Dựa theo cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chia toàn bộ chi phí thành 3 loại: - Biến phí - Định phí - Chi phí hỗn hợp Trong những doanh nghiệp khác
Trang 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Sau hơn 30 năm thống nhất đất nước, Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, từ một nước nghèo kém phát triển Việt Nam đã trở thành một nước có chỉ
số tăng trưởng cao trên thế giới Dù chỉ là một nước có xuất phát điểm thấp về kinh
tế, là nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nhưng sau đó Việt Nam dần vươn lên để trở thành một nước có nền công nghiệp phát triển Năm 2007 Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, việc gia nhập được vào tổ chức này mang lại cho Việt Nam nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít thách thức Thật vậy, hệ quả của việc gia nhập WTO là hàng rào thuế quan được dở bỏ, Việt Nam có nhiều cơ hội giao lưu hợp tác kinh tế với nhiều nước lớn
và phát triển, nhưng Việt Nam cũng phải đối đầu với sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước phát triển với những nền công nghiệp lớn Mặt khác, việc nền kinh tế bị suy thoái vào cuối năm 2007 kéo dài đến năm 2008 và sang tận quý I năm 2009 khiến nền kinh tế suy thoái rơi vào lạm phát đã gây không ít khó khăn cho nước ta Với một nền kinh tế còn non trẻ cộng với những khó khăn do thị trường chung mang lại các doanh nghiệp của Việt Nam đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ đã điêu đứng trước cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều doanh nghiệp đã tuyên bố phá sản Để có thể gượng dậy hồi phục được sau cuộc khủng hoảng phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế thế giới và chính nội lực của nền kinh tế, nhưng nội lực nền kinh tế nước ta đã bị ảnh hưởng đáng kể do tác động của lạm phát và suy thoái Trước những sự thách thức đó các doanh nghiệp đã hiểu rằng việc quản lý chi phí và sử dụng chi phí một cách có hiệu quả để sản phẩm và dịch vụ của mình ngày càng được nâng cao về chất lượng và phù hợp với khách hàng là một điều vô cùng cấp thiết Tuy nhiên, đó thực sự là một bài toán không hề đơn giản với các doanh nghiệp
Theo em, quản lý và tiết kiệm chi phí là một trong những cách kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả nhất Vấn đề đặt ra là Doanh nghiệp phải quản lý chi phí như thế nào cho thật khôn ngoan, quyết định sử dụng đồng tiền như thế nào
Trang 2cho thật hợp lý Để làm được điều đó hay không phụ thuộc rất nhiều vào các quyết định của các nhà quản trị, các nhà quản trị sẽ tổ chức, phối hợp, ra quyết định và kiểm soát mọi hoạt động trong Doanh Nghiệp để đạt được những hiệu quả cao nhất Với những đặc điểm trên, việc hiểu rõ và biết cách ứng dụng phân loại chi phí theo cách ứng xử vào mỗi công ty là vô cùng cần thiết, tuy nhiên vận dụng nó vào doanh nghiệp mình như thế nào là một vấn đề rất mới mẻ Chính từ những nguyên nhân
khẩn thiết trên em đã quyết định chọn đề tài “PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ VÀ ỨNG DỤNG CÁCH PHÂN LOẠI NÀY TRONG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CP QUẢNG CÁO ĐỒNG NAI” Qua đề tài này, em sẽ có cơ hội nghiên cứu các lý thuyết đã được
học ngoài thực tiễn, so sánh với các điều kiện kinh doanh thực tế để rút ra những kiến thức cần thiết giúp cho việc tổ chức, điều hành và ra quyết định kinh doanh trong tương lai nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho Công ty
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Trong quá trình phát triển kinh tế dù ở bất kỳ quốc gia nào thì mỗi doanh nghiệp luôn là một tế bào của nền kinh tế ,là nơi trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất hợp lý để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ một cách hiệu quả nhất.Trong bối cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt và khốc liệt như hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại , phát triển và đạt được lợi nhuận kỳ vọng là điều không hề đơn giản Mong muốn tăng tỷ lệ lợi nhuận là mong muốn chung của mọi doanh ngiệp, để làm tốt điều này thì các nhà quản trị cần nắm rõ việc phân loại chi phí theo cách ứng xử
và ứng dụng cách phân loại này vào tổ chức và điều hành hoạt động tại doanh nghiệp qua đó làm rõ hơn mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận, đây chính
là một công cụ quản lý hữu hiệu giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn
để điều hành hiện tại và cả hoạch định kế hoạch trong tương lai Các thông tin này chỉ có kế toán mới thu thập và tổng hợp được, các nhà kế toán quản trị dựa vào từng tình hình thực tiễn ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ đưa ra những quyết đúng đắn giúp công ty phát triển, đồng thời cũng sẽ giúp ích lớn cho nhà lãnh đạo đưa ra những chiến lược mới cho kỳ kinh doanh kế tiếp của doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt thị trường một cách kịp thời để kinh doanh có hiệu quả, mà biểu hiện đó chính là chỉ tiêu lợi
Trang 3nhuận Việc nghiên cứu của đề tài sẽ giúp doanh nhiệp giảm thiểu những chi phí không cần thiết, đồng thời giúp nhà quản trị xây dựng một kết cấu mặt hàng phù hợp trong sự cạnh tranh và phát triển hiện nay
Muốn quản lý kinh tế tốt và kinh doanh có hiệu quả các công ty phải thường xuyên phân tích tình hình thực hiện doanh thu qua mỗi kỳ kinh doanh để tìm ra biện pháp tăng doanh thu Chính vì vậy việc phân loại chi phí rất cần thiết bởi nó sẽ góp phần giảm thiểu chi phí cho doang nghiệp, làm giảm giá thành sản phẩm, đem lại tính cạnh tranh cho sản phẩm cao hơn Nhìn chung các đề tài trước đã đưa ra nhiều giải pháp thiết thực cho những doanh nghiệp và phần lớn được áp dụng Tuy nhiên với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế cũng như trong giai đoạn hậu WTO
