KHOA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NHẠY CẢM MÔI TRƯỜNG ĐƯỜNG BỜ SÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM LÂN
Trang 1KHOA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO TÓM TẮT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NHẠY CẢM MÔI TRƯỜNG
ĐƯỜNG BỜ SÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ
MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM LÂN CẬN NHẰM ỨNG PHÓ SỰ
CỐ TRÀN DẦU
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đinh Quang Toàn
Trang 2Bình Dương, 08/2015
Trang 3KHOA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO TÓM TẮT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NHẠY CẢM MÔI TRƯỜNG
ĐƯỜNG BỜ SÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ
MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM LÂN CẬN NHẰM ỨNG PHÓ SỰ
CỐ TRÀN DẦU
Mã số:
Xác nhận của đơn vị chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
Trang 4
Bình Dương, 08/2015
Trang 51 ThS Đinh Quang Toàn
2 ThS Nguyễn Huỳnh Ánh Tuyết
3 ThS Phạm Thị Thùy Trang
4 Phạm Đặng Mạnh Hồng Luân
Trang 6DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
DANH MỤC HÌNH 9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 10
MỞ ĐẦU 11
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
a Ngoài nước 11
b Trong nước 11
2 Tính cấp thiết 13
3 Mục tiêu 14
4 Cách tiếp cận 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
7 Nội dung nghiên cứu 15
CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NHẠY CẢM ĐƯỜNG BỜ 16
1.1 Chỉ số phơi nhiễm 18
1.1.1 Yếu tố kinh tế - xã hội: 18
1.1.2 Yếu tố đặc điểm tự nhiên 18
1.2 Chỉ số tổn thương 20
1.2.1 Các dạng đường bờ 20
1.2.2 Tài nguyên nhân sinh 21
CHƯƠNG 2: THÀNH LẬP BẢN ĐỒ NHẠY CẢM ĐƯỜNG BỜ 22
Trang 7Dương 22
2.1.1 Các thành phần liên quan đến tính phơi nhiễm 22
2.1.2 Các thành phần liên quan đến tính dễ tổn thương 24
2.2 Thành lập bản đồ nhạy cảm đường bờ 26
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ESI 31
3.1 Các lớp thông tin địa lý 33
3.2 Các bảng dữ liệu 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
1 Kết luận 41
2 Kiến nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 8Bảng 1: Các yếu tố trong xác định chỉ số ESI 21
Bảng 2: Trọng số thành phần của các loại tài nguyên nhân sinh 23
Bảng 3: Trọng số thành phần của các loại tài nguyên nhân sinh 25
Bảng 4: ID của từng loại đối tượng công trình nhân sinh 34
Bảng 5: Các lớp dữ liệu địa lý ESI cùng trường thuộc tính 37
Bảng 6: Bảng thuộc tính và các trường dữ liệu 39
Trang 9Hình 1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18
Hình 2: Bản đồ chỉ số nhạy cảm nhánh sông Đồng Nai phục vụ ứng phó sự cố tràn dầu 28
Hình 3: Bản đồ chỉ số nhạy cảm nhánh sông Sài Gòn phục vụ ứng phó sự cố tràn dầu30 Hình 4: Cấu trúc cơ sở dữ liệu ESI 33
Hình 5: Bảng dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian Lớp đường bờ 33
Hình 6: Bảng dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian Lớp TNNS 35
Hình 7: Bảng dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian Lớp thủy hệ 35
Hình 8: Bảng dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian Lớp sử dụng đất 36
Hình 9: Bảng dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian Lớp ranh giới hành chính 37
Trang 10ĐDSH : Đa dạng sinh học
ESI : Environmental Sensitivity Index – Chỉ số nhạy cảm môi trường ITOPF : The International Tanker Owners Pollution Federation
TNNS : Tài nguyên nhân sinh
