TỔNG CỤC THỦY SẢN VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN ---BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Đơn vị thực hiện: Viện Kinh
Trang 1TỔNG CỤC THỦY SẢN VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN
-
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
Trang 2TỔNG CỤC THỦY SẢN VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN
-BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
Đơn vị thực hiện: Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản Chủ nhiệm dự án:
Thư ký:
Thành viên:
Th.S Nguyễn Thanh Hải Th.S Trần Văn Tam Th.S Nguyễn Quý Dương Th.S Phan Văn Tá
Th.S Ngô Thị Thanh Hương
Hà Nội, năm 2015
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Căn cứ pháp lý 2
3 Phạm vi nghiên cứu của dự án 3
4 Phương pháp nghiên cứu lâ ̣p quy hoa ̣ch 3
5 Sản phẩm của dự án 4
PHẦN I CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN VÙNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM 5
1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 5
1.1 Vị trí địa lý 5
1.2 Điều kiện tự nhiên 5
1.3 Đặc điểm khí hậu 7
1.4 Môi trường 8
1.5 Tiềm năng phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo 9
2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 10
2.1 Dân số và cơ cấu dân số 10
2.2 Lao động và cơ cấu lao động 11
2.3 GDP và cơ cấu GDP 12
2.4 Vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 13
PHẦN II HIỆN TR ẠNG NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN VÙNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM 15
1 Hiện tra ̣ng về diện tích, sản lượng nuôi biển 15
2 Hiện trạng phát triển các đối tượng nuôi biển 16
3 Giá trị sản lượng nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam 20
4 Dịch vụ hậu cần phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo 20
5 Tình hình sản xuất, cung ứng thức ăn và thuốc thú y thủy sản 23
6 Dịch vụ hậu cần phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo 25
7 Hoạt động khuyến ngư và thông tin tuyên truyền 26
8 Các chính sách phát triển NTHS trên biển và hải đảo Việt Nam 27
9 Đánh giá chung về hiê ̣n tra ̣ng phát triển NTHS trên biển và hải đảo 28
10 Đánh giá chung về kết quả thực hiện Quy hoạch nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 30
11 Đánh giá chung về kết quả thực hiện Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 31
PHẦN III DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN VÙNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM 34
1 Dự báo nhu cầu tiêu dùng và khả năng đáp ứng các sản phẩm thủy sản 34
Trang 43 Dự báo các tiến bộ KHCN trong NTHS trên biển và hải đảo 41
4 Dự báo tác động của biến đổi khí hậu 43
5 Dự báo tác động của của phát triển kinh tế - xã hội 45
PHẦN IV QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 46
1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU QUY HOẠCH 46
1.1 Quan điểm quy hoạch 46
1.2 Mục tiêu phát triển đến năm 2020 46
1.3 Định hướng phát triển 47
2 NỘI DUNG QUY HOẠCH 48
2.1 Quy mô và tốc độ phát triển NTHS trên biển và hải đảo Việt Nam 48
2.2 Quy hoạch phát triển các đối tượng nuôi chính 49
2.3 Nhu cầu giống, thức ăn và lao động 58
2.4 Các chương trình dự án đầu tư phục vụ nuôi biển và hải đảo 60
2.5 Các dự án ưu tiên đầu tư 63
2.6 Nhu cầu vốn đầu tư 63
2.7 Đánh giá sơ bô ̣ hiê ̣u quả quy hoa ̣ch 64
PHẦN V GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH 65
1 Cơ chế chính sách 65
2 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực, khoa học công nghệ 66
3 Giải pháp giống, thức ăn và phát triển cơ sở hạ tầng 68
4 Giải pháp về môi trường 69
5 Về đầu tư 70
6 Về tổ chức sản xuất 71
7 Giải pháp về thị trường 72
8 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5BẢNG BIỂU
Bảng 1: Hiện trạng lao động phân theo ngành kinh tế GĐ 2005-2010 11
Bảng 2: Hiện trạng năng suất lao động phân theo ngành kinh tế 11
Bảng 3: Hiện trạng GDP toàn quốc giai đoạn 2005-2010 12
Bảng 4: Hiện trạng vốn đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 13
Bảng 5: Hiện quả sử dụng vốn đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 14
Bảng 6: Diện tích, sản lượng NTHS trên biển và hải đảo của Việt Nam 15
Bảng 7: Diễn biến số lồng, bè nuôi cá biển trên biển biển và hải đảo 16
Bảng 8: Hiện trạng nuôi nhuyễn thể trên biển và hải đảo Việt Nam 17
Bảng 9: Số lồng và sản lượng tôm hùm nuôi trong giai đoạn 2005-2010 18
Bảng 10: Cơ cấu thành phần loài tôm hùm nuôi tại các tỉnh Nam Trung Bộ 19
Bảng 11: Diễn biến trồng rong trên biển ở Việt Nam 20
Bảng 12: Giá trị sản xuất trong NTHS trên biển và hải đảo Việt Nam 20
Bảng 13: Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thê giới đến năm 2015 33
Bảng 14: Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thê giới đến năm 2020 34
Bảng 15: Nhu cầu tiêu dùng thủy sản theo đối tượng nuôi đến năm 2020 34
Bảng 16: Dự báo lượng cung-cầu thủy sản toàn cầu đến năm 2020 35
Bảng 17: Dự báo lượng cung thủy sản phân theo khu vực đến năm 2020 36
Bảng 18: Dự báo nhu cầu và khả năng cung ứng sản phẩm thủy sản 36
Bảng 19: Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản ở Việt Nam đến năm 2020 37
Bảng 20: Khả năng cung cầu nguyên liệu thủy sản Việt Nam đến năm 2020 37
Bảng 21: Nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu thủy sản đến năm 2020 38
Bảng 22: Nhu cầu tiêu dùng thủy sản nuôi biển toàn cầu đến năm 2020 39
Bảng 23: Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nuôi biển đến năm 2020 39
Bảng 24: Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nuôi biển ở Việt Nam đến năm 2020 40
Bảng 25: Nhu cầu giống các đối tượng hải sản đến 2020 58
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GAP Good Aquaculture Practice (Thực hành nuôi tốt)
Viện KT&QH TS Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản
Viện NC NTTS Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết phải lập quy hoạch
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển và hải đảo có vai trò,
vị trí quan trọng và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
an ninh, quốc phòng của Việt Nam Để phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” Mục tiêu chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh; trong đó có mu ̣c tiêu đẩy mạnh phát triển nuôi trồng hải sản (NTHS) trên biển và hải đảo
Ngành thủy sản có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Phát triển thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của đất nước, bình quân giai đoạn 2001-2013 kinh tế thủy sản đóng góp vào GDP chung toàn quốc khoảng trên 3%/năm, ngành thủy sản góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, xóa đói giảm nghèo, và giải quyết việc làm cho khoảng trên 4 triệu lao động thủy sản, góp phần nâng cao đời sống cho cộng đồng cư dân vùng nông thôn ven biển Trong những năm qua sản xuất thủy sản đã đạt được những thành tựu đáng kể Năm 2013, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 6.019 nghìn tấn, trong đó: sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt trên 3.215 nghìn tấn; sản lượng khai thác thủy sản đạt trên 2.803 nghìn tấn Hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt ở trên 164 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt trên 6,7 tỷ USD, trong đó nuôi trồng hải sản đóng góp mô ̣t phần quan tro ̣ng vào gi á trị xuất khẩu thuye sản của Viê ̣t Nam trong thời gian qua Đặc biệt, viê ̣c phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo góp phần quan trọng trong công cuộc bảo vệ quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc
Tuy vâ ̣y, viê ̣c phát triển NTHS trên biển và hải đảo Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n qua đã bô ̣c lô ̣ mô ̣t số bất câ ̣p cần giải quyết như : phát triển chưa tuân thủ theo quy hoa ̣ch , phát triển còn manh mún , nhỏ lẻ chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có; nghề NTHS hiê ̣n nay mới chỉ bắt đầu được đầu tư nghiên cứu, điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ cung cấp con giống , thức ăn, công nghê ̣ lồng nuôi còn nhiều hạn chế, trình độ kỹ thuật người nuôi còn mang tính chất thủ công, lạc hậu Bên cạnh đó nghề NTHS trên biển và hải đảo chưa phát triển được là do chưa tìm kiếm được thị trường đầu ra, chưa ta ̣o ra sản phẩm hàng hóa lớn để đáp ứng được nhu cầu của thi ̣ trường trong nước và xuất khẩu; vốn đầu tư cho NTHS lớn nhưng la ̣i phải đối mặt với không ít những rủi ro về thiên tai, môi trường và di ̣ch bê ̣nh,… dẫn đến trong giai đoa ̣n qua nghề NHTS trên biển và hải đảo phát triển còn chậm, chưa ổn định, biểu hiện phát triển thiếu bền vững
Trang 8Vì vậy, việc lập và th ực dự án “Quy hoạch phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2020” là cần thiết để khắc phu ̣c những
khó khăn, bất cập trên; làm cơ sở khoa ho ̣c để đưa ra các đi ̣nh hướng , kế hoạch
và các giải pháp phát triển phù hợp tổ chức lại sản xuất trển biển, đưa nghề NTHS trên biển và hải đảo trở thành mô ̣t ngành chủ lực ta ̣o sản phẩm hàng hóa lớn, đáp ứng được nhu cầu của thị trường , đồng thời góp phần vào bảo vệ an ninh , chủ quyền quốc gia trên biển
- Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020;
- Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg, ngày 01/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy hải sản trên biển và hải đảo;
- Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020;
- Quyết định số số 332/QĐ-TTg ngày 03/3/2011 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản đến năm 2020;
- Quyết định số 1445/QĐ-TTg ngày 16/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
- Quyết định số 2760/QĐ-BNN-TCTS ngày 22/11/2013 của Bộ trưởng Bô Nông nghiê ̣p và Phát triển nông thôn phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá tri ̣ gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 1523/QĐ-BNN-TCTS ngày 08/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt Quy hoạch nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 1628/QĐ-BNN-TCTS ngày 20/7/2011của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020;
Trang 9- Căn cứ Quyết định số 2921/QĐ-BNN-KH ngày 15/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn v/v Phê duyệt đề cương, dự toán
và kế hoạch đấu thầu dự án Quy hoạch phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2020
3 Phạm vi nghiên cứu của dự án
- Phạm vi không gian quy hoạch: Dự án được triển khai trên phạm vi vùng
biển đảo Viê ̣t Nam theo quy đi ̣nh ta ̣i Luâ ̣t biên giới quốc gia ngày 17 tháng 6 năm 2003 và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
- Đối tượng quy hoạch: Các đối tượng hải sản có khả năng phát triển nuôi
