Tuy nhiên, Điện Biên vẫn là một tỉnh nghèo tỷ lệ hộ nghèo cao, chiếm 35,06% tổng dân số, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và còn nhiều khó khăn nhất so với cả nước; kết cấu hạ tầng kinh t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CẤP TỈNH
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN
Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Nguyễn Việt Dũng
Hà Nội, 2017
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN ĐỀ TÀI
TT Họ và tên, học hàm học vị Tổ chức công tác Nội dung công
việc tham gia
1 PGS, TS Nguyễn Việt Dũng Đại học Ngoại thương Chủ nhiệm đề tài
2 ThS Nguyễn Hữu Thật Đại học Ngoại thương Thư ký đề tài
3 PGS, TS Phạm Thị Hồng Yến Ban Kinh tế Trung ương Thành viên
4 PGS, TS Nguyễn Đình Thọ Đại học Hà Tĩnh Thành viên
6 ThS Trần Cao Cường Văn phòng Tỉnh ủy Điện Biên Thành viên
7 ThS Nguyễn Công Viện Trường CĐ KT- KT Điện Biên Thành viên
8 ThS Nguyễn Thị Ngọc Lan Đại học Ngoại thương Thành viên
9 TS Dương Thị Hồng Vân Đại học Ngoại thương Thành viên
10 ThS Đinh Thị Hà Thu Đại học Ngoại thương Thành viên
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 9
DANH MỤC HÌNH 10
PHẦN MỞ ĐẦU 11
I Tính cấp thiết 11
II Tổng quan tình hình nghiên cứu 14
II.1 Về tái cơ cấu kinh tế nói chung 14
II.1.1 Khái niệm tái cơ cấu kinh tế 14
II.1.2 Các nghiên cứu về tái cơ cấu kinh tế nói chung: 14
II.2 Về các nội dung của tái cơ cấu kinh tế 15
II.2.1 Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước 15
II.2.2 Tái cơ cấu đầu tư 16
II.2.3 Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 17
II.2.4 Tái cơ cấu các doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
II.2.5 Tái cơ cấu khu vực dịch vụ 17
II.3 Về tái cơ cấu kinh tế tỉnh, thành 17
II.4 Về kinh tế tỉnh Điện Biên 18
II.5 Về tình hình nghiên cứu nước ngoài 19
III Mục tiêu nghiên cứu 19
IV Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 20
IV.1 Cách tiếp cận 20
IV.2 Phương pháp nghiên cứu 20
IV.2.1 Nghiên cứu tại bàn 20
IV.2.2 Nghiên cứu tại hiện trường 20
IV.2.3 Phương pháp phân tích SWOT 20
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ 22
I Những vấn đề cơ bản về tái cơ cấu kinh tế địa phương 22
I.1 Tổng quan về tái cơ cấu kinh tế ở cấp độ địa phương 22
I.1.1 Các khái niệm liên quan 22
I.1.1.1 Cơ cấu kinh tế 22
I.1.1.2 Cơ cấu ngành kinh tế 22
I.1.1.3 Cơ cấu kinh tế lãnh thổ 23
I.1.1.4 Cơ cấu thành phần kinh tế 23
I.1.1.5 Tái cơ cấu kinh tế 23
I.1.2 Tái cơ cấu kinh tế ở cấp độ địa phương 25
I.1.2.1 Sự khác nhau giữa cơ cấu kinh tế của địa phương và của cả nước 25
I.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu ngành kinh tế của địa phương 25
I.1.2.3 Xu thế thay đổi cơ cấu ngành của địa phương 26
I.2 Vai trò của chính quyền địa phương trong tái cơ cấu kinh tế 27
I.2.1 Cơ cấu chính quyền địa phương 27
I.2.2 Vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế 28
I.2.3 Vai trò của chính quyền địa phương trong tái cấu trúc kinh tế 30
I.2.3.1 Đầu tư công: cần có quy hoạch để lồng ghép vốn 30
I.2.3.2 Tái cơ cấu ngành, vùng kinh tế: đặt địa phương trong mối quan hệ chung 31
II Các ràng buộc trong tái cơ cấu kinh tế địa phương 32
Trang 4II.1 Vấn đề phân bổ nguồn lực và ngân sách trung ương, địa phương trong
tái cơ cấu kinh tế địa phương 32
II.1.1 Phân cấp thu ngân sách giữa trung ương và địa phương: 32
II.1.2 Phân cấp chi NSNN giữa Trung ương và địa phương: 33
II.1.3 Thuận lợi và thách thức trong hệ thống phân cấp quản lý ngân sách cho tái cơ cấu kinh tế địa phương 34
II.1.3.1 Thuận lợi 34
II.1.3.2 Thách thức 34
II.2 Vấn đề kinh tế nhà nước – kinh tế tư nhân trong tái cơ cấu kinh tế ở địa phương 36
II.2.1 Kinh tế tư nhân và các loại hình kinh tế tư nhân 36
II.2.2 Một số đặc điểm của kinh tế tư nhân: 36
II.2.3 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển nền kinh tế quốc dân: 37
II.2.4 Vai trò, vị trí của khu vực kinh tế Nhà nước: 38
II.2.5 Đổi mới, nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước: 38
II.3 Vấn đề lợi thế cạnh tranh, phối hợp kinh tế vùng trong tái cơ cấu kinh tế địa phương 39
II.3.1 Lợi thế cạnh tranh 39
II.3.2 Phối hợp kinh tế vùng 40
II.3.3 Tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh, phối hợp kinh tế vùng trong tái cơ cấu kinh tế địa phương 42
II.3.3.1 Lợi thế cạnh tranh và tái cơ cấu 42
II.3.3.2 Phối hợp kinh tế vùng và tái cơ cấu 43
II.4 Những yếu tố tác động đến quá trình tái cơ cấu kinh tế địa phương và điều kiện đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế địa phương 44
II.4.1 Tái cơ cấu kinh tế ở địa phương trong tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế quốc dân 44
II.4.2 Các yếu tố tác động đến quá trình tái cơ cấu kinh tế địa phương 45
II.4.3 Điều kiện đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế địa phương 46
II.5 Kinh nghiệm nước ngoài về triển khai và đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế địa phương 47
II.5.1 Tình hình và xu hướng chung trên thế giới 47
II.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 49
CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ THỰC TRẠNG ĐỊA PHƯƠNG CHO TÁI CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH ĐIỆN BIÊN 51
I Bối kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế 51
I.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 51
I.1.1 Tăng trưởng kinh tế không thuận lợi 51
I.1.2 Vấn đề nợ công 52
I.1.3 Lạm phát giảm đan xen nguy cơ giảm phát 52
I.1.4 Cân bằng chưa bền vững 53
I.2 Bối cảnh kinh tế Việt Nam 54
I.2.1 Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015 54
I.2.2 Những vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới 56
II Thực trạng kinh tế tỉnh Điện Biên và sự cần thiết phải tái cơ cấu kinh tế 57
Trang 5II.1 Mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 57
II.1.1 Mô hình tăng trưởng 57
II.1.2 Cơ cấu kinh tế 58
II.1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Điện Biên 59
II.2 Thực trạng sản xuất nông-lâm-nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của tỉnh Điện Biên 62
II.2.1 Thực trạng sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp tỉnh Điện Biên 62
II.2.2 Thực trạng sản xuất công nghiệp tỉnh Điện Biên 65
II.2.3 Thực trạng dịch vụ tỉnh Điện Biên 66
II.2.3.1 Thương mại 67
II.2.3.2 Du lịch 68
II.2.3.3 Các ngành dịch vụ khác 68
II.3 Thực trạng quản lý đầu tư công của tỉnh Điện Biên 69
II.4 Thực trạng triển khai, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân của tỉnh Điện Biên 72
II.4.1 Thực trạng triển khai sắp xếp doanh nghiệp nhà nước 72
II.4.2 Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh 73
II.5 Thực trạng phát triển kinh tế vùng và khu kinh tế cửa khẩu ở Điện Biên 76
II.5.1 Kinh tế vùng tại Điện Biên 76
II.5.1.1 Trục kinh tế động lực Quốc lộ 279 76
II.5.1.2 Vùng kinh tế lâm - nông nghiệp sinh thái Sông Đà 77
II.5.1.3 Vùng kinh tế Mường Chà - Mường Nhé 78
II.5.2 Kinh tế cửa khẩu tại Điện Biên 78
II.6 Đánh giá chung theo phương pháp SWOT về kinh tế tỉnh Điện Biên và sự cần thiết phải tái cơ cấu kinh tế tỉnh 79
II.6.1 Phân tích SWOT về kinh tế tỉnh Điện Biên 79
II.6.1.1 Những lợi thế trong phát triển kinh tế tỉnh Điện Biên 79
II.6.1.2 Những khó khăn trong phát triển kinh tế tỉnh Điện Biên 80
II.6.1.3 Những cơ hội thuận lợi trong phát triển kinh tế tỉnh Điện Biên 81
II.6.1.4 Những thách thức trong phát triển kinh tế tỉnh Điện Biên 81
II.6.2 Sự cần thiết tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 82
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH ĐIỆN BIÊN 84
I Thực trạng tái cơ cấu kinh tế: phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của các lĩnh vực và sản phẩm chủ lực 84
I.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 84
I.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điện Biên theo ngành kinh tế 84
I.1.2 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế 86
I.1.3 Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ 86
I.2 Khai thác và phát huy lợi thế trong nông-lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ 87
I.2.1 Lợi thế trong nông-lâm nghiệp 87
I.2.2 Lợi thế trong công nghiệp 89
I.2.2.1 Công nghiệp khai khoáng 89
I.2.2.2 Tiềm năng thuỷ điện 89
I.2.2.3 Lợi thế về dịch vụ 90
Trang 6II Thực trạng tái cơ cấu đầu tư công 92
II.1 Xây dựng kế hoạch đầu tư trung, dài hạn của các nguồn vốn từ ngân sách và triển khai các dự án do Điện Biên quản lý 92
II.1.1 Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2011-2015 92
II.1.2 Phân bổ vốn ngân sách, triển khai giải ngân các dự án giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch cho giai đoạn 2016 -2020 93
II.2 Thực trạng nâng cao hiệu quả công trình sau đầu tư và khuyến khích đầu tư tư nhân tại Điện Biên 97
II.2.1 Nâng cao hiệu quả công trình sau đầu tư 97
II.2.2 Khuyến khích đầu tư tư nhân 100
II.3 Thực trạng tái cơ cấu hệ thống tài chính - ngân hàng 101
II.3.1 Tái cơ cấu ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tại Điện Biên 101
II.3.2 Kiểm soát các quỹ tín dụng nhân dân, hình thức cho vay nặng lãi và hoạt động kinh doanh vàng, ngoại tệ tại Điện Biên 104
II.3.2.1 Về quỹ tín dụng nhân dân và hình thức cho vay nặng lãi 104
II.3.2.2 Về hoạt động kinh doanh vàng, ngoại tệ 105
III Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp tư nhân tại Điện Biên 107
III.1 Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước 107
III.2 Phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, từng bước hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân 112
III.2.1 Sự cần thiết 112
III.2.2 Thuận lợi 114
III.2.3 Thách thức 115
IV Đánh giá chung theo phương pháp SWOT về quá trình tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 116
IV.1 Điểm mạnh của quá trình tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 116
IV.2 Điểm yếu của quá trình tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 117
IV.3 Cơ hội của quá trình tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 119
IV.4 Thách thức của quá trình tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 119
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TÁI CƠ CẤU KINH TẾ TỈNH ĐIỆN BIÊN 121
I Mục tiêu, định hướng đẩy mạnh tái cơ cấu tỉnh Điện Biên 121
I.1 Mục tiêu, định hướng tái cơ cấu nông-lâm-ngư nghiệp 121
I.1.1 Tái cơ cấu trên các lĩnh vực 121
I.1.1.1 Nông nghiệp 121
I.1.1.2 Lâm nghiệp 122
I.1.1.3 Thủy sản 122
I.1.2 Tái cơ cấu các sản phẩm 122
I.1.2.1 Cây lúa 122
I.1.2.2 Cây ngô 123
I.1.2.3 Cây chè Shan tuyết 123
I.1.2.4 Cây cà phê 123
I.1.2.5 Cây cao su 123
I.1.2.6 Chăn nuôi trâu, bò 123
I.1.2.7 Chăn nuôi lợn 124
Trang 7I.1.2.8 Chăn nuôi gia cầm 124
I.1.2.9 Thủy sản 125
I.1.2.10 Lâm nghiệp 125
I.2 Mục tiêu, định hướng tái cơ cấu và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 125
I.2.1 Công nghiệp chế biến nông, lâm sản 125
I.2.2 Công nghiệp điện 126
I.2.3 Sản xuất vật liệu xây dựng 127
I.2.4 Công nghiệp khai khoáng 127
I.2.5 Các ngành công nghiệp khác 128
I.3 Mục tiêu, định hướng tái cơ cấu và phát triển các ngành dịch vụ 128
I.3.1 Thương mại 128
I.3.2 Du lịch 129
I.3.3 Các dịch vụ khác 129
I.4 Mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế vùng 130
I.4.1 Trục kinh tế động lực Quốc lộ 279 130
I.4.2 Vùng kinh tế lâm - nông nghiệp sinh thái Sông Đà 131
I.4.3 Vùng kinh tế Mường Chà - Mường Nhé 132
II Các giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 133
II.1 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, môi trường đầu tư, chất lượng quy hoạch 133
II.1.1 Về cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư-kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 133
II.1.2 Phát triển nguồn nhân lực theo hướng đáp ứng yêu cầu về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cơ cấu hợp lý 134
II.1.3 Nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch 135
II.1.4 Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ với xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các địa phương 135
II.1.5 Cải thiện môi trường pháp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ 136
II.2 Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư 137
II.2.1 Huy động các nguồn thu vào ngân sách, tăng khả năng tự cân đối phục vụ nhiệm vụ chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển 137
II.2.2 Phân bổ và điều hành ngân sách linh hoạt, đúng luật, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển 139
II.2.3 Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính trong các lĩnh vực thu hút đầu tư, xây dựng cơ bản 139
II.2.4 Nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư 140
II.3 Nhóm giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh 140
