậu, đào kinh Cái Sắn, cùng với rạch Thốt Nốt để giao lưu hàng hóa với các nơi như Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Cần Thơ Theo ông Vương Hồng Sển thì

“Ngả này là ngả tàu chạy từ Sài Gòn đi Đại Ngãi, Sóc Trăng qua các tỉnh miền Hậu Giang và thời đó gọi là lục tỉnh”

“Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát Xuồng câu tôm đậu sát mé nga Thấy em cha yếu, mẹ già

Muốn vô hoạn dưỡng biết là đặng không”

Ngoài ra, Pháp còn cho xây dựng liên tỉnh lộ 27 nối từ Cần Thơ đi Châu Đốc (quốc lộ 91 hiện nay) Sau đó, mở đường liên tỉnh nối từ ngã ba Lộ Tẻ đến Rạch Giá, Hà Tiên (quốc lộ 80 hiện nay) Chủ yếu các đường trên là đường đổ

đá, còn gập ghềnh nhưng cũng phục vụ cho giao thông rất đắc lực vào thời bấy giờ

Nằm chung trong hệ thống kinh tế vùng giữa sông Tiền và sông Hậu, quận Thốt Nốt được Pháp đầu tư là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp, với đồn điền Cờ Đỏ và cả số ruộng đất của một số địa chủ Pháp đã cho xây dựng 1 kho chứa lúa lớn tại trung tâm của quận (khu vực trường phổ thông trung học Thốt Nốt hiện nay), nhiều nhà máy xay xát dọc theo sông Hậu và rạch Thốt Nốt

để chế biến lương thực

Tại trung tâm quận, có một chợ gọi là Chợ Cũ cách chợ Thốt Nốt hiện nay khoảng 1km, có công xi rượu Phước Hiệp do ông Vương Thiệu làm chủ Đến năm 1945 thì bị Pháp tịch thu và công xi rượu này bị phá bỏ vào năm 1954 Ông Vương Thiệu có người con là Vương Có, một điền chủ hào phóng làm chủ trên 3.000 công ruộng, 1 hãng xe đò, người mà sau này bỏ vốn ra thành lập gánh hát Tập Ích Ban Bên cạnh đó còn có một xưởng nhuộm của ông Mã Chín Tệt

Thốt Nốt là nơi có nghề đóng ghe, xuồng từ rất sớm Nhiều trại xuồng nằm dọc theo sông Hậu, rạch Thốt Nốt chủ yếu đóng xuồng ba lá, mang tính gia truyền còn tồn tại cho đến ngày nay

Một loại trái cây độc đáo khác cũng được nhân dân cho là bắt nguồn từ Thốt Nốt Đó là Xoài Ngự Đây là 1 loại xoài trái bầu tròn, hột nhỏ, ăn rất ngọt Theo truyền thuyết: “Khi Nguyễn Ánh chạy trốn sự truy đuổi của quân Tây Sơn, trên đường đi có ghé qua Long Xuyên, dân làng chọn phẩm vật ngon dâng cho Chúa Nguyễn Nguyễn Ánh rất thích loại xoài này và đặt tên là Xoài Ngự (xoài

để cho vua chúa dùng)” Giờ đây, Xoài Ngự vẫn được coi là 1 đặc sản của Thốt Nốt

Năm 1897 toàn tỉnh Long Xuyên chỉ có 1 trường địa hạt và 9 trường hàng tổng tại các làng: Mỹ Chánh, Thạnh Hòa - Trung Nhứt, Bình Thủy Do đó, chỉ một số ít người khá giả được đi học, còn lại phần lớn nông dân đều mù chữ Tại chợ Thốt Nốt, trường tiểu học phân tán thành 3 địa điểm: 1 điểm ở đình làng

Trang 31

Thạnh Hòa - Trung Nhứt, 1 điểm ở gần dinh quận và 1 điểm ở mũi tàu (khu vực bến xe Thốt Nốt hiện nay)

Dân cư Thốt Nốt chủ yếu là người Việt và một số người Hoa, người Khmer tập trung sống trong 1 ấp ở vùng Cờ Đỏ và vùng sâu xã Thới Thuận

Sinh hoạt tinh thần cộng đồng của người Hoa, tập trung ở chùa Ông Bổn (Thất Phủ Võ Miếu) Đây là ngôi miếu thờ Quan Công, một biểu tượng tinh thần của người Hoa, được xây dựng rải rác ở khắp Nam bộ, nơi có cư dân người Hoa sinh sống Những năm đầu thế kỷ XX, lễ cúng chùa Ông được tổ chức rộn ràng vào ngày rằm tháng giêng Các lễ, tết này của người Hoa đã ảnh hưởng và hòa vào sinh hoạt lễ hội cộng đồng của người Việt, tạo thành một sắc thái riêng cho

cả khu vực và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Hoạt động vui chơi giải trí của người Hoa thì có múa lân, hát Tiều, hát Quảng… tại Thốt Nốt, thời điểm đầu thế

kỷ XX có 1 ban nhạc người Hoa diễn xướng rất tốt, nhưng rất tiếc hiện nay đã thất truyền

Người Khmer sinh hoạt lễ hội chủ yếu tập trung ở chùa Hàng năm có 3 ngày lễ chính là Chol Chnăm Thmây, Đônta và Óok om bók Còn lại ngày rằm thì họ đến chùa lễ Phật

