1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai

80 650 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP Sơn Đồng Nai
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Đề tài
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 705,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn vậy, kế toán quản trị cần xây dựng được các phương pháp giúp nhà quản trị thấy được kết quả hoạt động của từng bộ phận qua đó phát huy những yếu tố tích cực và ngăn ngừa những mặt y

Trang 1

Do đó để nâng cao được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì đòi hỏi các bộ phận trong doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả và phối hợp với nhau nhịp nhàng theo mục tiêu chung Muốn vậy, kế toán quản trị cần xây dựng được các phương pháp giúp nhà quản trị thấy được kết quả hoạt động của từng bộ phận qua đó phát huy những yếu tố tích cực và ngăn ngừa những mặt yếu kém trong việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Kế toán trách nhiệm ra đời nhằm mục tiêu đánh giá trách nhiệm, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá thường kỳ kết quả công việc của mỗi con người, mỗi bộ phận trong tổ chức Kế toán trách nhiệm đánh giá trách nhiệm nhiều cấp bậc khác nhau như: các cá nhân trong bộ phận, trưởng các bộ phận, người điều hành kinh doanh, người sở hữu vốn Nó giúp doanh nghiệp đảm bảo mọi sự việc, nghiệp vụ phát sinh đều phải có người gánh vác trách nhiệm, có được chế độ thưởng phạt phân minh để doanh nghiệp phát triển hơn

Xuất phát từ những yêu cầu khách quan như vậy, vận dụng những lý luận của kế

toán trách nhiệm vào thực tiễn để thực hiện đề tài “Xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP Sơn Đồng Nai” nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của doanh

nghiệp, hoàn thiện hệ thống kế toán

Trang 2

2 Tổng quan về đề tài:

Kế toán trách nhiệm được nghiên cứu vào những năm 90 của thế kỷ 20 nhằm đánh giá trách giá trách nhiệm, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá thường kỳ kết quả công việc của mỗi con người, mỗi bộ phận trong tổ chức Mức độ vận dụng kế toán trách nhiệm vào trong thực tiễn của tổ chức và điều hành các doanh nghiệp còn hạn chế, chưa được hệ thống hóa; cần tìm cách khắc phục và hoàn thiện hơn Tất cả đều cùng một mục đích là phục vụ quá trình phát triển doanh nghiệp một cách toàn diện nhất

Công ty CP Sơn Đồng Nai là một công ty năng động, có tiềm lực phát triển, Sơn Đồng Nai đang dần khẳng định vị thế của mình trên thị trường Giống như mọi doanh nghiệp khác, mục tiêu của công ty là tối đa hóa lợi nhuận với mong muốn trở thành một công ty hàng đầu Với sự đầu tư mạnh mẽ, nhà quản lý mong muốn đạt được hiệu quả tối ưu cho doanh nghiệp Nhưng thực trạng quá trình sản xuất còn nhiều điểm chưa tốt, công tác quản lý còn buông lỏng Thực trạng hệ thống kế toán trách nhiệm còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý Báo cáo này sẽ phân tích thêm những vấn đề nêu trên, đưa ra thực trạng của hệ thống kế toán trách nhiệm và đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Luận văn dựa trên nền tảng kiến thức về kế toán quản trị đã được giảng dạy nhằm để đi vào tìm hiểu thực trạng của công tác kế toán quản trị tại công ty CP Sơn Đồng Nai, nhằm:

- Phân tích thực trạng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP Sơn Đồng Nai

- Tìm ra những ưu điểm và những điểm còn hạn chế trong công tác đánh giá trách nhiệm tại công ty

- Đưa ra một số giải pháp để xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm theo đặc thù của công ty, giúp bộ máy quản trị tại công ty đánh giá được một cách đúng đắn thành quả của các bộ phận trong việc hướng tới các mục tiêu chung của tổ chức

4 Phương pháp nghiên cứu :

Phương pháp được vận dụng chủ yếu là phương pháp so sánh, tổng hợp số liệu thực tế thu thập được trong quá trình thực tập tại công ty

Trang 3

Phương pháp khảo sát, phỏng vấn nhân viên kế toán về các chỉ tiêu từ đó đưa ra nhận xét

Ngoài ra, còn có phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá… để hệ thống hóa lý luận, tìm hiểu thực tiễn và đề ra các giải pháp hoàn thiện trong tương lai

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: hệ thống kế toán quản trị tại công ty CP Sơn Đồng Nai Báo cáo sẽ xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty dựa trên những nền tảng sẵn có này

- Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian nghiên cứu: Công ty CP Sơn Đồng Nai – TP Biên Hòa

6 Những đóng góp mới của đề tài:

Công ty CP Sơn Đồng Nai là một Công ty bao gồm nhiều phòng ban, nhiều thành phần lao động khác nhau vì thế công ty gặp khó khăn trong công tác quản lý cũng như đánh giá trách nhiệm Báo cáo này nêu ra phần nào những hạn chế dưới góc độ của một nhân viên mới để thấy được thực trạng diễn ra hàng ngày Đồng thời đưa ra nhận xét, giải pháp nhằm xây dựng công ty phát triển hơn, đặc biệt là “Xây dựng hệ thống

kế toán trách nhiệm”

7 Kết cấu của đề bài:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Báo cáo nghiên cứu khoa học gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI

CÔNG TY CP SƠN ĐỒNG NAI

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI

CÔNG TY CP SƠN ĐỒNG NAI

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM

1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.1.1, Khái niệm về kế toán và kế toán quản trị:

a Khái niệm kế toán:

Kế toán được định nghĩa rất đa dạng Theo tiến trình lịch sử của môn học kế toán, khi tham khảo lại những tác phẩm viết về kế toán của nhiều nước trên thế giới, chúng ta nhận thấy có rất nhiều định nghĩa khác nhau Có thể nói định nghĩa kế toán thay đổi theo thời gian để phù hợp với thời đại

Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC) đã có định nghĩa cơ bản về kế toán: “Kế toán

là một nghệ thuật của việc ghi chép, phân loại và tổng hợp bằng phương pháp riêng dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ, các sự kiện liên quan đến tài chính và giải trình kết quả của việc ghi chép này” (Nguồn: Kế toán quản trị áp dụng cho các doanh

nghiệp Việt Nam, năm 2003) [5]

Năm 1941, Viện kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật dùng để ghi chép, phân loại và tổng hợp theo phương pháp riêng dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ, các sự kiện liên quan đến tài chính và giải trình kết

quả của việc ghi chép này” [3]

Đến năm 1966, Hội kế toán Hoa Kỳ (AAA) lại có khái niệm khác như sau: “Kế toán là một quá trình nhận diện, tổng hợp, đo lường và truyền đạt thông tin kinh tế để giúp cho những người sử dụng các thông tin đó đánh giá và ra quyết định” (Nguồn:

Hướng dẫn tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, năm 1998) [2]

Tại Việt Nam, năm 2003 Nhà nước ban hành Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ở khoản 1 điều 4 ghi: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”

Phân tích về định nghĩa kế toán trước kia và hiện nay có ba điểm khác biệt sau Thứ nhất, công việc của kế toán của kế toán được hiểu rộng hơn là không chỉ ghi chép, phân loại mà còn xử lý thông tin và phân tích Thứ hai là hình thức biểu hiện không

Trang 5

chỉ là giá trị tiền tệ mà còn coi là thông tin kinh tế cụ thể là bằng hiện vật, thời gian lao động, giá trị Cuối cùng là công việc kế toán không chỉ giải trình kết quả ghi chép mà còn cung cấp thông tin cho người sử dụng ra quyết định

Tóm lại, kế toán là môn khoa học, là quá trình thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế hữu ích cho người sử dụng nó Tùy theo đối tượng và các yêu cầu về thông tin kinh tế, kế toán sẽ thực hiện đáp ứng cho các mục đích tương ứng

b Khái niệm kế toán quản trị:

Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ ghi rằng: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ

tổ chức, và đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm với các nguồn lực của tổ

chức.” (Nguồn: Kế toán quản trị, năm 2006) [4]

Trong Luật kế toán, khoản 3 điều 4, kế toán quản trị được xác định: “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kinh tế.”