ở Việt Nam như nhóm cá biển, nhóm giáp xác, nhóm rong biển và nhóm nhuyễn thể Trong đó chú trọng các đối tượng nuôi chủ lực và các đối tượng tiềm năng
- Thơ ̀ i gian: Đánh giá hiê ̣n trạng phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và
hải đảo Việt Nam giai đoạn 2005-2010 và Quy hoạch phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu lâ ̣p quy hoa ̣ch
4.1 Phương pha ́ p chung
- Kế thừa các thông tin tư liệu, tài liệu hiện có từ các cơ quan ban ngành ở
TW và địa phương, các tổ chức quốc tế, các trường đại học và các Viện nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến nuôi trồng hải sản Đặc biệt là số liệu thống kê của Tổng Cục thống kê và thống kê của các tỉnh/thành phố ven biển
- Điều tra thu thập thông tin, số liệu thống kê bổ sung có liên quan ở các tỉnh/thành phố ven biển về điều kiện tự nhiên, tình hình KT-XH, hiện trạng phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2005-2010, sau đó phân tích đánh giá tiềm năng
và thực trạng phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo
- Sử dụng các phương pháp thống kê mô tả và so sánh, phân tích mô hình
và dự báo, phân tích kinh tế - xã hội - môi trường, phân tích hiện trạng phát triển nuôi trồng hải sản
- Sử dụng phương pháp chuyên gia để tranh thủ những kỹ năng, sự hiểu biết và kinh nghiệm của các chuyên gia giỏi có liên quan tư vấn, định hướng và góp ý về mục tiêu, nội dung, phương án phát triển NTHS trên biển và hải đảo
- Sử dụng phương pháp hội nghị, hội thảo để tham vấn ý kiến của các chuyên gia đầu ngành có kinh nghiệm, xin ý kiến của các địa phương, các bộ ngành có liên quan trước khi báo cáo được hoàn thiện để trình phê duyệt
4.2 Các bước tiến hành triển khai lập quy hoạch
Về cơ bản phương pháp lập quy hoạch phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo được tiến hành theo các bước sau
- Bướ c 1: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo văn kiện, các quyết định
và các chính sách liên quan đến phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải
Trang 10đảo; các công trình nghiên cứu khoa học; các báo cáo tổng kết hàng năm của các Cục, Vụ, Viện và các tỉnh/thành phố ven biển
- Bướ c 2: Tiến hành điều tra , khảo sát thực địa thu thâ ̣p các số liê ̣u và thồng tin về tiềm năng, hiê ̣n tra ̣ng và đi ̣nh hướng phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo tại 15 tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Đi ̣nh, Thanh Hóa, Nghê ̣ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Trà Vinh, Bến Tre và Kiên Giang
- Bướ c 3: Tổng hợp các tư liê ̣u , số liê ̣u đi ều tra khảo sát và cân đ ối, xây dựng các phương án quy hoạch sao cho phù hợp với đi ̣nh hướng phát triển của các địa phương, phù hợp Chiến lược phát triển ngành thủy sản đến năm 2020 và Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
- Bước 4: Hội thảo xin ý kiến chuyên gia, các địa phương và gửi công văn xin ý kiến cơ quan quản lý, các Viện nghiên cứu , các tỉnh/thành phố phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Viê ̣t Nam
- Bước 5: Hoàn thiện báo cáo quy hoạch theo ý kiến góp ý của cơ quan quản lý, các chuyên gia và của các địa phương
- Bước 6: Tổ chứ c hô ̣i đồng nghiê ̣m thu cấp cơ sở và cấp Tổng cu ̣c thông qua báo cáo quy hoạch
5 Sản phẩm của dự án
5.1 Báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt : “Quy hoạch phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2020”
5.2 Các báo cáo chuyên đề:
- Đánh giá thực trạng nuôi biển trên thế giới và Việt Nam
- Đánh giá thực trạng quy hoạch các nhóm sản phẩm nuôi biển
- Điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển NTHS trên biển và hải đảo
- Hiện trạng kinh tế, xã hội và chính sách ảnh hưởng đến phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo
- Hiện trạng chế biến và tiêu thụ thủy sản từ nuôi biển của Việt Nam
- Dự báo các yếu tố phát triển nuôi trồng hải sản trên biển Việt Nam
5.3 Bản đồ: Bản đồ Ao về Hiện trạng và Quy hoạch phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2020, tỷ lệ 1/1.000.000
5.3 Bộ cơ sở dữ liệu: Các số liệu, dữ liệu điều tra, khảo sát
Trang 11PHẦN I:
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI SẢN
TRÊN VÙNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1 Vị trí địa lý
Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á và ở bờ biển phía Tây Thái Bình Dương Phần đất liền kéo dài đến 15 vĩ tuyến, từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng nhất trên đất liền là 500 km; nơi hẹp nhất là 50
km Diện tích đất liền là 331.212 km2, phần lãnh hải và đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2 Hải phận của Việt Nam giáp với Trung Quốc, Philipin, Brunây, Inđônêxia, Malaixia, Campuchia và Thái Lan
Việt Nam là cửa ngõ phía Đông vươn ra biển của các nước vùng bán đảo Đông Dương và cũng là nơi hội tụ nhiều thuận lợi cho giao thương đường biển với các nước trên thế giới Đặc biệt hơn cả, Việt Nam nằm giáp phía Nam Trung Quốc - một quốc gia với trên 1,3 tỷ dân và đang là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới, đồng thời là thị trường tiêu thụ thủy sản đầy tiềm năng Đặc điểm này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, liên kết, trao đổi hàng hóa, khoa học công nghệ, kỹ thuật của nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới
1.2 Điều kiện tự nhiên
Căn cứ vào vị trí địa lý, điều kiê ̣n tự nhiên các vùng biển đảo , phân chia phần trên biển thành 5 vùng như sau:
- Vùng 1: Vùng biển vịnh Bắc Bộ
- Vùng 2: Vùng biển miền Trung
- Vùng 3: Vùng biển Đông Nam Bộ
- Vùng 4: Vùng biển Tây Nam Bộ
- Vùng 5: Vùng giữa biển Đông
Vùng biển vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam là vùng biển nông, đáy biển tương đối bằng phẳng có 2 vịnh kín là vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long
Trang 121.2.2 Vùng biển miền Trung
Vùng biển miền Trung có đường ranh giới từ vĩ độ 17o00’N và về phía Nam kéo dài đến 11o30’N Vùng biển này mang đặc tính của vùng biển sâu; thềm lục địa rất hẹp, đường đẳng sâu 100m chạy gần sát bờ
Từ Quy Nhơn đến Khánh Hòa có bồn trũng kéo dài theo hướng kinh tuyến, vát nhọn ở phía Bắc, mở rộng ở phía Nam, độ sâu trung bình từ 2.000- 2.500 m Phía Nam quần đảo Trường Sa có vùng trũng rộng lớn sâu tới 3.000- 4.000 m, có chỗ sâu trên 5.500 m
1.2.3 Vùng biển Đông Nam Bộ
Vùng biển Đông Nam bộ: giới hạn từ vĩ độ 60N-11030’N Đường bờ biển khúc khuỷu lồi lõm, độ dốc đáy biển không lớn Vùng biển Đông Nam Bộ có diện tích thềm lục địa khoảng 297.000 km2 Bờ biển nhiều chỗ lồi lõm, có nhiều cửa sông với lưu lượng nước lục địa đổ ra biển rất lớn, độ dốc đáy biển nhỏ hơn vùng biển miền Trung rất nhiều, độ dốc trung bình 10-200
Thềm lục địa từ vĩ độ ngang Bà Rịa - Vũng Tàu đến mũi Cà Mau chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Từ Bà Rịa - Vũng Tàu đến Côn Đảo địa hình đáy biển tương đối phức tạp và bị chia cắt mạnh Phía Nam Côn Đảo địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng hơn
1.2.4 Vùng biển Tây Nam Bộ
Vùng biển Tây Nam Bộ (thuộc vịnh Thái Lan) nằm trong phạm vi 6o00’ -
13o10’N và 99o15’ - 105o05’E, có chiều dài bờ biển 345 km Đây là vùng biển nông và tương đối kín, đáy biển thoải dần, ít khúc khuỷu, được bao bọc chủ yếu
là bờ biển Thái Lan (phía Tây và phía Bắc) Phía Tây Nam giáp với bờ biển Maylayxia, phía Đông, Đông Bắc giáp với Campuchia và bờ biển Việt Nam; một phần phía Đông thông với biển Đông
Vùng biển Tây Nam Bộ phần thuộc chủ quyền của Việt Nam khoảng 63.290 km2 Đáy biển rộng, khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía Tây Đường đẳng sâu 10 m nằm cách xa bờ 20-25 km, độ sâu lớn nhất không vượt quá 80 m nước, độ sâu tăng dần tương đối đều đặn từ bờ ra giữa Vịnh
Vùng biển từ mũi Cà Mau đến Hòn Me - Hòn Sóc bờ biển tương đối bằng phẳng Từ Hòn Me - Hòn Sóc đến Hà Tiên bờ biển khúc khuỷu theo triền núi, tuy nhiên không có vực thẳm
Vùng biển Tây Nam Bộ có nhiều hải đảo như Hòn Chuối, Hòn Tre, Hòn Rái, Hòn Nghệ và một số quần đảo như quần đảo Hải Tặc, Bà Lụa…
1.2.5 Vùng giữa Biển Đông
Vùng giữa Biển Đông bao gồm khu vực phía Tây quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nằm trong vùng giới hạn từ vĩ độ 6o50’N-12o00’N, kinh độ
111o30’E-117o20’E Diện tích ước 180.080 ngàn km2
; gồm khoảng hơn 120 hòn đảo Đáy biển rất sâu, nhiều chỗ sâu 1.000-3.800m là vùng quần đảo san hô; có điều kiện thích hợp cho việc phát triển nuôi các đối tượng hải sản
Trang 131.3 Đặc điểm khí hậu
1.3.1 Vùng biển vịnh Bắc Bộ
Vùng biển vịnh Bắc Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng khá mạnh của bão và gió mùa Đông Bắc Tần suất bão hàng năm từ 7-8 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, xuất hiện từ tháng 6–10; bão gây sóng to gió mạnh và mưa lớn trên diện rộng làm ảnh hưởng lớn đến nuôi trồng hải sản
Chế độ gió gồm 2 mùa rõ rệt: Gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam Gió mùa đông bắc tạo nên mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau
Chế đô ̣ thủy chiều : Vùng biển vịnh Bắc Bộ có chế độ nhật triều thuần nhất, mỗi ngày chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng Độ lớn triều vùng này thuộc loại triều lớn nhất nước ta, trung bình khoảng trên dưới 3-4m vào thời
độ bán nhật triều với biên độ triều đạt 0,8-1,7m
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22,2-23,60C, nhiệt độ cao nhất
390– 410
C, nhiệt độ thấp nhất 30–40
C; chế độ nhiệt ở đây phân hoá ra làm hai mùa nóng - lạnh rất rõ rệt, mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh vào khoảng tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa đông kéo dài, nhiệt độ thấp ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động nuôi NHTS trên biển và hải đảo nhất là hoạt động sản xuất giống thủy sản
1.3.2 Vùng biển miền Trung
Vùng biển miền Trung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với những đặc trưng chủ yếu: nóng ẩm, nhiệt độ cao Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 25,60
C, nhiệt cao nhất vào tháng 8 hàng năm là 380C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12 hàng năm là 14,30C
Chế độ gió: mỗi năm có 2 mùa gió chính là gió mùa tây nam và gió mùa đông bắc Gió mùa tây nam thể hiện rõ từ tháng 6 đến tháng 8, gió mùa đông bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng gió chuyển tiếp là tháng 4-5 và tháng 9-10 Tốc độ gió trung bình từ 2,3-2,5 m/s
Nhìn chung, khí hậu vùng này rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng hải sản, nhất là các đối tượng ưa thời tiết khí hậu ấm áp
1.3.3 Vùng biển Đông Nam Bộ
Nhiệt độ nước biển ở vùng Đông Nam Bộ có sự thay đổi theo mùa và thay đổi theo độ sâu của vùng nước Nhiệt độ nước thường cao hơn nhiệt độ không khí 1,5-30C Trung bình nhiệt độ tầng mặt khoảng 27,5-300C và cao nhất là vào