Đối với người Việt thì có lễ hội cúng đình, là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tiêu biểu Ở Thốt Nốt mỗi làng đều có một ngôi đình Lễ hội cúng đình được tổ chức 3 ngày đêm với các lễ như: thỉnh sắc thần, túc yết, xây chầu,

tế Thần Nông… Lễ rước sắc thần từ nhà việc đi vòng quanh chợ và trở vào đình với nhiều hoạt động: chưng bè thủy lục, múa lân… tạo thành một lễ hội hoành tráng Hát bội là một hoạt động không thể thiếu được trong lễ hội cúng đình

Nhờ vị trí trung tâm, giao lưu nhanh chóng với các tỉnh, quận Thốt Nốt còn là nơi sớm khởi phát hoạt động văn học nghệ thuật Đặc biệt, về sân khấu cải lương

Bắt nguồn từ bối cảnh sinh hoạt kinh tế sung túc, nhiều nhân sĩ trí thức tề tựu về Thốt Nốt như: nhà yêu nước, cử nhân Dương Bá Trạc (người tỉnh Hưng Yên) bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo Năm 1911, ông được thả về, quản thúc tại Thốt Nốt Tại đây, ông mở trường dạy học và quen thân với nhóm những đồ nho khá nổi tiếng là: Nguyễn Trọng Quyền, thầy giáo Thạch Phong, thầy đồ Vũ Hoành, Tú tài Bình (người Nghệ An về Thốt Nốt mở trường dạy học ở Tân Lộc) Trong số các nhân sĩ nêu trên, Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền lúc này

đã viết văn, làm thơ khá nhiều Năm 1903, ông đã soạn tập thơ tuồng Thoại

Bạch Viên Năm 1916, nhà xuất bản Việt Sài Gòn in tập Hát đối đáp - kim thời hay lắm

Trong khi sinh hoạt nhạc lễ, phổ biến ở các dịp cúng đình - bộ môn ĐCTT phát triển trong các lễ tết, hội hè, đám tiệc Có một Ban ĐCTT ở Thốt Nốt, thường xuyên được chủ gia rước đến chơi gồm những nghệ nhân ca rất sành điệu như: Trần Ngọc Đảnh, Tư Bền, Song Hỷ, Bảy Nhiêu Các thầy đờn có Chín Dinh (đờn tranh), Tư Hạnh (đờn kìm) Ban này cũng thu nhận, truyền dạy học đờn, ca cho học trò khắp vùng Tại chợ Thốt Nốt, thập niên đầu thế kỷ XX,

Trang 32

nhiều gánh hát Tiều, ca ra bộ của Thầy Thận (Sa Đéc), gánh kim thời Đồng Bào Nam (Mỹ Tho) liên tục về trình diễn tạo nên một không khí mê thích coi hát Trong đó, có nhiều người hào sản, mê đờn ca như ông Vương Có (người Tiều lai) từng là diễn viên của một gánh hát Tiều Do đó, năm 1920 khi phong trào lập gánh hát rộ lên ở Nam kỳ, ông Vương Có ra tiền lập gánh Tập Ích Ban, với

sự hùn công của ông Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền, Huỳnh Năng Nhiêu (Bảy Nhiêu) và một số người khác ở chợ Thốt Nốt

Có người lập gánh hát, nên đã kích thích việc mở rạp hát Cũng trong năm

1920, khi gánh Tập Ích Ban đang còn tập tuồng thì ông Cả Táng (người ở chợ Thốt Nốt) liền xây dựng một rạp hát, đặt tên là rạp Nguyễn Tích Thiểu (rạp này tồn tại đến những năm sau ngày giải phóng 1975)

Có thể ghi nhận: Vùng đất Thốt Nốt không chỉ trù phú về nông nghiệp mà

rất phong phú về đời sống tinh thần Gánh Tập Ích Ban ra đời sớm nhứt của tỉnh Long Xuyên (xưa) cũng như vùng Cần Thơ Nhiều soạn giả, chủ gánh, nghệ nhân, nghệ sĩ sân khấu cải lương khởi nghiệp từ đây khá sớm Sau này, đa số đã gặt hái thành công trên bước đường hoạt động sân khấu như soạn giả Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền, nghệ sĩ Bảy Nhiêu, cô Năm Thốt Nốt và các ông

Bầu gánh Nguyễn Bá Phương, Trần Ngọc Đảnh

1.6.3 Mấy nét về vùng đất Long Thạnh (Phụng Hiệp, Hậu Giang) nơi sinh của soạn giả Quốc Thanh

Xã Long Thạnh thuộc huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ Để địa bàn phù hợp với việc lãnh đạo chỉ đạo thúc đẩy phát triển nhanh kinh tế - văn hóa - xã hội trong tình hình nhiệm vụ mới, theo quyết định của trên vào năm 1999 xã Long Thạnh chia làm 2 xã Long Thạnh và Tân Long Và từ ngày 01 tháng 01

năm 2004 khi tách tỉnh Cần Thơ thành lập thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung

ương và tỉnh Hậu Giang, xã Long Thạnh thuộc huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Ngược dòng lịch sử, xa xưa vùng đất Long Thạnh thuộc Trấn Giang được khẩn hoang từ năm Kỷ Vị (Kỷ Mùi 1739) Quá trình lịch sử khai hoang lập ấp, vùng đất Trấn Giang có nhiều thay đổi có thời gian thuộc huyện Vĩnh Định, đến huyện Phong Phú… Đến khi thực dân Pháp cai trị, vào ngày 23/2/1876 theo Nghị định của Soái phủ Sài Gòn lấy huyện Phong Phú thành lập tỉnh Cần Thơ

và phân ranh giới để cai trị, chia tỉnh Cần Thơ thành 5 quận (Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Trà Ôn, Cầu Kè), lúc đó quận Phụng Hiệp thuộc tổng Định Phước có 7 làng: Đông Sơn, Long Mỹ, Như Lăng, Song Mỹ, Phụng Hiệp,

Thường Phước, Trường Thạnh Sơn (theo tư liệu Cần Thơ xưa và nay của Huỳnh

Minh)

Vùng đất làng Như Lăng, Trường Thạnh Sơn thuộc tổng Định Phước (xã Long Thạnh hiện nay) được ông cha ta khẩn hoang lập ấp muộn so với vùng

Thường Thạnh, Thường Đông, Cái Tắc, Rạch Gòi là vùng trũng nhiều bưng

trấp lung bàu, nê địa như : Bà Nhen, Cái Nhum, Xẻo Đon, Long Sơn, Cả Sóc,

Sen Trắng, Ngã Củ đất đai ở đây tập trung vào tay một số địa chủ lớn như: Hội

Trang 33

đồng Tuấn, Xã Gấm Riêng Hội đồng Tuấn chiếm 6.000 đến 7.000 công đất

Dân cư đa số là người Việt, chỉ có một ít người Khmer sinh sống ở xung quanh chùa Như Lăng và ngọn kinh Long Sơn, họ là nông dân tá điền cho địa chủ, chịu cảnh bị bóc lột nghèo đói quanh năm

Sau khi thực dân Pháp chia quận, lập làng, Hương chức hội tề cũng lập chợ Ban Thạch, xây dựng đình làng Như Lăng (ngang chợ Ban Thạch hiện nay)

và Đình làng Trường Thạnh Sơn Các đình làng thờ “Thành Hoàng Bổn Cảnh” thờ vị tiền hiền có công với nước Nguyễn Trung Trực Đây là nơi hội họp thờ

cúng của người Việt, nhất là vào hai ngày lễ lớn hàng năm, lễ Hạ Điền (mùng 10,11 tháng 5 âm lịch) lễ Thượng Điền (rằm, 16 tháng 11 âm lịch) Ngoài ra, đồng bào Việt còn xây cất chùa thờ Phật mang tên “Hải Long Phước Tự” gần chợ Ban Thạch; còn có chùa của đồng bào Khmer đến cúng bái lễ Phật

Khi quận Phụng Hiệp từ Rạch Gòi đổi về Ngã Bảy (1915) làng Như Lăng

và Trường Thạnh Sơn được nhập lại mang tên Long Thạnh Chợ Ban Thạch là trung tâm của làng Long Thạnh được mở mang phát triển khi thực dân Pháp mở đường lộ xe từ Cần Thơ đi Sóc Trăng (1908) và từ Cái Tắc đi Rạch Sỏi, Rạch Giá xây dựng đến 1938 hoàn thành (nay là quốc lộ 61) và đào các con kinh Xẻo Vong (1908-1912), kinh Đất Sét, nhất là kinh xáng Nàng Mau (kinh Xáng Mới) nối liền từ sông Mái Dầm đến kinh xáng Nàng Mau… chính các đường giao thông thủy bộ quan trọng này xuyên qua làng Long Thạnh và chợ Ban Thạch là điều kiện thuận lợi đưa Long Thạnh mở mang và phát triển về nông nghiệp cũng như thương mại, lưu thông hàng hóa

Đặc biệt là khi thực dân Pháp đào các kinh xáng Cái Côn, Lái Hiếu (1918), kinh Quản Lộ (1914) từ Phụng Hiệp đi Cà Mau, kinh Mương Lộ từ Phụng Hiệp đi Sóc Trăng… Các con kinh hợp lại thành trung tâm Bảy Ngã, thực dân pháp gọi là Étoile Phụng Hiệp (ngôi sao Phụng Hiệp) Năm l908, chủ tỉnh Cần Thơ Outrey đưa kế hoạch biến Phụng Hiệp thành Giang Cảng (Port Flarial) nổi nhất là vào năm 1915 khi chợ quận từ Rạch Gòi dời về Ngả Bảy, Phụng

Hiệp trở nên sung túc, hưng thịnh nhanh chóng

Từ khi chợ Cái Răng (làng Thường Thạnh) và chợ Ngã Bảy (Phụng Hiệp) trở thành hai trung tâm kinh tế, thương mại và văn hóa đã ảnh hưởng rất lớn và thúc đẩy sự phát triển kinh tế văn hóa của làng Long Thạnh

Đầu thế kỷ XX, phương tiện đi lại khó khăn, xe ô tô rất ít ỏi nhưng từ Phụng Hiệp đi Cần Thơ có một chiếc “xe buýt” chạy bằng than, đi ngang qua chợ Ban Thạch rước hành khách Đường thủy có một chiếc đò đạp của ông