GPS : Global Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầu
SCTD : Sự cố tràn dầu
SDĐ : Sử dụng đất
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
a Ngoài nước
Bản đồ chỉ số nhạy cảm đường bờ được đề ra bởi tổ chức quốc gia về đại dương
và khí quyển của Mỹ (NOAA), từ đó tổ chức này đã tiến hành lập bản đồ chỉ số nhạy cảm môi trường (ESI) cho các vùng bờ biển thuộc lãnh thổ Mỹ Các bản đồ ESI này sau đó được tập hợp lại và xuất bản dưới dạng Atlas Hiện nay ở các quốc gia phát triển có hoạt động hàng hải tấp nập, vấn đề sự cố tràn dầu luôn là mối quan tâm hàng đầu, do đó, công tác đối phó sự cố tràn dầu luôn được chuẩn bị kĩ lưỡng, trong đó, việc xây dựng các bản
đồ nhạy cảm là một trong những bước chuẩn bị để ứng phó tràn dầu Tiêu biểu như bản
đồ ESI cho vùng vịnh Bon Secour (Mỹ) Bản đồ này có những ưu điểm sau:
• Khá chặt chẽ và rõ ràng;
• Chứa đựng đủ các thông tin cần thiết về nhạy cảm đường bờ, tài nguyên sinh vật và tài nguyên nhân tạo;
• Sử dụng GIS để quản lý dữ liệu và bản đồ;
• Có các mẫu bảng biểu cần thiết, các ký hiệu được mã hóa thuận tiện cho việc lưu trữ và sử dụng số liệu
b Trong nước
Ở Việt Nam vấn đề tràn dầu trong những năm gần đây không còn là vấn đề mới
mẻ và đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề ứng phó và khắc phục sự cố tràn dầu
ví dụ như nghiên cứu của PGS.TS Phùng Chí Sỹ, “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng ngừa và phương án ứng phó sự cố tràn dầu mức I tại thành phố Đà Nẵng” do Phân viện nhiệt đới – Môi trường quân sự chủ trì vào năm 2005 đã xây dựng được các bản đồ về nhạy cảm đường bờ theo các dạng đường bờ và các chỉ tiêu về hệ sinh thái Đồng thời, nghiên cứu còn lập ra các kịch bản ứng phó khi sự cố tràn dầu xảy ra và mô phỏng được vết dầu loang [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thạch và các cộng sự, “Xây dựng bản đồ chỉ số nhạy cảm hệ sinh thái đối với các tác động môi trường trong sử dụng và phát triển bền vững dải ven biển Hải Phòng” trong kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần 3 cũng có
Trang 12phương pháp tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu tương tự Nghiên cứu đã thành lập bản đồ nhạy cảm theo các chỉ tiêu về hệ sinh thái để ứng phó với sự cố tràn dầu, đồng thời nghiên cứu còn thành lập được một cơ sở dữ liệu đi kèm với các bản đồ nhạy cảm nhằm
hỗ trợ các nhà quản lý trong việc đưa ra quyết định [17]
Nghiên cứu “Đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên địa chất, định hướng sử dụng bền vững vịnh Gành Rái, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của nhóm các tác giả Nguyễn Thị Hồng Huế, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Tài Tuệ và các cộng sự, tuy không phải là một nghiên cứu có liên quan đến vấn đề tràn dầu, nhưng có liên quan đến xác định tính nhạy cảm Bản đồ nhạy cảm trong nghiên cứu được xây dựng dựa trên việc xác định các yếu tố gây tổn thương, các đối tượng bị tổn thương và khả năng ứng phó, các đối tượng này sau
đó được gán trọng số và thực hiện chồng lớp tính toán Sản phẩm cuối củng của nghiên cứu là một bản đồ xác định tính tổn thương [6]
Nghiên cứu đề tài “Ứng dụng công nghệ viễn thám kết hợp với GIS phục vụ giám sát sự cố ô nhiễm dầu ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quốc Khánh đã nghiên cứu ứng