II.4 Nhóm giải pháp sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh 141
Trang 8II.5 Nhóm giải pháp thực hiện hiệu quả các chương trình đồng bộ hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả các ngành kinh tế chủ đạo 143
II.5.1 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi cơ cấu lao động, đảm bảo phát triển bền vững 143II.5.2 Phát triển toàn diện đi đôi với tái cơ cấu nông nghiệp, liên kết giữa doanh nghiệp với người dân nâng cao chuỗi giá trị trong sản xuất, gắn với xây dựng nông thôn mới 143II.5.3 Tập trung huy động nguồn lực, khai thác và phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong sản xuất công nghiệp - xây dựng cơ bản 145II.5.4 Phát triển đồng bộ các loại hình dịch vụ, mở rộng mạng lưới kinh doanh thương mại; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường 145II.5.5 Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác du lịch lịch sử, văn hóa, sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch cộng đồng 146II.6 Nhóm giải pháp phát triển kinh tế vùng và kinh tế cửa khẩu 149II.6.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vực, gắn với chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển mạnh các thành phần kinh tế và vùng kinh tế 149II.6.2 Tập trung huy động các nguồn lực cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát huy lợi thế kinh tế cửa khẩu; đẩy mạnh các hoạt động thương mại, dịch vụ 149TÀI LIỆU THAM KHẢO 151PHỤ LỤC 161
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tăng trưởng GDP của kinh tế thế giới giai đoạn 2010 – 2015 (%) 51
Bảng 2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 59
Bảng 3: Xếp hạng PCI của các tỉnh miền núi phía Bắc năm 2016 62
Bảng 4: Các chỉ số thành phần về năng lực cạnh tranh của tỉnh Điện Biên 62
Bảng 5: Giá trị sản xuất các ngành nông lâm ngư nghiệp 63
Bảng 6: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá năm 2010) 65
Bảng 7: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 66
Bảng 8: Tình hình huy động và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Điện Biên 70
Bảng 9: Kết quả các dự án đầu tư giai đoạn 2011 -2015 70
Bảng 10: Tình hình thực hiện một số công trình trọng điểm trên địa bàn 71
Bảng 11: Danh sách các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh 72
Bảng 12: Thành phần các doanh nghiệp đăng ký mới trên địa bàn Điện Biên giai đoạn 2006-2010 74
Bảng 13: Thành phần các doanh nghiệp đăng ký mới trên địa bàn Điện Biên giai đoạn 2011-2015 74
Bảng 14: Số doanh nghiệp/HTX tại thời điểm 31/12 phân theo loại hình doanh nghiệp 75
Bảng 15: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và theo thành phần 84
Bảng 16: Tình hình chăn nuôi tỉnh Điện Biên 2016 88
Bảng 17: Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu đến năm 2020 90
Bảng 18: Số lượt khách du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2016 91
Bảng 19: Tình hình huy động và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh giai đoạn 2012-2016 92
Bảng 20: Tình hình triển khai và giải ngân vốn 93
Bảng 21: Các dự án trọng điểm đã, đang và tiếp tục triển khai tại Điện Biên trong giai đoạn tới 94
Bảng 22: Kế hoạch đầu tư tỉnh Điện Biên phân bổ theo nguồn vốn 95
Bảng 23: Kế hoạch đầu tư tỉnh Điện Biên phân bổ nguồn vốn theo huyện, thị xã và thành phố năm 2016 96
Bảng 24: Tình hình sắp xếp, đổi mới DNNN tỉnh Điện Biên năm 2014 108
Bảng 25: Các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố Điện Biên 113
Bảng 26: Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành đến 2030 121
Bảng 27: Một số dự án trọng điểm đầu tư của Trục kinh tế động lực Quốc lộ 279 131
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Bốn cấp độ trong tổ chức hành chính của Việt Nam 27
Hình 2: Bộ máy chính quyền các cấp 28
Hình 3: Chiến lược cạnh tranh theo Michael Porter 40
Hình 4: Tốc độ tăng trưởng GRDP tỉnh Điện Biên 60
Hình 5: ICOR tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006-2016 60
Hình 6: Thu nhập bình quân đầu người theo tháng tại Điện Biên giai đoạn 2010-2016 61
Hình 7: Lựa chọn hoạt động tập trung khi tiến hành tái cơ cấu kinh tế 85
Hình 8: Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước tỉnh Điện Biên (đến tháng 6/2016) 114
Hình 9: Đánh giá về các hạn chế trong tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên 118
Hình 10: Chỉ số gia nhập thị trường tỉnh Điện Biên 2007 - 2016 120
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết
Trong nhiều năm gần đây, có một sự thống nhất trong nhận thức xã hội về sự cần thiết và tính tất yếu của tái cơ cấu kinh tế tại thời điểm hiện nay của quá trình phát triển “Tái cơ cấu kinh tế” là một trong số các thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các hội thảo, diễn đàn, tọa đàm khoa học về chính sách kinh tế, trong các báo cáo của cơ quan nhà nước có có liên quan Đây là việc tất yếu phải làm trong bước ngoặt phát triển chuyển đổi sang cách thức tăng trưởng mới, cách thức tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Thực vậy, Lê Xuân Bá (2012) nhấn mạnh rằng tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới
mô hình tăng trưởng là cấp thiết đối với Việt Nam vì 2 lý do sau Thứ nhất, các yếu tố của mô hình trưởng theo chiều rộng (trước hết là gia tăng quy mô vốn đầu tư và lao động) đã đến mức tới hạn; động lực tăng trưởng phụ thuộc vào gia tăng vốn đầu tư, gia tăng số lượng lao động đã yếu và đang giảm dần Thứ hai, cùng với duy trì quá lâu
mô hình tăng trưởng theo chiều rộng không còn phù hợp, thì chủ trương, chính sách và cách thức quản lý, điều hành nền kinh tế ở các cấp, các ngành chưa thay đổi kịp thời; chậm khắc phục các điểm nghẽn (về hạ tầng, về thể chế và nguồn lực lao động có trình
độ cao) kìm hãm gia tăng năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của doanh nghiệp Gia tăng vốn đầu tư dưới các hình thức và kênh khác nhau vẫn là công
cụ chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng Để đáp ứng yêu cầu nói trên, chính sách tài khoá
và tiền tệ mở rộng đã phải liên tục duy trì trong nhiều năm; và đó là một trong các nguyên nhân quan trọng của lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô ở nước ta trong thời gian gần đây
Xét về chính sách, tái cơ cấu kinh tế đã được xác định tại Đại hội XI của Đảng,
đã được cụ thể hóa một bước tại Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành trung ương khóa XI; và đã được hoạch định cụ thể tại các Đề án có liên quan của Chính phủ, trong đó
có Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng năng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020 Trong tiến trình tái cơ cấu kinh tế đất nước nói chung, các địa phương, với các đặc trưng riêng của mình, đóng góp một phần quan trọng Điện Biên - mảnh đất anh hùng mà tên gọi đã gắn liền với chiến thắng lịch sử của dân tộc, được nhân dân trên thế giới ngưỡng mộ - có nhiều tiềm năng phát triển Tỉnh có lợi thế không nhỏ để phát triển các ngành như: kinh tế cửa khẩu, dịch vụ du lịch, thủy điện, kinh tế nông nghiệp, trang trại… Nhận thức được những tiềm năng đó, những năm qua, tuy còn không ít khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, tác động bất lợi của tình hình khu vực và quốc tế, song Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn, kiên trì phấn đấu để phát triển Qua
đó, Tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng: trong giai đoạn 2011-2013 tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 9,64% GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 20,41 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Tỉnh đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư, tạo môi trường thuận lợi khuyến khích các thành phần kinh tế tham
Trang 12gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, Điện Biên vẫn là một tỉnh nghèo (tỷ lệ hộ nghèo cao, chiếm 35,06% tổng dân số), sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và còn nhiều khó khăn nhất so với cả nước; kết cấu hạ tầng kinh tế thấp kém, tăng trưởng kinh tế chưa vững chắc, hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp chủ yếu diễn ra ở lĩnh vực xây dựng cơ bản; huy động vốn cho phát triển kinh tế gặp nhiều khó khăn; sản xuất vẫn mang tính tiểu ngành, sử dụng công nghệ thấp; việc phát triển các ngành, nghề ưu tiên phù hợp và mang bản sắc địa phương vẫn còn hạn chế; đầu tư công còn nhiều bất cập… Ngay cả những lĩnh vực được coi là thế mạnh của tỉnh, vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình phát triển
Dịch vụ du lịch: các chuyên gia đánh giá Điện Biên có thế mạnh rất lớn trong
phát triển hai loại hình du lịch là Du lịch tìm hiểu di tích lịch sử và Du lịch trải nghiệm văn hóa Tuy vậy, Điện Biên chỉ đứng thứ ba trong các tỉnh vùng Tây Bắc về thu hút khách du lịch Thị phần du lịch Điện Biên chỉ chiếm 0,2% tổng số khách du lịch của
cả nước trong các năm gần đây Nguyên nhân đầu tiên là tỉnh Điện Biên chưa tập trung nghiên cứu đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch di sản hấp dẫn Du khách đến tham quan di tích chiến trường Điện Biên Phủ theo các đợt kỷ niệm dễ dàng nhận ra không có nhiều sản phẩm du lịch mới mẻ Sản phẩm du lịch của Điện Biên còn đơn điệu, thiếu thành phần chủ đạo trong sản phẩm để tạo ra điểm nhấn so với các tỉnh khác có cùng phong cảnh thiên nhiên, có cùng sự đa dạng tộc người Việc bảo tồn, tôn tạo các điểm di tích chiến trường Điện Biên Phủ chưa thực sự tốt, nhiều hạng mục công trình vẫn còn dở dang, sự biến dạng di tích do sức ép của đô thị hóa… Ngoài ra, năng lực quản lý và trình độ kinh doanh du lịch chưa bắt kịp với sự phát triển: đơn cử như đội ngũ hướng dẫn viên chưa có đủ năng lực để truyền tải các giá trị lịch sử, nghệ thuật quân sự, bản sắc văn hóa từ các điểm di tích cho khách du lịch
Kinh tế cửa khẩu: mặc dù là thế mạnh của Điện Biên, nhưng việc phát triển kinh
tế cửa khẩu chưa đạt hiệu quả mong muốn Có thể nêu ra các nguyên nhân sau: i/ Cơ
sở hạ tầng về thương mại, hậu cần, giao thông… còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động Hạ tầng giao thông chưa phát huy được năng lực vận tải và thông quan đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và vai trò kết nối các khu vực lân cận; ii/ Cơ chế, chính sách khuyến khích thương mại – đầu tư cho khu kinh tế cửa khẩu chưa hoàn thiện Do sự không đồng nhất giữa các chính sách cũ liên quan đến các khu kinh tế cửa khẩu (có trước năm 2008) và chính sách mới đi kèm việc thành lập các khu kinh tế cửa khẩu (sau năm 2008), một số chính sách (như về thuế, tài nguyên – môi trường, quản
lý doanh nghiệp – lao động, thanh tra…) đều chưa có đầy đủ hướng dẫn cụ thể để thực hiện; iii/ Khu kinh tế cửa khẩu chưa được đầu tư đầy đủ Khu kinh tế cửa khẩu chủ yếu trông chờ vào nguồn hỗ trợ có mục tiêu của Nhà nước để phát triển hạ tầng Tuy nhiên, việc thành lập nhanh các khu kinh tế cửa khẩu đã kéo theo nhu cầu vốn đầu tư vượt quá khả năng cân đối của ngân sách quốc gia Việc huy động các nguồn vốn khác cũng hạn chế do tư nhân không sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng ít sinh lợi; iv/ Phụ thuộc vào chính sách, hoạt động kinh tế của nước bạn Hiện chỉ có các khu kinh tế cửa khẩu thông thương với Trung Quốc (Móng Cái, Đồng Đăng-Lạng Sơn, Lào Cai) hoạt động sôi động, còn các khu kinh tế cửa khẩu giáp Lào (như trường hợp của Điện Biên)
và Campuchia chậm phát triển hơn và không thu hút được đầu tư do kinh tế hai nước bạn chưa phát triển mạnh ở khu vực biên giới với nước ta, trao đổi thương mại ít Các
Trang 13tỉnh của Lào giáp biên giới với nước ta phần lớn còn khó khăn về kinh tế - xã hội, vì vậy chưa tạo được liên kết vùng mạnh để lan tỏa thương mại-đầu tư; v/ các khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam nói chung được phát triển chớp nhoáng, chưa tính đến sự liên kết trong từng địa phương, liên kết vùng trong cả nước gây ra sự phân tán về nguồn lực đầu tư, dẫn đến kết quả chưa đạt mục tiêu đề ra
Thủy điện: với địa hình có độ dốc khá lớn, mạng lưới sông suối dày đặc, lưu
lượng dòng chảy mạnh, Điện Biên có tiềm năng rất lớn để phát triển thủy điện vừa và nhỏ cung cấp nguồn điện và tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu ngân sách địa phương Hiện nay, toàn tỉnh có 7 nhà máy thủy điện đang khai thác, vận hành, tổng công suất 20,94MW Trong đó lớn nhất là thủy điện Nà Lơi với công suất 9,3MW Nếu kết hợp với các dự án đang trong giai đoạn thi công nước rút khi đi vào vận hành sẽ sản xuất nguồn điện năng lớn hòa vào lưới điện quốc gia, giảm tải đáng kể tình trạng thiếu hụt điện Đặc biệt, phát triển thủy điện còn mang lại lợi ích xã hội to lớn, tạo thêm nhiều ngành nghề mới, công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động địa phương Tuy nhiên, đa số các dự án thủy điện trong quy hoạch đều có quy mô nhỏ, nằm ở vùng sâu, vùng xa, hạn chế về giao thông nên gây không ít khó khăn cho việc nghiên cứu Bên cạnh đó, trong bối cảnh nền kinh