“Chệt Chấu” chủ đò ở cái Muồng đi từ Cái Răng đến Ban Thạch, Ban Thạch đi Cái Răng để rước hành khách và chở hàng hóa đã tạo ra sự nhộn nhịp của chợ Ban Thạch và thuận lợi cho nhân dân đi Cái Răng, Cần Thơ buôn bán và ngược lại

Khi hai trung tâm Cái Răng và Phụng Hiệp phát triển về các mặt, không chỉ tác động làng Long Thạnh về kinh tế mà còn ảnh hưởng về mặt văn hóa và đời sống Làng Long Thạnh phát triển nhanh về mặt dân số và kinh tế, yêu cầu

Trang 34

bức thiết buôn bán trao đổi hàng hóa nông nghiệp và hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ đời sống nhân dân, nên chợ Cầu Trắng Lớn (thuộc xã Tân Long hiện nay) được thiết lập, như vậy làng Long Thạnh có 2 trung tâm thương mại kích thích cho kinh tế văn hóa phát triển nhanh

Đi đôi với phát triển kinh tế, bộ mặt văn hóa văn nghệ cũng được hình thành, đáp ứng đòi hỏi về mặt đời sống tinh thần của nhân dân, từ đó các nhóm nhạc lễ được thành lập để phục vụ cho nhân dân, trong các ngày lễ Kỳ yên của

hai ngôi đình Thần, các đám cúng kiến ma chay trong làng Ngoài ra, nhóm

ĐCTT ở kinh xáng Nàng Mau (Xáng Mới) cũng ra đời, đáng trân trọng nhất là nhóm ĐCTT của gia đình ông Đặng Văn Điển (cò Điển, vì ông đờn cây đờn cò)

ba thế hệ làm văn nghệ Con trong nhà từ chị Đặng Thị Thế (Ba Thế) ca rất hay, anh Đặng Quang Sang, Đặng Hoàng Đạt đờn guitare, đờn sến, violon rất giỏi, ngón đờn tươi và mùi, tiếp nối cháu nội của ông cò Điển là Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Đặng Trọng Hữu (con anh Tư Sang) Anh Tư Sang, Hoàng Đạt, Trọng Hữu là diễn viên, nhạc công của Đoàn Văn công tỉnh Cần Thơ và Văn công Khu Tây Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ NSƯT Trọng Hữu trưởng thành trong kháng chiến và nổi danh sau ngày hòa bình cho đến nay, công chúng ĐBSCL và TPHCM mến mộ tài nghệ của Trọng Hữu

Trong gia đình còn có anh Huỳnh Sơn Đàng rể thứ ba (chồng chị Ba Thế) cũng có năng khiếu văn nghệ, trong kháng chiến chống Pháp anh đã cùng ông Trang Quốc Sử lập Đoàn cải lương Trường Thắng của huyện Phụng Hiệp, trước khi Đoàn cải lương Lam Sơn của Ty Thông tin Cần Thơ ra đời Đoàn cải lương Trường Thắng lưu diễn trong huyện và các tỉnh bạn Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch

Giá Với các vở tuồng: Tam Tạng thỉnh kinh, Một gia đình 2 thế hệ, Hoàng

cung đẫm máu do anh Huỳnh Sơn Đàng và Trang Quốc Sử tự sáng tác và dàn

dựng cho đoàn, được công chúng hoan nghênh mến mộ, đem lại nguồn vui phục

vụ đời sống tinh thần cho nhân dân

Nhân dân làng Long Thạnh và trong tỉnh Cần Thơ rất tự hào cảm mến một gia đình nông dân nghèo có truyền thống cách mạng chịu đựng nhiều gian khổ bom đạn, tham gia Đoàn Văn công của tỉnh, Đoàn Văn công Khu Tây Nam

Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, ba thế hệ gia đình đã đem tài nghệ phục vụ nhân dân trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập tự do, cũng như trong hòa bình xây dựng đất nước

Trong thời kỳ này ở các làng Thường Thạnh, Thường Đông, Đông Phước… có các nhóm ĐCTT cũng thường xuyên đến giao lưu nghệ thuật với các nhóm ĐCTT ở Long Thạnh

Do ảnh hưởng sự văn minh của thị xã Cần Thơ và các vùng phụ cận Cái

Răng, Cái Tắc, Phụng Hiệp nên ở làng Long Thạnh thời Pháp thuộc có một số

gia đình khá giả cho con đi lên Cần Thơ học đến bậc trung học, trở thành những gia đình trí thức và sớm tham gia cách mạng sau tháng Tám 1945 và tiếp tục kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ như gia đình ông Trần Ngọc Diệp ở gần chợ Ban Thạch Ông Trần Ngọc Diệp là Trưởng Ty Thông tin tỉnh Cần Thơ trong

Trang 35

kháng chiến chống Pháp Gia đình ông Võ Văn Nhành ở rạch Bà Nhen là Trưởng Ban phá hoại tỉnh Cần Thơ, hy sinh trong kháng chiến chống Pháp (cha của soạn giả Quốc Thanh) Số con em của 2 gia đình nói trên đều sớm giác ngộ

đi theo cách mạng đã trở thành những cán bộ lãnh đạo ở tỉnh nhà trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và sau ngày đất nước hòa bình