dụng công nghệ viễn thám phục vụ giám sát sự cố ô nhiễm dầu hiện nay ở Việt Nam, đồng thời cũng đề cập tới nhu cầu nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ viễn thám kết hợp với GIS phục vụ giám sát sự cố tai biến thiên nhiên và ô nhiễm môi trường vùng biển Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy để có thể phát hiện nguyên nhân sự cố
ô nhiễm dầu trên biển và sự loang tỏa của nó cần sử dụng nhiều loại tư liệu ảnh viễn thám
đa thời gian (đặc biệt là ảnh radar không bị ảnh hưởng ở điều kiện thời tiết Việt Nam nhiều mây như ENVISAT ASAR (Phân giải 25 - 1000 m, Độ phủ 50 - 500 km), ALOS PALSAR (Phân giải 10 - 1000 m, Độ phủ 100 - 350 km), RADARSAT (Phân giải 10 -
100 m, Độ phủ 100 - 350 km) và đã chụp các khu vực nhạy cảm trên biển như: các mỏ khai thác dầu, các điểm khoan thăm dò dầu khí và khu vực hoạt động của các tàu chở dầu Sử dụng ảnh vệ tinh radar kết hợp với công nghệ GIS để theo dõi, giám sát và xác định vị trí các vệt ô nhiễm dầu phục vụ việc xác định nguyên nhân gây ô nhiễm ven biển
từ đó thành lập bản đồ và xây dựng cơ sở dữ liệu của khu vực nghiên cứu [8]
Nghiên cứu: “Xây dựng bản đồ nhạy cảm đường bờ khu vực vịnh Gành Rái ứng phó sự cố tràn dầu” của tác giả Phạm Đặng Mạnh Hồng Luân và cộng sự cho thấy tính
cấp thiết của việc xác định vùng nhạy cảm với sự cố tràn dầu khu vực vịnh Gành Rái Chỉ
số nhạy cảm môi trường (ESI) là công cụ hiệu quả trong việc thành lập bản đồ nhạy cảm môi trường ứng phó sự cố tràn dầu Chỉ số ESI dựa trên hình thái các dạng đường bờ để
Trang 13phân vùng nhạy cảm tràn dầu, các bản đồ ESI bao gồm 3 yếu tố: ESI, tài nguyên sinh học
và tài nguyên nhân sinh sau đó được thành lập để hỗ trợ công tác ứng phó và phục hồi [11]
2 Tính cấp thiết
Tràn dầu được xem là một dạng tai biến có nguồn gốc con người và gây ra những tác hại cực kỳ nghiêm trọng Các tác hại điển hình của tràn dầu có thể kể đến như: gây ô nhiễm môi trường nước, gây ô nhiễm và mất cảnh quan các khu vực bờ, gây tác động đến các loài sinh vật làm giảm đa dạng sinh học vv , không chỉ dừng ở đó, các tác hại kể trên còn kéo theo nhiều tác hại khác như làm giảm năng suất nuôi trồng thủy hải sản, làm giảm sản lượng cá đánh bắt và làm giảm tiềm năng du lịch ở những đường bờ bị ô nhiểm dầu Các vụ tràn dầu lớn trên thế giới có thể kể đến như vụ tràn dầu do tàu Exxon Valdez
ở vịnh Alaska năm 1989, thảm họa bồn chứa Amoco Haven ở Địa Trung Hải (Ý) hay gần đây nhất là thảm họa tràn dầu ở Vịnh Mexico
Ở Việt Nam trong khoảng 20 năm trờ lại đây cũng đã xảy ra nhiều vụ tràn dầu nghiêm trọng như vụ tràn dầu ở vùng biển Vũng Tàu, vụ tràn dầu ở Đà Nẵng vv… Ngoài
ra, các vụ tràn dầu trên sông cũng đã và đang diễn ra với mật độ ngày càng cao Các vụ tràn dầu trên sông có thể kể đến như: vụ tràn dầu trên sông Trà Khúc do công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi gây ra với lượng dầu đen (FO) của nhà máy tràn ra sông Trà Khúc khoảng 14,5 tấn; vụ tràn dầu trên sông Vàm Cỏ Đông do va chạm tàu thuộc địa phận xã Tân Chánh, huyện Cần Đước tỉnh Long An ngày 08/01/2008; vụ tràn dầu trên sông Đồng Nai do đường ống dẫn dầu trên xà lan của Công ty TNHH Vận tải Đằng Giang bị hỏng gây tràn dầu trên sông hay mới đây nhất vụ tràn dầu ngày 10/02/2012, trên sông Đồng Nai (đoạn giáp ranh xã Phú Hữu, H.Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và xã Phú Xuân, H.Nhà Bè, TP.HCM) do tai nạn giao thông đường thủy giữa 3 tàu, làm 8.000 lít dầu đã tràn ra sông