Trang 141.3.4 Vùng biển Tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan)
Nhiệt độ nước biển tầng mặt vào mùa gió Tây Nam (trung bình 29,1oC) thường cao hơn mùa gió Đông Bắc (trung bình 28,3o
C) khoảng 1,0oC Ở cả hai mùa nhiệt độ nước tầng mặt đều tương đối ổn định, biên độ dao động nhiệt nhỏ (mùa gió Đông Bắc 27,0 - 32,0o
C; mùa gió Tây Nam 26,0 - 32,0oC)
Chế độ gió ở vùng biển này cũng phân ra hai mùa Trong mùa gió Đông Bắc (mùa khô) hướng thịnh hành Đông Bắc với cường độ gió cấp 4-5 Trong mùa gió Tây Nam (mùa mưa), hướng gió thịnh hành là Tây Nam hoặc Tây với sức gió trung bình cấp 2-3 Vào tháng 4 chuyển mùa và tháng 11, 12 biển tương đối lặng
Bão ở đây cũng ít xuất hiện như ở vùng biển Đông Nam Bộ Ngoài ra hàng năm trong giai đoạn trung chuyển giữa 2 mùa gió thường xuất hiện các cơn lốc với phạm vi hẹp, cường độ mạnh từ cuối tháng 3 đến tháng 5
1.3.5 Vùng giữa biển Đông
Vùng giữa biển Đông (Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa) có chế độ nhật triều không đều Độ lớn thủy triều cực đại kỳ nước cường đạt giá trị khoảng 1,5-1,75 m, biên độ lớn nhất đạt 2,12 m và thấp nhất 0,1- 0,7 m
Nhiệt độ tầng mặt vào mùa gió Tây Nam (tháng 8-10) dao động từ 28,2 - 30,60C và 22,5-29,50C (tầng 50 m) cao hơn nhiệt độ trung bình thời kỳ mùa gió Đông Bắc (tháng 3-4) từ 1,0-2,00C
Dòng chảy: Chế độ dòng chảy mang đặc điểm chung của chế độ dòng chảy trung tâm Biển Đông, tốc độ dòng chảy đạt 0,7-2 hải lý/giờ Mùa Hè dòng chảy theo hướng Nam - Bắc với vận tốc cực đại 1 hải lý/giờ Mùa Đông dòng chảy theo hướng Đông - Tây với vận tốc trung bình 0,5-0,7 hải lý/giờ
Độ mặn nước biển ít biến đổi theo mùa, độ mặn trung bình ở lớp nước tầng mặt dao động từ 30-33‰, lớn nhất xấp xỉ đạt 34‰
1.4 Môi trường
1.4.1 Chất lượng môi trường nước tại một số khu vực nuôi biển
Kết quả “Quan trắc, cảnh báo chất lượng vùng nuôi hải sản ven biển Việt Nam” cho thấy: chất lượng môi trường khu vực nuôi cá bằng lồng bè tập trung ven biển tại xã Long Sơn (Bà Rịa -Vũng Tàu), Quảng Ninh - Hải Phòng, vịnh Nghi Sơn (Thanh Hoá), Cửa Hội (Nghệ An), Kiên Giang và khu vực nuôi nhuyễn thể bãi triều ở Thái Bình - Nam Định, Bến Tre đã có những đã có biểu hiện ô nhiễm, chất lượng nước biển bị suy giảm với hàm lượng các chất ô nhiễm khá cao vượt giới hạn cho phép; đồng thời chất lượng môi trường biến đổi theo xu hướng ngày càng xấu đi
1.4.2 Chất lượng môi trường khu vực nuôi cá lồng bè
Đa số các khu vực nuôi cá bằng lồng bè, chất lượng môi trường nước bị suy giảm với mức nhiễm bẩn khác nhau theo từng đặc trưng của đối tượng nuôi
và điều kiện tự nhiên Sự tự ô nhiễm cùng với các nguồn ô nhiễm từ lục địa, từ các hoạt động phát triển kinh tế biển… là những nguyên nhân quan trọng làm cho chất lượng nước biển khu vực nuôi bị suy giảm và ô nhiễm
Trang 151.4.3 Chất lượng môi trường khu vực nuôi nhuyễn thể bãi triều
Các khu vực nuôi bãi triều thuộc vùng cửa sông nên chất lượng môi trường bị ảnh hưởng và phụ thuộc lớn vào nguồn gây ô nhiễm từ lục địa đưa ra, cùng với quá trình tự ô nhiễm trong hoạt động nuôi làm cho môi trường khu vực nuôi hải sản bị suy giảm
Hàm lượng muối dinh dưỡng ở khu vực này khá cao: ô nhiễm NH4+
xảy ra
ở khu vực Thái Bình-Nam Định với hàm lượng trung bình vượt GHCP(0,05mg/l) hơn 1,0 lần, hàm lượng muối dinh dưỡng trong nước cao như N-NO3
-(TB các năm 0,021-0,051mg/l), P-PO4
3-(0,016-0,020mg/l), 1,155mg/l) Khu vực Bình Đại (Bến Tre) mức độ nhiễm bẩn môi trường nước biển thấp hơn, ô nhiễm N-NO2- xảy ra ở hầu hết các điểm quan trắc trong khu vực với hàm lượng N-NO2- trung bình vượt GHCP 3,0 lần; hàm lượng N-NO3-
Nts(0,386-trung bình 0,027mg/l cao hơn cùng thời gian năm trước
Theo tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước biển ven bờ Môi trường nước nuôi nhuyễn thể bị ô nhiễm bởi Zn với hàm lượng thường xuyên vượt GHCP từ 2,2 - 3,1 lần; hàm lượng Cu trung bình tại Thái Bình - Nam Định (vượt GHCP 1,2 lần) và có xu hướng tăng Các thông số còn lại có hàm lượng thấp hơn GHCP, tuy nhiên những thông số có độ độc cao như Hg, As tại khu vực Thái Bình - Nam Định, Bến Tre so với những năm trước có xu hướng tăng
rõ rệt Khu vực trên đã bị ô nhiễm bởi Fets; hàm lượng khá cao và vượt GHCP(0,1mg/l) từ 1,6 - 4,4 lần
GHCP bảo vệ động vật thủy sinh của một số nước Hàm lượng 4,4’-DDD dao động trong khoảng 2,23 - 163,34ng/l cao hơn GHCP của Mỹ; 4,4’-DDT từ 0,100-128,56ng/l; 4,4’-DDE là 0,96ng/l và Lindan 92,99ng/l vượt GHCP của Indonesia và Philipines khoảng 23,2 lần Khu vực Bến Tre ô nhiễm HCBVTV mức thấp hơn, chỉ gặp giá trị bất thường tại một số điểm với hàm lượng HCBVTV cao lên đến 222,60ng/l; trong đó hàm lượng 4,4’-DDT là 98,95ng/l; Dieldrin là 96,55ng/l vượt GHCP theo tiêu chuẩn của Malaysia khoảng 4,8 lần
1.5 Tiềm năng phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo
1.5.1 Diện tích nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng lớn về diện tích nuôi biển và hải đảo, diện tích có khả năng sử dụng phát triển nuôi biển bao gồm các vùng vịnh kín, bãi triều ven biển, và một phần ở các hải đảo, vùng biển hở Tổng diện tích tiềm năng nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo ở nước ta khoảng 244.190 ha, trong đó diện tích nuôi vùng bãi triều ven biển 153.300 ha, chiếm 62%; diện tích nuôi vùng vũng vịnh, eo ngách và ven đảo là 79.790 ha, chiếm 33% và nuôi vùng biển hở 11.100 ha, chiếm 5% (nguồn thống kê từ các tỉnh ven biển)
1.5.2 Đối tượng phát triển nuôi trồng hải sản
Biển Việt Nam rất phong phú về thành phần giống loài, tất cả các đối tượng phân bố tự nhiên ở vùng biển nước ta đều là đối tượng tiềm năng để đưa vào phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Một số đối tượng chính
Trang 16được đưa vào phát triển như sau: nhóm nhuyễn thể gồm các loài: ngao, sò, hàu, vẹm xanh, tu hài, bào ngư, trai ngọc, ốc hương, hải sâm,… ; nhóm cá biển: các loài cá song, cá giò, cá hồng mỹ, cá vược, cá tráp, cá chim vây vàng, cá ngừ, cá măng biển …; nhóm giáp xác: chủ yếu nuôi tôm hùm; cua, ghẹ ; rong biển gồm các loài rong sụn, rong câu, rong mứt, rong nho,…
2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
2.1 Dân số và cơ cấu dân số
Theo thống kê, các tỉnh ven biển năm 2010 có 44.721,3 nghìn người chiếm 53,2 % tổng dân số toàn quốc, trong đó phân theo giới tính Nam chiếm 48,9%, Nữ chiếm 51,1% Dân số sinh sống tập trung ở nông thôn chiếm 69,7%,
có 30,3% số dân sống ở thành thị (trung bình toàn quốc dân số Nam chiếm 49,1%, dân số nữ chiếm 50,9%; dân số thành thị chiếm 27,1%, dân số nông thôn chiếm 72,9%) Trong giai đoan 2000-2010, tỷ lệ gia tăng dân số các tỉnh ven biển là 1,25%/năm, hai vùng có tỷ lệ tăng cao nhất và vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ
Đánh giá tác động của dân số đến nền kinh tế nói chung và ngành thủy sản nói riêng , trong đó có hoa ̣t đô ̣ng nuôi trồng hải sản Theo đánh giá c ủa các nhà kinh tế, nếu dân số tăng trưởng 1% thì nền kinh tế phải tăng tương ứng 4% mới bảo đảm phát triển ổn định và bền vững Kết quả tính toán cho thấy, với mức tăng trưởng dân số chung toàn quốc giai đoạn 2000-2010 ở mức 1,31%/năm, trong khi đó tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cùng giai đoạn tăng trưởng bình quân 7,01%/năm hoàn toàn không ảnh hưởng đến nền kinh tế đất nước (trong đó có ngành thủy sản) Ngoài ra, việc tăng trưởng dân số còn tác động mạnh đến nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm thủy sản từ nuôi trồng và khai thác trên toàn quốc, đây sẽ là điều kiện rất tốt để quy hoạch phát triển NTHS ở Việt Nam đến năm 2020
2.2 Lao động và cơ cấu lao động
Theo Tổng cục Th ống kê, năm 2010 toàn quốc có khoảng 49,02 triệu lao động trong độ tuổi, chiếm 55,74% tổng dân số toàn quốc Trong đó, lao động ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51,26% (riêng lao động thủy sản chiếm 7,13% toàn ngành nông nghiệp và 3,65% tổng số lao động toàn quốc), lao động ngành công nghiệp-xây dựng chiếm 22,21%, lao động ngành dịch vụ chiếm 26,53% tổng lao động toàn quốc
Về tốc độ tăng trưởng lao động ở Việt Nam giai đoạn qua tăng bình quân toàn quốc tăng 2,77%/năm, trong đó nhóm lao động ngành công nghiệp - xây dựng có mức tăng trưởng cao nhất (cao gấp 2,5 lần so với mức tăng trưởng lao động toàn quốc), kế tiếp là nhóm ngành di ̣ch v ụ có mức tăng trưởng bình quân
đa ̣t 4,24%/năm (cao gấp 1,53 lần so với mức tăng trưởng bình quân toàn quốc ), tiếp theo là nhóm ngành thủy sản đa ̣t mức tăng trưởng bình quân 3,73%/năm (cao gấp 1,36 lần so với mức tăng trưởng lao động toàn quốc), đứ ng ở vi ̣ trí cuối cùng là nhóm ngành nông , lâm nghiệp đa ̣t mứ c tăng trưởng bình quân 0,57%/năm
Trang 17Bảng 1: Hiện trạng lao động phân theo ngành kinh tế GĐ 2005-2010
Đvt: Nghìn người
Toàn quốc 42.774,90 45.208,00 47.743,60 49.026,40 2,77%
Tỷ trọng % 100 100 100 100
1 Nông nghiệp, lâm nghiệp và TS 24.424,00 24.369,40 24.788,50 25.129,30 0,57%
Tỷ trọng % so với toàn quốc 57,1 53,91 51,92 51,26
Tỷ trọng % so với toàn quốc 24,7 26,12 26,54
(N guồn: Niên giám thống kê-Tổng cục thống kê năm 2010)
Năng suất lao động của ngành nông, lâm nghiệp ở mức thấp hơn các ngành kinh tế khác Tuy nhiên, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân của ngành này lại cao nhất so với các ngành khác, bình quân giai đoạn 2000-2010 tăng 15,6%/năm (trong khi đó toàn quốc tăng có 13,79%, công nghiệp-xây dựng tăng có 6,64%, ngành dịch vụ tăng 9,11%) Riêng ngành thủy sản tăng trưởng bình quân 10,56%/năm (cao hơn nhóm ngành công nghiệp-xây dựng khoảng 1,6 lần, cao hơn nhóm ngành dịch vụ khoảng 1,15 lần, và bằng 0,8 lần so với mức tăng năng suất bình quân lao đô ̣ng toàn quốc)
Bảng 2: Hiện trạng năng suất lao động phân theo ngành kinh tế GĐ 2005-2010
(Nguồn: Niên giám thống kê-Tổng cục thống kê năm 2010)
Tính đến năm 2010 cả nước có 44.171.900 lao động, trong đó lao động nông, lâm nghiệp là 22.176.400 lao động chiếm 61,7% lao động toàn quốc, lao động thủy sản là 1634,4 nghìn người chiếm 3,7% lao động toàn quốc (lao động thủy sản các tỉnh ven biển là 1.548,06 nghìn người chiếm 3,5% lao động toàn quốc và 94,72% lao động toàn ngành thủy sản
Đánh giá chung về lao động ở Việt Nam: Nguồn nhân lực nước ta được đánh giá là rất dồi dào nhưng lại thiếu trầm trọng về lực lượng lao động có kỹ thuật, chất lượng Nhìn chung lao động của các ngành kinh tế có khả năng sáng tạo
và tiếp thu nhanh những kỹ thuật, công nghệ hiện đại được chuyển giao từ bên ngoài nhưng lại thiếu tính chuyên nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động chưa
