1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BẢO TÒN VÀ PHÁT TRIẺN LẺ HỘI TRUỴÈN THỐNG CỦA NGƯỜI VIẸT ờ ĐÒNG BẰNG SÔNG cửu LONG TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI

11 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình này, một mặt lễ hội kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống có từ cội nguồn; mặt khác, nó phát triển trong không gian, thời gian và chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiê

Trang 1

BẢO TÒN VÀ PHÁT TRIẺN LẺ HỘI

TRUỴÈN THỐNG CỦA NGƯỜI VIẸT

TRONG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI

Nguyễn Xuân H ồng*

1 T i ể u theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn lễ hội là gìn giữ, lưu

n lại những giá trị văn hóa của lễ hội Phát triển vận động theo quy luật khách quan, đem lại những biến đổi các giá trị văn hóa của lề hội nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống của con người Bảo tồn và phát triển lễ hội không phải là hoạt động cản trờ lẫn nhau, mà trong một chừng mực nào đó bảo tồn còn là cơ sở cho sự phát triển lễ hội theo đúng hướng Thông qua phát triển, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ hội nhàm thể hiện bản sắc riêng của mình

Lễ hội người Việt ở đồng bàng sông Cửu Long (ĐBSCL) là sự tiếp nối, phát triển lễ hội của người Việt ở đồng bằng sông Hồng trong quá trình di cư mở mang đất nước Trong quá trình này, một mặt lễ hội

kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống có từ cội nguồn; mặt khác, nó phát triển trong không gian, thời gian và chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội cụ thể ở ĐBSCL

ĐBSCL hiện có 683 cơ sở tín ngưỡng gồm đình, đền, miếu, lăng thờ cá ông, dinh, lăng mộ, gò của người Việt có tổ chức lễ hội hàng năm với đầy đủ các nghi thức cúng tế, trò chơi, Xây chầu, Đại bội, Tôn vư ơng1 Tuy nhiên, trong tham luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến ba vấn đề của bảo tồn - phát triển lễ hội truyền thống tiêu

* TS Trường khoa Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, trường Đại học Văn hóa thành phố

Hồ Chí Minh.

1 Nguyễn Xuán Hồng, “Phác họa về lễ hội dân gian/ truyền thống cùa người Việt ở

đồne bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Di sán Văn hóa, số 2 (27) - 2009, tr 60 - 63.

Trang 2

biêu của người Việt ở ĐBSCL trong điều kiện công nghiệp hóa, cơ

chế thị trường hiện nay

1 Tác động của quá trình công nghiệp hóa, co- chế thị trưòng làm biến dổi các m ăt của lễ hôi• •

Lễ hội là sản phẩm văn hóa của cộng đồng Sự hình thành phát

triển cùa lễ hội luôn bện chặt với những điều kiện lịch sử, kinh tế, văn

hóa - xã hội cụ thể Tuy nhiên, cũng như các hiện tượng văn hóa - xã hội

khác, lễ hội không phải là hiện tượng “nhất thành bất biến” mà luôn

biến đôi và tiếp nhận các giá trị văn hóa mới được hình thành trong hoạt

động thực tiễn của con người Trong thời đại ngày nay, lễ hội còn bị tác

động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, các yếu tố của cơ chế thị