Tỉnh Bình Dương với hệ thống cảng Bà Lụa, cảng An Tây trên sông Sài Gòn và cảng tổng hợp Bình Dương cùng với việc phát triển xây dựng mới cảng Thạnh Phước và cảng Thường Tân trên sông Đồng Nai, bên cạnh đó các bến thuyền, kho xăng dầu phân
bố dọc tuyến sông tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu trên sông Bên cạnh đó hoạt động của các phương tiện đường thủy thuộc sự quản lý của tư nhân rất lộn xộn, thuyền trưởng, lái tàu không được qua đào tạo chính quy, không có bằng lái Các vụ va chạm, tràn dầu… đều có nguyên nhân là do sự thiếu trách nhiệm, không có đủ trình độ
Trang 14điều khiển của các lái tàu, thuyền trưởng Tỷ lệ các sự cố, chìm tàu do va chạm chiếm gần như 100% trong các sự cố hàng hải trong những năm gần đây
Mặt khác, tại khu vực dọc sông Đồng Nai và sông Sài Gòn đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bình Dương đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu để xây dựng bản đồ nhạy cảm phục vụ công tác ứng phó sự cố tràn dầu Do đó, đặt ra tính cấp thiết của đề tài là cần phải có bản đồ nhạy cảm đường bờ đề ứng phó với sự cố tràn dầu, từ đó dựa vào bản
đồ này, các nhà quản lý có thể xây dựng thứ tự ưu tiên để thực thi các biện pháp kỹ
thuật trong ứng phó sự cố tràn dầu Trong bối cảnh đó, đề tài: “Xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường đường bờ sông trên địa bàn tỉnh Bình Dương và một số địa điểm lân cận nhằm nhằm ứng phó sự cố tràn dầu” thực sự đáp ứng nhu cầu cấp thiết
Đối tượng nghiên cứu ở đây là đường bờ sông tỉnh Bình Dương và mục tiêu đặt ra
là xây dựng bản đồ chỉ số nhạy cảm nhắm ứng phó sự cố tràn dầu Với đối tượng nghiên cứu và mục tiêu như trên, chỉ số nhạy cảm ESI (Environmental Sensitivity Index) được chọn để thực hiện nghiên cứu
Chỉ số ESI (Environmetal Sensitivity Index) được xây dựng bởi Tổ chức Đại dương và Khí quyển của Mỹ Bản đồ ESI bao gồm các tài nguyên dễ bị tổn thương do sự
cố tràn dầu bao gồm các dạng đường bờ, tài nguyên sinh học và tài nguyên nhân sinh là công cụ hiệu quả để các nhà quản lý lên chuẩn bị các kế hoạch ứng phó và khắc phục, ngăn ngừa đến mức thấp nhất các tác hại của sự cố tràn dầu Các tài nguyên vùng bờ này bao gồm các tài nguyên sinh học (chim, cá, động vật 2 mảnh vv…), các đường bờ nhạy cảm (như đầm lầy và bãi triều) và các tài nguyên nhân tạo như các bãi biển, khu công viên, khu nuôi tôm vv…
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: thu thập các nghiên cứu có cùng tính chất, các bản đồ khu vực nghiên cứu như bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất vv… , các tư liệu
Trang 15về các hoạt động kinh tế-xã hội, các thông tin về đa dạng sinh học và các ảnh Viễn thám
- Phương pháp thực địa: tiến hành khảo sát thực địa nhằm đánh giá và kiểm chứng các kết quả giải đóan trên ảnh Viễn thám
- Phương pháp GIS: số hóa các bản đồ, thực hiện chồng lớp tạo layout để in ấn
- Phương pháp viễn thám: sử dụng phương pháp giải đoán và phân tích các tư liệu ảnh Viễn thám để xác định các dạng đường bờ
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
➢ Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là khu vực dọc theo các sông, nơi có nguy cơ chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi sự cố tràn dầu Các đối tượng nghiên cứu cụ thể bao gồm:
• Đường bờ
• Tài nguyên nhân sinh
• Tài nguyên sinh học
➢ Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 2 nhánh sông:
• Sông Đồng Nai đoạn từ cảng Cát Lái đến cảng tổng hợp Bình Dương
• Sông Sài Gòn đoạn từ cầu Phú Long đến thị xã Thủ Dầu Một