và sau cuộc khủng hoảng kinh tế liệu nó có còn phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam? Nhằm góp phần tìm kiếm những giải pháp mới cũng như có thể áp dụng vào thực tiễn của công ty, đề tài tập trung nghiên cứu về việc phân loại chi phí theo cách ứng xử và vận dụng cách phân loại này trong tổ chức và điều hành hoạt động tại công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai
3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu muốn hướng đến các mục tiêu :
- Góp phần làm rõ hơn các lý luận về việc phân loại chi phí theo cách ứng
xử và ứng dụng cách phân loại này trong tổ chức và điều hành hoạt động
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác phân loại chi phí theo cách ứng xử
và ứng dụng cách phân loại này trong tổ chức và điều hành hoạt động tại công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạ thấp chi phí, giảm thiểu lãng phí, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
•Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng tình hình phân loại chi phí theo cách ứng xử và ứng dụng cách phân loại này vào tổ chức và điều hành hoạt động trong công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai
•Phạm vi nghiên cứu
Trang 4+ Thời gian nghiên cứu:năm 2011
+ Không gian nghiên cứu: Tại công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu sử dụng:
• Phương pháp thu thập
• Phương pháp tổng hợp
• Phương pháp phân tích
• Phương pháp so sánh,đối chiếu
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phân loại chi phí theo cách ứng xử và cách ứng dụng phương pháp này trong tồ chức và điều hành hoạt động
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác phân loại chi phí theo cách ứng
xử và cách ứng dụng phương pháp này trong tồ chức và điều hành hoạt động tại công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể có tính khả thi, góp phần vào việc hoàn thiện công tác phân loại chi phí theo cách ứng xử và cách ứng dụng phương pháp này trong tồ chức và điều hành hoạt động tại công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai
- Thông qua đó, nhà quản trị có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời đối với quá trình hoạt động và phát triển của công ty, đồng thời thấy được tầm quan trọng của kế toán quản trị trong bộ máy của công ty
7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận ,báo cáo nghiên cứu khoa học còn gồm các chương sau:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ
VÀ ỨNG DỤNG CÁCH PHÂN LOẠI NÀY TRONG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG
Trang 5CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ VÀ ỨNG DỤNG CÁCH PHÂN LOẠI NÀY TRONG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CP QUẢNG CÁO ĐỒNG NAI
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ
Ngoài ra báo cáo nghiên cứu còn có các danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đính kèm
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ
VÀ ỨNG DỤNG CÁCH PHÂN LOẠI NÀY TRONG TỔ CHỨC VÀ
ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG
1.1 PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ
Cách phân loại này chỉ ra chi phí gắn liền với mức độ hoạt động (số sản phẩm sản xuất ra, số km đi được, số giờ máy sử dụng…) như thế nào Việc xem xét chi phí thay đổi như thế nào khi mức độ hoạt động thay đổi gọi là sự ứng xử của chi phí Sự hiểu biết về cách ứng xử của chi phí là chìa khóa để ra quyết định, nếu nắm được những biến đổi của chi phí thì nhà quản trị sẽ có khả năng tốt hơn trong việc
dự đoán chi phí cho các tình huống khác nhau sẽ thực hiện trong tương lai Kinh nghiệm cho thấy rằng việc ra quyết định khi chưa hiểu thấu về chi phí và chưa nắm được các chi phí này sẽ thay đổi như thế nào đối với các mức độ hoạt động khác nhau có thể sẽ dẫn đến những quyết định không đúng
Dựa theo cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chia toàn bộ chi phí thành 3 loại:
- Biến phí
- Định phí
- Chi phí hỗn hợp
Trong những doanh nghiệp khác nhau tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng
số chi phí cũng không giống nhau
1.1.1 Chi phí khả biến (Biến phí)
Biến phí là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo sự tăng, giảm về mức độ hoạt động Tổng số của biến phí sẽ tăng khi mức độ hoạt động tăng, và ngược lại Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp
Trang 7Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có hoạt động
Chi phí khả biến cấp bậc là những loại chi phí không biến động liên tục so với
sự biến động liên tục của mức độ hoạt động Mức độ hoạt động phải đạt đến một mức độ nào đó thì mới dẫn đến sự biến động về chi phí Tiền lương của thợ bảo trì máy móc thiết bị là một ví dụ Thợ bào trì thường nhận lương theo thời gian, do đó khi số lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên thì cộng việc của họ cũng nhiều lên nhưng tiền lương thì vẫn giữ nguyên, đến một mức độ hoạt động nào đó sẽ tăng lương cho họ và mức độ hoạt động vẫn tiếp tục tăng lên trong khi người thợ bảo trì máy móc thiết bị vẫn giữ nguyên mức lương cho đến lần tăng sau đó
Chi phí
Mức độ hoạt động
Trang 8Biểu đồ 1.2 Minh họa biến phí cấp bậc
ở phương diện là nếu trong quá trình lập kế hoạch có nhiều phương án được đề ra thì phương án căn bản nhất sẽ là sử dụng nhiều lượng định phí, bởi vì như vậy nhà quản trị sẽ ít phải lựa chọn các quyết định hàng ngày
1.1.2.1 Định phí bắt buộc
Định phí bắt buộc là những chi phí có liên quan đến những máy móc thiết bị nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, chi phí ban quản lý, chi phí lương văn phòng… Những chi phí này có 2 đặc điểm:
Biến phí cấp bậc
Mức độ hoạt động Chi phí
Trang 9- Có bản chất lâu dài: Giả sử có một quyết định mua sắm hoặc xây dựng các loại tài sản cố định được đưa ra thì nó sẽ liên quan đến việc liên doanh của đơn vị trong nhiều năm
- Không thể cắt giảm đến không, cho dù mức độ hoạt động giảm xuống hoặc khi sản xuất bị gián đoạn
1.1.2.2 Định phí không bắt buộc
Định phí không bắt buộc là những định phí có thể thay đổi trong từng kỳ dự toán của doanh nghiệp, do hành động của doanh nhà quản trị quyết định khối lượng định phí trong từng kỳ kinh doanh Thuộc loại chi phí này gồm có chi phí quản cáo, chi phí đào tạo, bồi dưỡng nghiên cứu…
Định phí không bắt buộc có 2 đặc điểm:
- Có bản chất ngắn hạn
- Có thể giảm chúng trong trường hợp cần thiết
1.1.2.3 Định phí và phạm vi phù hợp
Phạm vi phù hợp cũng được áp dụng với định phí, nhất là các định phí có bản chất không bắt buộc Khi một doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động có thể sẽ mua them các thiết bị làm cho định phí tăng lên Tuy nhiên định phí được nghiên cứu trong phạm vi phù hợp và trong phạm vi này nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi
1.1.3 Chi phí hỗn hợp và phương pháp tách chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và bất biến
Ngoài khái niệm về biến phí và định phí đã nghiên cứu ở trên, còn có một khái niệm quan trong hơn nữa là chi phí hỗn hợp Loại chi phí này cũng chiếm một tỷ lệ cao khi hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố khả biến và yếu tố bất biến Ở một mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí Sự pha trộn của phần bất biến và khả biến có thể theo những
tỷ lệ nhất định
Trang 10Ví dụ: Chí phí về diện thoại có thể xem là chi phí hỗn hợp, trong đó phần bất biến có thể xem là chi phí thuê bao, phần khả biến là chi phí tính trên thời gian gọi Như vậy:
- Phần bất biến của chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí căn bẳn, tối thiểu để duy trì phục vụ và để giữ dịch vụ luôn luôn tình trạng sẵn sàng phục vụ
- Phần khả biến thường được dùng đề phản ánh chi phí thực tế hoặc chi phí
sử dụng quá mức Dó đó yếu tố khả biến sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức dịch vụ phục vụ hoặc mức sử dụng vượt định mức
Để phục vụ cho mục đích lập dự toán, kiểm soát hoạt động kinh doanh và chủ động trong quản lý chi phí thì vấn đề đặt ra đối với chi phí hỗn hợp là việc xác định thành phần của nó như thế nào? Vì vậy cần phải phân tích chi phí hỗn hợp, nhầm lượng hóa, tách riêng yếu tố bất biến, khả biến trong chi phí hỗn hợp sau đó đưa về dạng công thức thuận tiện cho việc sử dụng chúng trong việc hoạch định, kiểm soát
và ra quyết định của nhà quản trị
Phương trình tuyến tính dung dự toán chi phí hỗn hợp có dạng như sau:
y = ax + b
Trong đó:
y: Chi phí hỗn hợp cần phân tích
b: Tổng định phí cho mức độ hoạt động trong kỳ
a: Biến phí cho một đơn vị hoạt động
x: Số lượng đơn vị hoạt động
Trang 11- Phương pháp bình phương bé nhất
1.1.3.1 Phương pháp cực đại, cực tiểu
Phương pháp cực đại, cực tiểu trong phân tích chi phí hỗn hợp đòi hỏi phải quan sát các chi phí phát sinh ở cả mức độ hoạt động cao nhất và mức độ hoạt động thấp nhất trong phạm vi phù hợp
Để xác định phần khả biến trong chi phí hỗn hợp người ta sẽ lấy phần chênh lệch về chi phí ở mức độ hoạt động cao nhất so với mức độ hoạt động thấp nhất chia cho biến động về mức độ hoạt động ở mức độ hoạt động cao nhất so với mức độ hoạt động thấp nhất sẽ xác định được biến phí đơn vị hoạt động
Chi phí ở mức độ hoạt
Chi phí ở mức độ hoạt động thấp nhất Chi phí khả
Để xác định phần bất biến trong chi phí hỗn hợp ta làm như sau:
Chi phí bất
biến (b) =
Tổng chi phí ở mức cao nhất (thấp nhất)
-
Mức khối lượng cao nhất (thấp nhất)
x Biến phí đơn vị
1.1.3.2 Phương pháp đồ thị phân tán
Giống như phương pháp cực đại - cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán đòi hỏi phải có số liệu về mức độ hoạt động đã được thống kê qua các kỳ của hoạt động kinh doanh và cuối cùng đi đến xây dựng phương trình dự toán về chi phí hỗn hợp
có dạng: y = ax + b
Phương pháp đồ thị phân tán là phương pháp mà việc phân tích thong qua việc
sử dụng đồ thị biểu diễn tất cả các giao điểm của chi phí với mức độ hoạt động
Trang 12Sử dụng phương pháp đồ thị phân tán ta cần phải qua 4 bước sau:
Bước 1: Tất cả những chi phí của từng tháng được đánh dấu trên đồ thị
Bước 2: Kẻ một đường biểu diễn trên đồ thị phân chia tất cả các điểm đã được đánh
dấu thành hai phần bằng nhau về số lượng, đường biểu diễn này sẽ đại diện cho tất
cả các điểm
Bước 3: Đường biểu diễn trên được gọi là đường hồi quy (negressionline) Đường
hồi quy chính là đường của các mức trung bình Trong đó mức trung bình của định phí được biểu diễn bởi giao điểm giữa đường hồi quy và trục tung Mức trung bình của biến phí tính cho 1 đơn vị hoạt động sẽ được phản ánh theo độ dốc của đường biểu diễn như sau: Xác định tổng chi phí của điểm nằm trên đường hồi quy (hoặc điểm nằm gần đường hồi quy nhất), lấy tổng chi phí trừ đi cho định phí và kết quả này được chia cho kết quả hoạt động tại điểm này sẽ được biến phí cho một đơn vị hoạt động
Bước 4: Xây dựng phương trình tuyến tính y = ax + b
1.1.3.3 Phương pháp bình phương bé nhất
Phương pháp bình phương bé nhất nhằm xác định phương trình biến thiên của chi phí hỗn hợp dựa trên sự tính toán của phương trình tuyến tính trong phân tích thống kê, sử dụng các số liệu chi phí đã được thu thập nhằm đưa ra phương trình có dạng: y = ax + b như hai phương trình cực đại cực tiều và phương pháp đồ thị phân tán đã được trình bày ở trên Khái niệm về bình phương bé nhất có nghĩa là tổng của các bình phương giữa các độ lệch giữa các điểm với đường hối quy là nhỏ nhất so với bất kỳ một đường biểu diễn nào khác