Trang 18cao Theo thống kê, năm 2010 toàn quốc có trên 49 triệu lao động, trong đó ¾ là lao động nông thôn và hiện mới chỉ có 32% số lao động đã qua đào tạo (trong đó tỷ
lệ lao động đã có chứng chỉ đào tạo ngắn hạn là 14,4%), còn lại trên 70% là chưa qua đào tạo, đây cũng là vấn đề nan giải của lao động Việt Nam trong thời gian tới Nếu muốn nền kinh tế phát triển, đưa nông thôn, vùng biển và hải đảo bắt kịp nhịp
độ với các vùng miền khác đòi hỏi công tác đào tạo nguồn lao động cho khu vực nông thôn, vùng biển và hải đảo cần phải đặt lên hàng đầu và cần có sự tham gia của toàn xã hội cho công tác này
2.3 GDP và cơ cấu GDP
Theo Niên giám thống kê-Tổng cục thống kê, năm 2009 toàn quốc đạt 1.653,4 nghìn tỷ đồng (giá thực tế), và ước tính năm 2010 GDP toàn quốc đa ̣t 1.831,7 nghìn tỷ đồng tăng 118,2% so vớ i năm 2005 Trong đó, khối nông - lâm
- thủy sản chiếm 20,91% (riêng thủy sản chiếm 17,81% tổng GDP toàn ngành nông nghiệp và 3,72% GDP toàn quốc), ngành công nghiệp-xây dựng chiếm 40,24%, và ngành dịch vụ chiếm 38,85% tổng GDP chung toàn quốc
Về tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 (giá so sánh) cho thấy, bình quân chung toàn quốc tăng 7,01%/năm Trong đó, khối nông, lâm thủy sản tăng trưởng bình quân 4,13%/năm (thấp hơn mức tăng bình quân chung toàn quốc 2,88%), khối công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 7,76%/năm (cao gấp 1,1 lần so với mức tăng bình quân chung toàn quốc), ngành dịch vụ có mức tăng trưởng bình quân 7,58%/năm (cao gấp 1,08 lần so với mức tăng trưởng bình quân chung toàn quốc) Thủy sản tuy chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ khoảng 2,58% tổng GDP chung toàn quốc, tuy nhiên ngành thủy sản có mức tăng trưởng bình quân khá cao khoảng 6,95%/năm (cao gần bằng mức tăng bình quân toàn quốc, và cao gấp 1,7 lần so với mức tăng bình quân của ngành nông, lâm nghiệp)
Bảng 3: Hiện trạng GDP toàn quốc giai đoạn 2005-2010 (giá so sánh 1994)
Trang 19Năm 2010: GDP thủy sản của các tỉnh ven biển là 31.810 tỷ đồng chiếm 83% so với GDP thủy sản cả nước, cao nhất là các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL với khoảng 19.714 tỷ đồng chiếm 51,4% trong GDP của ngành thủy sản, thứ hai là các tỉnh ven biển Nam Trung bộ với khoảng 5.420 tỷ đồng chiếm khoảng 14,1% GDP thủy sản toàn quốc và thấp nhất là các tỉnh ven biển ĐBSH chỉ với khoảng 2.185 tỷ đồng, chiếm 5,7% GDP toàn ngành thủy sản, các tỉnh ven biển Bắc Trung bộ và Đông Nam bộ chiếm tỷ trọng lần lượt khoảng 7,4 và 7,5% trong tổng GDP toàn ngành thủy sản
2.4 Vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
2.4.1 Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư
Theo Tổng cục Thống kê , năm 2009 toàn quốc đầu tư trên 700 nghìn tỷ đồng, và ước tính năm 2010 đầu tư khoảng trên 800 nghìn tỷ đồng , trong đó ngành nông , lâm nghiê ̣p chiếm 4,64%, ngành công nghiệp -xây dựng chiếm 40,82%, ngành dịch vu ̣ chiếm 53,06% Riêng vốn đầu tư toàn ngành thủy sản chiếm 31,95% tổng vốn đầu tư toàn ngành nông , lâm nghiê ̣p và 1,48% tổng vốn đầu tư Toàn quốc
Về tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư giai đoa ̣n 2005-2010 cho thấy , toàn quốc tăng bình quân 18,47%/năm, trong đó tăng trưởng cao nhất là ngành di ̣ch
vụ bình quân tăng 19,93%/năm (cao gấp 1 lần so với mức tăng bình quân toàn quốc); ngành công nghiệp -xây dựng tăng bình quân 17,48%/năm (bằng 0,9 lần
so với mức tăng bình quân toàn quốc ), ngành nông , lâm nghiê ̣p có mức tăng bình quân thấp nhất khoảng 13,09%/năm (thấp hơn mức tăng b ình quân chung toàn quốc 5,4%/năm) Riêng ngành thủy sản tăng trưởng bình quân 13,09%/năm (thấp hơn mứ c TTBQ toàn quốc khoảng 2,6%/năm và cao hơn mức tăng bình quân toàn ngành nông, lâm nghiê ̣p khoảng 2,83%/năm)
Bảng 4: Hiện trạng vốn đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 (giá thực tế)
Trang 202.4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ICOR
Thực tế cho thấy , vốn đầu tư cho ngành nông , lâm nghiê ̣p và thủy sản chưa tương xứng so với sự phát triển của ngành , đặc biê ̣t là ngành thủ y sản chiếm tỷ tro ̣ng rất nhỏ trong cơ cấu vốn đầu tư toàn quốc Tuy nhiên, hiê ̣u quả sử du ̣ng vốn đầu tư la ̣i rất cao bình quân giai đoa ̣n 2005-2010 để tạo ra 1 đồng GDP ngành thủy sản chỉ phải bỏ ra 1,86 đồng, trong khi đó ngà nh nông, lâm nghiê ̣p là 1,16 đồng, ngành công nghiệp -xây dựng là 3,14 đồng, ngành dịch vụ
là 4,04 đồng Đây cũng là mô ̣t căn cứ khoa ho ̣c để cho Chính phủ , Bộ NN&PTNT cân đối nguồn vốn đầu tư cho ngành thủy sản trong thời gian tới sao cho tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành thủy sản, đă ̣c biê ̣t là lĩnh vực nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo đến năm 2020
Bảng 5: Hiện quả sử dụng vốn đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010
Trang 21PHẦN II:
HIỆN TRẠNG NUÔI TRỒNG HẢI SẢN TRÊN VÙNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
1 Hiê ̣n tra ̣ng về diện tích, sản lượng nuôi biển
Trong giai đoạn 2005-2010, nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo đã có những bước phát triển đáng kể, diện tích và sản đã không ngừng phát triển
- Tổng diện tích nuôi tr ồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam năm
2005 là 34.174 ha, đến năm 2010 tăng lên đạt 38.800 ha (đạt TĐ TTBQ giai đoạn 2005-2010 là 2,61%/năm), trong đó: tốc độ tăng trưởng nuôi vùng biển hở
là 15,4%/năm, diện tích nuôi vịnh, đảo và eo ngách tăng bình quân là 4,86%/năm; diện tích nuôi bãi triều ven biển là 1,8%/năm
- Sản lượng NTHS trên biển và hải đảo trong giai đoạn năm 2005-2010 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm về sản lượng 5,1%/năm, trong đó cá biển tăng 38,1%/năm, nhuyễn thể 5,1%/năm, giáp xác tăng 27,2%, rong biển giảm 1,8%/năm
Bảng 6: Diện tích, sản lượng NTHS trên biển và hải đảo của Việt Nam
1 Diện tích nuôi biển (ha) 34.174 37.194 38.689 38.880 2,61
Nuôi vũng, vịnh, ven đảo 8.581 8.442 8.213 10.879 4,86 Nuôi bãi triều ven biển 25.593 28.752 30.463 27.986 1,80
(Nguồn: Thống kê từ các sở NN&PTNT các tỉnh)
Các đối tượng hải sản được nuôi trồng chủ yếu trên vùng biển và hải đảo Việt Nam trong giai đoạn năm 2005-2010 là: các loài cá biển, nhuyễn thể, tôm hùm, cua, ghẹ và rong biển ; trong đó đối tượng chính là các loài cá biển (cá song, cá giò, cá vược, cá hồng mỹ, ) và nhuyễn thể ( ngao, hàu, sò, tu hài…)
Trang 222 Hiện trạng phát triển các đối tượng nuôi biển
2.1 Cá biển
- Đối tượng nuôi: Các đối tượng các biển được nuôi chủ hiê ̣n nay bao
gồm cá song, cá giò, cá cam, chép biển, tráp đỏ, Hồng Mỹ, cá vược, đối mục, cá dìa, cá chim vây vàng… Trong đó đối tượng cá song, cá giò, cá vược được xem
là một trong những đối tượng được nuôi phố biến nhất Riêng khu vực Quần đảo Trường Sa chủ yếu nuôi được cá chim trắng, cá hồng và cá vược mõn nhọn
- Số lượng lồng, bè nuôi cá biển: Trong giai đoạn năm 2005-2010, số
lượng lồng, bè nuôi cá lồng liên tục tăng Tổng số ô lồng năm 2005 là 13.172 ô lồng, đến năm 2010 đạt 30.031 ô lồng; số ô lồng tăng bình quân năm trong giai đoạn năm 2005-2010 đạt 17,92%/năm Số bè nuôi năm 2005 là 1.461 bè, tăng lên 2.142 bè năm 2010 (đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,96%/năm)
Trong năm 2010, có 1.019 bè cá nuôi ở khu vực vùng biển vịnh Bắc bộ (chủ yếu ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa và Nghệ An), 630 bè ở vùng biển miền Trung (Chủ yếu Phú Yên, Khánh Hòa và một ít ở Ninh Thuận), 140
bè ở vùng biển Đông Nam Bộ (chủ yếu ở Bình Thuận và Bà Rịa-Vũng Tàu) và
353 bè ở Tây Nam Bộ (chủ yếu ở Kiên Giang) Khu vực cụm đảo Đá Tây-Quần đảo Trường Sa-Khánh Hóa đã nuôi 8 lồng công nghiệp kiểu Nauy cải tiến (thể tích 218 m3/lồng), các đối tượng nuôi: cá vược mõn nhọn, cá chim trắng Các vùng nuôi cá biển tập trung ở huyện đảo Vân Đồn (xã Hạ Long, Bến Bèo), thị trấn Cô Tô, Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh); đảo Cát Bà (Hải Phòng); đảo Nghi Sơn (Thanh Hóa); vùng Lạch Cờn, đảo Ngư (Nghệ An); Đầm Lăng Cô, Cầu Hai (Thừa Thiên –Huế); đảo Cùa Lao Chàm (Quảng Nam); đầm Thị Nại, đầm Cù Mông (Bình Định); vịnh Xuân Đài-Sông Cầu (Phú Yên); vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa); Đầm Nại (Ninh Thuận); xã Vĩnh Tân-Tuy Phong, huyện Đảo Phú Quý (Bình Thuận); bán đảo Long Sơn và huyện Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu); xã Nam Du-Huyện Kiên Hải, Quần đảo Bà Lụa-huyện Kiên Lương, Quần đảo Thổ Châu, Phú Quốc (Kiên Giang)
- Sản lượng cá biển nuôi: Năm 2005 sản lượng nuôi cá biển đạt 3.141
tấn, đêna năm 2010 sản lượng tăng lên 15.751 tấn (đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 38,1%/năm) Năm 2010 tổng sản lượng cá biển là 15.751 tấn, trong đó cá song 7.786 tấn (chiếm 49%), cá giò 4.734 tấn (chiếm 30%), cá vược 1.096 tấn (chiếm 7%), cá biển khác 2.135 tấn (chiếm 14%) Riêng khu vực nuôi cá biển của Úc (ở vịnh Nha Trang) năm 2010 đã nuôi gần 3.000 tấn cá biển (chủ yếu cá giò, song)
Bảng 7: Diễn biến số lồng, bè nuôi cá biển trên biển biển và hải đảo Việt Nam
Trang 232.2 Nhuyễn thể
Các đối tượng nhuyễn thể được nuôi trên biển và hải đảo chủ yếu là:
nghêu bến tre, ngao dầu, ngao vân, vẹm xanh, ốc hương, sò huyết, sò lông, tu hài, hàu cửa sông, Hầu Thái Bình Dương, Điệp,
- Ngao/nghêu chủ yếu nuôi khu vực phía bắc và bắc trung bộ, tập trung nhiều ở Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Binh, Thanh Hóa; nuôi ở vùng biển Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh
- Sò Lông, sò huyết được nuôi hàu hết các tỉnh ven biển nước ta, nhưng tập trung nhiều ở vịnh Kiêng Giang và vịnh Bắc Bộ (khu vực Quảng Ninh)
- Hàu được nuôi nhiều ở khu vực cửa sông Chanh (Yên Hưng), Vân Đồn (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng); Quỳnh Lưu (Nghệ An), Lăng Cô (Thừa Thiên-Huế), Đầm Nha Phu (Khánh Hòa), Bán đảo Long Sơn (Bà Rịa Vũng Tàu), huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh)
- Bào ngư, tu hài được nuôi nhiều ở khu vực Vân Đồn, Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Nha Trang (Khánh Hòa), vịnh Kiên Giang
Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm về số lượng bè nuôi nhuyễn thể tăng 35,33%/năm, trong đó năm 2005 chỉ có 130 bè, nhưng đến năm 2010 đã lên đến 590 bè
Nuôi nhuyễn thể chủ yếu ở các mô hình nuôi bãi, năm 2005 toàn quốc đưa vào khai thác vùng bãi triều để nuôi nhuyễn thể khoảng 17.583 ha (chủ yếu để nuôi ngao), đến năm 2010 đã lên đến 22.942 ha, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm 3,11%/năm Diện tích nuôi nhuyễn thể năm 2010, ở khu vực ven biển Bắc Bộ là 7.420 ha, Bắc Trung Bộ là 1.040 ha, Nam trung Bộ là 461 ha, Đông Nam Bộ là 1.251 ha và ở Tây Nam Bộ là 15.003 ha