tế gặp nhiều khó khăn, việc bố trí vốn đầu tư thực hiện các dự án thủy điện ở tỉnh khá chậm, tác động lớn đến quá trình triển khai đối với những dự án đã được phê duyệt
Kinh tế trang trại: khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là vốn Không chỉ nguồn vốn
chưa được khơi thông, lao động tại các trang trại hiện nay đa phần vẫn là lao động phổ thông, chất lượng chưa cao Số lao động trong gia đình là chính, chủ yếu là lao động phổ thông chưa được qua đào tạo và bồi dưỡng về kỹ thuật chuyên môn nên hiệu quả
sử dụng lao động chưa cao, dẫn đến thu nhập của người lao động còn thấp Người lao động vẫn theo phương thức “lấy công làm lãi”, tự giải quyết việc làm tại chỗ Ngay cả các chủ trang trại cũng xuất phát từ nông dân chính gốc, chưa hề có kinh nghiệm tổ chức quản lý, quy hoạch, đại đa số làm theo hướng tự phát và dựa trên kinh nghiệm sản xuất là chính, chưa có thiết kế quy hoạch cho trang trại của mình một cách khoa học Hơn nữa, giải quyết đầu ra cho sản phẩm của các trang trại còn nhiều khó khăn, tiêu thụ sản phẩm tốt mới kích thích được sản xuất và nông dân mới có vốn để tái đầu
tư So với kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại đã có một bước tiến đáng kể nhưng việc tiêu thụ sản phẩm giữa hai loại hình kinh tế này vẫn không khác gì nhau Sản xuất nông nghiệp cần phải gắn với chế biến nhưng ở địa phương chưa làm được điều này Các trang trại hiện nay phát triển chủ yếu đều mang tính tự phát, thiếu định hướng, không được thiết kế quy hoạch, phân tán, manh mún, chưa gắn với quy hoạch các vùng sản xuất và công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Bên cạnh đó, trình độ quản lý chuyên môn của các trang trại còn nhiều hạn chế, phần lớn các chủ trang trại quen với mô hình sản xuất nhỏ, kỹ thuật sản xuất thấp nên việc tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế chủ yếu theo kinh nghiệm, thiếu hiểu biết về thị trường nên hiệu quả kinh tế không cao
Như vậy, có thể thấy để khắc phục các bất cập trong cơ cấu kinh tế hiện nay của Điện Biên thì việc phát triển các lĩnh vực có thế mạnh tiềm năng của tỉnh là một hướng đi đúng đắn Tuy nhiên, các phân tích ở trên cho thấy bản thân việc phát triển các lĩnh vực này cũng còn rất nhiều hạn chế Để giải quyết các vấn đề này một cách
Trang 14đồng bộ, hiệu quả, tái cơ cấu toàn bộ kinh tế của tỉnh là một vấn đề cấp bách, cùng với tiến trình tái cơ cấu kinh tế đất nước Tháng 6 năm 2013, UBND tỉnh Điện Biên đã ra quyết định phê duyệt Đề cương Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng tỉnh Điện Biên đến năm 2020, thực hiện bước đầu của chiến dịch tái cơ cấu kinh tế tỉnh Tuy nhiên, không chỉ có những thuận lợi đang chờ đợi ở phía trước
mà còn cả những khó khăn, chướng ngại, thách thức Để đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng tích cực, hiệu quả, luôn luôn cần có những phân tích, đánh giá
có cơ cở khoa học về hiện trạng, những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, trở ngại và nguyên nhân để từ đó đề xuất các giải pháp giúp đẩy mạnh tái cơ cấu kinh
tế tỉnh theo hướng tích cực, hiệu quả Như vậy, một đề tài nghiên cứu về chủ đề này là rất cần thiết
II Tổng quan tình hình nghiên cứu
II.1 Về tái cơ cấu kinh tế nói chung
II.1.1 Khái niệm tái cơ cấu kinh tế
Lê Thành Văn & Trần Thị Hương (2012) định nghĩa tái cơ cấu kinh tế là tổ chức lại nền kinh tế bằng các hình thức mới, bỏ đi, tăng hay giảm các ngành, các lĩnh vực,
bộ phận kinh tế hoặc định hướng lại các ngành, bộ phận lĩnh vực của nền kinh tế để nó vận hành hiệu quả hơn Nói cách khác, tái cơ cấu là việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế bất hợp lý thành cơ cấu kinh tế hợp lý hơn Như vậy, tái cơ cấu kinh tế là quá trình thiết lập lại cơ cấu kinh tế ở mức độ phát triển hiện tại để nền kinh tế trở thành hiệu quả hơn, có năng lực cạnh tranh cao hơn, và quá trình đó được thực hiện thông qua thay đổi cơ chế phân bổ nguồn lực từ nơi kém hiệu quả sang nơi sử dụng với hiệu quả cao hơn
Kim Ngọc & Ngô Văn Vũ (2014) cho rằng tái cơ cấu kinh tế là những thay đổi
có tính bước ngoặt về cơ chế, chính sách kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế -
xã hội đặt ra; là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngành, cơ cấu khu vực kinh tế sở hữu hợp lý Có thể nói, tái cơ cấu nền kinh tế là quá trình Chính phủ chủ động thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ban hành các chính sách về tài chính, tiền tệ, các chính sách về hành chính, kinh tế và sử dụng các công cụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình để tác động tới việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực cần thiết nhằm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo một xu hướng nhất định, đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển
II.1.2 Các nghiên cứu về tái cơ cấu kinh tế nói chung:
Nguyễn Ngọc Vinh (2011) cho thấy, sau hai thập niên tăng trưởng, nền kinh tế
VN đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng, nhưng điểm xuất phát thấp dựa vào nông nghiệp là chính, mô hình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang trong quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều điều đáng quan tâm như chỉ số hiệu quả đầu tư thấp, năng suất lao động thấp, phân bổ lao động chưa hợp lý, tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt
… gây ra nguy cơ lạm phát và suy thoái kinh tế Do đó cần sớm tái cấu trúc nền kinh
tế nhằm tạo động lực mới, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng theo hướng bền vững hơn
Lê Xuân Đình (2009) cho rằng, tìm cách để kinh tế Việt Nam tham gia tốt nhất
Trang 15vào chuỗi giá trị toàn cầu, phân công lao động toàn cầu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tái cơ cấu kinh tế Muốn làm được điều đó, tái cơ cấu nền kinh tế phải gắn chặt với tái cấu trúc thị trường, bao gồm thị trường trong nước, thị trường nước ngoài và mối quan
hệ giữa chúng
Trần Đình Thiên & Vũ Thành Tự Anh (2011) đã làm nổi bật những vấn đề của kinh tế Việt Nam giai đoạn cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21 và khẳng định rằng cải cách cơ cấu kinh tế là điều kiện tiên quyết để có thể thay đổi mô hình tăng trưởng
đã trở nên lạc hậu, cho phép ứng phó với tình hình kinh tế thế giới Các tác giả cũng nhấn mạnh một số nội dung quan trọng của tái cấu trúc theo mô hình tăng trưởng mới: bắt đầu từ khu vực nhà nước, trong đó quan trọng nhất là hệ thống ngân sách, đầu tư công và DNNN; giảm quy mô và tăng hiệu quả đầu tư toàn xã hội; kỷ luật tài khóa; trả lại cơ chế thị trường cho các loại giá cơ bản như lãi suất, tỷ giá, giá đất, năng lượng; xây dựng khu vực dân doanh thành động lực tăng trưởng; trong dài hạn, nguồn lực con người là nhân tố quyết định
Nguyễn Quang Thái (2011) tập trung phân tích, làm rõ các yếu tố đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế: mất cân đối kinh tế vĩ mô, chất lượng tăng trưởng giảm, khoảng cách thu nhập tăng so với một số nước, phát triển chủ yếu dựa vào đầu vào – khai thác tài nguyên Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ yêu cầu tất yếu của đổi mới mô hình tăng trưởng: tư duy phát triển, thể chế, chính sách phát triển tổng thể
và được triển khai trên tất cả các ngành, vùng kinh tế, các lĩnh vực trong cả nước, trong sự liên kết và tác động qua lại nhiều chiều
Theo Nguyễn Thanh Tuyền (2011), suy giảm kinh tế ở VN giai đoạn 2008 –
2011 chính là một tác nhân quan trọng thúc đẩy Việt Nam tái cấu trúc nền kinh tế Giai đoạn suy giảm kinh tế này diễn ra trong bối cảnh VN đang bước tới chiều sâu của hội nhập kinh tế toàn cầu Do vậy hiện trạng suy thoái này, chịu áp lực đồng thời của 2 nhân tố: nội sinh và ngoại lực Trong cả 2 “đại lượng” đó, không thể thiên lệch về một bên nào, mà phải xem xét nó một cách cầu thị thấu đáo trong mối quan hệ tương tác giữa chúng
Theo Lê Anh Dũng (2012), việc tái cấu trúc kinh tế theo hướng hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý đóng vai trò tác nhân cơ bản, quyết định sự thành công trong việc đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa các nội dung của phát triển bền vững Do vậy cần xem xét vấn đề tái cơ cấu kinh tế với mục đích hướng đến xây dựng cơ cấu kinh tế hợp
lý như nội dung trọng tâm của phát triển bền vững Như vậy, tiến trình phát triển bền vững của một quốc gia trong một giai đoạn nhất định cần được tiến hành cùng với quá trình tái cầu trúc nền kinh tế với mục tiêu xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và đây là xu thế tất yếu khách quan
II.2 Về các nội dung của tái cơ cấu kinh tế
II.2.1 Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
Trần Đình Thiên (2012) chỉ rõ doanh nghiệp nhà nước đang là khu vực bộc lộ nhiều vấn đề bất cập trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam Trên cơ sở phân tích một số vấn đề của nhiệm vụ tái cấu trúc khu vực DNNN, nghiên cứu đã chỉ
ra khía cạnh mấu chốt để đảm bảo tái cơ cấu DNNN, với trụ cột là các tập đoàn kinh
Trang 16tế Mặc dù, đây là công việc không dễ dàng, nhưng cần phải vượt qua Tái cơ cấu không chỉ đơn thuần là câu chuyện về việc thay đổi các hoạt động mang tính chức năng của thị trường mà nó trước hết và cơ bản là vấn đề kinh tế chính trị
Nguyễn Văn Trình (2012) chỉ rõ: vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không đồng nghĩa với việc nhất thiết phải thiết lập vị trí độc quyền của doanh nghiệp nhà nước Ngược lại, để thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chỉ giữ vai trò cung cấp những hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác không muốn hoặc không có khả năng cung cấp để đảm bảo sự vận hành một cách bình thường cho nền kinh tế Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước còn thể hiện qua việc kinh tế nhà nước sẽ can thiệp thị trường khi thị trường bị thất bại, gây ra các xáo trộn, nhằm thiết lập lại sự cân bằng cho thị trường Tác giả đã gợi ý các giải pháp tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước dựa trên nguyên tắc này
Nguyễn Mạnh Quân (2013) cho rằng nhận thức về DNNN chưa hoàn toàn theo kịp với những thay đổi cần có đối với DNNN Những quan điểm về DNNN do tình trạng kém hiệu quả (quan điểm kinh tế) nên cần loại bỏ không thể bác bỏ được vai trò không thể phủ nhận của DNNN đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia (quan điểm chính sách) Mặt khác, các nghiên cứu từ cách tiếp cận quản lý về DNNN là rất hạn chế Nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ thêm về nhận thức theo quan điểm quản lý đối với DNNN trong cơ chế kinh tế thị trường, cũng như đề xuất một số phương hướng giải pháp cho quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam
II.2.2 Tái cơ cấu đầu tư
Theo Nguyễn Văn Tạo (2011), để tái cấu trúc nền kinh tế trước hết phải bắt đầu
từ tái cấu trúc đầu tư đặc biệt là đầu tư công, bởi lẽ tái cấu trúc đầu tư chính là tái cấu trúc việc phân bổ nguồn lực của toàn xã hội cho đầu tư phát triển đất nước Trong từng thời kỳ nguồn lực dành cho đầu tư phát triển luôn có hạn và thấp xa so với yêu cầu, vì vậy việc phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực là yêu cầu thường xuyên của mọi cấp quản lý ở mọi thời kỳ, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Tác giả cũng đề xuất 8 giải pháp để tái cấu trúc đầu tư hiệu quả
Chu Văn Cấp (2012) phân tích vấn đề tái cơ cấu đầu tư - một nội dung quan trọng hàng đầu của tái cơ cấu nền kinh tế Tác giả nhấn mạnh, để nền kinh tế tăng trưởng cao và có chất lượng, điều quan trọng hiện nay không phải là tập trung quá mức vào việc tăng lượng vốn đầu tư, mà quan trọng hơn là phải xác định đúng mục đích và đối tượng đầu tư để đảm bảo yêu cầu hiệu quả và tính bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế Từ đó, tác giả đưa ra các đề xuất với hai nội dung: chuyển đổi cơ cấu đầu tư theo ngành, lĩnh vực, địa bàn và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn nhà nước Bùi Quang Bình (2012) đề xuất 6 giải pháp tái cấu trúc đầu tư công: i/ lấy mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội làm cơ sở; ii/ điều chỉnh giảm đầu tư công để dần cân đối với tiết kiệm, giảm nợ công; iii/ phân bổ vốn hiệu quả cho các vùng và tập trung vào phát triển hạ tầng kinh tế kỹ thuật; iv/ hoàn thiện chính sách đấu thầu; v/ phát huy mô hình liên kết nhà nước – tư nhân để huy động đầu tư cơ sở hạ tầng; vi/ phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong tạo nguồn đầu tư cho địa phương mình