Tóm lại: Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, làng Long Thạnh chưa

được ông cha ta khẩn hoang lập làng, ấp sớm như các làng ven sông Hậu Nhưng khi được khai hoang lập làng, Long Thạnh có vị trí nằm giữa 2 trung tâm phát triển kinh tế - văn hóa - thương mại, tiếp thu văn minh ở 2 trung tâm là Cái Răng - Châu Thành, Ngã Bảy - Phụng Hiệp và Cái Tắc Có đường giao thông thủy bộ quan trọng, lộ 4 (nay là Quốc lộ l), lộ Cái Tắc - Rạch Giá (nay là Quốc

lộ 61), có kinh xáng Nàng Mau, kinh Đất Sét là điều kiện thuận lợi thúc đẩy

Long Thạnh bật dậy về mọi mặt

Con người của vùng đất này đa số là nông dân tá điền bị địa chủ bóc lột, cực khổ nghèo đói nên căm thù địa chủ, đế quốc Họ cần cù lao động chịu khó, chịu khổ để xây dựng quê hương và cuộc sống, có tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng, luôn luôn sẵn sàng đi theo ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, tham gia 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975 giải phóng đất nước và xây dựng cuộc sống trong hòa bình hiện nay

Soạn giả Quốc Thanh là người con của quê hương Long Thạnh Từ một làng nghèo nàn, khó khăn thúc giục anh tìm tòi học tập tiếp thu văn minh của xã hội Khi anh ra thị xã Cần Thơ tiếp tục học văn hóa và gia đình có truyền thống,

là điều kiện tốt thúc đẩy người thanh niên Vũ Thanh Tâm (Quốc Thanh) cháy bỏng lòng yêu nước sớm giác ngộ tham gia cách mạng Trong Cách mạng tháng Tám 1945, anh tham gia cướp chính quyền ở làng Long Thạnh và liên tục chiến đấu trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Anh đã trở thành một cán bộ hoạt động chính trị, là chiến sĩ trên mặt trận chính trị tư tưởng, báo chí, văn hoá

- văn nghệ của Đảng

1.6.4 Mấy nét về vùng đất Thường Thạnh - Châu Thành (Cái Răng), nơi sinh của soạn giả Chí Sinh

Làng Thường Thạnh xưa nằm trong vùng đất Trấn Giang được Mạc Thiên

Tứ đưa dân đến khai phá và thành lập năm Kỷ Vị (Kỷ Mùi) 1739 Vùng đất Cái Răng - Trường Thạnh, Châu Thành được cư dân đến khẩn hoang khá sớm cùng với các nơi có giồng đất cao phía Nam theo ven sông Hậu như: Thốt Nốt, Ô Môn, Bình Thủy… Vùng đất Cái Răng vào đời Minh Mạng được thành lập làng gọi là làng Thường Thạnh, dân số càng phát triển, đến năm Minh Mạng thứ 15 (1834) dân cư tăng thêm, nên tháng 12 ông Nguyễn Văn Tâm, Hồ Tôn Phước,

Hồ Tôn Tây xin lập làng mới lấy tên là Trường Thạnh, tách từ gốc của làng Thường Thạnh, với dân số 17 người, trong đó có 8 người đã đăng ký trong bộ sổ của làng Thường Thạnh dạo trước, thêm 8 người dân lậu thuế và một niên lão là Nguyễn Văn Lý (67 tuổi) Đất ruộng chịu đóng thuế gồm hai khoảnh: một do

Trang 36

Nguyễn Văn Tâm đứng tên, loại sơn điền (ruộng gò) và một sổ ruộng gò do Hồ Tôn Phước đứng tên Theo luật xưa, người đứng tên trong đơn mặc nhiên trở thành Xã trưởng để chịu trách nhiệm thu thuế đinh và thuế điền

Năm Tự Đức thứ 7 (1854), vùng đất Thường Thạnh được khai khẩn mở mang thêm Sau khi vùng đất Phong Phú thành lập tỉnh mang tên Cần Thơ, theo Nghị định của Soái phủ Sài Gòn ngày 23 tháng 2 năm 1876, làng Thường Thạnh thuộc tổng Định Bảo, quận Châu Thành Làng Thường Thạnh có 5 ấp: Thạnh

Mỹ, Yên Thượng, Yên Hạ, Thạnh Thuận, Thạnh Huề

1.6.4.1 Kinh tế - văn hóa - truyền thống lịch sử

Từ năm 1874 đến năm 1876, Tòa bố vùng Phong Phú (Cần Thơ) từ Trà

Ôn dời về Cái Răng đặt dưới quyền cai trị của viên quan Pháp tên là Versheider, vào năm 1876 Tòa bố dời về đặt tại tỉnh lỵ Cần Thơ

Vào năm 1908, lạc quan nhất về mặt phát triển kinh tế nên hương chức hội tề làng Thường Thạnh bán chợ cũ vì quá chật hẹp cho làng Thới Thạnh (Ô Môn), mua sườn nhà lồng chợ mới to hơn, quy mô, khang trang hơn với đường

bờ nóc trang trí bằng gốm men màu và có cái “chuồng cu” lạ đẹp mắt Ngoài chợ, sát mé sông là nhà cá và cầu sắt bắc qua rạch Cái Răng bé để nối liền bờ bên kia sông có dinh quận, trường học, sân vận động và nhiều chành lúa dọc theo sông Cái Răng bé đứng đầu là chủ chành lúa Lâm Chi Phát, với hệ thống kho, ghe chài và đội ngũ lái buôn có mặt các làng xóm xa xôi