Bảng 8: Hiện trạng nuôi nhuyễn thể trên biển và hải đảo Việt Nam
Trang 242.3 Giáp xác
2.3.1 Nuôi tôm hùm
Nghề nuôi tôm hùm hiện nay phát triển mạnh ở 5 tỉnh bao gồm: Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Trong đó, Khánh Hòa là tỉnh có nghề nuôi tôm hùm phát triển sớm nhất, tiếp theo là tỉnh Phú Yên và sau
đó phát triển ra các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận
Bên cạnh mặt tích cực, nghề nuôi tôm hùm lồng phát triển nhanh chóng trong khi quy hoạch vùng nuôi chưa theo kịp đã dẫn đến hiện tượng ô nhiễm môi trường khu vực nuôi và dịch bệnh trên tôm hùm xuất hiê ̣n tại các tỉnh miền Trung năm 2007 và làm cho nghề nuôi tôm hùm hiện nay bị suy giảm
Bảng 9: Số lồng và sản lượng tôm hùm nuôi trong giai đoạn 2005-2010
Năm Đơn vị tính B.Định Phú Yên K Hòa N.Thuận B Thuận Tổng
(Nguồn: Thống kê từ các sở NN&PTNT các tỉnh)
Kính cỡ lồng nuôi tôm thương phẩm: Lồng nổi có kích cỡ được sử dụng phổ biến nhất là lồng có kích cỡ 4 x 4 x (5-6) m Lồng chìm có kích cỡ dao động trong khoảng (3,5-5) x (3,5-5) x (1,5-6) m, được sử dụng nhiều nhất 4 x 4x 4m Lồng găm có kích cỡ dao động dao động từ (3,5- 4,1) x (3,5-4,2) x (1,6- 4,8) m, phổ biến nhất là 4 x 4 x 4m Kích cỡ lồng ương tôm giống (3- 4) x(3-4)x(4-5)m Các loài tôm hùm được nuôi phổ biến tại 5 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuân là: tôm hùm bông, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ và tôm hùm tre Theo số liệu thống kê tổng hợp 5 tỉnh, tôm hùm bông là loài nuôi chủ yếu (chiếm 74,2%), tiếp theo là tôm hùm xanh (chiếm 22,7%), còn lại tôm hùm tre và tôm hùm đỏ nuôi không đáng kể (tương ứng 1,9% và 1,2%) Mật độ ương nuôi tôm giống: Lồng chìm, có mật độ chênh lệch lớn: Mật
độ ương lớn nhất (44 con/m2
), nhỏ nhất (17 con/m2) Lồng nổi: Mật độ ương cao nhất (31 con/m2), mật độ ương thấp nhất (25 con/m2) Khi tôm lớn hơn thực hiện san sang lồng khác để giảm mật độ
Nuôi thương phẩm: Lồng nổi mật độ nuôi lớn nhất (10 con/m2), mật độ nuôi nhỏ nhất (4 con/m2) Lồng chìm: mật độ nuôi cao nhất (7 con/m2), mật độ nuôi thấp nhất (5 con/m2) Lồng găm: mật nuôi cao nhất (6 con/m2) nuôi thấp nhất (4 con/m2) Năng suất đạt trung bình 60 kg/lồng
Trang 25Bảng 10: Cơ cấu thành phần loài tôm hùm nuôi tại các tỉnh Nam Trung Bộ
Tôm hùm tre
(Nguồn: Thống kê từ các sở NN&PTNT các tỉnh)
Tôm hùm hiện nay được nuôi trong các lồng, cho ăn bằng thức ăn tươi sống dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường và con giống thả nuôi thương phẩm còn lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên
2.3.2 Nuôi cua, ghẹ:
Hiện nay cua, ghẹ được nuôi nuôi ghép với các đối tượng khác trên lồng
bè Những năm gần đây do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng, nên cùng với nghề khai thác ghẹ tự nhiên, nghề nuôi ghẹ đã phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước, tuy nhiên nguồn con giống chủ yếu vẫn còn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên
Nguồn cua giống trước kia phục vụ cho nuôi thương phẩm chủ yếu là thu gom từ tự nhiên nên diện tích nuôi cua thương phẩm còn nhỏ lẻ và bị hạn chế
Từ năm 1998, Trung Tâm Nghiên cứu Thủy sản III (nay là Viện Nghiên cứu thủy sản III) đã thực hiện đề tài Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy
trình kỹ thuật sản xuất giống cua xanh loài Scylla serrata., ghẹ xanh (Portunus pelagicus) đã đạt được một số kết quả quan trọng, tạo cơ sở để mở rộng nghề
nuôi cua, ghẹ ở Việt Nam
Từ năm 2002 trở lại đây, nhờ tiến bộ khoa học trong việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cua, ghẹ đã chuyển giao tại nhiều địa phương nên đã góp phần vào việc phát triển nuôi cua, ghẹ thương phẩm hiên nay
Hình thức nuôi cua, ghẹ trong lồng trên biển hiên nay còn hạn chế
2.4 Rong biển
Đối tượng trồng rong biển ở nước ta chủ yếu là rong sụn và tập trung ở khu vực biển Nam Trung Bộ Tổng diện tích trồng năm 2005 đạt 1.030 ha, nhưng sau đó giảm dần theo năm và xuống còn 230 ha năm 2010, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân năm về diện tích trồng giảm 25,91%/năm
Nguyên nhân chủ yếu do việc trồng rong sụn không có thị trường đầu ra
ổn định, thời tiết diễn biến phức tạp, đặc biệt vào mùa sương mù, sương muối
Trang 26Bảng 11: Diễn biến trồng rong trên biển ở Việt Nam
Sản lượng Tấn 21.795 12.744 11.369 11.700 (11,7)
(Nguồn: Thống kê từ các sở NN&PTNT các tỉnh)
3 Giá trị sản lượng nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Việt Nam
Giá trị sản lượng từ NTHS trên biển và hải đảo nước ta luôn tăng dần theo thời gian và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm tăng 19%/năm của toàn giai đoạn năm 2005-2010, trong đó cá biển có tốc độ tăng trưởng mạnh so với các đối tượng nuôi trên biển và hải đảo và đạt 45,6%/năm, nhóm nhuyễn thể 20,4%/năm, cua biển 83,3%/năm Riêng đối với tôm biển (chủ yếu tôm hùm) có tốc độ tăng trưởng bình quân giảm 2,5%/năm, rong biển giảm 11,7%/năm Trong năm 2005 toàn quốc chỉ đạt 2.391 tỷ đồng từ nuôi hải sản trên biển và hải đảo, nhưng đến năm 2010 tăng lên 5.699,6 tỷ đồng
Riêng năm 2010, cá biển chiếm 28,4% trong tổng giá trị hải sản nuôi trên biển và hải đảo, nhuyễn thể chiếm 52%/năm, tôm biển 14,7%, cua biển 4,7%, còn lại là nhóm rong biển và các đối tượng khác
Bảng 12: Giá trị sản xuất trong NTHS trên biển và hải đảo Việt Nam
(Nguồn: Thống kê từ các sở NN&PTNT các tỉnh)
4 Dịch vụ hậu cần phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo
4.1 Hiện trạng về sản xuất và cung ứng giống hải sản
4.1.1 Tình hình sản xuất và cung ứng giống nhuyễn thể:
Các đ ối tượng nhuyễn thể hiê ̣n nay đang được nuôi chủ yếu là ngao, nghêu Bến Tre, hàu Thái Bình Dương, tu hài, ốc hương Đây là những đối tượng
đã có công nghệ sản xuất giống Số trại sản xuất giống tăng từ 136 trại năm
2006 lên 180 trại năm 2010 Sản lượng giống nhuyễn thể cũng tăng từ 2.046
Trang 27triệu con năm 2006 lên 3.788 triệu con năm 2010 Số trại giống và sản lượng giống nhuyễn thể luôn cao nhất ở vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung
Ngoài ra, có một số lượng giống nhuyễn thể được nhập từ Trung Quốc đưa vào nuôi ở các tỉnh phái Bắc nhưng không rõ xuất xứ Giống hàu Thái Bình Dương và tu hài cung cấp cho người nuôi đều từ sinh sản nhân tạo Vùng nuôi chính tập trung ở Quảng Ninh, Hải Phòng nhưng các trại giống ở vùng này không cung cấp đủ nên hiện nay giống được sản xuất rất nhiều ở Khánh Hòa, Phú Yên đưa ra
- Giống nghêu, ngao: Nghêu đã được đưa vào nuôi rất mạnh ở các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt là Bến Tre, Cà Mau, Tiền Giang và một số tỉnh ven biển phía Bắc như Thái Bình, Nam Định Nguồn con giống cung cấp chủ yếu từ khai thác
tự nhiên Tuy nhiên, hiện nay một số địa phương đang nhập công nghệ sản xuất giống nghêu nhân tạo bước đầu thành công như Tiền Giang, Bến Tre, Thái Bình, Nam Định Bên cạnh đó, nhiều địa phương cũng đã xây dựng được chiến lược bảo vệ bãi nghêu giống cho địa phương mình như ở Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Trà Vinh Lượng ngao, nghêu giống tự nhiên của Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau cung cấp cho nhu cầu nuôi ở các địa phương phía Bắc Một số vùng ở Nam Định, Thái Bình đang hình thành nghề ương giống ngao trong ao từ ngao cám vớt tự nhiên rất hiệu quả
- Giống ốc hương: được sản xuất chủ yếu ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Khánh Hoà và Ninh Thuận Nhu cầu giống cũng khá lớn vì phần lớn diện tích ao nuôi tôm không hiệu quả ở vùng ven biển đã chuyển sang nuôi ốc hương tuy nhiên, chất lượng giống ốc hương đều chưa được kiểm soát
- Giống sò huyết: nuôi sò huyết khá mạnh ở vùng biển Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, tuy vậy con giống vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào khai thác từ tự nhiên, chưa sản xuất giống nhân tạo Một số tỉnh cũng bắt đầu khoanh vùng bảo
vệ các bãi sò huyết phân bố tự nhiên, cấm khai thác trong mùa sinh sản như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Phú Yên, Bình Định
- Giống trai ngọc: cũng được nuôi khá phổ biến ở vùng biển vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh, Hải Phòng) và đang được phát triển nuôi ở Kiên Giang, nhưng mức độ nuôi còn rất hạn chế, do chưa chủ đô ̣ng được con giống
- Giống tu hài: nuôi tu hài phát triển mạnh ở vùng vịnh Vân Đồn - Quảng Ninh) và đang nuôi ở một số tỉnh ven biển miền Trung Hiện nay sản xuất giống
đã hoàn thiện công nghệ và chủ động cung cấp đủ giống cho nhu cầu phát triển nuôi thương phẩm
- Giống hàu Thái Bình Dương: nuôi hàu đang được phát triển ở nhiều địa phương ven biển, nhưng tập trung nhất ở Quảng Ninh Hiện nay đã sản xuất được giống bằng sinh sản nhân tạo nhưng số lượng chưa nhiều Công nghệ sản xuất giống hàu tam bội đã được Viện Nghiên cứu NTTS III nhập và đang triển khai ứng dụng sẽ góp phần tạo được giống có chất lượng và chủ động sản xuất giống cho nhu cầu nuôi
Trang 284.1.2 Tình hình sản xuất và cung ứng giống cá biển
Việc sản xuất giống cá biển đòi hỏi hệ thống hạ tầng rộng lớn, quy trình
kỹ thuật sản xuất đòi hỏi nghiêm ngặt , mức đầu tư cao, nên số lượng cơ sở sản xuất giống cá biển còn rất hạn chế Đến năm 2010 có khoảng 30 cơ sở tham gia san xuất cá biển với số giống sản xuất được hàng năm đạt 30 triệu con Các vùng sản xuất giống cá biển chủ yếu là ven biển vịnh Bắc bộ (Quảng Ninh, Hải Phòng) và vùng ven biển miền Trung (Khánh Hòa) Đối tượng sản xuất chủ yếu là: cá giò, cá song, cá vược (chẽm), cá Hồng Mỹ, cá chim, Trường Đại học thủy sản Nha Trang, Trung tâm quốc gia giống hải sản miền Trung mỗi năm sản xuất được 4-5 triệu giống cá chẽm cung cấp cho các tỉnh miền trung và miền Nam Viện nghiên cứu NTTS I sản xuất và cung cấp giống cho người nuôi các tỉnh ven biển miền Bắc mỗi năm vài triệu con giống cá song, cá Hồng Mỹ, cá chẽm và cá giò Nhiều đối tượng đang phát triển nuôi nhưng chưa sản xuất được giống mà phải sử dụng giống tự nhiên
Tồn tại trong sản xuất giống cá biển: Tuy đã có công nghệ sản xuất giống của 6 loài nhưng thực sự mới đưa vào sản xuất được 5 loài Trừ đối tượng cá vược đã được nhiều trại sản xuất, 4 loài còn lại cũng chỉ mới được sản xuất trong cơ sở của các Viện nghiên cứu, trường Đại học và một số ít các doanh nghiệp vì công nghệ phức tạp, đầu tư tốn kém nhưng lợi nhuận thấp, rủi ro lớn nên chưa thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp hay ngư dân
Nhà nước tuy đã có những chủ trương chính sách khuyến khích phát triển nuôi biển nhưng chưa đầu tư cho nhiều đề tài nghiên cứu để giải quyết dứt điểm trong một thời gian ngắn làm chủ công nghệ sản xuất giống một số loài có giá trị kinh tế cao