Từ phương trình tuyến tính căn bản này và tập hợp n phần tử quan sát ta có hệ phương trình như sau:
∑xy = b∑x + a∑x2
∑y = nb + a∑
Trang 13Như vậy y là biến số phụ thuộc, là phương trình chi phí dự đoán; y phụ thuộc vào x, x là biến số độc lập, x là nguyên nhân tạo ra y Giải hệ thống phương trình này ta sẽ xác định được các yếu tố a và b, từ đó lập được phương trình hồi quy thích hợp
Nhận xét về các phương pháp trên:
- Phương pháp cực đại cực tiểu:
Phương pháp tính toán đơn giản nhưng mức độ chính xác không cao bởi vì trong tất cả các phần tử thống kê chỉ dùng 2 điểm để xác định công thức chi phí Thông thường với 2 điểm không thể cho được những kết quả chính xác trong việc xác định chi phí, trừ khi 2 điểm này xảy ra đúng ở mức độ trung bình của tất cả các điểm được khảo sát Tuy nhiên rất hiếm khi 2 điểm cực đại - cực tiểu lại là điểm trung bình của tất cả các điểm Vì vậy đây chính là điểm hạn chế cần phải lưu ý khi sử dụng phương pháp này
Quan sát vào các điểm của chi phí tại các mức độ hoạt động khác nhau ngay trên đồ thị cho thấy rõ mô hình mối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động như thế nào Điều này phương pháp cực đại – cực tiểu không có
Đồ thị phân tán là một công cụ cần thiết cho các nhà phân tích có kinh nghiệm Đường biểu diễn của chi phí sẽ bị uốn cong do nguyên nhân của: sự đình công, thời tiết xấu… sẽ hiện rõ trên đồ thị đối với người phân tích có kinh nghiệm Rất nhiều chuyên gia phân tích đã chỉ ra rằng, đồ thị phân tán là phương pháp đầu tiên của mọi quá trình phân tích chi phí vì các thuận lợi thu được qua các số liệu ở ngay trên biểu đồ
Trang 14Tuy nhiên, đây là phương pháp thực nghiệm trên đồ thị nên đòi hỏi phải chính xác, ngày nay đã có sự hỗ trợ của máy tính điện tử, do đó vấn đề còn lại chỉ là kinh nghiệm của nhà phân tích
- Phương pháp bình phương bé nhất:
Phương pháp này tinh vi hơn các phương pháp ở trên, ở phương pháp đồ thị phân tán người ta vẽ một đường hồi quy cho các số liệu bằng sự quan sát đơn giản, phương pháp bình phương bé nhất kẻ đường biểu diễn bằng phân tích thống kê, kết quả cho ra có độ chính xác cao, thích hợp với dự toán tương ứng
1.2 ỨNG DỤNG PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ TRONG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG
1.2.1 Ứng dụng phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí trong việc phân tích mối quan hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận tại doanh nghiệp
Phân tích mối quan hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận là xem xét mối quan
hệ giữa giá bán, số lượng sản phẩm tiêu thụ, kết cấu hàng bán, biến phí, định phí và lợi nhuận, nhằm khai thác khả năng tiềm tàn của doanh nghiệp và là cơ sở để đưa ra các quyết định như lựa chọn dây chuyền sản xuất, định giá bán sản phẩm, hoạch định chiến lược hàng bán…
Để phân tích được mối quan hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận cần thiết phải nắm vững cách ứng xử của chi phí để tách chi phí của doanh nghiệp thành biến phí
và định phí, phải hiểu rõ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo hình thức số dư đảm phí, đồng thời phải nắm vững một số khái niệm cơ bản được sử dụng trong phân tích mối quan hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận
Trang 151.2.1.1 Tính toán các chỉ tiêu phân tích
Gọi x: là số lượng sản phẩm tiêu thụ, g: là giá bán, a: là biến phí đơn vị, b: là định
phí, ta có báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo số dư đảm phí như sau:
Từ báo cáo trên ta xét các trường hợp:
• Khi x = 0 thì lợi nhuận (P) = -b, nghĩa là doanh nghiệp bị lỗ một khoảng bằng
với định phí
• Khi x = x h (số lượng sản phẩm tiêu thụ tại điểm hòa vốn) thì số dư đảm phí
bằng với định phí, khi đó lợi nhuận (P) = 0, nghĩa là doanh nghiệp đạt điểm
hòa vốn
→ (g – a)x h = b
→ x h =
) (g a
Trang 16• Khi x = x2 (số lượng sản phẩm tiêu thụ tại điểm x2), x2 > x1 thì lợi nhuận ở
mức số lượng sản phẩm tiêu thụ x2 là P2 = (g – a) x2- b
Như vậy khi số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng một lượng ∆x = x2- x1
→ Lợi nhuận tăng một lượng ∆P = P2- P1
Nếu như định phí không đổi, thì phần số dư đảm phí tăng thêm (hoặc giảm xuống) đó chính là lợi nhuận tăng thêm (hoặc giảm bớt)
Như vậy, nhờ vào số dư đảm phí ta có thể nhanh chóng xác định được lợi nhuận Tuy nhiên, sử dụng khái niệm số dư đảm phí vẫn có một số nhược điểm cần lưu ý như sau:
• Không giúp nhà quản trị có cái nhìn tổng quát toàn doanh nghiệp khi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm, bởi vì số lượng sản phẩm tiêu thụ của từng loại sản phẩm không thể tổng hợp ở toàn doanh nghiệp
• Làm cho nhà quản trị dễ nhầm lẫn trong việc ra quyết định, bởi tưởng rằng nếu tăng doanh thu của những sản phẩm có số dư đảm phí đơn vị lớn thì lợi nhuận sẽ tăng lên nhiều, nhưng điều này đôi khi có thể hoàn toàn ngược lại
Để khắc phục những nhược điểm của số dư đảm phí, ta sử dụng khái niệm số dư đảm phí
b Tỷ lệ số dư đảm phí:
Tỷ lệ số dư đảm phí là tỷ lệ phần trăm số dư đảm phí tính trên doanh thu Chỉ tiêu này có thể tính cho tất cả các loại sản phẩm tiêu thụ, cho một loại sản phẩm hay một đơn vị sản phẩm
Trang 17Tỷ lệ số dư đảm phí được tính theo công thức tổng quát như sau:
Từ những dữ kiện nêu trong báo cáo thu nhập ở phần trên ta có:
Tại số lượng sản phẩm tiêu thụ x1→Doanh thu: gx1→ Lợi nhuận: P1= (g – a) x1- b Tại số lượng sản phẩm tiêu thụ x2→Doanh thu: gx2→Lợi nhuận: P2= (g – a) x2- b Như vậy, khi doanh thu tăng một lượng là: gx2- gx1