7 Nội dung nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu ảnh vệ tinh, các bản đồ sử dụng đất và dữ liệu về đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH CÁC YẾU TỐ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ
Chỉ số nhạy cảm môi trường (ESI) đối với sự cố tràn dầu được tính theo công thức:
ESI = Chỉ số phơi nhiễm + Chỉ số tổn thương
Sơ đồ dưới cho thấy dầu tràn ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội và môi trường không chỉ ở dưới nước mà còn ảnh hưởng đến những tiềm năng kinh tế ở trên bờ Hình thái cấu trúc đường bờ, nguồn lợi sinh vật, hình thức hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội
Trang 17Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ nhạy cảm đường bờ sông trên đại
bàn tỉnh Bình Dương nhằm ứng phó sự cố tràn dầu
Chỉ số tổn thương Chỉ số phơi nhiễm
Yếu tố kinh tế - xã hội Yếu tố tự nhiên
Giá trị TNNS TNNS
Dạng
đường bờ
Độ cong đường bờ
Mật độ thủy hệ
Hiện trạng SDĐ
Bản đồ nhạy cảm môi trường theo mật độ thủy
hệ
Bản đồ chỉ số nhạy cảm theo tính tổn thương của loại đường bờ
Bản đồ nhạy cảm môi trường theo độ cong đường bờ
Bản đồ chỉ số nhạy cảm theo tính phơi nhiễm của tài nguyên nhân sinh
Bản đồ nhạy cảm môi trường theo loại hình SDĐ
Bản đồ chỉ số nhạy cảm theo tính tổn thương của tài nguyên nhân sinh
Bản đồ nhạy cảm đường bờ sông trên địa bàn tỉnh
Trang 18Hình 1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 1.1 Chỉ số phơi nhiễm
Chỉ số phơi nhiễm đánh giá khả năng bị tác động bởi dầu loang, được xác đinh bởi các yếu tố:
1.1.1 Yếu tố kinh tế - xã hội:
a) Tài nguyên nhân sinh
Các loại công trình cầu, cảng, khu nuôi trồng thủy sản có đặc điểm nằm gần mép nước nên có tính phơi nhiễm cao hơn các loại công trình khác Việc lên danh sách và xác định vị trí của các dạng tài nguyên nhân sinh được thực hiện qua việc khảo sát thực địa
và tham khảo tài liệu Cụ thể như sau:
+ Tài liệu về các dạng công trình nhân sinh như Di tích văn hóa – lịch sử hay Khu vui chơi giải trí được thu thập từ trang Web của Sở Văn hóa Thể thao và du lịch các tỉnh trong khu vực nghiên cứu
+ Thông tin về các dạng tài nguyên nhân sinh khác như Khu vực nuôi trồng thủy sản, Cảng, Kho xăng dầu được thu thập từ quá trình thực địa, định vị GPS
b) Hiện trạng sử dụng đất
Hiện trạng sử dụng đất cũng là một yếu tố kinh tế - xã hội xác định tính phơi nhiễm Những loại hình sử dụng đất liên quan chặt chẽ đến sử dụng nước thì có tính phơi nhiễm cao hơn với sự cố tràn dầu
Dữ liệu sử dụng đất khu vực nghiên cứu được thu thập từ bộ dữ liệu sử dụng đất năm 2010 của 3 tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh Dữ liệu sau khi được đồng bộ hóa về trường thuộc tính cũng như hệ tọa độ thì tiến hành ghép mảnh để tạo thành bộ dữ liệu sử dụng đất phục vụ nghiên cứu
1.1.2 Yếu tố đặc điểm tự nhiên
a) Mật độ dòng chảy
Trang 19Khu vực có mật độ dòng chảy nhánh như kênh, rạch cao thì có khả năng cao bị thiệt hại bởi sự cố tràn dầu vì vết dầu loang có thể theo triều len vào sâu bên trong Hiện tượng này cũng gây khó khăn cho việc thu gom dầu loang
Việc tính mật độ dòng chảy trong một khu vực được thực hiện bằng phần mềm GIS Lớp dữ liệu thủy hệ của khu vực nghiên cứu được tách từ dữ liệu sử dụng đất Thủy
hệ sau đó được chia theo ranh giới phường xã Diện tích mặt nước liên quan đến thủy hệ trong một đơn vị phường, xã sau đó được tính sử dụng công cụ thống kê trên GIS
b) Độ cong của đường bờ