Trang 17II.2.3 Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
Nghiên cứu của Vũ Văn Thực (2013) cho thấy, thời gian qua hệ thống ngân hàng thương mại đã có những bước phát triển đáng kể cả về quy mô tài sản, mạng lưới giao dịch, sản phẩm dịch vụ, cũng như hệ thống công nghệ ngân hàng Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được thì hệ thống NHTM cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém; do
đó việc tái cơ cấu lại để hệ thống NHTM hoạt động hiệu quả hơn là việc cần phải làm đối với các NHTM VN trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu này đã đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động của các NHTM VN trong thời gian qua và gợi ý một số chính sách nhằm tái cơ cấu hệ thống NHTM trong thời gian tới
II.2.4 Tái cơ cấu các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đào Duy Huân & Đào Duy Tùng (2012) cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam chiếm tỉ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỉ lệ này là trên 97%) Vì thế, đóng góp của các DNNVV vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tạo việc làm là rất lớn; giữ vai trò
ổn định nền kinh tế, nhất là trong những thời kỳ bất ổn về kinh tế; góp phần tạo ra sự năng động cho nền kinh tế; tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng;
là trụ cột của kinh tế địa phương trong việc đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm Xuất phát từ vai trò đó của DNNVV, các tác giả đã phân tích các điểm mạnh, điểm yếu của DNNNV và đề xuất 9 giải pháp tái cấu trúc phù hợp với cạnh tranh hiện nay: i/ Minh bạch hoá các thủ tục đăng ký kinh doanh lần đầu để công dân thành lập doanh nghiệp và những thay đổi, bổ sung đăng ký kinh doanh; ii/ Tháo gỡ khó khăn về mặt bằng sản xuất kinh doanh; iii/ Tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng và huy động các nguồn lực hỗ trợ tài chính; iv/ Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực; v/ Tạo lập môi trường tâm lý xã hội; vi/ Hoàn thiện các quy định về chế độ kế toán và thuế; vii/ Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin; viii/ Khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin; ix/ Phát huy nội lực, nâng cao khả năng cạnh tranh
II.2.5 Tái cơ cấu khu vực dịch vụ
Nguyễn Hồng Sơn (2010) nhấn mạnh rằng khủng hoảng, suy thoái kinh tế đòi hỏi các quốc gia phải nhanh chóng tái cấu trúc nền kinh tế để tạo lập lại nền tảng cho
sự phát triển nhanh, bền vững và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng ấy Trong những năm qua, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam được tiến hành theo hướng làm tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên xu hướng này còn chậm, chưa đủ để tái cấu trúc nền kinh tế Tác giả nêu lên một số vấn
đề xuất hiện trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành dịch vụ của Việt Nam
và chỉ ra rằng, chính bản thân ngành này cũng cần phải tái cấu trúc
II.3 Về tái cơ cấu kinh tế tỉnh, thành
Nguyễn Thanh Bình (2009) đưa ra 7 nội dung tái cơ cấu kinh tế thủ đô Hà Nội: i/ Tái định vị và tái cấu trúc mô hình phát triển của Hà Nội; ii/ Tái cơ cấu các ngành kinh tế; iii/ Điều chỉnh cơ cấu thị trường; iv/ Điều chỉnh cơ cấu đầu tư; v/ Tái cấu trúc hệ thống doanh nghiệp; vi/ Tái cơ cấu nguồn nhân lực; vii/ Tái cấu trúc không gian phát triển phù hợp với điều kiện mới Tác giả nhấn mạnh mục đích của tái cơ cấu nền kinh
Trang 18tế thủ đô Hà Nội là tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực, tạo ra năng suất cao hơn, năng lực cạnh tranh vượt trội hơn, đảm bảo kinh tế phát triển ổn định, bền vững chứ không chỉ đơn thuần là đo đếm sự thay đổi tỷ trọng của từng ngành hay từng lĩnh vực Đào Văn Hiệp (2012) cho thấy cơ cấu kinh tế Hải Phòng hai thập kỷ qua có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, khai thác tốt hơn ưu thế tự nhiên của thành phố, từng bước đáp ứng xu thế phát triển và nhu cầu thị trường Tuy nhiên, đứng trước những yêu cầu mới của nền kinh tế, cần xác định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hải Phòng cho phù hợp với tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế Tác giả đề xuất định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hải Phòng theo 3 nội dung: công nghiệp, dịch vụ và nông, lâm, ngư nghiệp, với mục tiêu đưa Hải Phòng trở thành địa phương có nền kinh
tế phát triển trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Võ Khắc Thường (2012) xem xét vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bến Tre Tác giả cho thấy tỉnh Bến Tre cần phải lựa chọn chiến lược, chính sách, giải pháp đồng bộ và thích hợp mới có thể tạo những chuyển biến tích cực của kinh tế địa phương theo các mục tiêu đã định Tuy nhiên nếu xem xét thực trạng kinh tế tỉnh Bến Tre và những động thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh trong thời gian qua cũng như cơ hội tiếp nhận đầu tư của Tỉnh hậu thời khủng hoảng, thì việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo mô hình DV- CN-NN sẽ có tính khả thi cao hơn Theo tác giả, xây dựng được cơ cấu kinh tế DV-CN-NN của tỉnh đến năm 2020 là mô hình lý tưởng, nếu trong cơ cấu đó các dịch vụ “mũi nhọn” và “chủ lực” chiếm tỷ trọng ưu thế
Nguyễn Trọng Thừa (2012) phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của tỉnh Hải Dương Từ đó tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chuyển dịch cơ cấu này theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020, bao gồm: nhóm giải pháp nâng cao chất lượng, nhóm giải pháp phát triển bền vững và nhóm giải pháp phát triển nguồn lực Tác giả Lam Ngọc (2014) phân tích vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp của các tỉnh trung du, miền núi phía bắc bao gồm Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Ðiện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình Qua đó tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp chính: một là khai thác lợi thế các loại cây trồng như lúa, ngô và chè; hai là tổ chức lại sản xuất nông nghiệp Theo đó, phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng nông sản và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Lựa chọn cây trồng, vật nuôi, dựa trên tiềm năng và lợi thế so sánh của từng tiểu vùng (đồng bằng, trung du, đồi núi), phù hợp với điều kiện của mỗi tiểu vùng phát triển nông sản đặc sản
II.4 Về kinh tế tỉnh Điện Biên
Lê Anh Vũ (2007) phân tích thực trạng kinh tế trang trại ở tỉnh Điện Biên và cho thấy mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng việc phát triển loại hình kinh tế này tại Điện Biên vẫn còn nhiều hạn chế Các nguyên nhân chủ yếu liên quan đến: nhiều chủ trương, chính sách của nhà nước chưa được thực hiện; các trang trại ít được hỗ trợ về vốn, khoa học-công nghệ, cơ sở hạ tầng; hoạt động khuyến nông lạc hậu; thiếu thông
Trang 19tin và hiểu biết về thị trường Từ đó tác giả đề xuất 7 giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại Điện Biên: i/ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế trang trại; ii/ chính sách đất đai thích hợp; iii/ mở rộng thị trường tiêu thụ; iv/ tăng cường đầu tư và thực hiện chính sách tín dụng phù hợp; v/ áp dụng khoa học-công nghệ kết hợp kinh nghiệm địa phương; vi/ tăng cường khuyến nông; vii/ đào tạo nhân lực
II.5 Về tình hình nghiên cứu nước ngoài
He & Zhu (2007) cho thấy Trung Quốc đã trải qua những chuyển dịch cơ cấu công nghiệp đáng kể từ khi chuyển đổi kinh tế Quá trình thị trường hóa, toàn cầu hóa
và phân cấp quản lý đã có ảnh hưởng đáng kể đến những thay đổi trong cơ cấu công nghiệp ở các tỉnh của Trung Quốc Sử dụng dữ liệu cấp tỉnh giai đoạn 1980-2003, nghiên cứu chỉ ra rằng các tỉnh nằm sâu trong đất liền, đã dần chuyên sâu vào các ngành công nghiệp dựa vào tài nguyên, do đó cơ cấu công nghiệp của các tỉnh này đi chệch khỏi cơ cấu quốc gia Trong khi đó, các tỉnh ven biển cũng tổ chức các ngành công nghiệp tương đối giống nhau Phân tích thống kê cho thấy rằng thị trường hóa đã tăng cường vai trò của lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên, kích thích sự phân kỳ của cơ cấu công nghiệp của tỉnh có nguồn lực tài nguyên khác nhau đồng thời khuyến khích các tỉnh có nguồn tài nguyên với lợi thế so sánh để phát triển các ngành công nghiệp tương tự
Veeck & Pannell (1989) cho thấy tái cơ cấu và cải cách kinh tế ở Trung Quốc dẫn đến những thay đổi đáng kể về cơ cấu và mức thu nhập của hộ gia đình Các tác giả đã khảo sát 167 hộ gia đình tại tỉnh Giang Tô trong thời kỳ 1986-1987 Kết quả cho thấy có thể chia làm 3 loại hộ gia đình dựa trên nguồn thu nhập: nông nghiệp truyền thống, công nghiệp và hỗn hợp Các hộ gia đình gần thành phố lớn có thu nhập cao nhất, với thu nhập chủ yếu đến từ việc làm trong công nghiệp Trong khi đó, các
hộ ở vùng xa hơn chủ yếu có thu nhập từ làm ruộng
Thông qua nghiên cứu thực địa và phỏng vấn, Smyth & Zhai (2003) phân tích hiện trạng tái cơ cấu của năm doanh nghiệp nhà nước lớn và vừa (DNNN) tại tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc Các tác giả thấy rằng hầu hết các công ty được phỏng vấn tập trung
cố gắng vào cạnh tranh trên thị trường và nâng cấp công nghệ Điều này thể hiện rõ nhất trong nỗ lực để tách các chức năng sản xuất & phúc lợi xã hội của doanh nghiệp
và các tiến bộ liên quan trong các lĩnh vực nhà ở, chăm sóc y tế và cải cách lương hưu Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhà nước được phỏng vấn vẫn còn phụ thuộc nhiều vào chính sách ưu đãi của chính phủ Đặc biệt, một số doanh nghiệp nhà nước có lợi nhuận chủ yếu do ân huệ từ chính sách của chính phủ (hoán đổi nợ, xoá nợ và các khoản vay trợ cấp)
Khoảng trống nghiên cứu: Như vậy, qua phân tích tổng quan tình hình nghiên
cứu, có thể thấy đã có nhiều công trình đề cập đến tái cơ cấu kinh tế nói chung, các nội dung của nó cũng như vấn đề tái cơ cấu kinh tế của một số tỉnh thành Tuy nhiên chưa
có một công trình nghiên cứu toàn diện nào về tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên
III Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu lý luận chung về tái cơ cấu kinh tế và các vấn đề cơ bản liên quan tới quá trình tái cơ cấu kinh tế ở cấp độ địa phương, mục tiêu của đề tài là:
Trang 20- Phân tích, đánh giá được thực trạng kinh tế và cơ cấu kinh tế của tỉnh Điện Biên
- Phân tích, đánh giá được thực trạng bước đầu thực hiện tái cơ cấu kinh tế của tỉnh Điện Biên
- Đề xuất được các giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế của tỉnh Điện Biên
IV Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
IV.1 Cách tiếp cận
Để có thể đánh giá được thực trạng thực hiện đề án tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên, cách tiếp cận của đề tài gồm các bước với trình tự như sau:
Tìm hiểu cơ sở lý luận về: i/ tái cơ cấu kinh tế nói chung để rút ra được các yếu
tố thúc đẩy và nội dung tái cơ cấu kinh tế và ii/ tái cơ cấu kinh tế tại địa phương để rút
ra được các vấn đề đặc trưng, các yếu tố tác động và điều kiện để đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế địa phương
Xem xét bối cảnh vĩ mô của tái cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biện và phân tích thực trạng kinh tế Điện Biên để tạo cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá quá trình thực hiện đề
án tái cơ cấu kinh tế của Tỉnh
Trên cơ sở đó và kết hợp với xem xét định hướng của tỉnh Điện Biên, đề tài đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế của Tỉnh
IV.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk study), nghiên cứu tại hiện trường (field study) và phân tích SWOT
IV.2.1 Nghiên cứu tại bàn
Trong nghiên cứu tại bàn, đề tài sẽ tổng hợp và tham khảo các nghiên cứu có liên quan đến tái cơ cấu kinh tế nói chung và tái cơ cấu kinh tế tại các địa phương trong nước cũng như nước ngoài Đề tài thu thập tài liệu, thông tin và số liệu từ Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc Gia, Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Nghiên cứu Quản
lý Kinh tế Trung ương, Sở Kế hoạch và Đầu tư Điện Biên, Sở Công Thương Điện Biên, Sở Khoa học và Công nghệ Điện Biên, nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và các nghiên cứu khác
IV.2.2 Nghiên cứu tại hiện trường
Đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn các chuyên gia kinh tế, nhà quản lý, lãnh đạo cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức tín dụng, trang trại và hộ nông dân Phỏng vấn nêu trên được thực hiện với bảng hỏi mở, nghĩa là bên cạnh một số câu hỏi chính, nội dung phỏng vấn có thể được mở rộng ra ngoài bảng hỏi nhằm thu thập nhiều thông tin nhất có thể Nhóm nghiên cứu sẽ thiết kế chi tiết bảng hỏi dành cho từng đối tượng Việc thiết kế nội dung bảng hỏi đảm bảo đủ thông tin, khoa học, nhất quán, dễ kiểm tra và dễ hỏi
IV.2.3 Phương pháp phân tích SWOT
Dựa trên các thông tin và số liệu thu thập được, đề tài sử dụng phương pháp phân
Trang 21tích SWOT để tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu,thuận lợi và thách thức của vấn đề nghiên cứu Từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
Trang 22CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG TRONG TIẾN
TRÌNH TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
I Những vấn đề cơ bản về tái cơ cấu kinh tế địa phương
I.1 Tổng quan về tái cơ cấu kinh tế ở cấp độ địa phương
I.1.1 Các khái niệm liên quan
I.1.1.1 Cơ cấu kinh tế
Theo Marx, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất Marx đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh
tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành
Khi phân tích cơ cấu kinh tế, người ta thường dựa trên hai phương diện, gồm: khía cạnh vật chất kĩ thuật và kinh tế xã hội của cơ cấu Về mặt vật chất xã hội, các yếu tố cụ thể bao gồm: Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế; Cơ cấu theo quy mô, trình độ kĩ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế; Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất
Phương diện thứ hai, xét theo cơ cấu kinh tế về mặt kinh tế-xã hội, bao gồm: Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội; Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan
hệ hàng hoá tiền tệ Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất
Đồng nhất với quan điểm trên, Viện Chiến lược Phát triển đã đưa ra định nghĩa
cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là một thuộc tính của hệ thống kinh tế, nó tổng
hợp về lượng và chất các phần tử hợp thành hệ thống trong mối quan hệ tương tác tạo thành nền kinh tế Định nghĩa về cơ cấu kinh tế này sẽ được sử dụng xuyên suốt trong
đề tài
I.1.1.2 Cơ cấu ngành kinh tế
Với cách hiểu thực tế trong một nền kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và
sự tác động qua lại cả về số lượng lẫn chất lượng giữa các ngành với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Nhắc tới khái niệm cơ cấu ngành kinh tế, ta
Trang 23cần hiểu trên hai phương diện sau:
Thứ nhất là số lượng ngành kinh tế được hình thành: Số lượng ngành kinh tế
không cố định, luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao động xã hội Theo thời gian và quan điểm, có nhiều cách phân loại ngành kinh tế khác nhau Để thống nhất cách phân loại ngành, Liên Hợp Quốc (LHQ) đã ban hành: “Hướng dẫn phân loại ngành theo chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế”, theo đó gộp các ngành thành ba khu vực hay còn gọi là ba ngành gộp: Khu vực I bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp; khu vực II bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng; khu vực III bao gồm các ngành dịch vụ
Thứ hai là mối quan hệ tương đối giữa các ngành với nhau, mối quan hệ này bao gồm cả mặt số lượng và chất lượng Mặt số lượng thể hiện ở tỷ trọng (tính theo GDP,
lao động, vốn,…) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân Khía cạnh chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và tính chất sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau
I.1.1.3 Cơ cấu kinh tế lãnh thổ
Là sự hình thành việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Trong cơ cấu lãnh thổ có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ Tùy theo tiềm năng phát triển kinh tế, gắn liền với sự hình thành phân bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp hay ưu tiên môt vài ngành kinh tế nào đó
I.1.1.4 Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu kinh tế và cơ cấu vùng, lãnh thổ trong quá trình phát triển
I.1.1.5 Tái cơ cấu kinh tế
Theo Nguyễn Đình Cung (2012), “Tái cơ cấu kinh tế” được hiểu là quá trình phân bố lại nguồn lực xã hội theo cơ chế thị trường, qua đó, nguồn lực xã hội sẽ được phân bố lại hợp lý hơn, được sử dụng có hiệu quả hơn Sự thay đổi về phân bố nguồn lực nói trên sẽ từng bước làm thay đổi cách thức tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu và dần nâng cấp trình độ phát triển của nềnkinh tế Nói cách khác, bản chất của tái
cơ cấu kinh tế là thay đổi hệ thống đòn bẩy khuyến khích, loại bỏ và thay thế các động lực khuyến khích lệch lạc dẫn đến những sai lệch trong phân bố và sử dụng nguồn lực quốc gia, bằng hệ thống động lực hợp lý, phù hợp với chuẩn mực kinh tế thị trường phổ biến và giá trị đạo đức xã hội Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác có tác động đến tái
cơ cấu kinh tế, bao gồm môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng kết cấu hạ tầng, và chất lượng nguồn nhân lực
Lê Thành Văn & Trần Thị Hương (2012) định nghĩa tái cơ cấu kinh tế là tổ chức lại nền kinh tế bằng các hình thức mới, bỏ đi, tăng hay giảm các ngành, các lĩnh vực,
bộ phận kinh tế hoặc định hướng lại các ngành, bộ phận lĩnh vực của nền kinh tế để nó vận hành hiệu quả hơn Nói cách khác, tái cơ cấu là việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế bất hợp lý thành cơ cấu kinh tế hợp lý hơn Như vậy, tái cơ cấu kinh tế là quá trình thiết
Trang 24lập lại cơ cấu kinh tế ở mức độ phát triển hiện tại để nền kinh tế trở thành hiệu quả hơn, có năng lực cạnh tranh cao hơn, và quá trình đó được thực hiện thông qua thay đổi cơ chế phân bổ nguồn lực từ nơi kém hiệu quả sang nơi sử dụng với hiệu quả cao hơn
Kim Ngọc & Ngô Văn Vũ (2014) cho rằng tái cơ cấu kinh tế là những thay đổi
có tính bước ngoặt về cơ chế, chính sách kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế -
xã hội đặt ra; là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngành, cơ cấu khu vực kinh tế sở hữu hợp lý Có thể nói, tái cơ cấu nền kinh tế là quá trình Chính phủ chủ động thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ban hành các chính sách về tài chính, tiền tệ, các chính sách về hành chính, kinh tế và sử dụng các công cụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình để tác động tới việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực cần thiết nhằm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo một xu hướng nhất định, đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển
Theo Đinh Trọng Thắng & Nguyễn Văn Tùng (2017), tái cơ cấu nền kinh tế là quá trình sắp xếp, cơ cấu lại nền kinh tế với quy mô lớn hơn và tốc độ nhanh hơn để đạt mục tiêu nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Đây là đòi hỏi khách quan của quá trình vận động và phát triển, trong đó tại một thời điểm nhất định, nền kinh tế cần phải có sự thay đổi để chuyển sang một trạng thái mới tốt hơn và ở trình độ cao hơn
Trên cơ sở các định nghĩa nêu trên, nhóm đề tài tổng hợp và đề xuất một định
nghĩa tái cơ cấu kinh tế sẽ được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu này: “Tái cơ cấu
kinh tế là quá trình các cấp chính quyền, thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ quản lý khác của mình, tác động tới việc phân bổ và sử dụng nguồn lực trong xã hội nhằm có được một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn để nền kinh tế đạt được các mục tiêu đặt
ra trong từng giai đoạn phát triển” Như vậy, có thể hiểu mục tiêu của tái cơ cấu kinh
tế là “có được một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn để nền kinh tế đạt được các mục tiêu đặt
ra trong từng giai đoạn phát triển” và mục tiêu này được thực hiện thông qua việc các
“cấp chính quyền, thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ quản lý khác của mình, tác động tới việc phân bổ và sử dụng nguồn lực trong xã hội”
Tại Việt Nam, theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư đã chủ trì nghiên cứu, xây dựng Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế Đề án đã thể hiện đầy đủ các yêu cầu và nội dung tái cơ cấu kinh tế, bao gồm (Lê Xuân Bá, 2013):
- Tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công,
- Tái cơ cấu hệ thống tài chính mà trọng tâm là hệ thống các ngân hàng thương mại,
- Tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước,
- Tái cơ cấu ngành mà trọng tâm là phân bố lại các ngành sản xuất và dịch vụ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng
- Xây dựng, phát triển cơ cấu vùng kinh tế hợp lý
Các nội dung này sẽ được đánh giá và phân tích thông qua các tiêu chí đánh giá
cụ thể như phân bổ nguồn lực, hiệu quả sản xuất, tích lũy vốn, mức độ đầu tư, chi tiêu,
Trang 25nhu cầu hàng hóa, thương mại và dịch vụ, đặc điểm dân số…
I.1.2 Tái cơ cấu kinh tế ở cấp độ địa phương
I.1.2.1 Sự khác nhau giữa cơ cấu kinh tế của địa phương và của cả nước
Là một hệ thống con trong hệ thống kinh tế cả nước, song bản thân nền kinh tế địa phương cũng là một hệ thống gồm các bộ phận cấu thành nhỏ hơn So với quốc gia, địa phương là một thực thể phụ thuộc, không hoàn chỉnh nên không tuân theo quy luật điều chỉnh cơ cấu kinh tế của quốc gia, tùy thuộc ở thế mạnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội để xác định cơ cấu kinh tế của địa phương Ví dụ, tỉnh có thế mạnh về nông, lâm, thủy sản nên tỷ trọng nông nghiệp trong GDP có thể cao hơn tỷ trọng quốc gia Trái lại, ở một số tỉnh khi cả nước chưa đạt được cơ cấu công nghiệp hóa (các ngành phi nông nghiệp như công nghiệp, dịch vụ chiếm khoảng 90% và nông nghiệp 10%) thì bản thân tỉnh đó đã đạt được cơ cấu hiện đại với tỷ trọng phi nông nghiệp ở mức cao trên 90% Như vậy, cơ cấu kinh tế địa phương có những đặc điểm đặc thù khác với cơ cấu kinh tế quốc gia
Dựa trên khái niệm chung về tái cơ cấu kinh tế nói và tính tới các đặc điểm nêu
trên của kinh tế địa phương, có thể định nghĩa “tái cơ cấu kinh tế địa phương là quá
trình các địa phương, với tư cách là một thực thể con trong hệ thống kinh tế cả nước, trên cơ sở tiến trình tái cơ cấu kinh tế quốc gia, thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ quản lý khác của mình, tác động tới việc phân bổ và sử dụng nguồn lực tại địa phương nhằm có được một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, phát huy được các thế mạnh của mình, để nền kinh tế địa phương đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển”
I.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu ngành kinh tế của địa phương
Cơ cấu ngành hợp lý là tiền đề phát triển lành mạnh của địa phương, không chỉ
có lợi cho việc sử dụng đầy đủ tài nguyên tại địa phương, phát huy ưu thế địa phương, nâng cao hiệu quả kinh tế ngành, tăng cường thực lực kinh tế địa phương mà còn có lợi cho việc thỏa mãn các nhu cầu xã hội, bảo đảm sự phát triển của địa phương về lâu dài
Cơ cấu ngành do trình độ sản xuất quyết định Cụ thể, cơ cấu ngành chịu ảnh hưởng của một số nhân tố sau:
Tiêu dùng xã hội
Tiêu dùng không chỉ là điểm cuối cùng của quá trình sản xuất mà đồng thời hướng dẫn sản xuất, đưa ra phương thức và động lực phát triển sản xuất Nói cách khác, tiêu dùng xã hội hướng dẫn phương hướng biến động của cơ cấu ngành phù hợp với nhu cầu tiêu dùng, trở thành một trong các nhân tố quan trọng thúc đẩy diễn biến của cơ cấu ngành
Tình trạng tài nguyên
Ảnh hưởng của tài nguyên đối với cơ cấu ngành là rõ ràng và dễ thấy Địa phương có chủng loại tài nguyên nào thì dễ có thiên hướng xác định cơ cấu ngành thiên về tận dụng loại tài nguyên đó Ví dụ, tổ hợp giữa tài nguyên than và quặng sắt
Trang 26tại địa phương dẫn đến sự hình thành cơ cấu ngành lấy công nghiệp luyện kim làm chủ đạo Tài nguyên đất nông-lâm nghiệp, tài nguyên rừng, tài nguyên du lịch tại tỉnh Điện Biên là điều kiện hình thành cơ cấu ngành với tỷ trọng lớn hơn thuộc các ngành nông-lâm nghiệp và du lịch
Tuy nhiên, chủng loại, số lượng, chất lượng của tài nguyên tự nhiên khác nhau, giá trị kinh tế của chúng cũng sẽ khác nhau, mức độ ảnh hưởng đối với cơ cấu ngành cũng khác nhau Ví dụ như khoáng sản sắt hoặc tài nguyên dầu mỏ, nếu trữ lượng lớn, chất lượng tốt thì giá trị kinh tế cao, khi khai thác có ảnh hưởng lớn, lôi kéo đối với kinh tế địa phương, sẽ có khả năng hình thành cơ cấu ngành lấy khai thác, sử dụng hai loại tài nguyên này là chủ yếu Một số kim loại hiếm hoặc khoáng sản kim loại quý, mặc dù giá trị kinh tế rất cao, nhưng ở các địa phương có quy mô trữ lượng tương đối nhỏ, nhu cầu thị trường có hạn, ảnh hưởng lôi kéo đối với kinh tế sẽ không lớn
Trình độ khoa học - công nghệ