→ Lợi nhuận tăng một lượng là: ∆P = P2- P1
¾ Lưu ý: Kết luận trên chỉ đúng khi định phí không thay đổi
g
a g
)(
)(
1
2 −
−
Trang 18Từ kết luận trên ta rút ra được hệ quả sau:
Nếu cùng tăng một lượng doanh thu (do tăng sản lượng tiêu thụ) ở tất cả những sản phẩm, những lĩnh vực, những bộ phận, những công ty… thì những công
ty nào, những bộ phận nào có tỷ lệ số dư đạm phí lớn thì lợi nhuận tăng lên càng nhiều
Sử dụng khái niệm tỷ lệ số dư đảm phí cho thấy được mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận đổng thời khắc phục được những nhược điểm của số dư đạm phí,
cụ thể là:
Giúp nhà quản trị có cái nhìn tổng quát về doanh nghiệp khi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm, bởi vì có thể tổng hợp được doanh thu tăng thêm của toàn doanh nghiệp cho tất cả các loại sản phẩm tiêu thụ
Giúp cho nhà quản trị biết được: Nếu tăng cùng một lượng doanh thu (do tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ) ở nhiều bộ phận khác nhau, bộ phận nào có tỷ
lệ số dư đạm phí càng lớn thì lợi nhuận sẽ tăng lên càng nhiều
tỷ trọng lớn thường là những doanh nghiệp có mức đầu tư lớn, vì vậy nếu gặp điều kiện kinh doanh thuận lợi, khi doanh thu tăng thì lợi nhuận sẽ tăng nhanh
và ngược lại
Doanh nghiệp có định phí chiếm tỷ trọng nhỏ, biến phí chiếm tỷ trọng lớn, thì doanh nghiệp đó có tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ, nếu tăng (hoặc giảm) doanh thu thì lợi nhuận sẽ tăng (hoặc giảm) chậm hơn Những doanh nghiệp có biến phí chiếm tỷ trọng lớn hơn thường là những doanh nghiệp có mức đầu tư thấp, vì vậy nếu gặp điều kiện kinh doanh thuận lợi, khi doanh thu tăng thỉ lợi nhuận sẽ tăng nhưng tăng chậm và ngược lại
Trang 19Từ những dữ liệu đã cho ở trên ta có:
Tại số lượng sản phẩm tiêu thụ x1→Doanh thu: gx1→ Lợi nhuận: P1= (g – a) x1- b
Tại số lượng sản phẩm tiêu thụ x2→Doanh thu: gx2→Lợi nhuận: P2= (g – a) x2- b
Tốc độ tăng lợi nhuận = − × 100 % =
1
1 2
P
P P
b x a g
x x a g
) (
) )(
Độ lớn đòn bẩy hoạt động =
1 2
1 1
1 2
) (
) )(
(
gx gx
gx b
x a g
x x a g
x a g
) (
Trang 20
Vậy ta có công thức tính độ lớn đòn bẩy hoạt động:
Số dư đảm phí
Độ lớn đòn bẩy hoạt động =
Lợi nhuận
Như vậy tại một mức doanh thu nhất định, sẽ xác định được độ lớn đòn bẩy hoạt động tại mức doanh thu đó, nếu dự kiến được tốc độ tăng doanh thu sẽ dự kiến được tốc độ tăng lợi nhuận và ngược lại
e Báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí:
Một khi chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành yếu tố khả biến và bất biến, người quản lý sẽ vận dụng cách phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí để lập ra một báo cáo kết quả kinh doanh và chính dạng báo cáo này sẽ được sử dụng rộng rãi như một công cụ phục vụ cho quá trình phân tích để ra quyết định Theo mẫu báo cáo này người quản lý sẽ có căn cứ dự đoán các chi phí sẽ nên sử dụng như thế nào với những biến động của mức độ hoạt động trong toàn doanh nghiệp và để lập được loại báo cáo này thì điều quan trọng đầu tiên chính là biết cách phân loại chi phí thành yếu tố bất biến và khả biến
1.2.1.2 Phân tích sự tác động của các nhân tố biến phí, định phí, giá bán, sản lượng tiêu thụ đến sự biến động của lợi nhuận để lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn
Ví dụ 1: Giả sử tại công ty Z sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm A có tài liệu như sau: (đvt: 1.000đ)
Hàng kỳ sản xuất và tiêu thụ 1.000 sản phẩm với giá bán 100/sản phẩm, biến phí đơn vị 60, định phí hàng kỳ (tháng, quý…) 30.000 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo dạng số dư đạm phí của công ty Z như sau:
Trang 21Chúng ta sẽ nghiên cứu sự tác động của các nhân tố biến phí, định phí, giá bán,
số lượng sản phẩm tiêu thụ đến sự biến động của lợi nhuận thông qua các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Định phí và số lượng sản phẩm tiêu thụ thay đổi
Ví dụ 1.1: Công ty Z dự kiến kỳ tới tăng chi phí quảng cáo lên 5.000 thì lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến tăng 20% Công ty Z có nên tăng chi phí quảng cáo không?
- Số dư đảm phí tăng thêm: (1.000 × 20%) × 40 = 8.000
- Định phí tăng thêm: 5.000
- Lợi nhuận tăng thêm: (8.000 – 5.000) = 3.000 Vậy công ty Z nên thực hiện biện pháp này
Trường hợp 2: Biến phí và số lượng sản phẩm tiêu thụ thay đổi
Ví dụ 1.2: Công ty Z dự kiến kỳ tới thực hiện chính sách khuyến mãi: khách hàng mua một sản phẩm A thì được tặng món quà trị giá là 5 Nếu thực hiện chính sách này thì dự kiến lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ tăng 30% Công ty Z có nên thực hiện chính sách này không?
Trang 22Bán một sản phẩm tặng một món quà trị giá là 5 làm cho biến phí đơn vị ở mỗi sản phẩm tăng 5
Số dư đảm phí đơn vị: 100 – (60 + 5) = 35
- Tổng số dư đảm phí ước tính: (1.000 × 130%) × 35 = 45.500
- Tổng số dư đảm phí hiện tại: 40.000
- Tổng số dư đảm phí tăng thêm: 5.500
Số dư đảm phí đơn vị: (100 – 5) – 60 = 35
- Tổng số dư đảm phí ước tính: (1.000 × 130%) × 35 = 45.500
- Tổng số dư đảm phí hiện tại: 40.000
- Tổng số dư đảm phí tăng thêm: 5.500
Trang 23nên lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến tăng 10% Công ty Z có nên thực hiện biện pháp thay đổi hình thức trả lương này không?
Trường hợp 5: Định phí, biến phí, giá bán và số lượng sản phẩm tiêu
thụ thay đổi
Ví dụ 1.5: Công ty Z dự kiến thực hiện biện pháp thay đổi hình thức trả lương của bộ phận bán hàng, cụ thể là chuyển 10.000 tiền lương theo thời gian sang trả 10/sản phẩm bán ra, mặt khác giảm giá bán 5/sản phẩm Qua biện pháp này số lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến tăng 30% Công ty Z có nên thực hiện biện pháp này không?