Thời ấy vùng đất Thường Thạnh, Châu Thành nơi an cư lạc nghiệp dần dần trở nên trù phú, đặc biệt là sau khi thực dân Pháp đào xong con kinh xáng

Xà No (từ năm 1901 đến năm 1903) là công trình lớn đầu tiên về đường thủy nối liền ngọn rạch Cần Thơ qua ngọn sông Cái Lớn, nối sông Hậu ra vịnh Xiêm

La và các con kinh khác… Chợ Cái Răng và các vùng phụ cận như: Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Phong Điền, Mỹ Khánh, Ông Cửu, Bà Vèn, Cái Chanh, Cái Muồng… trở nên sung túc Làng Thường Thạnh bước đầu phát triển về công nghiệp và là trung tâm về thương mại Vào năm 1908 mọc lên nhiều chành lúa, nhà máy xay lúa như: nhà máy Mai Lê (ở Cái Răng bé), nhà máy Phan Quang Báo (ở Ba Láng), ngoài ra vùng đất Châu Thành còn có các nhà máy Võ Văn Sửu ở vàm Cái Da, nhà máy gạch ngói Phú Hữu, nhà máy xay lúa Ông Kho (Bảy Ngàn)

Ở Cái Răng có Công ty mễ cốc Hậu Giang, đặt xí nghiệp trang bị động cơ

có công suất 228 mã lực Hàng năm sản xuất trung bình 27.000 tấn gạo xuất khẩu Có nhà máy rượu của Pháp do Pháp lập rất sớm độc quyền sản xuất và buôn bán

Châu Thành còn có nhà máy gạch ngói Phú Hữu trang bị máy móc loại kỹ thuật cao so với các tỉnh miền Tây

Ngoài công nghiệp các xóm nghề tiểu thủ công nghiệp cũng lần lượt ra đời như: xóm Bún, xóm Giá, lò Tương ở ấp Thạnh Mỹ, xóm Bánh Tráng ở ấp

Trang 37

Yên Thượng, xóm đan thúng ở ấp Yên Hạ, nghề đóng xuồng ghe ở Cái Sơn… Ngoài ra ở Cái Răng còn nổi tiếng về nghề làm nem và bánh hỏi

Đầu năm 1911, Công ty Asiatie Petroleum cũng xin phép xây dựng cây cầu dài 15 mét tại bến Cái Răng để tàu chở dầu cập bến dễ dàng Dọc theo sông, ghe chài, xuồng, tam bản qua lại đậu chật kín cả bến chợ lại có “xà lúp” dòng hàng chục ghe chài chở lúa xình xịch đi kéo còi in ỏi … làm cho không khí của Cái Răng càng sôi động Cái Răng sớm trở thành chốn thị tứ, hoạt động mua bán sôi nổi suốt cả ngày lẫn đêm, dẫn đến một bộ phận nông dân chuyển sang nghề buôn bán, còn lưu truyền lại các câu ca dao sau:

“Đạo nào vui bằng đạo đi buôn Xuống biển, lên nguồn, gạo chợ nước sông”

Lại có một bộ phận nông dân khác rời bỏ ruộng rẫy trở thành lao động làm thuê cho các chành lúa, nhà máy xay, đi ghe chài… sống lang bạt tha hương

để lại nỗi nhớ thương của gia đình làng xóm:

“Đừng ham hốt bạc ghe chài Cột buồm cao, bao lúa nặng, tấm đòn dài khó đi”

Khi kinh xáng Xà No được thông thương, ghe thương hồ từ Cà Mau, Rạch Giá và miệt trên Trà Ôn, Cái Sơn, Sa Đéc… cũng đổ về Cái Răng mua bán lúa gạo, trái cây, cá khô, than củi,… Trên kinh xáng Xà No nước rong tràn bờ, ban đêm các đoàn ghe xuồng tấp nập đổ về Cái Răng và miệt trên buôn bán, những điệu hò Cần Thơ, Đồng Tháp của khách thương hồ đối đáp vang lên:

“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền Anh có thương em thì cho bạc cho tiền

Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê”

mở các tiệm cầm đồ, các đại lý buôn bán, chủ các chành lúa lớn ở Cái Răng còn

là chủ các dãy phố Ngoài ra còn có nhiều nhà cửa của các điền chủ, hương chức người Việt được xây dựng quy mô theo kiểu kiến trúc phương Tây như nhà Cả Đạt, Phán Đặng, Cả Thân, nhà của một số thầy thuốc thú y, bác sĩ Phòng…

Về giao thông bộ cũng phát triển sớm, có con đường từ Cái Răng đi Cần Thơ (cặp mé sông) được đổ đá, nối liền chợ Cái Răng đi Cần Thơ, có cầu Cái Răng bắc qua sông Cái Răng lớn (sông Cần Thơ) Ban đầu cầu Cái Răng làm bằng sắt có 3 nhịp được xây dựng năm 1913 dài 195 mét, chi phí 215.000 đồng (đến năm 1938 được xây dựng lại 5 nhịp) Khoảng năm 1930-1931 mới làm con đường Cái Răng đi Cần Thơ trải đá xanh (đường hiện nay), ngoài ra còn có các con đường đá sỏi dọc sông Cần Thơ đi Ba Láng vào Rạch Chiếc, từ Cái Răng đi Trà Niền, Cái Răng đi vào Ông Cửu, Bà Vèn, Cái Chanh… Người dân lúc đó đi