trường dẫn đến những biến đổi về hình thức, nội dung và quy mô tổ

chức của nó

Thứ nhất, những thể hiện trong nhu cầu tâm linh của người dân từ

xưa dến nay đều gắn với sự cầu mong được “an khang thịnh vượng”,

tức là ước nguyện về sự bình an, khỏe mạnh và phát triển Như vậy,

trong tâm thức của họ luôn tồn tại ỷ nghĩa của tính thực dụng Điểm

khác biệt cùa ý nghĩa này trong cơ chế thị trường thường được thể hiện

cụ thế, mạnh mẽ hơn Chăng hạn như tục vay tiền Bà ở lễ hội Bà Chúa

Xứ núi Sam Trong quan niệm dân gian ở vùng đất này thánh thần gần

gũi với đời thường và mọi người dân, lúc túng thiếu thì “mượn nhau” để

làm ăn sinh sống, song "có vay có trả” sòng phẳng Quan niệm dân gian

còn cho rằng tiền của Bà may mắn, những người vay tiền Bà làm ăn đều

phát đạt, mồi năm đến kỳ hẹn (lễ hội) người ta trả lại tiền của Bà “cả

vốn lẫn lời” bằng kim ngân hoặc tài trợ với số tiền nhất định nào đó cho

việc tu sửa di tích hoặc tổ chức lễ hội Biểu hiện trên cho thấy sự phát

triển của bộ phận kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện

tượng này phán ánh niềm tin mạnh mẽ gắn với ý nghĩa thực dụng, khả

năng tự phát trong tư duy của các thành phần trong xã hội thời mở cửa

Thứ hai là sự mở rộng đối tượng tham dự lễ hội Nếu như thời kỳ

trước đổi mới, đối tượng tham dự lễ hội chủ )íếu là người dân địa

phương - nơi tổ chức lễ hội, thì sau thời kỳ đối mới, đối tượng đến với lễ

hội đã vượt ra khỏi không gian của làng xã, bao gồm các thành phần

Trang 3

trong xã hội Điển hình như lễ hội tại miếu Bà Chúa Xứ núi Sam (thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang) có tới vài chúc ngàn lượt người hàng năm và gần đây là lễ hội Gò Tháp (huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) Hai hiện tượng trên tiêu biểu cho loại hình lễ hội tín ngưỡng dân gian ở vùng đất ĐBSCL và cả Nam Bộ Trường hợp khác, người dân nơi đây rất coi trọng các vị nhân thần có công với làng nước, lễ hội Nguyễn Trung Trực (tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang) là một ví dụ Năm 2008, lễ hội này “được tổ chức với nhiều hoạt động văn hóa và quảng bá du lịch qua tái hiện chiến công của cụ Nguyễn Trung Trực, thu hút hơn 600.000 người tham dự” 1 Theo Sở văn hóa, Thể thao và

Du lịch tỉnh Kiên Giang, ban hậu cần của đình Nguyễn Trung Trực đã

sử dụng 66 tấn gạo và các vật phẩm khác để chế biến món ăn chay phục vụ khách thập phương Các vật phẩm này chủ yếu do các cơ quan đoàn thể, các hội đoàn và của người dân trong toàn vùng Nam Bộ đem đến để tỏ tấm lòng thành kính với cụ Nguyễn Trung Trực Các hiện tượng nêu trên không có trong thời kỳ trước đổi mới Điều ấy chứng minh ràng, cơ chế thị trường đã mở ra một quá trình xã hội hóa mạnh

mẽ, các cộng đồng làng xã, các hội đoàn, các doanh nghiệp có cư hội liên kết với nhau trong phát triển kinh tế, đời sống của người dân được nâng cao, có điều kiện đi lại, thăm viếng, thỏa mãn nhu cầu tinh thần của riêng mình

Thứ ba, lễ hội trở nên phong phú, đa dạng về loại hình và nội dung, hình thức thể hiện, trước nhất là sự mở rộng về các loại hình lễ hội hiện đại như: lễ hội tòng quân; lễ hội kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, của địa phương; ngày hội văn hóa thể thao; ngày hội văn hóa các dân tộc Các lễ hội này thường được các đạo diễn, các biên đạo dàn dựng theo phong cách vừa truyền thống vừa hiện đại, mà người ta thường gọi là “sân khấu hóa lễ hội” Mục đích chính của các lễ hội hiện đại là hướng đến đám đông, đề cao vai trò của chính trị Đối với các lễ hội truyền thống, trong một vài trường họp đã xuất hiện thêm những nghi thức mới, chẳng hạn như lễ “Khai hội” (năm 2001), lễ “Phục hiện”

1 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội nghị triển khai công tác văn hóa, thê thao và

du lịch năm 2009 (Kỷ yếu), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xuất bàn năm 20 0 9 , Hà Nội! tr 276.