Trang 24 Trường hợp 6: Xác định giá trong trường hợp đặc biệt
Ví dụ 1.6: Trong kỳ tới công ty Z vẫn bán 1.000 sản phẩm như cũ, ngoài ra có một khách hàng mới đề nghị mua 250 sản phẩm và đưa ra các điều kiện sau:
- Giá bán phải giảm ít nhất là 10% so với giá hiện tại
- Phải vận chuyển hàng đến kho cho khách hàng, chi phí vận chuyển ước tính là 1.250
Mục tiêu của công ty Z khi bán thêm 250 sản phẩm thu được lợi nhuận 2.500 Giá bán trong trường hợp này là bao nhiêu và hợp đồng có thực hiện được hay không? Biết rằng thị phần của công ty không ảnh hưởng và việc sản xuất thêm
250 sản phẩm này vẫn nằm trong năng lực sản xuất dư thừa
Giá bán sản phẩm trong trường hợp này được xác định như sau:
- Biến phí đơn vị: 60
- Chi phí vận chuyển đơn vị: 5 (
250
250.1)
- Định phí đơn vị: 0
- Lợi nhuận đơn vị: 10 (
250
500.2)
- Giá bán: 75 Giá bán theo yêu cầu của khách hàng ≤ 90 (100 × 90%)
Với giá bán 75 công ty Z đạt được mục tiêu và thõa mãn các điều kiện khách hàng, vì vậy hợp đồng có thể thực hiện được
1.2.1.3 Phân tích điểm hòa vốn
Phân tích điểm hòa vốn là một nội dung quan trọng trong phân tích mối quan
hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận Nó giúp cho nhà quản trị xác định được số lượng sản phẩm tiêu thụ và doanh thu hòa vốn, từ đó xác định vùng lãi, vùng lỗ của doanh nghiệp
Trang 25Tại điểm hòa vốn ta có tổng doanh thu = tổng chi phí
Gọi xh là số lượng sản phẩm tiêu thụ tại điểm hòa vốn: gx h = ax h + b
→ x h =
a g
b
− → gxh =
a g
b
−
g
Định phí Doanh thu hòa vốn =
Tỷ lệ số dư đạm phí
(2)
Chú ý: Công thức (2) rất cần thiết để tính doanh thu hòa vốn của toàn doanh
nghệp nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm
Để tính doanh thu hòa vốn cho từng loại sản phẩm trong từng trường hợp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm khác nhau, thì trước hết tính doanh
Trang 26thu hòa vốn chung của toàn doanh nghiệp, sau đó lấy doanh thu hòa vốn chung nhân với tỷ trọng của từng loại mặt hàng chiếm trong tổng doanh thu
b Đồ thị phân tích mối quan hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận:
Đồ thị điểm hòa vốn:
Để vẽ đồ thị điểm hòa vốn ta vẽ các đường biểu diễn:
o Đường doanh thu: ydt = gx (1)
o Đường tổng chi phí: ytp = ax + b (2)
o Đường định phí: yđp = b
o Trục hoành Ox: phản ánh số lượng sản phẩm tiêu thụ
o Trục tung Oy: phản ánh số tiền (doanh thu và chi phí)
Tại điểm mà hai đường biểu diễn (1) và (2) trên gặp nhau chính là điểm hòa vốn, phía bên trái của điểm hòa vốn chính là vùng lỗ, phía bên phải của điểm hòa vốn chính là vùng lãi
Trang 27(Nguồn: Kế toán quản trị)
Trang 28 Đồ thị lợi nhuận:
Một loại đồ thị khác trong đồ thị về mối quan hệ C.V.P là đồ thị lợi nhuận Đồ thị này phản ánh được mối quan hệ giữa sản lượng với lợi nhuận Tuy nhiên nó không phản ánh được mối quan hệ giữa chi phí với sản lượng
(Nguồn: Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty X)
Đồ thị 1.3 Đồ thị lợi nhuận dạng 1
Trang 29Hoặc đơn giản hơn, chúng ta có dạng đồ thị lợi nhuận như sau:
(Nguồn: Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận tại Công ty X)
Đồ thị 1.4 Đồ thị lợi nhuận dạng 2
c Phân tích lợi nhuận dựa vào điểm hòa vốn:
Từ phương trình cơ bản thể hiện mối quan hệ C.V.P:
Doanh thu = Định phí + Biến phí + Lợi nhuận
↔ gx = b + ax + P
Ta thấy rằng nếu doanh nghiệp muốn có nức lợi nhuận như dự kiến doanh nghiệp có thể tìm được mức tiêu thụ và mức doanh thu cần phải thực hiện
Ta gọi:
P : Lợi nhuận mong muốn
xp: Sản lượng tại điểm lợi nhuận
g xp: Doanh thu phải thực hiện để đạt được lợi nhuận P
→ (g – a)xp = b + P
Trang 30→ xp =
a g
P b
−
+ (1) Vậy:
Chi phí bất biến + Lợi nhuận Sản lượng tại điểm lợi nhuận P =
Số dư đảm phí đơn vị
Từ công thức (1), ta có:
gxp=
a g
P b
−
+ (2)
d.Số dư an toàn : (Margin of Safety)
Số dư an toàn là chênh lệch giữa doanh thu thực hiện (theo dự tính hoặc theo thực tế) so với doanh thu hòa vốn
Số dư an toàn thể hiện độ an toàn trong kinh doanh, doanh nghiệp nào có số
dư an toàn lớn thì độ an toàn trong kinh doanh cao và ngược lai
Số dư an toàn = Doanh thu thực hiện – Doanh thu hòa vốn
Trang 31Số dư an toàn của các doanh nghiệp khác nhau do kết cấu chi phí của các doanh nghiệp khác nhau Thông thường doanh nghiệp nào có định phí chiếm tỷ trọng lớn, thì tỷ lệ số dư đạm phí lớn, do vậy nếu doanh thu giảm thì lỗ phát sinh nhanh hơn chính vì vậy những doanh nghiệp đó có độ an toàn thấp hơn trong kinh doanh
Để đánh giá mức độ an toàn ngoài việc sử dụng số dư an toàn cần kết hợp với chỉ tiêu tỷ lệ số dư an toàn
1.2.1.4 Phân tích kết cấu mặt hàng
Kết cấu mặt hàng là mối quan hệ tỷ trọng giữa doanh thu từng mặt hàng chiếm trong tổng doanh thu Phân tích kết cấu mặt hàng là phân tích ảnh hưởng của kết
cấu mặt hàng đến lợi nhuận
Ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng đến lợi nhuận và doanh thu hòa vốn thông qua tỷ lệ số dư đảm phí của từng mặt hàng khác nhau Nếu trong quá trình sản xuất kinh doanh tăng tỷ trọng của những mặt hàng có tỷ lệ số dư đảm phí lớn, giảm tỷ trọng những mặt hàng có tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ thỉ tỷ lệ số dư đảm phí tăng lên
Vì vậy, doanh thu hòa vốn của doanh nghiệp giảm đi và từ đó độ an toàn của doanh nghiệp tăng lên
Mặt khác, khi tỷ lệ số dư đảm phí bình quân tăng lên, thì khi tăng doanh thu thì lợi nhuận sẽ tăng lên Sự thay đổi lợi nhuận và doanh thu hòa vốn trong trường hợp này là do sự thay đổi của kết cấu mặt hàng
Số dư an toàn
Tỷ lệ số dư an toàn = Doanh thu × 100%
Trang 321.2.2 Ứng dụng phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí trong định giá
1.2.2.1 Định giá sản phẩm theo phương pháp trực tiếp (đảm phí)
Đây là cách thức để định giá bán đối với những sản phẩm sản xuất hàng loạt
và được bán cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh hàng ngày
Trong quá trình định giá cho các sản phẩm sản xuất hàng loạt, tất cả các chi phí đều thích hợp cho việc định giá Nhưng phải được cân nhắc một cách thích hợp bởi người lập giá, dựa trên cơ sở là giá bán phải đủ để bù đắp cho tất cả chi phí đã