Trang 38

xe ngựa Lúc bấy giờ từ chợ Cái Răng đi Ban Thạch (Long Thạnh) bằng chiếc

đò đạp rước khách và chở hàng hóa Chủ đò là Chệt Chấu ở Cái Muồng

Về giao thông thủy, ngoài kinh xáng Xà No, sau khi được đào kinh Thạnh Đông và kinh Đất Sét, lưu thông thuận lợi mở ra một vùng mới sung túc Cái Chanh, Cái Muồng vườn tược cây trái phát triển, chợ Cái Chanh tấp nập người mua bán, đời sống nhân dân hưng thịnh

Có thể nói vùng đất Thường Thạnh sớm phát triển, trù phú cùng các vùng đất khác của Cần Thơ như: Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt (trước của Long Xuyên) một miệt vườn xanh thẳm, cây trái sum sê - một vùng quê đẹp Ông cha

ta xưa còn để lại các câu ca dao ngợi ca quê hương Cái Răng:

“Cầu xưa ba nhịp Cái Răng Trơ cùng tuế nguyệt trầm thăng vẫn còn Tiếng con đò mộng thon don

Tình quê bể cạn non mòn không phai”

1.6.4.2 Văn hóa

Vùng đất Thường Thạnh khi cư dân người Việt, người Hoa đến đây khai hoang lập nghiệp phát triển kinh tế họ đều mang theo những tín ngưỡng văn hóa của dân tộc Người Việt đã lập các đình thần là nơi sinh hoạt đời sống tinh thần, đồng thời cầu mong thần làng phù hộ làm ăn được mùa, cuộc sống sung túc, an

cư lạc nghiệp Vào năm Nhâm Tý (1852), đời vua Tự Đức thứ 5, ngày 29 tháng

11 (âm lịch), sắc phong Thành Hoàng Bổn Cảnh cho đình làng Thường Thạnh, đầu voi “Nước Vận” còn được giữ gìn cho đến ngày nay Hằng năm cúng hai lần

lễ lớn: Lễ Hạ Điền từ ngày 10 và 11 tháng 5 âm lịch, Lễ Thượng Điền từ ngày rằm và 16 tháng 11 âm lịch Vào những ngày này, Đình Thần tổ chức hát bội và rước sắc thần được cất giữ tại Nhà việc làng, đến ngày cúng mới thỉnh vào rất long trọng

Người Hoa đến đây kinh doanh cũng lập chùa để cầu những điều tốt lành

và phát đạt trong cuộc sống Từ năm 1848, người Hoa đã xây dựng chùa Ông (Hiệp Thiên Cung), hàng năm đều tổ chức cúng rất long trọng suốt 3 ngày đêm

từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 5 âm lịch, thí vàng, ban đêm hát Tiều, nhân dân xem suốt đêm Ngoài chùa Ông còn có Thiên Hậu Miếu (ở ấp Yên Thượng, làng Thường Thạnh), bên trong thờ Thiên Hậu, Phước Đức Chính Thần, Long Mẫu của người Hoa, bên ngoài miếu thờ Ông Tà với Cô Hồn (bài vị thờ Tứ sanh lục địa) Trong làng Thường Thạnh có miếu thờ chung Bà Chúa Xứ và năm bà Ngũ Hành Từ đó, cho thấy có sự giao thoa giữa văn hóa Hoa và văn hóa Việt cũng ảnh hưởng nhau đa dạng Ngoài ra, còn có Chủng viện Á Thánh Quý là một trong nhiều cơ sở giáo dục lớn của Hội Thánh Công giáo ở miền Hậu Giang Nơi đào tạo các vị linh mục tương lai của các tỉnh miền Hậu Giang, được thành lập từ năm 1956 ở Ba Xuyên (Sóc Trăng), sau dời về ấp Yên Thượng, làng Thường Thạnh

Song song với phát triển kinh tế, nhu cầu hưởng thụ văn hóa văn nghệ giải trí nâng cao, đời sống tinh thần cũng được nhân dân đòi hỏi Ông Bảy Van

Trang 39

đứng ra xây dựng nhà hát đặt tên “Dật Tiên” đã thu hút nhiều đoàn hát của Cần Thơ, Sài Gòn đến đây hát như: gánh Trần Đắc, gánh Bầu Bòn…

Tại Cái Răng cũng thành lập Ban “Đồng Tâm”, hát những vở tuồng khá hay của soạn giả Nguyễn Bá Thọ như:

- Một chữ đồng

- Uất Trì giả điên

- Đông giao tỉ tiển

(Nhung Kiều - Lý Đáng)