Trang 4

(năm 2002) trong lề hội Bà Chúa Xứ núi Sam hoặc xuất hiện các yếu tố hiện đại như biếu diễn nghệ thuật, thể thao, các trò chơi hiện đại

Thứ tư, vấn đề xã hội hóa hoạt động văn hóa và lễ hội là nhờ vào nguồn lực (con người, tài chính, các phương tiện ) của các thành phần kinh tế Xã hội hóa hoạt động văn hóa và lễ hội thực chất là phát huy quyền làm chủ về tổ chức, điều hành của các thành phần trong xã hội trong các lĩnh vực hoạt động văn hóa và lễ hội, nói một cách khác là mời gọi đóng góp tiền của, công sức của các thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân dân Hiện nay, các lễ hội tồ chức với qui mô lớn như lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam, lễ hội Nguyễn Trung Trực (TP Rạch Giá, tỉnh Kiện Giang) đều có sự đầu tư, đóng góp của các “mạnh thường quân”

và vai trò tố chức, giám sát của cộng đồng Có thể xem đây như một giải pháp tích cực vừa phát huy được sức mạnh liên kết của cá nhân và cộng đồng vừa giảm nhẹ đầu tư nguồn nhân lực của Nhà nước

Thứ năm, lễ hội và du lịch là mô hình khá phổ biến hiện nay Mô hình này mới được hình thành những năm gần đây, nhưng nó đã đem lại những hiệu quả văn hóa và kinh tế thiết thực Trong hội nghị triển khai công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2009 của Bộ Văn hóa, Thể Ihao và Du lịch đã có những đánh giá: “Hoạt động lễ hội đã thực sự trở thành hoạt động văn hóa du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, góp phần thúc đấy tăng trưởng kinh tế ” Như vậy, lễ hội và du lịch trở thành sản phẩm văn hóa đem lại những lợi nhuận kinh

tế đáng kể cho địa phương và đất nước

Trong điều kiện cơ chế thị trường, quá trình tổ chức lễ hội cũng có những thách thức và tiêu cực của nó

Trước tiên, lễ hội có điều kiện nâng cao chất lượng về hình thức, nội dung, qui mô tổ chức và mở rộng đối tượng tham dự v ấ n đề này đặt

ra yêu cầu ngày càng cao đối với cán bộ quản lý văn hóa và những người hoạt động chuyên môn nghề nghiệp Mặt khác, những đầu tư, đóng góp của các “mạnh thường quân” thường gắn với lợi ích cá nhân của họ Trong một số trường hợp các cá nhân đã chi phối làm biến dạng cảnh quan, di tích, lễ hội Bài toán được đặt ra ở đây là làm thế nào phát

' Sđd, tr 282.

Trang 5

huy được sức mạnh của các “mạnh thường quân” mà vẫn đảm bảo được việc bảo tồn và phát triển lễ hội

Cơ chế thị trường đã đem lại những nguồn thu đáng kể cho lễ hội Tuy nhiên, quản lý nguồn thu đó như thế nào cho họp lý là vấn đề cần phải bàn Thực tế khảo sát cho thấy, đa số nguồn thu từ tiền công đức đều do ban quản trị đình, miếu, lăng (nơi tổ chức lễ hội) nắm giữ Tuy nhiên, cũng có ý kiến đòi sự tham gia quản lý của chính quyền địa phương vào lĩnh vực này Nếu vậy, dẫn đến các thú tục thu - chi theo quy định của tài chính, “nộp tiền vào thì dễ, rút tiền ra lại hết sức khó khăn” Cách làm này dẫn đến việc trùng tu, sửa chữa hoặc mở rộng không gian di tích, tổ chức lễ hội kém hiệu quả, thậm chí di tích xuống cấp mà không rút dược tiền để sửa chữa Vì vậy, các cơ quan chức năng cần thống nhất quan điểm, qui định rạch ròi quyền lợi của đôi bên, đặc biệt tin tưởng vào tinh thần tự quản (về tổ chức, thực hiện, giám sá t ) của cộng đồng