Thông tin hoạt động nội bộ mà kế toán cung cấp có thể là: Chi phí của từng bộ phận, từng công việc, sản phẩm; phân tích đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch

về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho ra các quyết định đầu tư ngắn hạn dài hạn, lập dự toán ngân sách nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế

(Theo Thông tư 53/2006/TT-BTC năm 2006) [7]

Tóm lại, kế toán quản trị chính là một phần của kế toán phục vụ cho quá trình quản lý nội bộ của đơn vị Nó tổng hợp, xử lý các thông tin ghi chép ban đầu thành những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định của các cấp quản lý Kế toán quản trị giúp nhà quản lý sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục đích chung một cách hiệu quả

1.1.2, So sánh giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính: [6]

¾ Giống nhau: Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùng nghiên cứu quá trình sản xuất kinh doanh, cùng sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu và cùng thể hiện trách nhiệm của nhà quản trị

Trang 6

Hướng về tương lai Phản ánh quá khứ

Linh hoạt, theo yêu cầu của nhà quản trị

Cố định, tuân thủ theo nguyên tắc kế toán

Đặc điểm thông tin

Biểu hiện thông qua ba thước đo

Biểu hiện dưới thước đo giá trị

Yêu cầu thông tin Đòi hỏi tính kịp thời cao

Toàn doanh nghiệp

Các loại báo cáo

Báo cáo theo yêu cầu và mục đích sử dụng của nhà quản trị

Báo cáo tài chính do Nhà nước quy định

Kỳ hạn lập báo cáo Thường xuyên Định kỳ

Quan hệ với các ngành

học khác

Tính bắt buộc Không có tính bắt buộc Có tính bắt buộc

1.1.3, Vai trò của kế toán quản trị:[6]

Kế toán phục vụ chức năng hoạch định là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đối thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật… Thông tin do kế toán quản trị cung cấp rất

Trang 7

quan trọng trong việc truyền đạt và hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn

Kế toán quản trị phục vụ chức năng tổ chức – điều hành là cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất luợng của các hoạt động đã và đang thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời điều chỉnh và tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp

Kế toán quản trị phục vụ chức năng kiểm soát là cung cấp thông tin về tình hình thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu dự toán và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai

Cuối cùng, vai trò quan trọng nhất của kế toán quản trị là công cụ cho ban quản trị ra quyết định Việc ra quyết định xuyên suốt quá trình quản lý từ khâu kế hoạch, tổ chức và phân tích đánh giá Các thông tin kế toán cung cấp nhất thiết phải chính xác, đầy đủ và thích hợp để tránh việc ra quyết định sai Đối với các quyết định có tính chiến lược, thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải hỗ trợ cho nhà quản trị xác định các muc tiêu của tổ chức và đánh giá các mục tiêu đó có thể thực hiện được trên thực

tế hay không Đối với các quyết định tác nghiệp, kế toán quản trị cung cấp những thông tin để giúp nhà quản trị ra quyết định về việc sử dụng các nguồn lực của tổ chức

và giám sát các nguồn lực đó đã và đang được sử dụng như thế nào Nhìn chung, việc

ra quyết định có thể bao gồm ba cấp độ: cấp cơ sở là cấp ra quyết định tác nghiệp, cấp trung gian để ra các quyết định chiến thuật, và cấp cao là ra quyết định chiến lược

1.1.4, Nội dung của kế toán quản trị:[9]

Nội dung cơ bản của kế toán quản trị bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

• Hạch toán chi phí và quản trị chi phí

• Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá và so sánh các hoạt động của doanh nghiệp

• Hoạch định các hoạt động sản xuất, tài chính, đầu tư (bao gồm cả dự toán ngân sách)

• Các báo cáo quản trị

Trang 8

Ngoài ra, trong hệ thống kế toán quản trị còn bao gồm cả dự báo về các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp

Hệ thống hạch toán chi phí và quản lý chi phí: Hệ thống hạch toán chi phí cho

biết doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không? Hệ thống này phải phù hợp với các yêu cầu của môi trường bên ngoài doanh nghiệp, trong đó có luật thuế, phù hợp với các chế độ kế toán và các nguyên tắc quy định của doanh nghiệp, cũng như phải dựa vào định mức tiêu hao các nguồn lực Điều này đặc biệt có ý nghĩa, nhất là với các doanh nghiệp sản xuất, bởi vì tính giá thành sản phẩm có liên quan mật thiết đến đặc trưng của quy trình công nghệ sản xuất

Hệ thống các chỉ tiêu hoạt động: Các chỉ tiêu hoạt động là cơ sở hoạch định công

việc cho các bộ phận và phân chia trách nhiệm trong doanh nghiệp Để các nhà quản trị trên mọi cấp có thể thực hiện được các chức năng quản trị tương ứng, cần phải có nguyên tắc phân quyền, nguyên tắc phân chia trách nhiệm trong cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp Khi đó mức độ quan trọng của hệ thống còn khảo sát không còn phụ thuộc vào quan điểm xây dựng hệ thống các chỉ tiêu hoạt động càng có ý nghĩa, cho phép xác định kịp thời các chỉ tiêu và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh nhiệm vụ đặt ra trước mỗi bộ phận trong doanh nghiệp

Hệ thống dự toán ngân sách: Tiến hành đánh giá tình hình thu chi dựa theo kế

hoạch và thực tế đạt được trong phạm vi ngân sách đã được dự toán

Dự toán ngân sách chủ đạo: Thường đuợc lập cho kỳ kế hoạch một năm hoặc

dưới một năm Đặc điểm của loại dự toán này là có tính khả thi, được lập cho từng hoạt động như tiêu thụ, sản xuất, tài chính…và đặc điểm cuối cùng là kết hợp các dự toán riêng lẻ thành một bản dự toán tổng thể

Dự toán linh hoạt: Được lập trước hoặc sau kỳ kế hoạch, là dự toán được lập

tương ứng với nhiều mức độ hoạt động nhất định Như vậy, dự toán linh hoạt được thiết lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động sẽ giúp ta xác định được các chi phí tương ứng với các mức độ, phạm vi hoạt động khác nhau

Hệ thống báo cáo quản trị: Hệ thống các báo cáo quản trị thông thường được

phản ánh thực tế quản trị doanh nghiệp Những báo cáo ít chi tiết hơn thường được cung cấp cho lãnh đạo cấp cao Cấp bậc của báo cáo quản trị được thể hiện ở hình 1.1 Trong hình này cho thấy bộ máy tổ chức của doanh nghiệp được chia ra làm 3 cấp:

Trang 9

Cấp cao, cấp trung gian và cấp thấp Những báo cáo quản trị mang tính chất tổng hợp, khái quát (báo cáo phân tích, báo cáo tổng kết) thường cung cấp cho lãnh đạo cấp cao

để ra quyết định quản lý mang tinh chất chiến lược, các báo cáo ít chi tiết hơn (báo cáo tổng hợp, báo cáo thực hiện kế hoạch) cung cấp cho lãnh đạo cấp trung gian để ra các quyết định mang tính chất chiến thuật Các báo chi tiết nhất, cụ thể nhất (tổng hợp dữ liệu, dữ liệu về các hợp đồng) cung cấp cho lãnh đạo cấp thấp để ra các quyết định mang tính chất tác nghiệp Theo hướng dịch chuyển từ trên xuống dưới trong bộ máy

tổ chức quản lý, các báo cáo thường được chuẩn bị chi tiết hơn, những lĩnh vực mà có thông tin phải hẹp lại Khối lượng thông tin cung cấp cho lãnh đạo các bộ phận để thực hiện phân tích thường phải giống nhau

Trong doanh nghiệp người ta thường sử dụng khái niệm trung tâm chi phí để phân chia trách nhiệm theo cấp độ Lãnh đạo trung tâm này chịu trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong khuôn khổ ngân sách đã cấp Có hai loại trung tâm chi phí là trung tâm định mức chi phí và trung tâm quản lý chi phí

Hình 1.1 – Cấp độ của báo cáo quản trị

Trong từng doanh nghiệp có thể tách ra các quá trình sản xuất kinh doanh khác nhau Đối với mỗi lĩnh vực hoạt động thường chỉ lập các mẫu báo cáo quản trị hoặc

mô hình quản trị mang tính đặc thù Như vậy, mẫu báo cáo của kế toán quản trị trong mỗi doanh nghiệp có tính đặc thù riêng

Trang 10

1.2 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM

1.2.1, Khái niệm kế toán trách nhiệm và các trung tâm trách nhiệm:

Chúng ta biết rằng, hầu hết các tổ chức nói chung và các tổ chức kinh doanh nói riêng đều được phân chia thành các bộ phận nhỏ hơn, mỗi bộ phận đảm nhiệm một chức năng cụ thể, chịu trách nhiệm về những công việc cụ thể Trong mỗi bộ phận như vậy sẽ có những cá nhân chịu trách nhiệm về một công việc hoặc chức năng nào đó Như vậy, để đạt được mục tiêu chung của tổ chức mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong tổ chức phải nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ, các mục tiêu riêng lẻ do quản lý cấp cao đã vạch ra cho bộ phận mình Để kiểm soát hoạt động của cấp dưới, các nhà quản lý cấp cao đã dựa vào hệ thống kế toán trách nhiệm (Responsibility Accounting)

Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong một doanh nghiệp Đó là công cụ đo lường đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu, chi phí mà bộ phận đó có quyền kiểm soát và trách nhiệm tương ứng

Kế toán trách nhiệm liên quan đến các khái niệm và công cụ mà các kế toán viên

sử dụng để đo lường sự thực hiện của các cá nhân và các bộ phận nhằm thúc đẩy những nổ lực hướng về mục tiêu chung của tổ chức