- Mẫu tử đoàn vi

(Lý Thần Phi và vua Tống Nhân Tông - Vụ án Quách Hòe…) được khán

giả tán thưởng nhiệt liệt

Ngoài ban Đồng Tâm tại Cái Răng, ở Châu Thành còn có gánh cải lương

Ái Nghĩa do nhóm Sáu Cận, Tám Quắn, Chín Điều (Điêu Huyền) thành lập… Chưa kể đến các nhóm ĐCTT ở làng Thường Thạnh và các làng khác trong quận Châu Thành Tại làng Thường Thạnh có một số nghệ sĩ nổi tiếng trong cả nước như: họa sĩ Tô Dự, danh hề Thanh Nam…

Đi đôi với phong trào văn nghệ về thể thao cũng là nơi trung tâm, có phong trào mạnh, có hai sân bóng đá (phía bên song cầu sắt Cái Răng Bé và sau đình Nước Vận), thường xuyên tổ chức giải và đá giao hữu với các làng trong quận, đã đào tạo được thủ môn nổi tiếng như: Tài, Biện cung cấp cho đội bóng của tỉnh Nơi đây cũng có phong trào bơi lội mạnh và đội lân nghệ thuật múa rất hay được công chúng ca ngợi

1.6.4.3 Giáo dục

Thời Pháp thuộc do chính sách “ngu dân” việc mở trường dạy chữ cho con em nhân dân rất hạn chế Theo một số người cao tuổi kể lại, ở các làng của quận Châu Thành chỉ mở đến lớp năm, Đồng ấu (Enfantin), lớp bốn dự bị (Préparatoire) rất ít làng mở đến lớp ba, Sơ đẳng (Élémentaire) Cả quận Châu Thành, tại Cái Răng chỉ có một trường tiểu học gồm một lớp nhì một năm (Cour Moyène 1 è), một lớp nhì hai năm (Moyène 2 è) và một lớp nhứt (Supérieux) thi đậu được cấp bằng Certificat Khi đậu tốt nghiệp Tiểu học, muốn học lên bậc Trung học phải lên tỉnh lỵ Cần Thơ, chỉ có con nhà giàu mới có tiền đi học

Ở làng Thường Thạnh mở đến lớp 3 chỉ có 2 lớp ở chợ Cái Răng phía bên sông cầu sắt Cái Răng bé, và một lớp ở Cái Chanh Do đó, phần lớn con em nhân dân dốt, số học đến lớp 3 lớp nhì một năm, hai năm, lớp nhứt đều là con

em nhà khá giả (trung nông trở lên)

1.6.4.4 Truyền thống lịch sử

Nhân dân làng Thường Thạnh và quận Châu Thành đều ảnh hưởng và

kính phục nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị (Cử Trị) ở Trà Niền làng Nhơn Ái,

Trang 40

nêu cao tiết tháo với tấm lòng sắt đá không đầu Tây, làm thơ chống Tôn Thọ Tường và bọn bán nước:

“Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ Lòng ta sắt đá há lung lay!”

Hay Lê Quang Chiểu (Cai Tổng) ở Phong Điền, Nhơn Ái (quận Châu Thành) không màng danh lợi từ quan không làm tay sai cho ngoại bang để cùng chia sẻ nỗi khổ của đồng bào trong cảnh nô lệ bị thực dân cai trị:

“Dây ben mang cánh thêm ràng buộc Mộc ký đeo lưng khó khỏe hòa”

Một sự kiện được nhân nhân của vùng Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Thường Thạnh,… kính nể khâm phục, vào năm 1868 Đinh Sâm lãnh đạo nghĩa quân vùng Trà Niền - Ba Láng diệt Cai tổng Định Bảo Nguyễn Văn Vĩnh làm cho thực dân Pháp và bọn tay sai ở tổng Định Bảo lo sợ Cuộc khởi nghĩa thất bại, Đinh Sâm anh dũng hy sinh Cụ Cử Trị thương cảm khôn cùng, đề cao khí tiết Đinh Sâm qua câu đối truy niệm:

“Võ kiếm xung thiên, Ba Láng giang đầu lưu hận huyết

Văn tinh lạc địa, Trà Niền thôn lý đái sầu nhan”

Tóm lại những năm đầu của thế kỷ XX, Châu Thành trung tâm là Cái Răng làng Thường Thạnh sớm hưng thịnh về nhiều mặt: Có vị trí thuận lợi là cửa ngỏ phía Nam của tỉnh lỵ Cần Thơ, nằm trên trục giao thông về đường thủy

và đường bộ nên có điều kiện cho kinh tế, thương mại phát triển, dân cư tập trung đông đúc, đời sống sung túc, văn hóa văn nghệ phong phú Làng Thường Thạnh vùng đất được hình thành sớm và phát triển, giao lưu kinh tế gắn liền với giao lưu văn hóa ngày càng hưng thịnh so với các vùng chung quanh và ảnh hưởng sự phát triển văn minh của tỉnh lỵ Cần Thơ trung tâm của miền Tây Nam

bộ Vùng đất có truyền thống văn hóa, do đó có điều kiện thuận lợi, nên Thường Thạnh sớm hình thành và phát triển các đoàn hát Cải lương, phong trào hò vè, ĐCTT và có nhiều soạn giả cải lương nổi tiếng như Điêu Huyền, Nguyễn Bá Thọ đàn anh trước đây đã gieo mầm cho phong trào văn nghệ xã Thường Thạnh

và ảnh hưởng đến tâm hồn nghệ thuật của soạn giả Chí Sinh sau này

***

Ngày đăng: 23/05/2021, 02:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w