Chưa có đàn cá bố mẹ để sản xuất ra một lượng lớn cá giống chất lượng tốt giá thành hạ Thời gian thực hiện các đề tài nghiên cứu ngắn trong 3-4 năm khó làm chủ công nghệ sản xuất giống một số đối tượng Công nghệ sản xuất giống một số loài đã chủ động được thì chưa được phổ biến rộng rãi, chưa được
xã hội hóa để khích lệ mọi người sản xuất
Một số loài được đầu tư nhập công nghệ nhưng sau đó không có sự tiếp nối để duy trì, tuyển chọn bổ sung và quản lý chất lượng đàn bố mẹ dễ dẫn đến công nghệ nhập xong là kết thúc Muốn phổ biến, chuyển giao công nghệ thì không có cá bố mẹ Một số đề tài nghiên cứu công nghệ sản xuất giống trong nước thành công nhưng không được tiếp tục nghiên cứu chất lượng di truyền (cá giò) dễ dẫn đến thoái hóa
4.1.3 Tình hình sản xuất và cung ứng giống giáp xác
Giống giáp xác cung cấp cho nuôi biển chủ yếu từ nguồn giống khai thác
tự nhiên và ản xuất giống nhân tao
- Đối với giống tôm hùm: Hiện nay ta chưa chủ động được công nghệ sản xuất giống tôm, giốn hùm phục vụ cho nuôi thương phẩm còn lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên
Trang 29- Giống cua, ghẹ hiện nay được cung cấp từ hai nguồn thu ngom ngoài tư nhiên và nguồn giống từ sản xuất nhận tao Nguồn cua giống trước kia phục vụ cho nuôi thương phẩm chủ yếu là thu gom từ tự nhiên nên diện tích nuôi cua thương phẩm còn nhỏ lẻ và bị hạn chế Từ năm 1998, Trung Tâm Nghiên cứu Thủy sản III (nay là Viện Nghiên cứu thủy sản III) đã thực hiện đề tài Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cua xanh
loài (Scylla serrata), ghẹ xanh (Portunus pelagicus)” Từ năm 2002 trở lại đây,
nhờ tiến bộ khoa học trong việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cua, ghẹ đã chuyển giao tại nhiều địa phương nên đã góp phần vào việc phát triển nuôi cua thương phẩm hiên nay Cua giống sinh sản nhân tạo đã được nuôi tại các tỉnh ven biển như: Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Bạc Liệu, Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh cho kết quả nuôi tốt, cua lớn nhanh và có tỷ lệ sống cao
5 Tình hình sản xuất, cung ứng thức ăn và thuốc thú y thủy sản
5.1 Tình hình sản xuất, cung ứng thức ăn
Thức ăn cho nuôi trồng thủy sản được cung cấp bởi 2 nguồn chính là sản xuất trong nước và nhập ngoại Các loại thức ăn phục vụ nuôi cá biển phần lớn được nhập khẩu, chủ yếu dùng cho các mục đích thử nghiệm Thức ăn tự chế từ tận dụng các loại phế phụ phẩm trong nông nghiệp, các loài cá tạp được sử dụng khá phổ biến trong nuôi trồng hải sản, đặc biệt nuôi cá biển và nuôi tôm hùm
Hiện nay cả nước có khoảng 110 nhà máy sản xuất thức ăn Tuy nhiên, các nhà máy này phần lớn quy mô nhỏ nên cung cấp chưa đủ cho nhu cầu nuôi thương phẩm Cá tạp vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu cho NTHS trên biển và hải đảo ở nước ta Nhu cầu thức ăn cho hoạt động NTHS ở nước ta có xu hướng tăng theo sản lượng nuôi, trong giai đoạn năm 2005-2010 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về nhu cầu thức ăn cho NTHS toàn quốc là 16,7%/năm
Số lượng công ty sản xuất thức ăn có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng đáng kể trong vòng 5 năm qua, trong đó có một số tập đoàn lớn CP Group (Thái Lan), Uni-President của Đài Loan, Proconco, Cargill, Cataco and Tomboy của Pháp Tuy nhiên, khối lượng thức ăn thủy sản phải nhập khẩu hàng năm rất lớn: 140.000-150.000 tấn thức ăn từ Thái Lan, Hông Kông và Đài Loan
Tuy nhiên, việc sản xuất và cung cấp thức ăn cho nghề nuôi cá biển vẫn là một khâu còn yếu trong phát triển nuôi trồng hải sản ở nước ta Phần lớn lượng thức ăn công nghiệp cho nuôi thủy sản do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất hoặc nhập ngoại Chưa kiểm soát được giá thành, chất lượng, nguồn gốc của thức ăn cũng như khả năng và các phương thức cung cấp, đây là một trong những yếu tố tác động đến phát triển bền vững của NTHS trên biển và hải đảo hiện nay, dẫn đến nghệ nuôi trồng hải sản chậm phát triển, đặc biệt là nghệ nuôi cá biển chưa phát triển được
5.2 Tình hình sản xuất, sử dụng thuốc thú y thủy sản
Hiện trạng kinh doanh thuốc thú y cung cấp cho các vùng nuôi khá phức
Trang 30tạo môi trường, nhóm phòng bệnh (gồm cả việc kích thích tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng) và nhóm trị bệnh động vật thủy sản Hiện nay việc sản xuất các loại thuốc, hóa chất cho NTHS nhìn chung chưa phát triển Chúng ta mới chủ yếu sản xuất các loại thuốc hóa chất đơn giản, một số loại kháng sinh, men vi sinh tuy nhiên chất lượng thấp nên không được người dân NTHS ưa chuộng Hầu hết các loại thuốc hóa chất sử dụng trong NTHS là nhập khẩu và lưu thông vào Việt Nam qua hệ thống các đại lý kinh doanh, nhà phân phối độc quyền
Do chủng loại thuốc rất đa dạng, các kênh phân phối cũng đa dạng và phức tạp nên công tác quản lý chất lượng thuốc hóa chất trong NTHS gặp rất nhiều khó khăn
Việc sử dụng các loại thuốc, hoá chất này cũng đang bộc lộ nhiều vấn đề bất cập Người dân sử dụng thuốc, hoá chất chủ yếu dựa vào các hướng dẫn của nhân viên của các cơ sở kinh doanh Chất lượng dịch vụ của các cơ sở này nhìn chung rất tốt, hệ thống họat động khá năng động để đáp ứng nhu cầu của người NTHS Người mua được nhân viên kinh doanh/tiếp thị giới thiệu về cách sử dụng, nhiều trường hợp được hướng dẫn cụ thể, có nhãn mác giới thiệu về thành phần v.v tuy nhiên hầu hết người dân đều cho rằng họ gặp khó khăn về cách sử dụng các loại thuốc này, thời gian và liều lượng bao nhiều cho từng loại bệnh
Nhìn chung, hệ thống kinh doanh thuốc hóa chất họat động khá năng động
và hiệu quả Do hầu hết các loại thuốc hóa chất phục vụ NTHS này phải nhập có chất lượng tương đối bảo đảm, số lượng đa dạng, hệ thống phân phối rộng khắp nên bước đầu đã kích thích sản xuất, tạo điều kiện dễ dàng cho người dân trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật và nâng cao hiệu quả sản xuất NTHS
5.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng cho nuôi trên biển và hải đảo
- Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ NTHS còn nhiều hạn chế, chậm, dàn trải, thiếu tính đồng bô ̣ Việc quản lý và sử du ̣ng các công trình, các dự án đầu tư còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, nhiều dự án sau khi xây dựng đưa vào hoạt động chưa đạt được theo công suất thiết kế Lựa chọn cơ quan tư vấn, chủ đầu tư các dự án thuộc Chương trình chưa thống nhất Trong đầu tư chưa chú ý đến tính khoa học, yếu tố công nghệ, tính liên tục của dự án đầu tư từ mục đích đầu tư, thiết kế công nghệ, đến khâu xây dựng và quản lý vận hành sau đầu tư Do đó khi kết thúc đầu tư, việc đưa các dự án vào sử dụng thường khó khăn trong việc vận hành, hiệu quả thấp
Hệ thống phao tiêu, biển báo giao thông trên biển: Hiện nay, hệ thống
phao tiêu, biển báo giao thông trên biển đổi ở nước ta cơ bảo đã được hình thành nhưng các hệ thống đó chủ yếu cho hoạt động giao thông biển, nhưng các hệ thống phục vụ riêng cho NTHS trên biển chưa đáp ứng đủ nhu cầu Trừ một số vùng đã có dự án giao và cho thuê mặt nước biển như Vân Đồn-Quảng Ninh, Kiên Lương-Kiên Giang Ngoài ra, khu vực Cụm Đảo Đá Tây (Quần đảo Trường Sa) hiện đã có hệ thống phao tiêu, biển báo giao thông phục vụ cho NTHS và neo đậu tàu thuyền
Trang 31Bến đỗ tàu thuyền phục vụ nuôi biển: Hầu hết, các vùng NTHS trên biển
và hải đảo ở nước ta hiện nay chưa được quan tâm đầu tư, chủ yếu được kết hợp với bến đỗ tàu thuyền phục vụ khai thác hải sản và phục vụ đi lại của người dân như Vùng Quan Lạng, Hạ Long - Vân Đồn, Cô Tô (Quảng Ninh); Bến Bèo (Cát Bà-Hải Phòng), Nghi Sơn (Thanh Hóa); Bán đảo Long Sơn, Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu); Quần đảo Bà Lụa, Quần đảo Nam Du, Quần đảo Phú Quý (Kiên Giang); các xã thuộc huyện Tân Phú Đông, Gò Công Đông (Tiền Giang); huyện
Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú (Bến Tre); các xã Long Hòa - Châu Thành, Mỹ Long Nam- Cầu Ngang, Hiệp Thạnh, Trường Long Hòa, Đông Hải- Duyên Hải (Trà Vinh)
Neo giữ lồng bè: hiện nay các khu neo giữ lồng bè NTHS chưa được đầu
tư, chủ yếu do người dân tự đầu tư Trừ khu vực Cụm Đảo Đá Tây (Quần đảo Trường Sa) được đầu tư hệ thống neo, rùa giữ lồng bè Khu dịch vụ hậu cần nghề cá trên cụm đảo Đá Tây bao gồm hệ thống cảng, khu neo đậu tàu thuyền, kho xăng dầu, nhà ở Bên cạnh đó, trên đảo còn có các hệ thống phao tạo điều kiện cho việc neo đậu tàu thuyền trên đảo Đây là một trong những cơ sở hạ tầng
có khả năng đáp ứng được một phần nhu cầu cho phát triển nuôi hải sản khu vực cụm đảo Đá Tây- vùng biển giữa biển Đông
6 Hiện trạng chế biến và tiêu thụ thủy sản từ nuôi biển
6.1 Hệ thống các nhà máy chế biến
Cùng với sự gia tăng của kim ngạch xuất khẩu, số lượng doanh nghiệp tham gia ngành ngày càng tăng Năm 2010 có 568 cơ sở chế biến quy mô công nghiệp, các cơ sở này đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm trong đó có trên 400 cơ sở đạt tiêu chuẩn XK vào thị trường Nhật Bản, Mỹ, EU
Sự gia tăng này là điều kiện cần thiết bảo đảm cho ngành công nghiệp CB đáp ứng yêu cầu gia tăng sản lượng thủy sản XK Quy mô công suất trung bình của mỗi cơ sở cũng tăng lên đến 24,9 tấn/ngày Sự thay đổi của năng lực sản xuất không chỉ thể hiện ở gia tăng số lượng mà còn tăng lên về chất lượng
Các vùng nuôi biển hiện nay đều có nhà máy chế biến thủy sản, hệ thống chế biến thủy sản có thể chia làm 3 cấp: công ty chế biến (và xuất khẩu); các nhà máy chế biến; các cơ sở chế biến và các cơ sở sơ vệ tinh, thu gom nguyên liệu và sơ chế đơn giản cho các nhà máy Sản phẩm thủy sản được tiêu thụ qua các hệ thống chợ cá, cảng cá (có chợ); hệ thống thu gom (đầu nậu) và các công
ty xuất khẩu thủy hải sản
Theo nguồn điều tra tại các tỉnh ven biển số cơ sở chế biến trong các năm qua tăng lên năm 2005 theo thống kê có 1.824 cơ sở chế biển thủy sản đến năm
2010 có 2.274 cơ sở, trong đó số lượng cơ sở chế biến thủ công vẫn chiếm ưu thế so với các sơ sở chế biển thủy sản xuất khẩu
Hệ thống thu gom nguyên liệu và sơ chế ở vùng ven biển và ĐBSCL phát triển mạnh, cơ sở sơ chế và thu gom tương ứng (cơ sở cấp I) Các cơ sở này đóng vai trò trung gian trong việc thu mua sản phẩm NTTS của người dân và
Trang 32Mạng lưới thu gom thời gian qua họat động rất tích cực, góp phần quan trọng vào nâng cao sản lượng thủy hải sản chế biến Tuy vậy, hệ thống này cũng
có hạn chế ví dụ như: hầu hết các thương lái đều có qui mô nhỏ, phương tiện trang thiết bị bảo quản, vận chuyển còn thô sơ, các kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được trang bị đầy đủ v.v Về lâu dài, khi nền kinh tế hội nhập, các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và an toàn vệ sinh chất lượng sản phẩm thủy sản đòi hỏi cao hơn, nhất định hệ thống này sẽ phải được cải tiến và thay thế bằng các chợ thủy sản đầu mối