Trung tâm trách nhiệm là một đơn vị phân cấp quản lý của một tổ chức mà nhà quản trị đơn vị được quyền điều hành, chịu trách nhiệm về thành quả trong việc hướng vào mục tiêu chung của tổ chức Theo thông tư 53 ngày 12/06/2006, trung tâm trách nhiệm là một bộ phận (phân xưởng, dây chuyền sản xuất; một phòng, ban; một công ty hoặc toàn bộ công ty) trong một tổ chức mà người quản lý của bộ phận đó có quyền điều hành và có trách nhiệm đối với số chi phí, thu nhập phát sinh hoặc số vốn đầu tư

sử dụng vào hoạt động kinh doanh

Trang 11

Hình 1.2 – Mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức [1]

Thành quả của một trung tâm trách nhiệm, xét về mặt kinh tế, thể hiện qua thực trạng tài chính của trung tâm trên hệ thống báo cáo về chi phí, doanh thu, lợi nhuận, vốn đầu tư gắn liền với trách nhiệm và quyền điều hành, quản lý của nhà quản trị trung tâm

Trung tâm trách nhiệm là mọi điểm trong tổ chức quyết định và kiểm soát về chi phí, lợi nhuận và vốn đầu tư

ª Trung tâm chi phí (Cost center) : Là một đơn vị/bộ phận của tổ chức trong đó nhà quản lý chỉ có quyền điều khiển, kiểm soát sự phát sinh của chi phí (ví dụ: một phân xưởng sản xuất trong một công ty là một trung tâm chi phí)

CƠ CẤU TỔ CHỨC

QUẢN LÝ

HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ

TRUNG TÂM KINH DOANH

TRUNG TÂM CHI PHÍ

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

TRUNG TÂM ĐẦU TƯ

● Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu

● Chênh lệch doanh thu

BỘ PHẬN BÁN HÀNG TRUNG TÂM DOANH THU

● Tỷ lệ doanh thu trên chi phí

Trang 12

ª Trung tâm doanh thu (Revenue center) : Là một đơn vị/bộ phận của tổ chức trong đó nhà quản lý chỉ có chịu trách nhiệm về doanh thu phát sinh (ví dụ: bộ phận bán hàng của một công ty là một trung tâm doanh thu)

ª Trung tâm lợi nhuận (Profit center) : Là trung tâm trách nhiệm mà ở đó nhà quản lý phải chịu trách nhiệm về lợi nhuận đạt được tại đơn vị do mình chịu trách nhiệm quản lý Do lợi nhuận là kết quả của doanh thu trừ chi phí, do đó nhà quản lý có trách nhiệm kiểm soát cả doanh thu và chi phí trong phạm vi quản lý của mình

ª Trung tâm đầu tư (Investment center) : Là một đơn vị/bộ phận của tổ chức trong đó nhà quản lý chỉ có chịu trách nhiệm về lợi nhuận và vốn đầu tư sử dụng bởi đơn vị/bộ phận đó (ví dụ: khu vực kinh doanh của một tổng công ty/tập đoàn)

Vậy hệ thống kế toán trách nhiệm được xây dựng dựa trên cơ cấu tổ chức các bộ phận trong doanh nghiệp có liên quan đến việc sử dụng chi phí, thực hiện doanh thu và lợi nhuận, đầu tư Kế toán trách nhiệm nhằm mục đích thông tin về hiệu quả hoạt động của các bộ phận đó

1.2.2, Vai trò của kế toán trách nhiệm:

Qua khái niệm trên, kế toán trách nhiệm là một bộ phận kế toán quản trị, nó cung cấp thông tin liên quan đến các chức năng của quản lý Kế toán trách nhiệm thể hiện các vai trò sau:

1.2.2.1 Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện các chức năng tổ chức và điều hành của doanh nghiệp Kế toán trách nhiệm xác định các trung

tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá Kế toán trách nhiệm giúp nhà quản trị đánh giá

Trang 13

1.2.2.3 Kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được gắn liền với các trung

tâm trách nhiệm Khi kế toán có thể kiểm soát được tài chính và quản lý thì nhà quản

lý sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn công ty

1.2.3, Nội dung của kế toán trách nhiệm:

1.2.3.1, Phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm

Các nhà quản lý nhận thấy rằng hệ thống kế toán trách nhiệm chỉ phát huy tác dụng và hoạt động có hiệu quả nhất trong những tổ chức thực hiện sự phân cấp trong quản lý Hầu hết các tổ chức có qui mô lớn đều thực hiện phân cấp quản lý Sự phân cấp quản lý xảy ra khi các nhà quản lý của các đơn vị và các bộ phận trong tổ chức được trao quyền tự do trong việc ra quyết định

a Phân cấp quản lý

Phân cấp quản lý là việc người quản lý giao quyền quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Và cấp dưới đó chỉ ra quyết định trong phạm vi trách nhiệm của mình Tùy theo từng doanh nghiệp, mức độ phân chia

có thể khác nhau, gồm nhiều cấp độ hay chỉ một cấp và việc giao quyền quyết định có thể nhiều hay ít

Mỗi cấp sẽ có người quản lý riêng và có thể một trong các trung tâm từ thấp lên cao như sau: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Người quản lý sẽ điều phối các nguồn lực và hoạt động trong trung tâm mình

để thực hiện các chỉ tiêu do cấp trên đã giao

Khi phân cấp quản lý, nếu doanh nghiệp chia ra quá nhiều cấp thì sẽ có thể dẫn đến bộ máy tổ chức cồng kềnh, hoặc nếu tập trung quá nhiều quyền quyết định một nơi

sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động Vì thế, nhà quản lý cần phải cân nhắc giữa ưu điểm

và khuyết điểm khi thực hiện việc phân cấp đó

Trang 14

Lợi ích của việc phân cấp quản lý:

Ra quyết định tốt nhất là ở ngay cấp phát sinh vấn đề Nhà quản lý các bộ phận

và các bộ phận trong tổ chức là những chuyên gia trong lĩnh vực họ quản lý Do vậy,

họ sẽ quản lý bộ phận của họ hiệu quả hơn

Việc cho phép các nhà quản lý các bộ phận được ra các quyết định giúp họ được tập luyện khi họ được nâng cấp trong tổ chức Do vậy, họ sẽ có sự chuẩn bị về khả năng ra quyết định khi họ được giao trách nhiệm lớn

Bằng việc trao một số quyền ra quyết định cho nhiều cấp quản lý, các nhà quản

lý cấp cao đỡ phải giải quyết rất nhiều vần đề xảy ra hàng ngày và do đó có thời gian tập trung lập các kế hoạch chiến lược

Giao trách nhiệm và quyền được ra quyết định thường làm tăng sự hài lòng với công việc và khuyến khích người quản lý nỗ lực hết mình với công việc được giao

Sự phân cấp quản lý cung cấp một căn cứ tốt hơn để đánh giá sự thực hiện của người quản lý

Qua các lợi ích được nêu ở trên cho thấy phân cấp có thể giúp cho việc ra quyết định đúng đắn và hữu hiệu hơn Các cấp dưới có điều kiện tiếp cận thông tin, tự rèn luyện trong quá trình ra các quyết định Cấp trên có thể tập trung vào quyết định cho các mục tiêu chiến lược chung của công ty

Khuyết điểm của phân cấp quản lý:

Việc phân cấp quản lý càng nhiều thì càng khó kiểm soát được Điều hiển nhiên

là việc ủy quyền đi chung với việc ít kiểm soát hơn đối với các quyết định của các bộ phận Quyết định của các trung tâm có ảnh hưởng lẫn nhau cũng như là có ảnh hưởng đến cả công ty nói chung Nhà quản lý có thể khó điều hành và phối hợp giữa các trung tâm

Nếu kiểm soát không tốt, phân cấp trách nhiệm có thể dẫn đến tuân thủ sai lệch các mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Do các giám đốc trung tâm trách nhiệm chỉ tập trung vào lợi ích của đơn vị, không xem xét quyết định đó có ảnh hưởng đến doanh nghiệp như thế nào, làm lệch mục tiêu chung của doanh nghiệp

Trang 15

Ngoài ra, phân cấp quản lý còn dẫn đến sự trùng lắp không cần thiết đối với các trung tâm trách nhiệm Nếu bộ máy tổ chức cồng kềnh mà ít công việc sẽ tạo nên sự mâu thuẫn và gây lãng phí nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

b Xác định các trung tâm trách nhiệm, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm

Kế toán trách nhiệm đo lường, qua đó đánh giá trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn bộ doanh nghiệp dựa trên hai tiêu chí là chỉ tiêu hiệu quả và chỉ tiêu kết quả Theo đó:

Kết quả: có được khi đạt được mục tiêu đặt ra mà chưa kể đến việc sử dụng tài nguyên như thế nào, nó được tính toán bằng việc so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra cho trung tâm trách nhiệm đó Nói cách khác, đó chính là mức độ trung tâm trách nhiệm hoàn thành mục tiêu của mình