Độ cong đường bờ cũng là một yếu tố đóng góp đáng kể trong việc xác định tính phơi nhiễm Những khu vực có độ cong đường bờ thấp thì vết dầu loang thường ít tập trung do tác động của dòng chảy, nên ít có tính phơi nhiễm với những tác hại của dầu loang
Độ cong đường bờ được xác định bằng chiều dài cong của đường bờ (chiều dài thực) chia chiều dài thẳng (chiều dài của đoạn thẳng nối liền điểm đầu và điểm cuối của đường bờ)
Đường bờ được tách từ lớp thủy hệ của bản đồ hiện trạng sử dụng đất, sau đó sử dụng công cụ GIS để chia đường bờ theo từng đơn vị hành chính (phường, xã)
Chiều dài thẳng của đường bờ được tính bằng công thức Pythagore với đầu vào là kinh độ và vĩ độ của điểm đầu và điểm cuối của đoạn đường bờ được xét:
x1, x2: kinh độ của điểm đầu, cuối
y1,y 2: vĩ độ của điểm đầu cuối
Trang 20Chiều dài cong (chiều dài thực) của đường bờ được tính bằng công cụ GIS, chiều dài thực của đường bờ thực chất là tổng chiều dài thẳng của từng đoạn (Segment) được giới hạn bởi 2 điểm (Vertex)
Đường bờ được tách từ lớp thủy hệ của dữ liệu hiện trạng sử dụng đất Loại đường
bờ được xác định bằng phương pháp giải đoán ảnh vệ tinh (Google Earth, Landsat) kết hợp với khảo sát thực địa
Việc nhận dạng đường bờ công trình trên ảnh vệ tinh được thực hiện với các khóa giải đoán:
- Đường bờ dạng tuyến
Trang 21- Màu sáng so với màu sẫm của đường bờ tự nhiên
- Thường đi kèm với các khu vực dân cư hay các khu công nghiệp, cảng
1.2.2 Tài nguyên nhân sinh
Giá trị tài nguyên nhân sinh thì các đối tượng như Khu công nghiệp hay Cảng là những tài nguyên có giá trị kinh tế cao
Bảng 1: Các yếu tố trong xác định chỉ số ESI
Tính phơi nhiễm
Trọng
số ESI Tính tổn thương
Trọng
số ESI
Cảng Khu nuôi trồng thủy sản
Khu di tích văn hóa, lịch sử Kho xăng dầu
nghiệp
1
Tài nguyên nhân sinh
Khu nuôi trồng thủy sản
Khu du lịch sinh thái
Khu di tích văn hóa, lịch sử
nghiệp Kho xăng dầu
1
Trang 22CHƯƠNG 2: THÀNH LẬP BẢN ĐỒ NHẠY CẢM ĐƯỜNG BỜ
2.1 Xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường đường bờ sông trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.1.1 Các thành phần liên quan đến tính phơi nhiễm
Các thành phần liên quan đến tính phơi nhiễm được chia thành 2 nhóm là nhóm yếu tố
điều kiện tự nhiên và nhóm yếu tố kinh tế - xã hội
Khu vực phường Phú Thuận Quận 7 trên nhánh sông Sài Gòn và phường Quyết Thắng
thành phố Biên Hòa trên nhánh sông Đồng Nai là khu vực có độ phơi nhiễm cao xét về mật độ
của dòng chảy
b) Độ cong đường bờ
Độ cong đường bờ được xác định bằng chiều dài cong của đường bờ (chiều dài thực)
chia chiều dài thẳng (chiều dài của đoạn thẳng nối liền điểm đầu và điểm cuối của đường bờ)
Kết quả càng nhỏ thì chiều dài thẳng của đường bờ càng gần giá trị chiều dài thực nên độ cong
của đường bờ càng nhỏ và ngược lại Các khu vực cù lao, do có đặc trưng đường bờ khép kín
nên không thể tính được chiều dài thẳng, độ cong đường bờ được mặc định cho giá trị lớn nhất
cho các khu vực này Điều này hợp lí trong nghiên cứu tính nhạy cảm với tràn dầu vì cù lao
thực tế có tính phơi nhiễm cao với vết dầu loang
Ở nhánh sông Sài Gòn, ngoài khu vực bán đảo Thanh Đa thuộc phường 27, 28 quận
Bình Thạnh có tính phơi nhiễm về độ cong đường bờ cao thì khu vực phường Tân Thuận, quận
7 cũng có mức độ phơi nhiễm tương tự
Ở nhánh sông Đồng Nai, các khu vực cù lao bao gồm Thạnh Hội (huyện Tân Uyên),
Hiệp Hòa (thành phố Biên Hòa) và Đại Phước (huyện Nhơn Trạch) có chỉ số phơi nhiễm cao
nhất