6.2 Thị trường xuất khẩu
Thị trường tiêu thụ sản phẩm qua chế biển: EU, Mỹ và Nhật Bản luôn là khách hàng chính của thủy sản Việt Nam với tỷ trọng đóng góp rất ổn định trong
cơ cấu xuất khẩu qua các năm: EU ~ 27% - 30% sản lượng và 24% - 26% giá trị, Mỹ ~ 8% - 11% sản lượng và 16% - 19% kim ngạch, Nhật ~ 10% - 12% về lượng và 18% giá trị
Thị trường tiêu thụ sản phẩm tươi sống: với lợi thế nước ta gần các thị trường tiêu thụ cá tươi sống lớn như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan nhu cầu của thị trường tiêu thụ các sản phẩm hải sản nói chung, cá biển nói riêng ngày càng tăng trong khi sản phẩm khai thác từ tự nhiên không tăng và có xu hướng giảm Xu thế phát triển nuôi biển là một tất yếu, thị trường tiêu thụ hải sản tiếp tục và rộng mở và đầy hấp dẫn trong thời gian tới
7 Hoạt động khuyến ngư và thông tin tuyên truyền
Hoạt động khuyến ngư được các tổ chức khuyến ngư từ TƯ xuống các địa phương, các tổ chức khuyến ngư tự nguyện, các Viện nghiên cứu, các Trường đại học, trung cấp, các hội và tổ chức xã hội (Các hội, đoàn thể quần chúng như phụ
nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, hội nghề cá, hội nông dân) đã tác động tích cực và có hiệu quả vào công tác khuyến ngư Các hiệp hội nghề nghiệp, dự
án quốc tế cùng với các doanh nghiệp và các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác, các nhà khoa học, các tổ chức phi Chính phủ, các hộ nông ngư dân tích cực tham gia, góp phần cung cấp kiến thức, trao đổi những thông tin về kỹ thuật, thị trường,… trong lĩnh vực nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo
Hoạt động khuyến ngư đã được thực hiện nhiều năm qua và có nhiều đóng góp tích cực cho phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo Hoạt động khuyến ngư cũng đã được quan tâm , tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có điều kiê ̣n tiếp nhâ ̣n khoa ho ̣c, kỹ thuật
Về chương trình khuyến ngư phát triển giống, đã tiến hành xây dựng các chính sách khuyến ngư giống; thực hiện các dự án nhập và chuyển giao công nghệ sản xuất giống các đối tượng nuôi
Xây dựng mô hình: Cùng với các hoạt động trên, khuyến ngư còn tập trung vào xây dựng các mô hình trình diễn cho các đối tượng nuôi có giá trị kinh
tế cao như tu hai, hàu, cá mú, cá hồng, cua, tôm hùm,…
Trang 33Về tập huấn kỹ thuật: Trung tâm khuyến ngư Quốc gia đã cùng với trung tâm khuyến ngư các tỉnh tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho các trại giống, cho người nuôi về kỹ thuật nuôi thả, các biện pháp phòng trị bệnh trong nuôi các đối tượng hải sản
Về thông tin tuyên truyền: Tiếp tục phát hành các tài liệu kỹ mới phù hợp với tiến bộ kỹ thuật qua các bản tin trên đài phát thanh; phát hành các ấn phẩm Thông tin khuyến ngư Việt Nam
Nhìn chung hoạt động khuyến ngư cùng với công tác nghiên cứu khoa học
đã có những đóng góp quan tro ̣ng trong kết quả hoa ̣t đô ̣ng của nghề NTTS nói chung trong giai đoa ̣n vừa qua Nhiều đối tượng mới đã được nghiên cứu và đưa vào s ản xuất như ốc hương , rong su ̣n , cá mú, cá hồng , tu hài ,.… thu được những kết quả nhất đi ̣nh Tuy nhiên, công tác nghiên cứu trong thời gian qua vẫn mang tính bi ̣ đô ̣ng , chưa xác đi ̣nh được các đối tượng chủ lực , mang tính chiến lược trong tương lai, do đó những đối tượng sau khi được nghiên cứu hoàn thiê ̣n qui trình, chỉ có thể đưa vào s ản xuất ở qui mô nhỏ lẻ , chưa trở thành sản phẩm mang tính hàng hóa , có thể xuất khẩu lượng lớn để thu ngoại tệ Công tác khuyến ngư đã có nhiều cố gắng, song nhiều nơi vẫn hoa ̣t đô ̣ng nă ̣ng về hình thức, phương thức tổ chức thực hiê ̣n đơn điê ̣u , chưa đa da ̣ng , linh hoa ̣t để phù hợp với điều kiê ̣n từng đi ̣a phương nên hiê ̣u quả vẫn chưa cao
8 Các chính sách phát triển NTHS trên biển và đảo Việt Nam
Trong hơn một thập kỷ qua Nhà nước Việt Nam đã có những quan tâm đặc biệt đến sự phát triển ngành thủy sản, nhất là đối với nuôi trồng thủy sản Trong Chiến lược phát triển kinh tế, nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi biển) được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Một số chính sách phát triển phát triển ngành thủy sản đã được ban hanh bao gồm:
- Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999 - 2010;
- Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg (dưới đây gọi tắt là quyết định 103) của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản và Thông tư số 04/2000/TT-BTS ngày 03/11/2002 của Bộ Thủy sản (dưới đây gọi tắt là thông tư 04) hướng dẫn thực hiện một số điều trong quyết định 103/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
- Quyết định số 112/2004/QĐ-CP ngày 26/3/2004 của Chính phủ về chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010;
- Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Thông tư số 03/2006/TT-BTS ngày 12/4/2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
Trang 34- Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9 tháng 2 năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020;
- Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (bản dự thảo)
- Đặc biệt, là Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg, ngày 01/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy hải sản trên biển và hải đảo Theo Quyết định này: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực NTHS trên biển và hải đảo nhằm phát huy lợi thế của các địa phương ven biển, đưa nghề nuôi NTHS trên biển và hải đảo trở thành một nghề chủ lực, tạo sản phẩm hàng hóa có khối lượng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước
- Quyết định 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch
vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa;
- Nghị định số 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04/6/2010 về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhằm hỗ trợ phát triển nuôi cá biển trên đất hoang hoá, vùng nước chưa được khai thác, trên biển, hải đảo;
Nhờ có các chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước trên
và một số chính sách của các tỉnh ven biển trong giai đoạn qua, đã góp phần quan trọng vào quá trình phát NTHS thời gian qua và tạo cơ hội thuận lợi cho nghề NTHS trên biển và hải đảo ngày càng phát triển trong giai đoạn tiếp theo
9 Đa ́ nh giá chung về hiê ̣n tra ̣ng phát triển NTHS trên biển và hải đảo Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n 2005-2010
9.1 Những kết quả đạt được
- Phát triển NTHS trên biển và hải đảo Việt Nam trong thời gian qua đã thu được những kết quả nhất định: góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn ven biển; giải quyết việc làm cho các vùng ven biển, đời sống của người nuôi trồng hải sản được cải thiện, góp phần làm cho kinh tế xã hội và an ninh vùng ven biển luôn phát triển năng động
- Hoạt động nuôi biển đã được triển khai rộng khắp các huyện, thị thuộc các tỉnh/thành phố ven biển, nhiều mô hình NTHS đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động vùng biển và hải đảo
- Số lượng các nhà máy chế biến, các trại sản xuất giống hải sản và các dịch vụ hỗ trợ phát triển nuôi trồng hải sản không ngừng tăng lên
- Diện tích nuôi, năng suất nuôi, sản lượng nuôi, giá trị sản xuất,…đã không ngừng phát triển Đối tuợng nuôi trồng hải sản phong phú, đa dạng; một
số đối tượng hải sản có giá trị cao đã được nghiên cứu và cho sinh sản giống nhân tạo và nuôi thương phẩm thành công
Trang 35- Phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo tạo việc làm để chuyên đổi nghề nghiệp cho khu vực nông thôn, vùng biển và hải đảo; đặc biệt chuyển đổi nghề nghiệp cho cộng đồng cư dân hoạt động khai thác hải sản ven bờ sang nuôi trồng hải sản, góp phần bảo vệ môi trường, nguồn lợi
- Phát triển NTHS trên biển đảo không chỉ đóng góp vào nhu cầu và sự phát triển kinh tế nước nhà, mà còn đóng góp rất lớn vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Đẩy mạnh phát triển NTHS vùng biển và hải đảo sẽ góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân và tạo niềm tin cho công cuộc đưa dân ra đảo
- Hoạt động nghiên cứu, chuyên giao công nghệ đã chủ động sản xuất được nhiều giống mới, hoàn thiện nhiều quy trình nuôi tiên tiến cho năng suất cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng trong nước và quốc tế
nhiễm môi trường và phát triển thiếu bền vững
- Về sản xuất con giống: Con giống là khâu cần thiết và quan trọng đầu tiên trong phát triển nuôi biển Trong khí đó khoa học, công nghệ trong sản xuất giống các đối tượng hải sản nước ta còn hạn chế; giống sản xuất ra hiên nay mới dừng ở quy mô nhỏ; công nghệ sản xuất hiện nay ta chưa chủ động được, con giống sản xuất ra chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi thương phẩm
- Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: Vùng biển nước ta hàng năm thường xuyên chịu ảnh hưởng bão gió, áp thấp nhiệt đới với tần suất cao; vùng biển phía Bắc chịu tác động của mùa đông lạnh kéo dài, nên đã gây bất lợi cho việc phát triển NTHS trên vùng biển và hải đảo Việt Nam
- Việc phát triển NTHS trên biển và hải đảo cần công nghệ lồng nuôi có khả năng chịu được điều kiện khắc nghiệt của thời tiến và cần vốn đầu tư lớn; thời gian nuôi dài, nhưng rủi ro trong sản xuất lại cao nên các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực NT HS trên biển còn ha ̣n chế vì vâ ̣y đã ảnh hưởng đến phát triển NTHS trên biển và hải đảo trong thờ i gian qua
- Lao động tham gia nuôi cá lồng trên biển thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật, thiếu kinh nghiệm trong quản lý và thiếu ý thức trong việc giữ gìn và bảo
vệ môi trường xung quanh
- Môi trường vùng ven biển ngày càng bị ô nhiễm do những tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế xã hội, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển NTHS trên biển và hải đảo trong giai đoạn vừa qua
Trang 3610 Đa ́ nh giá chung về kết quả thực hiện Quy hoạch nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
Bảng so sánh chỉ tiêu trong Quy hoạch và thực trạng nuôi cá biển của cả nước
- Nuôi trong hệ thống lồng nhỏ (tấn) 44.000 31.895 33.171
- Nuôi công nghiệp tập trung (tấn) 55.000
(Nguồn: Vụ nuôi trồng thủy sản – Tông cục thủy sản 2013, 2014)
Đến năm 2014 (sau 3 năm Quy hoạch cá biển được phê duyệt 2011) sản lượng nuôi cá biển ở các loại hình (theo số liệu thống kê của Vụ Nuôi trồng thủy sản) chỉ đạt 63.460 tấn, nhìn chung tốc độ tăng trưởng về quy mô diện tích và sản lượng nuôi khá chậm so với quy hoạch