bỏ ra và đảm bảo được mục tiêu về lợi nhuận lâu dài Điều này có nghĩa là cả chi phí khả biến và chi phí bất biến, cùng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều phải được tính tới khi xác định giá bán sản phẩm
Định giá bán theo phương pháp trực tiếp (đảm phí) là dựa vào cách phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí, giá bán của sản phẩm được xác định như sau:
Trong đó:
- Chi phí nền là biến phí để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm, bao gồm biến phí nguyên vật liệu trực tiếp, biến phí nhân công trực tiếp và biến phí sản xuất chung, biến phí bán hàng và biến phí quản lí doanh nghiệp
- Số tiền tăng thêm phải đủ để bù đắp định phí sản xuất chung, định phí bán hàng, định phí quản lí doanh nghiệp va phải đảm bảo cho Công ty mức hòa vốn thỏa đáng
Số tiền tăng thêm được tình như sau:
Số tiền tăng thêm = Chi phí nền × Tỷ lệ (%) số tiền tăng thêm
Để xác định tỷ lệ số tiền tăng thêm, các Công ty thường sử dụng tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) để tính toán Đầu tiên là xác định một tỷ lệ hòa vốn đầu tư (ROI)
mà Công ty mong muốn đạt được và sau đó tỷ lệ số tiền tăng thêm sẽ được xác định
để có thể đạt được (ROI) nói trên
Giá bán sản phẩm = Chi phí nền + Số tiền tăng thêm
Trang 33Tỷ lệ (%) số tiền tăng thêm được tính như sau:
Tổng chi phí bất biến + Mức hoàn vốn mong muốn
Tỷ lệ số tiền
Ví dụ: Căn cứ vào các số liệu của doanh nghiệp X sản xuất hàng loạt sản phẩm
A như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho một sản phẩm: 29
- Chi phí nhân công trực tiếp cho một sản phẩm: 2
- Biến phí sản xuất chung cho một sản phẩm: 4
- Định phí sản xuất chung một năm: 250.000
- Biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp cho một sản phẩm 1
- Định phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp một năm 100.000
- Giả sử doanh nghiệp đã đầu tư 5.000.000 để tiến hành sản xuất và bán
50.000 sản phẩm A mỗi năm, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư mong muốn của
doanh nghiệp là 20%
Ta tiến hành định giá bán bằng phương pháp trực tiếp như sau:(đvt: 1.000đ)
Chi phí nền cho một sản phẩm là:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp khả biến: 29
- Chi phí nhân công trực tiếp khả biến: 2
- Chi phí sản xuất chung khả biến: 4
- Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp khả biến: 1
Cộng 36
250.000 + 100.000 + (5.000.000 × 20%)
Tỷ lệ số tiền
Trang 34Số tiền tăng thêm cho một đơn vị sản phẩm là: 36 × 75% = 27
Phiếu định giá bán một đơn vị sản phẩm
(Theo phương pháp trực tiếp)
Chi phí nền
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp khả biến 29
- Chi phí nhân công trực tiếp khả biến 2
- Chi phí sản xuất chung khả biến 4
- Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp khả biến 1
1.2.2.2 Định giá trong trường hợp đặc biệt
Khi cần phải đưa ra quyết định về giá bán đối với các sản phẩm sản xuất hàng loạt, cần lưu ý là không phải tất cả các quyết định về giá bán liên quan đến các sản phẩm sản xuất hàng loạt đều giống nhau, bởi vì nhiều khi nó liên quan đến các trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như:
- Một công ty nhận được một đơn đặt hàng với số lượng lớn sản phẩm, nhưng với một giá đặc biệt và chỉ mua một lần
- Nhận được một đơn đặt hàng trong trường hợp công ty còn năng lực nhàn rỗi
- Cạnh tranh trong đấu thầu cung cấp sản phẩm
- Công ty phải hoạt động trong điều kiện khó khăn, buộc phải giảm giá bán vv…
Trang 35Như vậy, đòi hỏi Công ty phải có phương pháp xác định giá bán trong các trường hợp đặc biệt
Để xác định giá bán trong các trường hợp đặc biệt người ta thường sử dụng cách tính trực tiếp (cách tính đảm phí) mà không sử dụng cách tính toàn bộ là do:
- Cách tính đảm phí cung cấp cho người định giá nhiều thông tin chi tiết hơn
là cách tính toàn bộ và thông tin được cung cấp có cấu trúc phù hợp với mối quan
hệ Chi phí - Khối lượng - Lợi nhuận (C.V.P)
- Cách tính đảm phí nó cung cấp một sườn linh hoạt hơn, vì thế nó có thể giúp cho việc định giá một cách nhanh chóng mà không cần phải làm thêm một số công việc nghiên cứu các tài liệu chi phí, để có thêm thông tin như cách tính toàn
Phiếu tính giá của một đơn vị sản phẩm này được cung cấp như sau:
(đvt: 1.000đ)
Cách tính đảm phí
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 6
- Chi phí nhân công trực tiếp 7
- Biến phí bán hàng và quản lý 1
- Chi phí khả biến đơn vị 16
- Số tiền tăng thêm (50%) 8
Phiếu tính giá dựa trên cách tính đảm phí cung cấp những thông tin hữu ích để
ra quyết định Phiếu tính giá được xây dựng theo cách ứng xử của chi phí nên nó
Trang 36phù hợp với mối quan hệ Chi phí – Khối lượng – Lợi nhuận, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà quản lý đưa ra các quyết định mà không cần phải nghiên cứu thêm các tài liệu chi phí, cụ thể là: Do công ty Y có năng lực sản xuất nhàn rỗi, nên phần định phí không cần phải tính trong các quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đơn đặt hàng, vì thế phần doanh thu từ đơn đặt hàng đặc biệt chỉ cần bù đắp phần biến phí, phần còn lại chính là lợi nhuận thu được từ đơn đặt hàng Chúng ta giả sử rằng biến phí đơn vị sản phẩm tính cho đơn đặt hàng đặc biệt không có gì thay đổi so với biến phí đơn vị sản phẩm trong điều kiện sản xuất bình thường hiện nay, ta có:
- Chi phí khả biến (10.000sp x 16 ) 160.000
- Số dư đảm phí thu được từ đơn đặt hàng : 30.000
Do định phí không tăng thêm khi sản xuất thêm 10.000 sản phẩm, nên lợi nhuận thu được từ đơn đặt hàng sẽ là: 30.000
→ Công ty Y nên chấp nhận đơn đặt hàng này
Từ những vấn đề trên giúp chúng ta thấy rằng, cách tính đảm phí đã chứa đựng một mẫu định giá có sẵn mà nhà quản lý có thể dựa vào đó để đưa ra các quyết định về giá trong các trường hợp đặc biệt Cách tính đảm phí để định giá bán sản phẩm có thể được trình bày theo mẫu tổng quát như sau:
Cách tính đảm phí để định giá
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: xx
Chi phí nhân công trực tiếp: xx
Biến phí bán hàng và quản lý: xx
Chi phí khả biến đơn vị:
Số tiền tăng thêm:
xxx (nền)
xx
Phạm vi linh động
Trang 37Trong mẫu định giá trên, giá bán sản phẩm có thể được xác định trong phạm