Tình hình phát triển khoa học - công nghệ không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm, mà còn ảnh hưởng đến sự mở rộng lĩnh vực sản xuất và hình thành ngành mới Trong một địa phương, nếu trình độ khoa học - công nghệ còn thấp hoặc trình độ tiếp thu và vận dụng công nghệ mới còn hạn chế thì tốc độ khai phá lĩnh vực sản xuất và hình thành ngành mới chậm, tại đây phần lớn hình thành các ngành sử dụng tài nguyên thiên nhiên hoặc sử dụng nhiểu lao động Ngược lại, nếu địa phương có trình độ khoa học – công nghệ tương đối cao hoặc trình độ tiếp thu, vận dụng, nhân rộng công nghệ mới tương đối tốt thì tốc độ khai phá lĩnh vực sản xuất và hình thành ngành mới nhanh, tỷ lệ ngành công nghệ mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế lớn, tại đây nền kinh tế sẽ dựa vào các ngành sử dụng nhiều vốn và công nghệ
Hiện trạng cơ cấu và truyền thống sản xuất
Hiện trạng cơ cấu ngành và truyền thống sản xuất vốn có của địa phương cũng có ảnh hưởng đối với dịch chuyển cơ cấu ngành Cơ cấu ngành hiện có là kết quả phát triển trên cơ sở cơ cấu ngành trước đây, nhiều hay ít đều mang dấu ấn của cơ cấu ngành vốn có Chuyển đổi cơ cấu ngành không phải là loại bỏ mà từng bước cải tiến, đổi mới Do đó, không thể xem nhẹ ảnh hưởng của cơ sở cơ cấu ngành truyền thống Ngoài ra, ở một địa phương nào đó, nếu tồn tại truyền thống sản xuất sản phẩm nào
đó, nhất là sản phẩm mang tính đặc thù của vũng lãnh thổ, địa phương, thì ảnh hưởng đối với cơ cấu của địa phương sẽ rất sâu sắc
Quan hệ quốc tế và phân công khu vực
Sự lưu thông về thương mại, vốn, tiền tệ, tri thức, lao động và sự chuyển dịch về công nghệ, thông tin…đều là nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới biến động cơ cấu ngành của địa phương Ảnh hưởng của phân công lao động quốc tế đối với cơ cấu ngành cũng rất quan trọng Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phân công lao động theo vùng thể hiện sự hợp tác, cạnh tranh và lợi ích, chúng có thể làm cho ảnh hưởng của các nhân tố trên đối với cơ cấu ngành mạnh hoặc yếu
I.1.2.3 Xu thế thay đổi cơ cấu ngành của địa phương
L G Clark, nhà kinh tế học kiêm thống kê học nước Anh, trên cơ sở nghiên cứu,
Trang 27phân tích tư liệu thống kê về biến đổi sức lao động ngành giữa các khu vực một, hai và
ba (nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ) trải qua các thời kỳ lịch sử của nhiều quốc gia, đã có kết luận như sau: cùng với sự gia tăng thu nhập quốc dân (GDP) theo đầu người, trước tiên sức lao động từ ngành thuộc khu vực một chuyển dịch sang khu vực hai Tiếp đó, khi GDP/đầu người được nâng cao thêm một bước nữa do chuyển dịch sức lao động tạo ra, sức lao động từ ngành thuộc khu vực một dần dần giảm thiểu, sức lao động ngành thuộc khu vực hai và ba dần dần tăng lên Động lực làm thay đổi cơ cấu phân bố sức lao động là sự khác biệt về thu nhập tương đối giữa các ngành trong phát triển kinh tế
Nếu gọi A là khu vực một (nông nghiệp), B là khu vực hai (công nghiệp) và C là khu vực ba (dịch vụ), về tổng thể có 3 giai đoạn phát triển:
Giai đoạn một, A chiếm vị trí đầu
Giai đoạn hai, B chiếm vị trí đầu
Giai đoạn ba, C chiếm vị trí đầu
Điều kiện, đặc điểm các địa phương rất khác nhau, mức độ chịu ảnh hưởng của quy luật nêu trên cũng khác nhau, sự thay đổi cơ cấu ngành cơ bản thể hiện trạng thái phức tạp, nhưng xu thế chung thì giống nhau
I.2 Vai trò của chính quyền địa phương trong tái cơ cấu kinh tế
I.2.1 Cơ cấu chính quyền địa phương
Về mặt pháp lý, chính quyền địa phương chỉ là một bộ phận hoặc đại diện của Nhà nước ở địa phương Ngân sách của địa phương là một phần của ngân sách trung ương nhằm thực hiện những kế hoạch do trung ương đề ra Như vậy ở Việt Nam chỉ
có chế độ phân quyền Dưới trung ương là tỉnh và dưới tỉnh là huyện Một thành phố
có thể trực thuộc tỉnh hoặc trực thuộc trung ương Mỗi thành phố lại chia ra thành nhiều quận, huyện Các huyện ngoại thành bao gồm các xã hoặc thị trấn Tổng cộng, ở Việt Nam có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ là cấp đầu tiên trong tổ chức hành chính của Việt Nam
Hình 1: Bốn cấp độ trong tổ chức hành chính của Việt Nam
Nguồn: Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam (2013)
Trang 28Bên dưới những cấp bậc khác nhau trong tổ chức hành chính địa phương là một thực tế hết sức đa dạng Các thành phố có vai trò ngày càng lớn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và dân số Các thành phố được phân loại theo một bảng gồm sáu bậc có ý nghĩa quyết định về mặt quyền lợi và mức độ tự chủ cũng như về điều kiện cho vay vốn để phát triển Trong số sáu loại đô thị này, có Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
là đô thị đặc biệt, còn lại được phân thành bậc từ 1 đến 5 (các đô thị loại 1 và 2 có thể
là thành phố trực thuộc trung ương hoặc tỉnh) Việc phân loại dựa vào những yếu tố về mặt số lượng (dân số, dân số thành thị, mật độ dân số ) hay chất lượng (ảnh hưởng của đô thị về mặt kinh tế, giáo dục, văn hóa
Tỉnh là cấp độ hành chính quan trọng nhất bởi tỉnh có trách nhiệm chính trong việc bảo đảm các dịch vụ công ở địa phương (cấp thoát nước, rác thải, cơ sở hạ tầng, giao thông công cộng, phần lớn dịch vụ y tế, giáo dục…) và thường giao cho các đơn
vị cấp dưới các dịch vụ ở địa bàn Ngoài ra, tỉnh gần như là cơ quan chủ quản trong việc đưa ra quyết định và ấn định ngân sách của các đơn vị hành chính cấp dưới Chính quyền mỗi địa phương bao gồm hai cơ quan là Hội đồng nhân dân (cơ quan lập pháp, dưới quyền của Quốc hội) và Ủy ban nhân dân (cơ quan hành pháp, chịu sự lãnh đạo của Chính phủ)
Hình 2: Bộ máy chính quyền các cấp
Nguồn: Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam (2013)
I.2.2 Vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng chính quyền địa phương, thông qua cơ chế phân quyền tự chủ (decentralization), đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế ở nhiều quốc gia Từ năm 1776, Adam Smith đã nhận thấy vai trò của
Trang 29chính quyền địa phương đối với sự phát triển kinh tế khi ông quan sát thấy việc cho phép đại bộ phận tầng lớp nông dân tham gia vào quá trình bầu cử đã khuyến khích họ hơn trong việc đầu tư vào nền kinh tế và góp phần to lớn vào công cuộc hiện đại hóa nền kinh tế của nước Anh Suốt thế kỷ thứ 18, nước Anh đã thực hiện cơ chế phân quyền tự chủ cho các chính quyến địa phương là thuộc địa của mình Sang thế kỷ 19, hàng loạt các cuộc cải cách kinh tế diễn ra khắp nơi trên thế giới, chính quyền địa phương tiếp tục phát huy vai trò quan trong của mình Theo Myerson (2015), mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và chính quyền trung ương là một trong những nhân tố quan trọng của nền kinh tế Trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, chính quyền trung ương chỉ có thể có quyền lực khi được chính quyền địa phương ủng hộ và tin tưởng và ngược lại chính quyền địa phương cũng cần dựa vào chính quyền trung ương
để khẳng định vị thế của mình tại địa phương
Ở Việt Nam, chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước bởi nó ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống của người dân, đặc biệt là ở khu vực đô thị, thông qua việc tiếp nhận và cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp cũng như thực hiện các chủ trương chính sách của nhà nước Những biến đổi trong xã hội dẫn đến những thay đổi lớn về vị trí của chính quyền địa phương khiến các đơn vị này ngày càng có nhiều thế mạnh và quyền tự chủ trước Trung ương, mặc dù chính thức vẫn bị đặt dưới chính quyền trung ương
Xu hướng những năm gần đây cho thấy các địa phương, đặc biệt là chính quyền các tỉnh ngày càng có nhiều quyền tự chủ Điều này được thể hiện rõ qua các văn bản pháp luật như :
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ra ngày 10/02/2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng theo đó các tỉnh chỉ phải xin ý kiến Trung ương cho những dự án lớn ;
Luật số 30/2009/QH12 thông qua ngày 17/06/2009 về quy hoạch đô thị cho phép các địa phương được quyền xác định các khu quy hoạch và xây dựng ;
Nhiều luật và nghị định ra năm 2007 trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt (như nghị định 117/2007/NĐ-CP ra ngày 11/07/2007), thoát nước đô thị (nghị định 88/2007/NĐ-CP), xử lý chất thải rắn (nghị định 59/2007/NĐ-CP) trong đó đều nêu rõ và tăng cường quyền hạn cho các tỉnh ;
Việc thành lập các Quỹ đầu tư phát triển địa phương (bắt đầu từ cuối năm 1990
và phát triển mạnh từ sau nghị định 138 ra ngày 28/08/2007) cho phép các tỉnh có phương tiện tài chính để thực hiện các mục tiêu
Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt Một mặt, với tư cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất trên lãnh thổ Việt Nam Mặt khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan do nhân dân địa phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp)
để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Vai trò như vậy của chính quyền địa phương được thể hiện tập trung trong quy định tại Điều 6 của Hiến pháp về nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức
Trang 30và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của bộ máy nhà nước nói chung Trong đó, tập trung thống nhất là yếu tố có tính chủ đạo Tư tưởng cơ bản trong tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc đó là vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất, vừa phát huy vai trò chủ động tích cực của địa phương
Đến đây, có thể xác định mô hình tổ chức chính quyền địa phương Việt Nam thể hiện trên hai điểm cơ bản sau:
- Mỗi đơn vị hành chính thành lập hai loại cơ quan là Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
- Giữa chính quyền địa phương và chính quyền trung ương và giữa các cấp chính quyền địa phương không có tính độc lập cao, tuy rằng trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý cho các cấp chính quyền địa phương Nguyên tắc cơ bản và hàng đầu trong tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương là tập trung dân chủ Đây là điểm rất đáng chú ý trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta Nó chứng tỏ rằng, chính quyền địa phương Việt Nam không có
“chủ quyền” trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao Quy định ở Điều 7 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thể hiện rõ hơn này khi ghi nhận trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Chính phủ đến Uỷ ban nhân dân cấp xã có sự chỉ đạo trong quản lý nhà nước từ trên xuống dưới Đây chính
là điểm khác về bản chất so với chính quyền địa phương tự quản
Tóm lại, với các đặc điểm trình bày như trên có thể gọi là mô hình chính quyền địa phương nước ta là mô hình chính quyền địa phương tập trung dân chủ
I.2.3 Vai trò của chính quyền địa phương trong tái cấu trúc kinh tế
Đối với các tỉnh, thành phố, vai trò của chính quyền địa phương trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế thể hiện rõ nét trên hai nội dung: tái cơ cấu đầu tư công và tái cơ cấu ngành, vùng kinh tế
I.2.3.1 Đầu tư công: cần có quy hoạch để lồng ghép vốn
Đối với địa phương, đầu tư công chủ yếu từ các nguồn vốn như: vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung, vốn trái phiếu chính phủ, vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA…Tại địa phương, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước luôn trong tình trạng căng thẳng khi nhu cầu đầu tư lớn nhưng khả năng đáp ứng vốn hạn chế; vốn đầu tư phân tán từ nhiều nguồn khác nhau với các mục tiêu khác nhau nên việc lồng ghép rất khó khăn Thực tế này đã làm cho hiệu quả sử dụng vốn không cao; manh mún, xé lẻ trong đầu tư
Một trong những giải pháp trong thời gian đến đối với đầu tư công là đổi mới cơ chế phân bổ, quản lý và sử dụng, nâng cao hiệu quả đầu tư Nhà nước Mặc dù không mới nhưng đây là giải pháp luôn có tính thời sự và đòi hỏi có những bài toán tối ưu trong từng giai đoạn nhất định Không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, phân bổ vốn đầu tư tại địa phương trong những năm qua Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung được phân bổ theo các nguyên tắc, tiêu chí, định mức cụ thể, cơ bản đảm bảo được tính minh bạch, công khai; cơ chế bố trí vốn cũng
ưu tiên cho việc giảm nợ xây dựng cơ bản (sử dụng 50% thanh toán khối lượng; 40%
Trang 31cân đối bố trí cho các công trình chuyển tiếp; 10% cho công trình mới các dự án), công trình chỉ được bố trí vốn khi đầy đủ thủ tục đầu tư theo quy định; công tác kiểm tra, rà soát, điều chuyển vốn giữa các công trình cũng được thực hiện thường xuyên…Tuy nhiên, để các nguồn vốn của Nhà nước được sử dụng thực sự hiệu quả trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu các mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, đòi hỏi phải có những cách làm đồng bộ, có tầm nhìn trong công tác quản lý và phân bổ vốn Một trong những vấn đề trước mắt mà hội đồng nhân dân các tỉnh cần nghiên cứu