Nhu cầu tâm linh được mờ rộng, đi đôi với nó là sự hồi sinh của các hiện tượng mê tín, dị đoan trong lễ hội Bên cạnh đó còn phải ke đến những yếu kém về mặt an ninh, y tế và an toàn thực phẩm trong lễ hội Khắc phục được những yếu kém này, lễ hội mới thu hút được khách du lịch, đặc biệt là khách nước ngoài Điều này còn trông chờ vào mức độ kiên quyết hay không của các cơ quan quản lý của Nhà nước

Tóm lại, cơ chế thị trường là cơ hội để lễ hội truyền thống phát triển mạnh mẽ Sự phát triển này hoàn toàn không thuận chiều mà có những mặt tích cực do cơ chế thị trường đem lại Nhìn tổng thể, nhũng mặt tích cực vẫn là điểm nhấn quan trọng để phát triển Nếu như các giá trị trong lễ hội có thể biến đổi về thứ hạng do nhu cầu của người tiêu dùng thì bản chất của giá trị vẫn phản ánh những đặc trưng kinh tế, văn hóa - xã hội và sự trường tồn của cộng đồng Vì thế chúng ta cũng không nên quá băn khoăn sợ đánh mất bản sắc dân tộc, nhất là trong cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay v ấ n đề đặt ra ở đây là làm thế nào để lễ hội truyền thống cùng song hành phát triển trong xã hội đương đại, để nhu cầu tâm linh của người dân được đáp ứng

Trang 6

2 Những điều kiện cần, đe bảo tồn - phát triển lễ hội

Chính sách của Đang và Nhà nước về lĩnh vực văn hóa thể hiện ở chu trương xây dựng nên văn hoá tiên tiên, đậm đà bản sắc dân tộc và những chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá Các chủ trương này

đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho các địa phương hoạch định các chính sách bảo tồn - phát triển văn hóa, xây dựng các chương trình, dự

án văn hóa và các giải pháp phù hợp với địa phương mình Các chủ trương, chính sách bảo tồn - phát triển văn hóa (trong đó có lễ hội truyền thống) còn quan trọng ở hai điểm: thứ nhất, nó chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác giữ gìn, phát huy truyền thống dân tộc; thứ hai, Nhà nước đầu tư tài chính tu sửa di tích, nâng cấp lễ hội truyền thống, công nhận di tích cấp quốc gia hoặc di tích cấp tỉnh đối với các địa phương đã khơi dậy và cùng cố ý thức giữ gìn di sản văn hoá cúa mọi người dân, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Công tác tổ chức quản lý di tích, lễ hội là những biện pháp cụ thể hóa các chủ trương chính sách của Dảng và Nhà nước Trước nhất là việc phân cấp quản lý di tích, lễ hội Nhiều nơi di tích, lễ hội do các cấp chính quyền (cấp tỉnh, huyện, xã, thôn) quàn lý, nơi thì Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý, nơi khác lại do Ban quản lý di tích quán lý về chuyên môn, cũng có nơi thủ nhang, thủ đền quản lý Bên cạnh đó, việc quản lý và sử dụng các nguồn thu - chi từ lễ hội và di tích, đặc biệt là nguồn thu từ tiền tài trợ của các nhà hảo tâm, tiền công đức, tiền cung tiến được mỗi địa phương áp dụng một kiểu, dẫn đến bất cập trong việc quản lý di tích, lễ hội Như vậy, vấn đề được đặt ra ở đây là cách thức tô chức quàn lý lỗ hội phái đảm bảo hài hòa giữa hai yếu tố: sự quản lý về mặt Nhà nước và phát huy được tính tự quản của cộng đồng