vi từ nền đến đỉnh, trong đó giá bán tại đỉnh là giá mà nhà quản lý mong muốn đạt được và cần thiết phải đạt được đối với những sản phẩm bán về lâu dài Nhưng nhà quản lý có thể linh động trong việc định giá bán sản phẩm mà giới hạn thấp nhất là nền của các chi phí khả biến trong một số các trường hợp như sau:
■ Trường hợp thứ nhất:
Khi công ty có năng lực sản xuất nhàn rỗi nhưng lại không được sử dụng để tăng doanh thu với giá bán chính thức, thì mọi việc sử dụng năng lực nhàn rỗi để làm cho doanh thu nhiều hơn chi phí khả biến đều làm tăng lợi nhuận chung của công ty Công ty có thể vận dụng vấn đề này vào việc thực hiện các đơn đặt hàng đặc biệt đối với các sản phẩm chính thức mà đơn vị đang sản xuất, cho những khách hàng
mà công ty không thường xuyên cung cấp hoặc thực hiện những đơn đặt hàng đặc biệt mà công ty chưa sản xuất Nếu giá nhận được từ những đơn đặt hàng này lớn hơn chi phí khả biến thì đơn đặt hàng sẽ được chấp nhận
■ Trường hợp thứ hai:
Khi công ty hoạt động trong điều kiện khó khăn, thị trường trở nên bất lợi đối với các sản phẩm do công ty sản xuất ra, ví dụ như nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giảm nhanh chóng buộc Công ty phải giảm nhanh giá bán sản phẩm
Trong điều kiện như vậy, bất kỳ một khoản đảm phí nào mà Công ty có thể thu được để bù đắp chi phí bất biến cũng đều tốt hơn là phải ngưng toàn bộ hoạt động Bởi vì nếu như ngừng hoạt động thì lúc đó sẽ không có một khoản đảm phí nào có thể bù đắp cho định phí
■ Trường hợp thứ ba:
Khi Công ty hoạt động trong điều kiện cạnh tranh đấu thầu
Mẫu định giá được xác định ở trên đặc biệt có ích trong các trường hợp cạnh tranh đấu thầu vì nó cho biết phạm vi linh hoạt của giá để từ đó đưa ra giá trúng thầu đảm bảo cho việc tăng lợi nhuận Công ty có thể linh hoạt hạ bớt giá trong các tình huống cạnh tranh và chỉ cần đạt một số dư đảm phí khiêm tốn kết hợp với sự quay vòng vốn nhanh, vẫn có thề có hiệu quả cao cho quá trình sinh lợi Thậm chí
Trang 38cả trong tình huống là chi phí bất biến cao (Do công ty đã thực hiện việc đầu tư tài sản cố định cho sản xuất), mẫu định giá vẫn cung cấp được các thông tin để cho thấy rằng, mặc dù Công ty buộc phải hoạt động với mức hạch toán lỗ (số dư đảm phí không đủ để bù đắp định phí) nhưng điều này có lẽ vẫn thỏa đáng hơn là Công
ty không có số dư đảm phí nào để bù đắp cho phần định phí đã đầu tư
TÓM TẮT CHƯƠNG 1:
Nhận diện, phân tích các hoạt động làm phát sinh chi phí là điểm mấu chốt để quản lý tốt chi phí, giúp nhà quản trị có những quyết định đúng đắn Một khi đã xác định được cho phí đã được sử dụng trong mục đích nào thì chúng ta có thể phân loại chi phí một cách thích hợp chi phí có thể được phân loại để phục vụ cho mục đích lập báo cáo cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp , phục vụ cho mục đích xem xét sự biến động của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi, phục vụ mục đích phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí, phục vụ cho nhà quản trị kiểm soát chi phí và ra quyết định
Để phục vụ cho mục đích xem xét việc thay đổi của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi, chi phí được phân loại thành biến phí và định phí Cách phân loại chi phí này được thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lập theo phương pháp trực tiếp, sẽ cung cấp những thông tin thích hợp cho nhu cầu thông tin của nhà quản trị
Chi phí được phân loại như thế nào còn tùy thuộc vào cách nhìn nhận vấn đề của từng nhà quản trị Dù đứng ở góc độ nào đẻ nhìn nhận chi phí thì mục tiêu cuối cùng của việc phân loại cũng là để quản lý, kiểm soát chi phí một cách hữu hiệu vá hiệu quả nhất, từ đó nhà quản trị có thể sử dụng những thông tin chi phí có được cho các quyết định của mình
Trang 39CHƯƠNG 2
PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO CÁCH ỨNG XỬ VÀ ỨNG DỤNG CÁCH PHÂN LOẠI NÀY TRONG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢNG CÁO ĐỒNG NAI
2.1 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CP QUẢNG CÁO ĐỒNG NAI 2.1.1 Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai
Sơ lược về công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai:
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢNG CÁO ĐỒNG NAI
- Địa chỉ đăng ký kinh doanh: Số 396B Phạm Văn Thuận, P Trung Dũng,
TP Biên Hòa, T.Đồng Nai
- Chi nhánh 1: 235/17A, KP2, Đường Dương Tử Giang, P Tân Tiến, TP Biên Hòa, T.Đồng Nai
- Chi nhánh 2: 11/3D, KP2,P.Bửu Long, TP Biên Hòa, T.Đồng Nai
- Giấy phép đăng ký kinh doanh số 4703000587, ngày cấp 06/10/2008
- Nơi cấp : Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai
Trang 40- Địa chỉ thường trú: Số 104, khu 2, ấp Hưng Nghĩa, xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
- Số lượng khách hàng trung bình dự kiến khai thác vào hàng tháng khoảng
20 khách hàng, giá bán trung bình 6.000.000 đ/website, chi phí bảo trì hàng tháng khoảng 1.500.000 đ/năm
Doanh thu trung bình hàng tháng khoảng 350.000.000 đ
- Tính cạnh tranh sản phẩm và dịch vụ của công ty so với những đơn vị khác: Hiện nay, có rất ít công ty vừa thực hiện xây dựng website vừa tổ chức tiến hành quảng bá thương hiệu và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kèm theo tại thị trường Đồng Nai và Bình Dương nhằm giúp các doanh nghiệp khác phát triển bền vững cho thương hiệu của mình như công ty CP Quảng Cáo Đồng Nai Với hình thức hoạt động này công ty có rât nhiều lợi thế nhưng cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức để có thể vững bước trên con đường phát triển trong tương lai
2.1.1.2 Nhiệm vụ, chức năng và mục tiêu hoạt động của công ty
Nhiệm vụ hoạt động của công ty cổ phần quảng cáo Đồng Nai:
- Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, làm đầu mối giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng với các đơn vị khác
- Xây dựng, quản lý và bảo trì các trang web, giúp các trang web này được hoạt động liên tục
- Bảo đảm tự hạch toán đầy đủ và trung thực với nhà nước
- Thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu phòng chống cháy nổ
- Nghiêm túc chấp hành các chủ trương, chính sách của nhà nước đề ra