là tiến hành lập quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản trung hạn (5 năm), xem đây là cơ
Trong những năm qua cũng đã đặt ra vấn đề lồng ghép các nguồn vốn, song việc thực hiện rất hạn chế do mỗi loại vốn do các cơ quan khác nhau quản lý, việc quyết định đầu tư chưa theo một định hướng nhất định; tình trạng “tranh thủ vốn” của các ngành, địa phương theo kiểu “mạnh ai nấy làm” cũng dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán, hiệu quả đầu tư công không cao Vấn đề này sẽ được giải quyết khi có định hướng đầu tư rõ ràng, đó là quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản cấp tỉnh Việc ban hành quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện quan trọng để thực hiện lồng ghép, điều phối các nguồn vốn, phát huy tối đa hiệu quả đầu tư; bởi lẽ, mọi quyết định đầu tư phải theo quy hoạch, tránh được tình trạng “xin – cho” hay quyết định đầu tư theo cảm tính, thiếu cơ sở
I.2.3.2 Tái cơ cấu ngành, vùng kinh tế: đặt địa phương trong mối quan hệ chung
Một trong những yếu kém của nền kinh tế nước ta hiện nay được nêu ra trong Đề
án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế là các vùng kinh tế chưa phát huy hết lợi thế; còn lúng túng trong việc hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý của mỗi vùng và mối liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng với nhau; không gian kinh tế đang bị chia cắt và phân tán theo đơn vị hành chính cấp tỉnh Để giải quyết bất cập này, trách nhiệm, nhiệm vụ trước hết là của các cơ quan trung ương, song không phải vì vậy mà chính quyền địa phương đứng ngoài cuộc trong quá trình tái cơ cấu ngành, vùng kinh
tế Bởi lẽ, ở địa phương, HĐND tỉnh là cơ quan quyết định quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hằng năm về phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành
Đã đến lúc cần phải thay đổi quan niệm “người ta có gì thì mình cũng phải có”
để rồi quá nhiều sân bay, bến cảng, các khu, cụm công nghiệp được xây dựng san sát giữa các tỉnh, thành phố như hiện nay nhưng hiệu quả khai thác thấp Do vậy, trong quá trình tái cơ cấu ngành, vùng kinh tế, vai trò của chính quyền địa phương là không
Trang 32nhỏ Để thực hiện vai trò này, chính quyền địa phương phải xem xét lại quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, phát triển ngành của tỉnh cho phù hợp với quy hoạch kinh tế - xã hội của quốc gia, quy hoạch bộ, ngành
Theo đó, điều quan trọng trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch ngành của địa phương là phải đặt trong mối quan hệ chung, gắn kết với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và từng vùng miền, lấy lợi ích quốc gia là hàng đầu; đồng thời, đòi hỏi phải xác định được chính xác đâu là lợi thế cần được ưu tiên đầu tư, phát triển và lợi thế đó phải tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh vượt ra
khỏi vùng, miền, tham gia vào thị trường quốc tế
II Các ràng buộc trong tái cơ cấu kinh tế địa phương
II.1 Vấn đề phân bổ nguồn lực và ngân sách trung ương, địa phương trong tái cơ cấu kinh tế địa phương
Việc phân bổ nguồn lực và ngân sách trung ương, địa phương cho tái cơ cấu kinh
tế địa phương phụ thuộc vào các quy định của nhà nước về phân cấp quản lý thu chi ngân sách trung ương, ngân sách địa phương
Phân cấp là một phương thức quản lý nhà nước gắn với mô hình tổ chức quản lý nhà nước nhiều cấp theo thứ bậc trên, dưới Số lượng cấp trong hệ thống quản lý là nhân tố quan trọng trong phân định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của mỗi cấp Sự phân cấp giữa Trung ương và địa phương dựa trên cơ sở pháp luật, mang tính chất thường xuyên, lâu dài và ổn định Phân cấp về quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam thực hiện theo nguyên tắc: quyền quyết định của Trung ương và quyền chủ động của các địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ ngân sách Sau khi ban hành Luật Ngân sách 1996 và nhất là Luật Ngân sách 2002, các địa phương ngày càng được quyền tự chủ cao hơn và được giao quyền quyết định trong một số nhiệm vụ liên quan đến ngân sách Phân cấp quản lý ngân sách hiện nay gồm có phân cấp nhiệm vụ thu và chi NSNN
II.1.1 Phân cấp thu ngân sách giữa trung ương và địa phương:
Các khoản thu ngân sách nhà nước (NSNN) được chia thành các nhóm: (i) các khoản thu ngân sách Trung ương (NSTW) hưởng 100%; (ii) các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa NSTW và ngân sách địa phương (NSĐP); (iii) các khoản thu được phân cấp cho NSĐP 100% Cụ thể:
Các khoản thu ngân sách Trung ương hưởng 100% như : thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành; các khoản thuế và thu khác từ dầu, khí theo quy định của Chính phủ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương như: thuế giá trị gia tăng; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài; thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước; thuế bảo vệ môi trường
Trang 33Tỷ lệ phân chia NSTW và địa phương được giữ cố định trong giai đoạn từ 3-5 năm với mục tiêu giúp chính quyền địa phương có sự ổn định trong thực hiện nhiệm
vụ ngân sách củamình
Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%: Thuế nhà, đất; Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí; Thuế môn bài; Thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất; Tiền cho thuê
và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Ngân sách địa phương cũng được nhận một khoản thu quan trọng là thu từ chuyển giao ngân sách Trung ương cho địa phương gồm bổ sung cân đối ngân sách (với những địa phương chưa thể tự cân đối ngân sách) và bổ sung có mục tiêu
Theo số liệu từ Bộ Tài chính, tỷ lệ thu ngân sách địa phương trong tổng ngân sách nhà nước tăng mạnh kể từ sau khi áp dụng luật ngân sách 2002 Nếu không tính thu NSNN từ dầu thô thì thu ngân sách địa phương chiếm trung bình hơn 44 % tổng thu NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2009-2013 Tỷ lệ bổ sung từ NSTW cho địa phương
có xu hướng giảm mạnh, chỉ còn 34,1 % cho giai đoạn 2010-2014 So sánh quốc tế cho thấy tỷ lệ thu NSDP trong GDP quốc gia của Việt Nam đạt 9,9 % giai đoạn này, cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển Tỷ lệ chuyển giao ngân sách từ Trung ương cho địa phương của Việt Nam thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển
II.1.2 Phân cấp chi NSNN giữa Trung ương và địa phương:
Hiện nay phân cấp chi NSNN giữa Trung ương và địa phương được thực hiện theo nguyên tắc:
i) Ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách Ngân sách Trung ương chi trả cho các chương trình, dự án quốc gia, liên tỉnh, các dịch vụ công cộng có vai trò quan trọng với quốc gia như giáo dục đại học, các bệnh viện quốc gia, quốc phòng, an ninh quốc gia…
ii) Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn Ngân sách địa phương có trách nhiệm với dịch vụ công theo phân cấp mà vùng hưởng lợi nằm trong biên giới của họ
iii) Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từngcấp
Cũng theo số liệu của Bộ Tài chính, có thể thấy rằng nếu xét tỷ lệ chi NSĐP trong tổng chi NSNN thì Việt Nam đang thực hiện phân cấp khá mạnh Tỷ lệ chi tiêu của ngân sách địa phương trong tổng chi ngân sách nhà nước tăng từ 37,9% giai đoạn 2001-2005 lên 47,2% năm 2012 và chiếm hơn 50 % tổng chi NSNN năm 2013-2014
Trang 34II.1.3 Thuận lợi và thách thức trong hệ thống phân cấp quản lý ngân sách cho tái
cơ cấu kinh tế địa phương
II.1.3.1 Thuận lợi
Một là, phân cấp ngân sách nhà nước (NSNN) đã làm tăng tính chủ động, tích cực của chính quyền địa phương Chính quyền địa phương (đặc biệt là cấp tỉnh) đã được phân cấp ngân sách nhiều hơn trong: i) Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách ở địa phương trong phạm vi được phân cấp nhằm đảm bảo sự phù hợp với điều kiện của từng địa phương; ii) Quyết định định mức phân
bổ ngân sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách trên cơ sở hướng dẫn và khung quy định do Thủ tướng Chính phủ ban hành; iii) Quyết định một số nội dung trong quy trình ngân sách như quyết định phân bổ dự toán, quyết toán ngân sách địa phương (NSĐP)… Việc quy định thời kỳ ổn định ngân sách từ 3 đến 5 năm, ổn định tỷ lệ phân chia và số bổ sung cân đối trong thời kỳ ổn định ngân sách, trao quyền vay nợ cho chính quyền địa phương với giới hạn xác định, tăng cường phân cấp nguồn thu cho NSĐP đã giúp chính quyền địa phương phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quản lý, khai thác có hiệu quả các nguồn thu, chủ động cân đối ngân sách, đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ chi NSĐP
Hai là, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương và xóa đói giảm nghèo Với việc quy định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi và khoản chuyển giao từ ngân sách trung ương (NSTW) cho NSĐP đã giúp các địa phương xác định và cân đối giữa nhu cầu với nguồn lực để thực hiện các ưu tiên đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế địa phương Số bổ sung từ NSTW cho NSĐP trong thời gian qua tăng mạnh (số bổ sung từ NSTW cho NSĐP năm 2011 gấp hơn 4,6 lần so với năm 2004), đặc biệt là các khoản bổ sung có mục tiêu (số bổ sung có mục tiêu năm 2011 gấp 5,2 lần so với năm 2004) đã góp phần thực hiện tốt các mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở địa phương
từ giao quyền sử dụng đất
- Địa phương chỉ có quyền quyết định một số loại phí, lệ phí theo phân cấp của Chính phủ và được quy định mức thu một số loại phí, lệ phí trong khung pháp luật hiện hành quy định Tuy nhiên, nguồn thu từ các loại phí, lệ phí này trên thực tế là rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 10% tổng thu NSĐP
- Hiện nay khung luật pháp chưa có quy định về thuế địa phương Toàn bộ các vấn đề về thu thuế nào, mức thuế suất bao nhiêu, cơ sở tính thuế như thế nào… đều do Trung ương quy định Mặt khác, trong những năm gần đây do kinh tế suy giảm, để
Trang 35tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Chính phủ, Quốc hội đã ban hành các chính sách miễn, giảm, giãn thời hạn nộp một số sắc thuế, khoản thu NSNN gây ảnh hưởng tới nguồn thu của NSĐP trong khi các nhiệm vụ chi không giảm
- Đối với các khoản thu điều tiết và bổ sung, Trung ương có thể thay đổi sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách và điều này làm hạn chế tính chủ động của địa phương Đặc biệt là đối với các tỉnh nhận số bổ sung lớn lại thường là các tỉnh nghèo
- Mặc dù quy định tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có toàn quyền quyết định việc phân cấp nguồn thu cho chính quyền cấp huyện, xã trong phạm vi được phân cấp nhưng một số nội dung phân cấp thu cụ thể lại được quy định trong Luật NSNN (2002), ví dụ: phân cấp tối thiểu 70% các khoản thu thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà, đất; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất cho ngân sách xã, thị trấn…
- Không quy định cụ thể nguồn thu ở cấp huyện và cấp xã trong Luật NSNN (2002) mà giao cho chính quyền cấp tỉnh quy định đã tạo cho tỉnh có được sự linh hoạt trong điều hành ngân sách, đồng thời hạn chế mức độ chắc chắn và khả năng dự đoán trước nguồn thu ngân sách của cấp huyện và cấp xã
Hai là, phân định nhiệm vụ chi còn bất cập, bởi các lý do sau:
- Luật NSNN (2002) cho phép các tỉnh được quyết định phân cấp nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách trực thuộc (huyện, xã), nhưng lại phân cấp cụ thể nhiệm vụ chi
và khống chế tỷ lệ cứng đối với một số hạng mục chi tạo ra sự cứng nhắc, kém linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh
- Qua mỗi thời kỳ ổn định ngân sách (3-5 năm), tỷ lệ điều tiết về NSTW bắt buộc phải tăng lên
-Luật NSNN (2002) quy định không dùng ngân sách của cấp này để chi nhiệm
vụ của cấp khác (trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ) nhưng thực tế nhiều địa phương phải hỗ trợ thêm kinh phí cho các cơ quan Trung ương ở địa phương (cơ quan tư pháp, công an, quân đội) để thực hiện nhiệm vụ chung trên địa bàn, gây áp lực cho NSĐP, đặc biệt là các tỉnh còn phải nhận hỗ trợ từ NSTW
Ba là, tương quan giữa nguồn thu được giữ lại và nhiệm vụ chi của các cấp chính quyền địa phương còn chưa tương xứng