Quản lý Nhà nước về văn hóa (lễ hội) mang tính định hướng trên

cơ sở các văn bản pháp quy của Nhà nước đã ban hành, gồm các khâu như kiểm tra, cấp phép, an ninh, phòng cháy, chữa cháy trong thời gian diễn ra lễ hội Chính quyền địa phương không can thiệp sâu vào lĩnh vực chuyên môn, cũng như các khoản tiền công đức, "giọt dầu" hay dịch vụ mà các di tích thu được hàng năm

Trang 7

Phát huy tính tự quản của cộng đông thực chât là đê cao tinh thân dân chủ “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” trong tổ chức, điều hành và quản lý lễ hội

Lễ hội là của làng thì không có ai khác, người dân ở làng đó chính

là chù thể tham dự, tổ chức, điều hành Điều này được người dân chuẩn

bị rất chu đáo, từ việc sắm sừa quần áo, quét dọn vệ sinh di tích đến việc thành lập ban quản trị, ban tế tự của lễ hội Như vậy, vai trò của người dân ở đây giữ vị trí then chốt để tạo ra “linh hồn” của lễ hội Tính tự quản của cộng đồng còn thể hiện trong việc bàn bạc, quyết định các khoản thu chi dùng vào những công việc như tu bổ di tích, hỗ trợ các di tích khác, làm từ thiện, tổ chức lễ hội những năm tiếp theo Tất nhiên, các khoản thu chi nàv được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của người dân, đảm bảo trung thực, khách quan

Ngoài ra, tổ chức quản lý di tích, lễ hội còn phải kể đến công tác tuyên truyền, quàng bá giới thiệu về công đức của các danh nhân, giá trị kiến trúc, mỹ thuật của di tích, truyền thống lịch sử lễ hội, khơi dậy nét đẹp văn hóa, tôn vinh các bậc tiền nhân có công với dân, với nước; gắn

lễ hội với việc quảng bá du lịch, giới thiệu sản phấm, sản vật của địa phương; phổ biến quy chế lễ hội và nội quy bảo vệ di tích, bảo vệ môi trường thiên nhiên đổi với người dân Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục là xây dựng những quy chế tổ chức một cách cụ thể phù hợp với quy mô lễ hội đã được quy hoạch và đặc thù địa phương từ quy định nơi bán hàng, dịch vụ đến bãi đồ xe, đường đi lối lại, đặc biệt là các quy định chổng mê tín dị đoan và tệ nạn xã hội Và, quan trọng hơn, phải có những biện pháp chế tài, bẳt buộc người tham gia lễ hội thực hiện một cách nghiêm túc những quy định đã đề ra

Cách thức quản lý di tích, lễ hội như trình bày ở trên sẽ khai thác

và phát huy được những thế mạnh của từng di tích, lễ hội, vừa đảm bảo dược sự định hướng của Nhà nước về văn hóa (lễ hội), vừa tạo ra sự đồng thuận, tự giác tham gia của người dân địa phương vào việc bảo tồn, phát triển lễ hội

Ngày nay việc tổ chức lễ hội không chì khuôn lại trong không gian của làng mà mở rộng ra liên làng, liên vùng Điều ấy đặt ra đối với