Hiệu quả: là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm, hay có thể nói đó là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được so với nguồn tài nguyên thực tế mà trung tâm trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả đó

Như vậy, để có thể xác định được hiệu quả và kết quả của các trung tâm trách nhiệm vấn đề đặt ra là phải lượng hóa được đầu vào và đầu ra của các trung tâm trách nhiệm Trên cơ sở đó sẽ xác định được các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt động của từng trung tâm cụ thể Việc đo lường thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm sẽ tạo điều kiện cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của giám đốc các trung tâm, đồng thời khích lệ họ điều khiển hoạt động trung tâm của mình phù hợp với mục tiêu cơ bản của toàn công ty

Trong kế toán quản trị, trung tâm trách nhiệm được phân loại theo chức năng tài chính Đó là trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Như đã đề cập ở trên, khi phân cấp quản lý, kế toán sẽ xác định các cấp thuộc

về một trong các trung tâm trách nhiệm để theo dõi báo cáo Mỗi trung tâm có thể là một phần hay toàn bộ trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận, hay trung tâm đầu tư

Trang 16

b1 Trung tâm chi phí:

Trung tâm chi phí là trung tâm mà người quản lý chỉ có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm đối với chi phí phát sinh ở trung tâm đó Thường đây là trung tâm trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh Trung tâm này không có quyền hạn đối với các thu nhập, lợi nhuận kinh doanh và đầu tư vốn Tùy theo tính chất của chi phí và kết quả làm ra mà người ta chia trung tâm chi phí thành trung tâm chi phí định mức và trung tâm chi phí tùy ý

Trung tâm chi phí định mức: là trung tâm chi phí mà đầu ra có thể xác định và lượng hóa bằng tiền trên cơ sở đã biết phí tổn cần thiết để tạo ra một đơn vị đầu ra Ví

dụ, một phân xưởng sản xuất là một trung tâm chi phí định mức vì giá thành mỗi đơn

vị sản phẩm tạo ra có thể xác định thông qua định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, đinh mức chi phí nhân công trực tiếp và định mức chi phí sản xuất chung Đối với trung tâm chi phí này thì:

• Về mặt kết quả: được đánh giá thông qua việc hoàn thành kế hoạch sản lượng sản xuất đúng thời hạn và tiêu chuẩn kỹ thuật quy định

• Về mặt hiệu quả: được đo lường thông qua việc so sánh giữa chi phí thực

tế với chi phí định mức, phân tích biến động và xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến tình hình thực hiện định mức chi phí Trung tâm chi phí tùy ý: là trung tâm chi phí mà đầu ra không thể luợng hóa bằng tiền một cách chính xác và mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào ở trung tâm này không chặt chẽ Điển hình về trung tâm chi phí này là các phòng ban thuộc bộ phận gián tiếp như phòng nhân sự, tổng hợp, kế toán, Các khoản chi phí thường được đặt ra cố định cho mỗi phòng ban, sự thay đổi nếu có của các khoản chi phí này cũng không làm ảnh hưởng đến năng suất của các phân xưởng sản xuất Các trung tâm chi phí này được đánh giá như sau:

• Về mặt kết quả: được đánh giá thông qua so sánh giữa đầu ra và mục tiêu phải đạt được của trung tâm

• Về mặt hiệu quả: được đánh giá chủ yếu dựa vào việc đối chiếu giữa chi phí thực tế phát sinh và dự toán ngân sách đã được duyệt Thành quả của

Trang 17

các nhà quản lý bộ phận này được đánh giá dựa vào khả năng kiểm soát chi phí của họ trong bộ phận

Chỉ tiêu đánh giá:

Chênh lệch chi phí = chi phí thực tế - chi phí dự toán

Chỉ tiêu đánh giá:

b2 Trung tâm doanh thu:

Là trung tâm mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm với chi phí, lợi nhuận và vốn đầu tư Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung giá cả cho phép để tạo ra doanh số tức nguồn thu nhập cho công ty Cần chú ý khi xác định các chỉ tiêu đánh giá trung tâm doanh thu:

• Về mặt kết quả: sẽ đối chiếu giữa doanh thu thực tế đạt được với doanh thu dự toán của bộ phận Xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, qua

đó phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan đơn giá bán, khối lượng sản phẩm tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ

• Về mặt hiệu quả: do đầu ra của trung tâm doanh thu được lượng hóa bằng tiền nhưng đầu vào thì không vì trung tâm doanh thu không chịu trách nhiệm về giá thành hay giá vốn hàng hóa Trong khi đó chi phí phát sinh tại trung tâm doanh thu không thể so sánh được với doanh thu của trung tâm Vì vậy cần so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán của trung tâm khi đo lường hiệu quả của trung tâm doanh thu

Chỉ tiêu đánh giá:

Chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán

Chỉ tiêu đánh giá:

Tỷ suất lợi nhuận

trên doanh thu

Tổng doanh thu của trung tâm

Lợi nhuận trước thuế thu nhập của trung tâm

Trang 18

b3 Trung tâm lợi nhuận:

Trung tâm lợi nhuận là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị chịu trách nhiệm

về kết quả kinh doanh sản xuất của trung tâm đó, nhưng không có quyền quyết định đến vốn đầu tư của công ty Trong đó, trung tâm lợi nhuận có thể quyết định về chi phí,

và doanh thu như: sản xuất sản phẩm nào, sản xuất ra sao, chất lượng, giá cả và phân phối bán hàng ra sao… Tùy theo cơ cấu tổ chức, trung tâm lợi nhuận là một đơn vị độc lập riêng biệt hay nó diều hành cả trung tâm chi phí và doanh thu Việc đánh giá trung tâm lợi nhuận cần:

• Về mặt kết quả: so sánh lợi nhuận đạt được giữa thực tế với lợi nhuận ước tính theo dự toán Phân tích khoản sai biệt lợi nhuận do ảnh hưởng của các nhân tố liên quan như doanh thu, giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản

lý Qua đó xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan làm biến động lợi nhuận so với dự toán

• Về mặt hiệu quả: được đo lường bằng các chỉ tiêu như số dư đảm phí bộ phận, số dư bộ phận kiểm soát được, số dư bộ phận, lợi nhuận trước thuế Ngoài ra, còn có thể sử dụng các số tương đối như tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất doanh thu trên chi phí,…để đánh giá hiệu quả hoạt động của trung tâm lợi nhuận

Chỉ tiêu đánh giá:

Chênh lệch chi phí = chi phí thực tế - chi phí dự toán

Chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:

b4 Trung tâm đầu tư:

Trung tâm đầu tư là trung tâm có quyền lực cao nhất, không chỉ có quyền và trách nhiệm đối với trung tâm lợi nhuận, doanh thu, chi phí, mà còn có quyền và trách nhiệm đối với vốn hoạt động và tài sản kinh doanh Việc đánh giá trung tâm đầu tư cần:

Tỷ suất lợi nhuận

trên doanh thu

Tổng doanh thu của trung tâm Lợi nhuận trước thuế thu nhập của trung tâm

=

Trang 19

• Về mặt kết quả: có thể đo lường giống như trung tâm lợi nhuận

• Về mặt hiệu quả: cần có sự so sánh giữa lợi nhuận đạt được với tài sản hay giá trị đã đầu tư vào trung tâm thông qua các chỉ tiêu ROI, RI,…sẽ được trình bày ở phần sau

Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (Return on Investment – ROI)

Là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn đầu tư bỏ ra Ngoài ra ROI còn được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu với vòng quay của doanh thu trên vốn đã sử dụng

ROI được sử dụng để đánh giá hiệu quả đầu tư của các trung tâm đầu tư và các doanh nghiệp có quy mô vốn khác nhau để xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, làm cơ

sở đánh giá thành quả quản lý Ngoài ra, ROI còn được sử dụng để tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý nhằm tìm ra giải pháp để kết quả hoạt động tốt hơn Đó

là các biện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấu vốn đầu tư Các biện pháp làm tăng ROI:

Phân tích các yếu tố cấu thành nên chỉ tiêu ROI, ta thấy có thể tăng chỉ tiêu ROI bằng các biện pháp sau đây:

- Tăng doanh thu (chi phí có thể không đổi hoặc giảm xuống): doanh thu tăng trong khi chi phí không đổi hoặc giảm xuống sẽ làm cho mức lợi nhuận tăng lên, việc tăng lợi nhuận sẽ làm ROI tăng

- Tiết kiệm chi phí (doanh thu không đổi hoặc tăng): trong biện pháp này các nhà quản trị cố gắng giảm các khoản chi phí hoạt động mà mục tiêu chủ yếu là giảm biến phí, đặc biệt là tăng năng suất lao động để giảm chi phí lao động trong một đơn vị sản phẩm Chi phí hoạt động giảm trong khi doanh thu không đổi hoặc tăng lên sẽ làm lợi nhuận tăng và làm tăng ROI