Sản lượng nuôi cá biển trong lồng bè đến năm 2015 có thể đạt được chỉ tiêu trong Quy hoạch là 44.000 tấn Riêng sản lượng nuôi ao đầm nước mặn lợ chỉ đạt được 50% so với Quy hoạch và sản lượng nuôi công nghiệp gần như không thể đạt được chỉ tiêu trong quy hoạch đến năm 2015 đề ra
Đối tượng nuôi cá biển cũng khá đa dạng, tuy nhiên tập trung chủ yếu vẫn
là cá Vược (chẽm), cá Song, cá Bớp và cá Hồng Mỹ
Diện tích nuôi cá biển trong ao đất cũng đã được mở rộng, tập trung ở một
số tỉnh trọng điểm như Quảng Ninh, Phú Yên, Bà Rịa-Vũng Tàu và Kiên Giang Nuôi lồng bè nhỏ nằm rải rác trong eo, vịnh ở các tỉnh ven biển Nuôi cá biển quy mô công nghiệp dạng lồng bè lớn trên 1.000m3 ở các vùng eo vịnh, biển
mở, có thể chịu được sóng gió lớn cấp 11 -12 hầu như chưa được các thành phần kinh tế quan tâm đầu tư sản xuất
Nguyên nhân không đạt được các chỉ tiêu trong quy hoạch theo Quyết định số 1523/QĐ-BNN-TCTS như sau:
1 Việc chuyển đổi sang nuôi cá biển ở những cơ sở nuôi thủy sản mặn lợ hiệu quả thấp đã được trú trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng mặt nước và đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng Bên cạnh đó Nhà nước đã xây dựng những chính sách hỗ trợ để khuyến khích phát triển, đặc biệt là đối với nuôi quy mô công nghiệp, tuy nhiên nuôi cá biển hiện vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún và nằm rải rác ở
Trang 37các địa phương do hiệu quả sản xuất không cao dẫn đến việc thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế
2 Cơ sở hậu cần dịch vụ phục vụ cho nuôi cá biển còn nhiều hạn chế, từ
hệ thống cung cấp con giống đảm bảo chất lượng đến phòng trị bệnh, thức ăn,… Mặc dù đã được quan tâm đầu tư nghiên cứu, sản xuất song chưa đáp ứng được với nhu cầu sản xuất
3 Thị trường tiêu thụ cá biển từ nuôi trồng đa phần là thị trường nội địa, buôn bán dạng cá sống, việc mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt xuất khẩu là rất khó do đặc thù của sản phẩm này, đây chính là trở ngại cho việc đầu tư sản xuất quy mô lớn của các nhà đầu tư
4 Đầu tư cho nuôi cá biển là rất lớn, rủi ro cao, hiệu quả sản xuất không thực sự tương xứng, do đó rất khó khăn trong việc thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế
5 Nhiều đối tượng đã được nghiên cứu cho sản xuất giống nhân tạo, tuy nhiên hiệu quả sản xuất giống chưa cao, đầu tư cho cơ sở sản xuất giống lớn, do
đó rất khó khăn trong việc xã hội hóa công tác sản xuất con giống phục vụ sản xuất
6 Mặc dù cơ chế chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã được xây dựng, tuy nhiên việc áp dụng vào thực tế để hỗ trợ cho người sản xuất gặp nhiều vướng mắc, do đó khó khăn khó khăn trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển
7 Việc liên kết trong tổ chức sản xuất đối với nuôi cá biển gần như chưa hình thành, hầu hết các cá nhân, tổ chức nuôi cá là do tự phát, manh mún, chưa hình thành các chuỗi liên kết ngang và chuỗi liên kết dọc để thúc đẩy sản xuất phát triển
11 Đa ́ nh giá chung về kết quả thực hiện Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020
Theo Quyết định số 1628/QĐ-BNN-TCTS ngày 20/7/2011của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020, đã đưa ra các chỉ tiêu phát triển phát triển cụ thể như sau:
- Đến năm 2015: Tổng diện tích đạt 43.360 ha (Nuôi nghêu: 26.040 ha; Ốc hương: 700 ha; Sò huyết: 13.010 ha; Hàu: 2.630 ha; Tu hài: 980 ha); Sản lượng nuôi các đối tượng nhuyễn thể chủ lực: 437.940 tấn (Nghêu:330.000 tấn, Ốc hương: 1.780 tấn, Sò huyết: 65.640 tấn, Hàu: 27.600 tấn, Tu hài: 2.920 tấn)
- Đến năm 2020: Tổng diện tích đạt 55.130 ha (Nuôi nghêu: 32.960 ha; Ốc hương: 840 ha; Sò huyết: 16.100 ha; Hàu: 3870 ha; Tu hài: 1.360 ha); Sản lượng nuôi các đối tượng nhuyễn thể chủ lực: 583.950 tấn (Nghêu: 430.700 tấn, Ốc hương: 2.350 tấn, Sò huyết: 108.250 tấn, Hàu: 38.700 tấn, Tu hài: 3.950 tấn)
Thực tế kết quả thực hiên duyệt Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 đến nay như sau:
Trang 38- Đến năm 2014 tổng diện tích nuôi nhuyễn thể đạt 28.415 ha, sản lượng đạt 164.032 tấn Kế hoạch đến năm 2015 tổng diện tích nuôi nhuyễn thể đạt 30.126 tấn, băng 69,48% so với chỉ tiêu quy hoạch; sản lượng đạt 200.000 tấn bằng 45,67% so với chỉ tiêu quy hoạch
Nhin chung các chỉ tiêu diện tích và sản lượng Quy hoạch nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 1628/QĐ-BNN-TCTS ngày 20/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đến nay đều chưa đạt được theo các chỉ tiêu đã đề ra Đã giải quyết việc làm cho khoảng 4,5 triệu lao động, bằng 95,74% chỉ tiêu quy hoạch Một trong các nguyên nhân không đạt được các chỉ tiêu như sau:
- Nguyên nhân là do thị trường tiêu thu các sản phẩm nuôi nguyễn thể khó khăn, giá bán các sản phẩm nhuyển thể hiện nay có xu hướng giảm, đặc biệt là đối tượng ngao/nghêu Chưa tìm được thị trường tiêu thụ lớn đối với các sản phẩm thủy sản nuôi hiê ̣n nay , sản phẩm chỉ mới được giao dịch nhỏ lẻ ở dạng tươi sống cho các nhà hàng nội địa nên tăng trưởng rất chậm
- Nguồn vốn đ ầu tư để triển khai thực hiê ̣n quy hoa ̣ch còn h ạn chế nên viê ̣c đầu tư các dự án đầu tư còn dàn trải , chưa đồng bô ̣, chưa tập trung cho các công trình tro ̣ng điểm, các công trình đầu mối làm giảm hiê ̣u quả đầu tư
- Công tác quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch, giám sát, đánh giá thực hiện quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức , chưa được thực hiện thường xuyên, không cập nh ật thông tin, không chú ý điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với thực tế sản xuất, dẫn đến các chỉ tiêu phát triển quy hoạch chưa sát với thực tiễn
Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 giai đoạn 2011-2015:
- Quá trình xây dựng và thực hiện Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 giai đoạn 2011-2015 cho thấy: Quy hoạch phát triển nuôi nhuyễn thể là công việc khó, do các đối tượng nuôi nhuyễn thể phụ thuộc chặt chẽ với các yếu tố, các quy luật tự nhiên, lại vận động, phát triển theo định hướng của thị trường, trong điều kiện của một nước nghèo, ngư dân nghèo với nhiều tập tục, thói quen của nền sản xuất nhỏ, tư duy manh mún, trình độ thủ công, cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp Trong khi đó, sản xuất thủy sản phát triển nói chung và nuôi nhuyễn thể nói riêng với tốc độ rất nhanh, được coi là một trong các ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu Chính vì vậy, thời gian qua, công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, không theo kịp và chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn Sau khi Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 của ngành được phê duyệt, quy hoạch theo các vùng, các địa phương chậm được triển khai Mặt khác công tác quản lý thực hiện quy hoạch còn rất yếu Hiện tượng quy hoạch treo vẫn xảy ra ở nhiều nơi; Công tác giám sát, đánh giá thực hiện quy hoạch ở nhiều địa phương không được thực hiện, không thường xuyên cập nhật thông tin, không chú ý điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với thực tế
Trang 39- Quy hoạch nuôi nhuyễn thể hàng hóa tập trung đến năm 2020 được phê duyệt và thực hiện trong bối cảnh Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 chưa được xây dựng, dẫn đến các chỉ tiêu phát triển quy hoạch chưa sát với thực tiễn và chưa thể hiện được tầm nhìn dài hạn
- Liên quan đến việc thực hiện quy hoạch sau khi được duyệt, chu trình quy hoạch đã xác định rõ 3 giai đoạn, bao gồm giai đoạn chuẩn bị (giai đoạn tiền quy hoạch), giai đoạn quy hoạch và giai đoạn thực hiện quy hoạch Tuy nhiên, giai đoạn thứ 3 của quá trình quy hoạch cần phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng trong quản lý thực hiện quy hoạch, cần có trung tâm đầu mối, cần kinh phí để tổ chức thực hiện, nhưng trong cơ chế hiện hành, quy trình này thường bị lãng quyên, ít được các cơ quan quản lý quan tâm đúng mức.Việc áp dụng các công cụ và kỹ thuật hiện đại hỗ trợ cho quá trình quy hoạch như GIS,
kỹ thuật về phân vùng, xây dựng bản đồ số hóa, tiếp cận tổng hợp trong quy hoạch,… cũng chưa được thực hiện hiệu quả vì nhiều lý do như thiếu kinh phí, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch còn hạn chế, khó khăn, bất cập trong cặp nhật, bổ sung thông tin thường niên Chính vì vậy, các phương án quy hoạch được xây dựng trong các quy hoạch chưa mang tính khả thi cao, còn thiếu các cơ sở khoa học, chất lượng của nhiều quy hoạch bị hạn chế, chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của ngành thủy sản
- Một hạn chế nữa trong Quyết định số 1628/QĐ-BNN-TCTS ngày 20/7/2011 là không đề cập đến tổng mức đầu tư và nguồn vốn đầu tư thực hiện các chương trình, dự án để làm cơ sở cho việc thực hiện đầu tư phát triển sau khi quy hoạch được phê duyệt, nhằm đạt được các chỉ tiêu phát triển Điều này cũng làm giảm tính khả thi của việc thực hiện quy hoạch
Trang 40PHẦN III
DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG HẢI
SẢN TRÊN VÙNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
1 Dự báo nhu cầu tiêu dùng và khả năng đáp ứng các sản phẩm thủy sản trên thế giới và Việt Nam đến năm 2020
1.1 Dự báo nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy sản trên thế giới
Tổ chức Nông Lương Liêp Hiệp quốc (FAO) dự báo tổng nhu cầu thủy sản và các sản phẩm thủy sản trên thế giới sẽ tăng gần 50 triệu tấn, từ 133 triệu tấn năm 1999/2000 lên 156,7 triệu tấn vào năm 2010 và đạt 183,3 triệu tấn vào năm 2015 và đạt 209,9 triệu tấn vào năm 2020 với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm, chậm lại chút ít so với tốc độ tăng 3,1% mỗi năm của 20 năm trước
đó Nhu cầu thủy sản dùng làm thực phẩm sẽ chiếm 148,47 triệu tấn vào năm
2015 và 169,98 triệu tấn vào năm 2020, trong đó nhu cầu thủy sản làm thực phẩm tập chung chủ yếu ở khu vực như Châu Phi, Châu Á, Châu Đại dương, Bắc Mỹ và Châu Âu; nhu cầu thủy sản phi thực phẩm tập chung chủ yếu ở khu vực Caribe và Nam Mỹ chiếm trên 70% tổng nhu cầu của vùng này
Tiêu thụ thủy sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đoạn 2010-2020, giảm so với mức 1,5% đã đạt được trong 20
Châu Đại Dương
Toàn cầu Tổng nhu cầu 9,26 9,64 22,06 110,46 23,79 8,15 183,30
Tính toán dựa vào nguồn số liệu của (FAO statistics), SOFIA; IFPRI study
Ước tính trung bình mỗi người tiêu thụ 19,1 kg vào năm 2015 và trên 20
kg vào năm 2020, so với 16,1 kg năm 1999/2000 Tiêu thụ cá và sản phẩm cá bình quân đầu người ước đạt đạt 13,7 kg năm 2010 và dự báo đạt 14,3 kg vào năm 2015 và khoảng 15 kg vào năm 2020, trong khi đó nhu cầu thủy sản có vỏ
và các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,7 và 4,8 kg/người cho giai đoạn năm 2015 và 2020