Trang 8

các ban quản lý di tích, các hội đình, hội đền cần phái liên kết lại với

nhau Thực tế cho thấy, các di tích ớ ĐBSCL đều có các ban, hội này

Sự liên kết giữa các di tích sẽ mang lại những hiệu quả sau: Một là, tăng

cường cúng cố mối quan hệ thân thiện giữa các cộng đồng làng xã, mà

đại diện là các ban, hội của các cộng đồng làng xã ấy Hai là, các hội

viên trong ban, hội có cơ hội để phối hợp, học tập lẫn nhau trong việc

bảo vệ di tích, tổ chức lễ hội, tác động cùng nhau giữ gìn và phát huv

truyền thống của dịa phương mình Ba là, liên kết giữa các di tích còn là

điều kiện đế khơi dạy khả năng sáng tạo văn hóa của người dân, xây

dựng những chuẩn mức về thái độ ứng xử trong lệ hội

3 Phát trien cấu trúc của lễ hội truyền thống của nguòi Việt ởĐBSCL

Việc bảo tồn và phát triển lễ hội truyền thống của người Việt ở

ĐBSCL trước hết là khẳng định, củng cố những giá trị cùa lễ hội đã

được thiết lập, nâng cao chất lượng về nội dung, hình thức và phương

cách tiến hành lễ hội, phát triển lễ hội trong điều kiện có sự giao thoa và

thống nhất giữa các mặt dối lập của văn minh công nghiệp và văn minh

nông nghiệp, giữa văn hóa cổ truyền và văn hóa hiện đại của nền kinh tế

mở Bởi vậy, chúng tôi cho ràng phát triển cấu trúc của lỗ hội truyền

thống tiêu biểu của người Việt ử ĐBSCL cần tập trung vào hai vấn đề

cơ bản:

- Phát triển lẽ hội trên cơ sở xây dựng cộng đồng văn hóa m ới - cộng đồng Hên làng.

Qua nghiên cứu các cộng đồng dân cư ở ĐBSCL chúng tôi nhận

thấy một sổ đặc điểm nổi trội:

+ Hình thái tụ cư của các cộng dồng làng xã trên những giồng

đất cao, kéo dài theo sông rạch Làng có lịch sử ra đời muộn hơn so

với cộng đồng làng xã ở vùng ngoài Nguồn gốc các cư dân đa số là

dân tứ xứ

+ Người Việt khi lập làng ở Nam Bộ đã có sự điều hòa văn hóa

với người bản địa

J- Văn hóa truyền thống cùa các cộng đồng làng ờ Nam Bộ cũng

như ĐBSCL thoáng mờ

Trang 9

Như vậy, xây dựng cộng đồng văn hóa mới - liên làng ở ĐBSCL

trong quá trình đi lên hiện đại hoá có những thuận lợi là: 1 / người dân dễ

dàng tiếp nhận những quan điểm mới về cộng đồng văn hóa, về các

thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại; 2/ xây dựng và phát triến

một loại hình cộng đồng mới trên cơ sở lấy văn hóa truyền thống cúa

làng làm trọng tâm, chi phối và tiếp nhận các giá trị văn hóa của các

cộng đồng khác để tự hoàn thiện, phát triển Tất nhiên quá trình thực

hiện cũng không phải “một sớm một chiều”, nhưng chắc chắn nó không

bảo thủ như các cộng đồng làng xã cổ truyền ở Bắc Bộ và Trung Bộ

Lễ hội truyền thống không chí dóng vai trò củng cố, liên kết các

thành viên trong cộng đồng mới, mà nó còn tác động đến quá trình phát

triển kinh tế của cộng đồng mới Tác động này thể hiện ở những khả

năng như phát huy được các di sản văn hóa truyền thống và quy tụ được

sức mạnh của nhân dân (nhân lực, tài lực, vật lực) xây dựng và phát

triển cộng đồng

- Phát triển lễ hội theo hướng nâng cao các giá trị văn hỏa

truyền thống

Trước hết, cần phải coi trọng phát triển những thành tố văn hóa

vật thể và văn hóa phi vật thể trong cấu trúc tổng thể của lễ hội truyền

thống trong xã hội đương đại

về văn hỏa vật thế: tu chỉnh, mở rộng không gian của các cơ sở

thờ tự (đình, đền, miếu, lăng ), tu chỉnh hệ thống lỗ bộ (nghi trượng), bài trí nội, ngoại thất hợp lý, môi trường cảnh quan và các yếu tố khác như đường đi lối lại của di tích

về văn hóa phỉ vật thê: giữ gìn và nâng cao chất lượng hệ thống nghi thức tế lễ, rước của lễ hội Đăc biệt chú trọng đến những nghi thức