- Doanh thu giảm với tốc độ giảm chậm hơn tốc độ giảm chi phí: giải pháp này được thực hiện khi phải cắt giảm các hoạt động không hiệu quả hay giảm bớt sản xuất các mặt hàng không đem lại hiệu quả cao Mức lợi nhuận trong trường hợp này giảm

đi do doanh thu giảm nhưng đồng thời cũng cắt giảm được các chi phí tạo gánh nặng

ROI Lợi nhuận hoạt động

Tài sản được đầu tư

=

Trang 20

cho công ty nên cuối cùng chỉ số ROI vẫn tăng lên so với lúc chưa cắt giảm bớt các hoạt động

- Tiết kiệm vốn sử dụng

+ Đối với vốn lưu động: để tiết kiệm phải dự trữ một lượng tiền hợp lý, đẩy nhanh tốc độ thanh toán để giảm khoản phải thu và thực hiện tốt các định mức về dự trữ nguyên vật liệu, hàng hóa, thành phẩm,…

+ Đối với vốn cố định: để tiết kiệm phải tận dung hết năng lực của tài sản cố định, của máy móc thiết bị mà cụ thể là phải tận dụng hết công suất, thời gian và số lượng của máy móc thiết bị

Một số điểm hạn chế của ROI:

Mặc dù chỉ tiêu ROI là một chỉ tiêu quan trọng được nhiều nhà quản trị sử dụng rộng rãi để đánh giá kết quả thực hiện của quản lý, nó vẫn còn có những điểm hạn chế sau đây:

- ROI có khuynh hướng chú trọng đến quá trình sinh lời ngắn hạn hơn là quá trình sinh lời dài hạn, do vậy nhà quản trị nếu chỉ quan tâm đến ROI có thể bỏ qua nhiều cơ hội đầu tư mới mà kết quả của chúng chỉ có thể thể hiện trong tương lai dài thay vì một hai kỳ sắp đến, làm cản trở việc hướng đến mục tiêu chung của tổ chức

- ROI không phù hợp với mô hình vận động của các dòng tiền nên bị hạn chế khi

sử dụng để đánh giá thành quả quản lý của trung tâm đầu tư

- ROI có thể không hoàn toàn chịu sự điều hành của nhà quản trị trung tâm đầu

tư, vì tài sản của nó có thể được quyết định bởi các nhà quản trị cấp trên

- Nếu các nhà quản trị được đánh giá bằng ROI, họ sẽ tìm mọi cách để tăng ROI Điều này có thể sẽ không phù hợp với chiến lược của toàn công ty, chẳng hạn việc cắt giảm các chi phí nghiên cứu phát triển

Để khắc phụ nhược điểm trên, chúng ta sử dụng thước đo thành quả khác là lợi nhuận giữ lại (RI)

Lợi nhuận còn lại (Residual Income – RI)

Lợi nhuận còn lại là phần còn lại của lợi nhuận hoạt động sau khi trừ đi lợi nhuận mong muốn tối thiểu từ tài sản được đầu tư của trung tâm đầu tư

Trang 21

Lợi nhuận còn lại càng lớn thì lợi nhuận hoạt động tạo ra càng nhiều hơn lợi nhuận mong muốn tối thiểu, khi đó thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm đầu tư càng được đánh giá cao

Hạn chế của chỉ tiêu RI

Chỉ tiêu RI là một số tuyệt đối nên thường được dùng để khắc phục hạn chế của chỉ tiêu ROI trong việc đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư, nhưng bên cạnh đó vì

là số tuyệt đối nên chỉ tiêu này không thể được sử dụng để đánh giá thành quả của các trung tâm có quy mô khác nhau

Nói tóm lại, cả ROI và RI đều có những hạn chế nhất định trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của trung tâm đầu tư ROI có thể không đảm tính thống nhất mục tiêu hoạt động của tổ chức Sử dụng RI thì không đảm bảo tính hợp lý trong việc so sánh hiệu quả của các trung tâm đầu tư có quy mô khác nhau Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ sử dụng phối hợp hai phương pháp đánh giá này Ngoài ra, những tiêu chuẩn đánh giá khác, bao gồm cả những chỉ tiêu tài chính và phi tài chính (như mức tăng trưởng doanh thu, thị phần,…) có thể kết hợp sử dụng để đánh giá

1.2.3.2, Xác định các báo cáo kết quả và hiệu quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm

Thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp định kỳ trên một báo cáo thành quả Báo cáo thành quả sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ yếu theo thực tế và theo dự toán, đồng thời chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả thực tế so với dự toán theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm Ví dụ, báo cáo thành quả của trung tâm chi phí gồm các khoản mục chi phí thực tế, chi phí dự toán và các khoản chêch lệch giữa chi phí thực tế so với dự toán; báo cáo thành quả của trung tâm doanh thu bao gồm doanh thu thực tế, doanh thu dự toán cùng với khoản chêch lệch giữa doanh thu thực tế so với dự toán, hay báo cáo thành quả của trung tâm lợi nhuận là báo cáo tình hình thực hiện dự toán lợi nhuận theo hình thức số dư đảm phí, báo cáo thu nhập bộ phận Như vậy báo cáo thành quả chú trọng vào việc thực hiện các dự toán và phân tích các chênh lệch, vì thế để so sánh

Lợi nhuân

Còn lại

Tỷ lệ hoàn vốn mong muốn tối thiểu

Lợi nhuận hoạt động

Trang 22

đánh giá các khoản chênh lệch này một cách phù hợp và đúng đắn, kế toán quản trị sẽ

sử dụng dự toán linh hoạt nhằm cung cấp một mức chuẩn cho việc so sánh, đánh giá tình hình thực hiện dự toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận

Mục đích của việc phân tích báo cáo thành quả bộ phận là xem xét chi tiết các đối tượng hay từng bộ phận đóng góp bao nhiêu trong thành quả chung, bên cạnh đó sẽ đánh giá được thành quả của từng bộ phận thông qua việc xem xét số dư bộ phận Trong báo cáo thành quả bộ phận, báo cáo thu nhập sẽ được chuyển sang theo dạng số dư đảm phí Các khoản chi phí được chi tiết theo tính chất có thể kiểm soát riêng biệt từ bộ phận nhỏ đến bộ phận lớn Trong đó định phí chung được tách ra thành các định phí có thể kiểm soát được đối với các bộ phận phân chia để làm rõ được thành quả quản lý của bộ phận và thành quả bộ phận Định phí bộ phận liên quan trực tiếp đến bộ phận đó, nếu bộ phận không còn thì định phí đó cũng không tồn tại Việc đánh giá thành quả quản lý bộ phận và thành quả bộ phận chủ yếu dựa vào xem xét số

dư của bộ phận, tức phần còn lại của số dư đảm phí sau khi trang trải toàn bộ định phí

bộ phận

1.2.3.3, Một số nội dung liên quan đến kế toán trách nhiệm:

Nội dung của kế toán trách nhiệm là xác định các trung tâm trách nhiệm, xác định các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của các trung tâm và lập nên báo cáo kết quả Không chỉ vậy, việc đánh giá các trung tâm cần phải kết hợp với một số công việc khác Các công việc có liên quan là cơ sở phân tích, đánh giá các trung tâm chính xác hơn Đó là những nội dung sau đây:

- Hệ thống dự toán cho các trung tâm trách nhiệm: Dự toán tổng hợp phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần phải đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời phản ánh những biện pháp để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đó Dự toán tổng hợp cần được phân nhỏ thành các dự toán trách nhiệm để đảm bảo cho các nhà quản lý bộ phận tập trung trách nhiệm vào việc thực hiện dự toán Sự phân chia này giúp cho nhà quản

lý từng bộ phận biết rõ các chỉ tiêu và phần việc của mình cần hoàn thành, từ đó có thể đánh giá khả năng quản lý, mức độ hoàn thành công việc của các bộ phận Không những thế, thông tin dự toán còn có thể thông báo trước những vấn đề phát sinh, từ đó ban quản trị tổ chức đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo tính khả thi của dự toán

Trang 23

- Định giá sản phẩm, dịch vụ chuyển giao: Khi các bộ phận trong cùng đơn vị cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ qua lại lẫn nhau sẽ phát sinh việc tính giá chuyển đổi nội bộ Giá chuyển đổi có thể xác định theo chi phí sử dụng, giá thị trường và giá thương lượng Việc xác định giá này sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các trung tâm tham gia chuyển đổi nên cần thiết định giá một cách phù hợp, có thể chấp nhận được

- Phân bổ chi phí cho các trung tâm trách nhiệm: Chi phí trực tiếp phát sinh tại trung tâm được trực tiếp vào tính kết quả, nhưng chi phí gián tiếp có liên quan đến nhiều trung tâm thì kế toán cần lựa chọn tiêu thức phân bổ phù hợp để đánh giá đúng kết quả và hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm

- Phân tích biến động chi phí, doanh thu, lợi nhuận: Việc phân tích biến động của các chỉ tiêu được dựa trên dự toán kế hoạch là chủ yếu Kế toán trách nhiệm phân tích sai biệt giữa chỉ tiêu kế hoạch với thực tế của các trung tâm, rút ra các yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả của bộ phận đó Đây là nội dung cần thiết để đánh giá trách nhiệm quản lý của các trung tâm, kết quả, hiệu quả hoạt động của nó

- Mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận: Đây là việc tính ra số dư đảm phí, tỷ lệ số dư đảm phí, đòn bẩy hoạt động, và ý nghĩa của nó đối với các trung tâm lới nhuận cùng cấp Thông qua việc tính toán các chỉ tiêu về số dư đảm phí, kế toán trách nhiệm phân tích số dư của các trung tâm lợi nhuận để lại, từ đó phản ánh kết quả

và hiệu quả hoạt động của trung tâm lợi nhuận

Trang 24

Kết luận chương 1

Kế toán trách nhiệm là một bộ phận quan trọng của kế toán quản trị, đó là một công cụ dùng để đánh giá thành quả quản lý của các cấp quản trị một cách đúng đắn và đầy đủ Qua đó giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí, doanh thu, lợi nhuận, vốn đầu tư một cách hiệu quả hơn

Chương 1 giới thiệu tổng quát những kiến thức cần thiết về kế toán trách nhiệm làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các chương sau Trong đó mỗi doanh nghiệp có thể bao gồm 4 trung tâm trách nhiệm là: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Mỗi một trung tâm sẽ ứng với một cấp quản trị thích hợp, phụ thuộc vào quyền kiểm soát của nhà quản trị đối với trung tâm đó Tùy theo từng trung tâm, kế toán trách nhiệm có những công cụ đánh giá thành quả khác nhau

Việc đánh giá đầy đủ và chính xác thành quả quản lý của các cấp quản trị sẽ giúp doanh nghiệp có được những thông tin quan trọng trong việc đưa ra những phương thức hiệu quả nhất hướng đến mục tiêu chung của tổ chức

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN ĐỒNG NAI 2.1 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ KINH DOANH VÀ CÔNG TÁC

KẾ TOÁN

2.1.1, Tình hình tổ chức quản lý kinh doanh

2.1.1.1, Lịch sử hình thành và phát triển [8]

- Tên gọi Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN ĐỒNG NAI

Tên tiếng Anh: DONG NAI PAINT CORPORATION

Tên viết tắt: DONAPACO

Nơi mở tài khoản:

+ Ngân hàng Công thương Khu Công nghiệp Biên Hòa

Số hiệu tài khoản tiền đồng: 102010000268044

Số hiệu tài khoản ngoại tệ: 102020000029567

- Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty:

+ Sản xuất, kinh doanh sản phấm sơn các loại, keo

Trang 26

+ Xuất nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm sơn các loại, keo

+ Dịch vụ thi công về sơn

- Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển:

Công ty Cổ phần Sơn Đồng Nai nguyên là Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở Công nghiệp Đồng Nai, thành lập ngày 23/10/1987 với chức năng sản xuất kinh doanh các sản phẩm sơn, keo dùng trong công nghiệp xây dựng và dân dụng Doanh nghiệp chuyển sang Công ty Cổ phần theo Quyết định số 4636/QĐ-UBT ngày 01/03/2000 của UBND Tỉnh Đồng Nai

Công ty Cổ phần Sơn Đồng Nai là một trong những Doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong nước về sản lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm sơn Sản phẩm sản xuất tại Công ty trung bình 10.000 tấn/năm, được tiêu thụ rộng rãi tại Việt Nam và xuất sang các nước ASEAN, Trung Quốc

Chất lượng sản phẩm Sơn Đồng Nai được kiểm nghiệm định kỳ hằng năm tại các phòng thí nghiệm có uy tín ở trong và ngoài nước, được người tiêu dùng mến mộ Sản phẩm của Sơn Đồng Nai đã đạt Huy chương vàng tại Hội chợ thương mại Quốc tế Expo 97, nhiều năm liền là Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao, đạt thương hiệu Uy Tín,

và là 1 trong 150 thương hiệu Hàng Đầu trong ngành Xây dựng và Vật liệu xây dựng, được Nhà Nước khen thưởng Huân Chương Lao Động Hạng 1, 2 và 3

Các sản phẩm Sơn Đồng Nai bao gồm: Sơn Alkyd Dona, Sơn trang trí Donasa hệ nước và dung môi, Bột trét tường Donasa, Sơn PU, Sơn Epoxy hệ nước và dung môi Ngoài những sản phẩm được thị trường biết đến như một thương hiệu mạnh, Công ty

đã và đang hợp tác sản xuất các sản phẩm sơn hàng đầu thế giới như: Sơn tàu biển, giàn khoan dầu khí International (Akzonobel - Hà Lan); Sơn công nghiệp có công dụng đặc biệt PPG (PPG - Hoa Kỳ); Sơn cách nhiệt, chống thấm Sun-Master (Sun-Master - Úc)

2.1.1.2, Đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần Sơn Đồng Nai

a) Đặc điểm:

Công ty cổ phần Sơn Đồng Nai là đơn vị sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập, có con dấu riêng, độc lập về tài sản; được mở tài khoản tại Kho bạc nhà

Trang 27

nước tại các ngân hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật Công ty chịu trách nhiệm tài chính hữu hạn đối với các khoản nợ theo vốn điều lệ, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh được hạch toán

b) Chức năng:

Công ty cổ phần Sơn Đồng Nai là công ty sản xuất sơn Với thị hiếu ngày càng

đa dạng của khách hàng đối với nhiều loại sản phẩm khác nhau, với mỗi loại sản phẩm

đó đòi hỏi công ty phải đáp ứng đươc những yêu cầu khắt khe về sản lượng cũng như chất lượng của người tiêu dùng để từ đó phục vụ tốt hơn cho thị trường trong và ngoài nước

Dưới sự chỉ đạo của ban lãnh đạo Công ty, Công ty cổ phần Sơn Đồng Nai có chức năng nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh các loại sơn và một số sản phẩm khác nhau theo đúng pháp luật của Nhà nước hiện hành, phục vụ cho nhu cầu đa dạng của thị trường

c) Nhiệm vụ:

Cùng với việc mở rộng thị trường trong nước và hợp tác với nước ngoài Công ty cần phải đổi mới công nghệ máy móc thiết bị, kết cấu mặt bằng, nhà xưởng cho hợp

lý, chỉ đạo sản xuất kinh doanh hiệu quả, nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, công nghệ, hợp

lý hóa sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm

Cùng với biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, Công ty đặc biệt chú trọng đến việc phát triển sản phẩm, tìm kiếm thị trường mới, xây dựng thương hiệu tại các thị trường sẵn có, xây dựng chiến lược về giá,…Bên cạnh đó Công ty có nhiệm vụ kinh doanh đúng mặt hàng đã đăng ký, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng kinh tế, thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định, chiu sự kiểm tra giám sát của cơ quan pháp lý

Tuy nhiên song song với việc chế tạo và đưa ra sản phẩm mới, Công ty vẫn phải nghiên cứu và thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, an toàn cho người lao động, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, hoạt động sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả góp phần tích lũy ngân sách cho nền kinh tế quốc dân

Trang 28

2.1.1.3, Quy mô hoạt động kinh doanh

h Cơ cấu vốn (số liệu cập nhật năm 2009)

Hình 2.1 – Tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông ĐVT: VNĐ

Stt Danh mục Phần vốn Tỷ lệ (%) Số lượng (người)

(Nguồn: Báo cáo thường niên)

Trang 29

h Cơ cấu nhân sự

Tổng số lao động của doanh nghiệp là 150 người (tháng 12/2008) với cơ cấu

như sau:

Hình 2.2 - Cơ cấu lao động tại Công ty

Stt Phân theo trình độ Số người Tỷ lệ(%)

(Nguồn: Bản cáo bạch công ty CP Sơn Đồng Nai)

h Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh của công ty:

ĐVT: VNĐ

1 Doanh thu thuần 59.700.587.704 60.470.682.846

3 Các khoản nộp ngân sách 271.601.947 309.726.283

(Nguồn: Bản báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2008 - 2009)

Qua bảng chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ta nhận thấy:

- Doanh thu của năm 2009 tăng không đáng kể so với năm 2008, cụ thể tăng là:

60.470.682.846 - 59.700.587.704 = 770.095.142 đồng, tỷ lệ tăng 1,29%

- Lợi nhuận của năm 2009 cũng tăng so với năm 2008

5.116.441.868 – 3.580.650.511 = 1.535.791.357 đồng, tỷ lệ tăng 42,89%

Trang 30

- Các khoản nộp ngân sách của năm 2009 tăng so với năm 2008, cụ thể:

309.726.283 – 271.601.947 = 38.124.336 đồng, tỷ lệ tăng 14,04%

2.1.1.4, Thuận lợi và khó khăn, phương hướng phát triển doanh nghiệp

a) Thuận lợi:

Sản phẩm của công ty có uy tín trên thị trường, chất lượng đạt tiêu chuẩn JIS K

5960 : 1993 của Nhật Bản và TCVN 7239 : 2003 của Việt Nam Đây là giấy xác nhận chất lượng cần thiết để sản phẩm của công ty đến tay người tiêu dùng và các công trình xây dựng

So với các doanh nghiệp sản xuất sơn cùng ngành, công ty không có các khoản ngân sách nhiều cho các chiến lược tiếp thị, mở rộng đội ngũ kinh doanh Các doanh nghiệp khác đều có bộ phận kinh doanh đến tiếp cận các công trình lớn một cách chuyên nghiệp, văn phòng kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng để chào hàng và thưởng hoa hồng

Việc công ty hợp tác với các đối tác nước ngoài đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, học tập được cách quản lý chuyên nghiệp, các kỹ thuật công nghệ sản xuất sơn tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế, nâng cao vị thế của công ty trên thương trường Một số sản phẩm của công ty đã được xuất khẩu đi nước ngoài như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore chứng tỏ rằng chất lượng sơn của công ty sản xuất đã đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng khắt khe của thị trường nước ngoài và có khả năng cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập

Bên cạnh đó không thể không kể đến nền kinh tế Việt Nam đang phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế, thuận tiện cho công ty phát triển Đó là hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển, các công trình mang tầm cỡ khu vực đang được xây dựng giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm được nhiều đối tác tiềm năng, xây dựng thương hiệu cũng như tăng doanh số bán hàng

Được sự quan tâm, chỉ đạo của Hội đồng quản trị Tổ hợp Sonadezi (Công ty phát triển khu công nghiệp Biên Hòa) và sự hỗ trợ giúp đỡ của các công ty thành viên trong

Tổ hợp Sonadezi sử dụng các loại sản phẩm Sơn Đồng Nai

Công ty xác định được khó khăn, cạnh tranh trong nghành sơn, nên đã đề ra biện pháp để phấn đấu thực hiện hoàn thành nhiệm vụ

Trang 31

Nhìn chung, doanh nghiệp đã tạo nên những lợi thế từ bên trong đến bên ngoài doanh nghiệp, về vị trí trên thị trường cạnh tranh

có thể tăng thêm thị phần nhờ nguồn khách hàng này

Trên thị trường, môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt Các công ty Sơn trong và ngoài nước ngày càng tăng Nên chiều hướng lợi nhuận có thể giảm đi do cạnh tranh về giá cả, về chất lượng phục vụ khách hàng

c) Phương hướng phát triển:

Với tình hình kinh doanh và môi trường hoạt động trên, để có thể đứng vững trên thị trường công ty cần có những kế hoạch cụ thể:

• Tập trung sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo hình ảnh thương hiệu của công ty trên thị trường chứng khoán để tìm các nhà đầu tư, hợp tác sản xuất, nâng cao năng lực, sản lượng sản xuất Xây dựng chiến lược về giá hợp lý nhằm tăng khả năng cạnh tranh của công ty so với các thương hiệu mạnh khác của nước ngoài

Trang 32

• Nâng cao sản lượng: thông qua hợp tác với các tập đoàn xây dựng, kinh doanh địa ốc, cung cấp, sử dụng các loại sản phẩm Sơn Đồng Nai Đây là phương án có lợi cho cả hai bên, sản lượng tăng, lợi nhuận tăng Hai bên cùng

có lợi Xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm nhằm đưa sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất, đảm bảo cung ứng sản phẩm kịp thời cho người tiêu dùng

• Đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ quản lý, trình độ kỹ thuật, để quản lý sản xuất, quản lý chất lượng có hiệu quả

• Xây dựng thương hiệu Sơn Đồng Nai trở thành nổi tiếng, sánh cùng các thương hiệu Sơn nổi tiếng của nước ngoài tại thị trường Việt Nam

• Xây dựng một công ty sản xuất có quy trình sản xuất, công nghệ tiên tiến hiện đại, đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường, sản phẩm chất lượng, chủng loại đa dạng

Trang 33

2.1.1.5, Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty

Sơ đồ 2.1 – Sơ đồ bộ máy tác nghiệp của công ty

(Nguồn: Bản cáo bạch Công ty CP Sơn Đồng Nai)

Cơ bản

Phòng Tài chính

Kế toán

Phòng Kinh doanh

Quản đốc Phân xưởng Sơn 1

Quản đốc Phân xưởng Sơn 2

Quản đốc Phân xưởng Sơn 3

Phòng

Kỹ thuật KCS

ĐN

Phòng

Kỹ thuật KCS

IP

Phòng

Kỹ thuật KCS PPG ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

Trang 34

¾ Đại hội đồng cổ đông

Đại hội đồng Cổ đông (ĐHCĐ) là cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty, có toàn quyền quyết định mọi hoạt động của Công ty ĐHCĐ có trách nhiệm bầu, bãi nhiễm Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát và các nhiệm vụ khác theo quy định của điều

lệ

¾ Hội đồng quản trị

Hội đồng Quản trị (HĐQT) là tổ chức quản lý cao nhất của Công ty do ĐHCĐ bầu ra gồm 6 thành viên với nhiệm kỳ là 5 (năm) năm Các thành viên HĐQT nhóm họp và bầu Chủ tịch HĐQT

¾ Ban kiểm soát

Ban kiểm soát là tổ chức giám sát, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý điều hành hoạt động kinh doanh; trong ghi chép sổ sách kế toán và tài chính của Công

ty Ban kiểm soát gồm 3 thành viên với nhiệm kỳ là 5 (năm) năm do ĐHCĐ bầu ra

¾ Giám đốc

- Đại diện pháp nhân của công ty trong mọi giao dịch

- Quản lý điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty

- Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông Bên cạnh còn có Phó giám đốc và các trưởng phòng ban

¾ Phó giám đốc

- Chịu trách nhiệm về mặt tài chính, phân tích tài chính

- Đảm nhiệm việc kinh doanh, duyệt các kế hoạch đầu tư

- Trợ giúp giám đốc giải quyết các vấn khi Giám đốc vắng mặt

¾ Phòng tổ chức hành chánh

Chức năng:

- Tham mưu cho ban giám đốc thực hiện các mặt công tác về: Tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh, nhân sự, quản lý các con dấu, lao động, tiền lương, và các chính sách đối với người lao động

Trang 35

- Nghiên cứu, đề xuất ý kiến với ban Giám đốc trong công tác tuyển dụng lao động, phân công lao động nhằm sử dụng tốt nhất nguồn nhân lực để nâng cao năng suất và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Thành lập, sáp nhập hoặc giải thể các đơn

vị trực thuộc để bộ máy sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng hợp lý, khoa học

và hoạt động có hiệu quả

- Tham mưu cho Ban giám đốc trong công tác quy hoạch đào tạo cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý kế thừa các chức danh chủ chốt của công ty, của các đơn vị thành viên, Đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao để từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

- Tổ chức phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước có liên quan đến sản xuất kinh doanh, đến người lao động đang công tác tại công ty và theo dõi kết quả thực hiện để báo cáo với Ban giám đốc

- Tham mưu cho Ban giám đốc về thi đua khen thưởng, kỷ luật, phòng chống cháy nổ, đăng ký kinh doanh

- Quản lý tài sản công ty, thực hiện các yêu cầu về hậu cần, tiếp khách và phục

vụ cho các yêu cầu tổ chức hội họp cho Ban giám đốc

- Xây dựng, hướng dẫn và theo dõi định mức lao động tiền lương trong toàn công

ty và duyệt bảng lương hàng tháng cho các đơn vị

Trang 36

- Quản lý công tác XDCB từ khâu khảo sát, lập kế hoạch, dự toán, giám sát và thi công, định mức lao động (tham gia thực hiện thi công nếu công việc không cần thuê bên ngoài)

- Theo dõi công tác an toàn, phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường trong sản xuất của công ty

- Thực hiện xử lý công nợ, hàng hóa tồn kho theo đúng quy định của Nhà nước, bảo đảm an toàn về vốn trong kinh doanh

- Tham gia nghiên cứu, đề xuất các biện pháp cải tiến tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và các đơn vị trực thuộc

- Hướng dẫn các đơn vị nộp đúng, đủ, kịp thời các khoản phải nộp ngân sách, thanh toán đúng hạn các khoản vay, các khoản công nợ trong công ty và các đơn vị trực thuộc

- Kiểm tra công tác quyết toán nợ của cơ sở để trình bày Ban giám đốc duyệt

- Phối hợp với các phòng ban trong công ty kiểm tra, kiểm kê thường xuyên và đột xuất theo sự chỉ đạo của Ban giám đốc Đồng thời xác định và phản ánh kịp thời chính xác kết quả kê khai tài sản, hàng hóa Đề xuất các biện pháp cần thiết để giải quyết các tài sản, hàng thừa, thiếu…sau kiểm kê