Mặc dù tỷ trọng chi NSĐP trong tổng chi NSNN đã tăng lên đáng kể từ 47,5% năm 2003 (trước thời điểm thực hiện Luật NSNN (2002)) lên 52,1% năm 2010 (bao gồm cả số bổ sung cân đối) song phần chi đó phần lớn lại được trang trải từ nguồn bổ sung của NSTW Số tỉnh tự cân đối được ngân sách từ nguồn thu được giữ lại cho tỉnh giảm từ 15 tỉnh năm 2005 xuống còn 13 tỉnh năm 2013 Các tỉnh còn lại đều trông chờ vào số bổ sung của NSTW
Trang 36II.2 Vấn đề kinh tế nhà nước – kinh tế tư nhân trong tái cơ cấu kinh tế ở địa phương
II.2.1 Kinh tế tư nhân và các loại hình kinh tế tư nhân
Theo cấp độ khái quát nhất, kinh tế tư nhân là khu vực nằm ngoài quốc danh (nằm ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước trong đó tư nhân chiếm ít nhất 50% vốn đầu tư
Kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong đó các chủ thể của nó được tiến hành sản xuất, kinh doanh một cách tự chủ vì lợi ích của bản thân cá nhân, và thông qua đó thực hiện lợi ích xã hội
Kinh tế tư nhân bao gồm các loại hình: kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế cá thể, tiểu chủ bao gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản suất, có quy mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp tư nhân, hoạt động chủ yếu vào sức lao động của chính họ Kinh tế cá thể, tiểu chủ tồn tại độc lập dưới hình thức xưởng thợ gia đình, công ty tư nhân nhỏ, hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ, hộ làm kinh tế trang trại, hoặc tham gia liên doanh, liên kết với các loại hình kinh tế khác
Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế mà sản xuất, kinh doanh dựa trên cơ
sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân có vai trò đáng
kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất cũng như về giải quyết các vấn đề xã hội Kinh tế tư bản tư nhân rất năng động, nhạy bén với kinh
tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước cũng như tại địa phương
II.2.2 Một số đặc điểm của kinh tế tư nhân:
Thành phần kinh tế tư nhân có tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân
bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc, góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân;
Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ;
Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế cá thể
đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho
xã hội, đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động;
Sự đa dạng trong loại hình sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế này cho phép tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ ở mọi nơi, mọi lúc, đáp ứng nhu cầu của xã hội, đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế;
Khu vực kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy kinh tế đối ngoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường ra thế giới
Trang 37II.2.3 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư
nhân trong phát triển nền kinh tế quốc dân:
Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân tại Đại hội XII là một trong những nội dung lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới nói chung, phát
triển kinh tế ở nước ta hiện nay nói riêng
Thực tiễn cho thấy, việc phát triển kinh tế tư nhân trong cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cách gọi trước đây và nay là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng đã khẳng định rõ: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật Quan điểm trên của Đảng cho thấy, phát triển các thành phần kinh tế trong
đó có kinh tế tư nhân là chủ trương nhất quán, là vấn đề chiến lược lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, điều mà các đại hội thời kỳ đổi mới trước đó đã khẳng định
Có thể thấy rất rõ những đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân đối với phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, bao gồm: Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; huy động các nguồn vốn trong nhân dân, trong xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách Nhà nước; tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Số liệu thống kê về kinh tế tư nhân cho thấy, hiện cả nước có khoảng
500 nghìn doanh nghiệp, chiếm gần 90% số doanh nghiệp của cả nước Trong giai đoạn 2006-2015, so với khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp hơn 40% GDP cả nước, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ, 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa vận chuyển Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng, không thể thiếu của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay Vì vậy, kinh tế tư nhân không những được xác định là “một trong những động lực của nền kinh tế” như đã khẳng định ở Nghị quyết Đại hội XI, mà còn
là động lực “quan trọng” của nền kinh tế nước ta hiện nay
Để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển trong điều kiện nước ta đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế, Đại hội XII của Đảng chủ trương: Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư
Trang 38nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế; trong đó chú trọng hoàn thiện chính sách
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp; đồng thời khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế Nhà nước Điều rất đáng chú ý là, Đảng ta chủ trương khuyến khích, phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở “hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế”, hỗ trợ phát triển “doanh nghiệp khởi nghiệp”, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân “đa
sở hữu” Những chủ trương nêu trên của Đảng hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay, cần được từng cấp, từng ngành, từng địa phương nhận thức và ứng dụng một cách đầy đủ
II.2.4 Vai trò, vị trí của khu vực kinh tế Nhà nước:
Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay có nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu Song, sở hữu nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước là đặc trưng, giữ vai trò chủ đạo và là một trong các yếu tố quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó được khẳng định tại Khoản 1, Điều
51, Hiến pháp năm 2013
Kinh tế nhà nước được cấu thành từ: (1) Bộ phận doanh nghiệp gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối; (2) bộ phận phi doanh nghiệp, ngoài các tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn bao gồm cả đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia…
Với phạm vi rộng lớn như vậy, sở hữu nhà nước và kinh tế nhà nước giữ vị trí trọng yếu, vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nền tảng cơ bản để phát triển mọi ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp
Hệ thống doanh nghiệp nhà nước do sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa nên tuy số lượng giảm, lĩnh vực, địa bàn thu hẹp nhưng vẫn có bước phát triển mạnh về quy mô tài sản, doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách nhà nước Năm 2013, riêng 18 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn có vốn nhà nước là 840 nghìn tỷ đồng (chiếm 83% vốn nhà nước tại doanh nghiệp), tổng giá trị tài sản 1.985 nghìn tỷ đồng, tổng doanh thu 1.184 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 136 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước
191 nghìn tỷ đồng
Doanh nghiệp nhà nước đã trở thành lực lượng nòng cốt để thực hiện vai trò quan trọng trong ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần to lớn trong đảm bảo quốc phòng - an ninh, an ninh lương thực, an ninh năng lượng quốc gia
II.2.5 Đổi mới, nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước:
Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một trong những nội dung quan trọng
để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế quốc dân Theo đó, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2015 đã xác định, tái cơ cấu
Trang 39doanh nghiệp nhà nước là một trong ba trụ cột trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế (cùng với tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu ngân hàng và tổ chức tín dụng)
Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, mà tập trung là các tập đoàn kinh tế, tổng
công ty nhà nước nhằm đạt các mục tiêu như: Một là, xây dựng doanh nghiệp nhà
nước có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để
Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô; hai là, nâng cao
sức cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đối với doanh nghiệp kinh doanh; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh đối với doanh nghiệp hoạt động công ích
Về cơ bản, thời gian qua, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đã tích cực triển khai Đề án tái cơ cấu theo tinh thần Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Các cơ chế chính sách về tái cơ cấu, sắp xếp,
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện Trên cơ sở các đề án đã được phê duyệt, các tập đoàn, tổng công ty đã tiến hành rà soát, phân loại, xác định danh mục ngành nghề, phạm vi kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan và xây dựng kế hoạch cổ phần hóa; một số tập đoàn và tổng công ty đã xây dựng, ban hành mới hoặc hoàn thiện hệ thống quy chế quản trị nội bộ, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành nhằm tinh giản biên chế, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
II.3 Vấn đề lợi thế cạnh tranh, phối hợp kinh tế vùng trong tái cơ cấu kinh
tế địa phương
II.3.1 Lợi thế cạnh tranh
Theo Michael Porter, lợi thế cạnh tranh về cơ bản xuất phát từ giá trị của một doanh nghiệp có thể tạo ra lớn hơn chi phí sản xuất của doanh nghiệp Giá trị mà Michael Porter muốn nói chính là giá trị mà khách hàng mong muốn ở sản phẩm của doanh nghiệp, và lợi ích mà doanh nghiệp đem lại cho khách hàng càng nhiều bao nhiêu thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao bấy nhiêu Đứng trên góc độ doanh nghiệp thì lợi thế cạnh tranh có thể được hiểu là khả năng của doanh nghiệp thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực trong việc đạt được mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận (Michael Porter, 1985)
Theo Michael Porter có 3 chiến lược để đạt được lợi thế cạnh tranh:
Chiến lược về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh
Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động là nguồn lực để tạo ra lợi thế cạnh tranh VD: Trung Quốc tận dụng lợi thế về chi phí để sản xuất các sản phẩm có chất lượng vừa phải với chi phí thấp
Chiến lược về sự khác biệt hoá: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá
trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sản phẩm, hoặc nâng cao tính hoàn thiện sản phẩm khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá, thậm chí cao hơn đối thủ cạnh tranh Một hàng hoá có thể cạnh tranh thành công khi có được lợi thế cụ thể nào đó hơn các hàng hoá khác Những lợi thế đó được biểu hiện ra
Trang 40bên ngoài hình thành các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chiến lược tập trung hóa: Công ty chỉ tập trung phục vụ cho một phân khúc thị
trường cụ thể Tại phân khúc này công ty sẽ thực hiện kết hợp với chi phí thấp hoặc khác biệt hóa Lợi thế của công ty theo chiến lược này là họ rất hiểu khách hàng, các công ty khác khi nhảy vảo phân khúc này hoặc là sẽ không thể chịu nổi giá bán đó hoặc không thể tạo ra sự khác biệt mới để chiếm khách hàng Các công ty lớn có tiềm lực cũng sẽ không buồn tấn công vào phân khúc nhỏ đó vì không bõ công
Hình 3: Chiến lược cạnh tranh theo Michael Porter
Nguồn: Competitive Advantage (Michael Porter)
Trên cơ sở lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp, Michael đã xây dựng các lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia
Michael Porter cho rằng “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào năng lực đổi mới và nâng cấp của các ngành công nghiệp trong quốc gia đó Các công
ty tạo ra được lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh giỏi nhất trên thế giới là nhờ phải chịu áp lực và thách thức Các công ty này hưởng lợi từ việc có những đối thủ cạnh tranh mạnh ở trong nước, các nhà cung ứng nội địa năng động, và những khách hàng trong nước có nhu cầu”
Dù Michael Porter không đề cập đến lợi thế so sánh theo địa phương nhưng vì địa phương là những đơn vị hành chính trực thuộc một quốc gia với bộ máy chính quyền tương tự một quốc gia thu nhỏ nên có thể áp dụng những lý thuyết về lợi thế so sánh quốc gia cho các địa phương cụ thể
II.3.2 Phối hợp kinh tế vùng
Nghiên cứu phát triển vùng và phối hợp kinh tế vùng hay còn gọi là liên kết vùng khá phát triển từ những năm 1950 của Thế kỷ 20 Trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử dụng đầu tiên trong các công trình của Perroux (1955) trong tác phẩm