độc đáo như: lễ rước ông trên biền hoặc trò diễn hát bả trạo, chèo đưa linh (lễ hội Nghinh ông); Xây chầu, Đại bội, Tôn vương (lễ hội đình, miếu, lăng ); lễ tắm Bà trong lễ hội miếu Bà Chúa Xứ núi S am

Ở ĐBSCL, khi người ta nói đến lễ hội thường kèm theo câu nói cừa miệng “yến diễn ca xướng”, nghĩa là khi đình đám thướng có ăn uống hát xướng Ăn uống ở đây mang tính cộng cảm không xem nặng ý nghĩa vật chất mà là một nghi thức của lễ hội, trong dân gian còn gọi là

Trang 10

“thụ lộc thánh” Vì thế, trong bất kỳ lễ hội nào, cỗ bàn hầu thánh (chay hoặc mặn) đều được các đầu bếp có tay nghề chế tác đẹp hơn, ngon hơn, bày biên trang trọng hơn, khác với ngày thường Chính cái khác thường

ấy là nguyên nhân trực tiếp khiến cỗ bàn trong lề hội trở thành một biểu thị của tính nghi thức, tức là nhờ có nó mà người ta mới tri giác được cái khác thường của ngày hội

Bên cạnh đó cái khác thường còn hiện tồn thông qua các trò chơi, trò diễn dân gian, về phương diện tâm lý, không có những hoạt động này thỉ con người khó có thế giải phóng những xung cảm bị dồn nén, khó có thế đạt đến trạng thái tâm lý thăng hoa của ngày hội

v ề nguyên tắc, bảo tồn - phát triển phải trên cơ sở các giá trị của văn hóa truyền thống Lịch sử đã chứng minh, lễ hội truyền thống của người Việt ở ĐBSCL không đơn thuần chỉ là bàn sao mờ nhạt của lễ hội người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, mà nó còn là hiện thân của sự sáng tạo văn hoá của người Việt trong quá trình Nam tiến, chẳng hạn như lễ hội miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, lễ hội lăng ò n g Nam H ải Nhìn ở phương diện lịch sử, tâm lý cộng đồng của những người mở đất, sự sáng tạo như thế cũng là để thích nghi với hoàn cảnh cụ thể Sự sáng tạo ở đây không phải là phủ nhận những giá trị của quá khứ đế lại, mà kế thừa - phát triển theo chiều hướng thích nghi với hoàn cảnh mới

Ngày nay, một số lễ hội truyền thống được tô chức với quy mô lớn, người ta còn mờ rông không gian bên ngoài lễ hội với các trò chơi hiện đại, hội chợ, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật Các hoạt động này

có vai trò của nỏ, góp phần đem lại những giá trị kinh tế cho địa phương

- nơi tổ chức lễ hội Chúng tôi cho rằng, những lễ hội truyền thống được

tổ chức với quy mô lớn, liên làng, liên vùng không thể không tính đến thành tố này

Như vậy, phát triển cấu trúc của lễ hội truyền thống là lấy hệ thống giá trị/ hệ thống biểu tượng (không gian thiêng) làm trung tâm, đặt nó trong mối tương quan với không gian của cộng đồng mới - cộng đồng liên làng (không gian văn hóa - xã hội), tức là kết hợp giữa các giá trị của văn hóa truyền thống với các giá trị của xã hội đương đại Có thể

mô hình hóa phát triển cấu trúc lễ hội truyền thống cúa người Việt ở ĐBSCL như sau:

Ngày đăng: 23/05/2021, 02:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w