- Tổ chức phổ biến và hướng dẫn thi hành kịp thời các chế độ kế toán tài chính

do Nhà nước quy định cho mạng lưới kế toán trong toàn công ty

Trang 37

- Kiểm soát việc giữ gìn, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn của công ty Ngăn chặn kịp thời các hành động vi phạm chế độ tài chính của Nhà nước

- Thực hiện lưu trữ các tài liệu, sổ sách kế toán theo quy định

- Lập và xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty

- Xây dựng phương án cung ứng vật tư để phục vụ cho sản xuất kinh doanh

- Điều độ kế hoạch sản xuất kinh doanh tại phân xưởng Quản lý, định mức, cấp phát nhu cầu vật tư cho sản xuất kinh doanh

- Giao dịch, bán hàng và tiêu thụ sản phẩm

- Quản lý thực hiện công tác xuất - nhập khẩu

- Phối hợp với phòng tổ chức hành chính thực hiện công tác về tiền lương

- Quan hệ với các đối tượng khách hàng để thực hiện tốt các nhiệm vụ được phân công

- Phối hợp với các bộ phận thi công để thực hiện các dịch vụ về thi công sơn cho các công trình

¾ Các phân xưởng sản xuất sơn

- Là đơn vị trực tiếp sản xuất, thực hiện các quá trình làm ra sản phẩm sơn Đồng Nai Sản xuất ra các loại sản phẩm theo yêu cầu của công ty đúng kế hoạch, thời gian quy trình chất lượng và tiết kiệm chi phí vật tư, lao động

- Đảm bảo an toàn vệ sinh công nghiệp trong sản xuất

- Tổ chức điều hành sản xuất xưởng khi đã có hiệu lệnh sản xuất

- Sử dụng, bảo quản thiết bị, nhà xưởng, vật tư, lao động có hiệu quả

Trang 38

- Tham gia vào quá trình ban hành các lệnh sản xuất

- Theo dõi quy trình công nghệ trong quá trình sản xuất

- Phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố kỹ thuật trong quá trình sản xuất

- Kiểm tra chất lượng bán thành phẩm, thành phẩm trong quá trình sản xuất theo tiêu chuẩn quy định

- Theo dõi sản phẩm lưu mẫu, nguyên liệu (kiểm tra nguyên liệu nhập về, đưa ra kết luận chính xác cho việc sử dụng trong sản xuất)

- Tổ chức nghiên cứu áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất

- Nghiên cứu sản xuất các sản phẩm mới theo nhu cầu của thị trường, góp phần

đa dạng hóa mặt hàng của công ty

- Định mức vật tư nguyên liệu cho từng chủng loại sản phẩm

- Thử mẫu trên công nghệ của khách hàng, giám sát thi công các công trình

¾ Phòng kỹ thuật – KCS IP

- Là cơ quan tham mưu cho giám đốc trong nhiệm vụ KT – KCS sơn tàu biển International

- Bổ sung, hoàn thiện công thức cho một số sơn theo đúng yêu cầu

- Nghiên cứu cải tiến quy trình công nghệ phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam

- Kiểm tra chất lượng bán thành phẩm và thành phẩm theo tiêu chuẩn quy định

- Phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố kỹ thuật liên quan đến công nghệ

- Theo dõi nguyên liệu, tiến độ sản xuất của xưởng

Trang 39

ª Quy trình công nghệ:

Công ty cổ phần sơn Đồng Nai tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm, quy trình công nghệ Công ty áp dụng phương pháp tổ chức theo dây chuyền công nghệ và tổ chức thành các phân xưởng sản xuất, mỗi phân xưởng sản xuất, mỗi phân xưởng lắp đặt một dây chuyền sản xuất ra thành phẩm hoàn chỉnh

f Phân xưởng sơn nội

Ngay từ ngày đầu, công ty đã đi vào hoạt động, hiện nay dây chuyền này sản xuất ra 3 lọai sơn: sơn Alkyd, sơn nước, sơn cách nhiệt, chủ yếu cung cấp cho các đối tác là công ty INSULTECT CO.Ltd của Úc Tính chất sản xuất không phức tạp, việc chế biến diễn ra liên tục theo từng chu kỳ, mỗi chu kỳ sản xuất ra một loại sơn nhất định Chu kỳ sản xuất dài hay ngắn phụ thuộc vào tính chất từng loại sơn, thường mỗi chu kỳ kéo dài 3 - 4 ngày và trải qua các giai đọan chính sau:

• Giai đoạn 1: Hòa trộn các nguyên vật liệu chính còn gọi là giai đoạn phối liệu (1-2 ngày)

• Giai đoạn 2: Các nguyên liệu sau khi đã hòa trộn bơm vào nồi chứa cho

ổn định áp suất (1ngày)

• Giai đoạn 3: Pha loãng, lọc cạn, chỉnh màu thành phẩm, sau đó kiểm tra các thông số kỹ thuật đạt tiêu chuẩn thì đóng thùng và chuyển sang kho thành phẩm Cuối cùng được gia công, sản phẩm được phía đối tác bao tiêu toàn bộ Hiện nay phân xưởng này hoạt động còn rất hạn chế do phụ thuộc vào đối tác

Trang 40

Sơ đồ 2.2 – Sơ đồ quy trình sản xuất ở phân xưởng sơn nội bộ

(Nguồn: Phòng kế toán công ty CP Sơn Đồng Nai)

Nguyên liệu bột

Nghiền, phân tán đạt độ mịn

Phối trộn

Lọc

Chỉnh màu và các chỉ tiêu kỹ thuật

Các chất phụ gia Nhựa, dung môi

Thành phẩm

Ngày đăng: 10/12/2013, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 – Mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức. [1] - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Hình 1.2 – Mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức. [1] (Trang 11)
Hình 2.2 - Cơ cấu lao động tại Công ty       Stt  Phân theo trình độ  Số người Tỷ lệ(%) - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Hình 2.2 Cơ cấu lao động tại Công ty Stt Phân theo trình độ Số người Tỷ lệ(%) (Trang 29)
Sơ đồ 2.1 – Sơ đồ bộ máy tác nghiệp của công ty - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Sơ đồ 2.1 – Sơ đồ bộ máy tác nghiệp của công ty (Trang 33)
Sơ đồ 2.2 – Sơ đồ quy trình sản xuất ở phân xưởng sơn nội bộ - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Sơ đồ 2.2 – Sơ đồ quy trình sản xuất ở phân xưởng sơn nội bộ (Trang 40)
Sơ đồ 2.3 – Sơ đồ quy trình công nghệ của phân xưởng hợp tác - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Sơ đồ 2.3 – Sơ đồ quy trình công nghệ của phân xưởng hợp tác (Trang 41)
2.1.2.2, Hình thức tổ chức hệ thống chứng từ kế toán - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
2.1.2.2 Hình thức tổ chức hệ thống chứng từ kế toán (Trang 43)
Sơ đồ 2.5 – Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Sơ đồ 2.5 – Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán (Trang 45)
Bảng 3.1 - Báo cáo biến động chi phí sản xuất - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Bảng 3.1 Báo cáo biến động chi phí sản xuất (Trang 59)
Bảng 3.2 - Bảng giá thành chi phí NVLTT kỳ kế hoạch tháng 8/2009 - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Bảng 3.2 Bảng giá thành chi phí NVLTT kỳ kế hoạch tháng 8/2009 (Trang 60)
Bảng 3.4 - Bảng phân tích biến động chi phí NVLTT để sản xuất sản phẩm sơn Alkyd - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Bảng 3.4 Bảng phân tích biến động chi phí NVLTT để sản xuất sản phẩm sơn Alkyd (Trang 61)
Sơ đồ 3.1 – Sơ đồ mô tả quá trình xem xét yêu cầu khách hàng (Nguồn: Phòng kinh doanh) - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Sơ đồ 3.1 – Sơ đồ mô tả quá trình xem xét yêu cầu khách hàng (Nguồn: Phòng kinh doanh) (Trang 64)
Sơ đồ 3.2 – Sơ đồ mô tả quá trình điều độ sản xuất (Nguồn: Phòng kinh doanh) - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Sơ đồ 3.2 – Sơ đồ mô tả quá trình điều độ sản xuất (Nguồn: Phòng kinh doanh) (Trang 65)
Bảng 3.6 - Báo cáo kết quả hoạt động của trung tâm doanh thu - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Bảng 3.6 Báo cáo kết quả hoạt động của trung tâm doanh thu (Trang 68)
Sơ đồ 3.4 – Sơ đồ tổ chức phòng kinh doanh - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Sơ đồ 3.4 – Sơ đồ tổ chức phòng kinh doanh (Trang 69)
Bảng 3.8 - Báo cáo kết quả hoạt động của trung tâm đầu tư - Đề tài xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty CP sơn đồng nai
Bảng 3.8 Báo cáo kết quả hoạt động của trung tâm đầu tư (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w