Khi thực hiện đề tài em sẽ tìm hiểu, làm rõ các yếu tố tạo nên sự biến động về giá thành sản phẩm, chỉ ra được những chi phí bỏ ra không phù hợp trong quá trình sản xuất, từ đó sẽ đề xuấ
Trang 1và đạt được lợi nhuận như mong muốn [10] Vì thế, để đứng vững trên thương trường, tránh nguy cơ bị đào thải bởi quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt và đáp ứng được tâm lý, nhu cầu của người tiêu dùng với sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã phong phú, đa dạng chủng loại Chính vì vậy, việc đưa ra một giá bán hợp lý là rất quan trọng đến sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp Nhưng để có một giá bán hợp lý thì việc tiết giảm chi phí
và hạ giá thành là yếu tố thiết yếu trong doanh nghiệp
Thông tin chi phí, giá thành có ý nghĩa sâu sắc với công tác quản trị doanh nghiệp bởi vì trên cơ sở đó, người quản lý mới xây dựng được cơ cấu chi phí sản xuất, cơ cấu giá sản phẩm sao cho hợp lý nhất
Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của vấn đề, em quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành của sản phẩm tại Công Ty TNHH Tân Thiên Phú”
2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu của đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kế toán DN phải bao gồm kế toán tài chính
và KTQT Sự tồn tại hai bộ phận chuyên môn kế toán này hoàn toàn không mâu thuẫn
mà tạo nên sự hỗ trợ cần thiết để đảm bảo cho chức năng phản ảnh và cung cấp thông tin kế toán Sự cạnh tranh càng gia tăng, KTQT càng bức thiết, càng nổi bật vai trò [12]
Trang 2Ngày nay, nội dung KTQT được ứng dụng rộng rãi trong các DN nhất là ở các nước mới, phát triển kinh tế thị trường, là hệ thống KTQT hỗn hợp với nhiều nội dung, trình độ khác nhau Trong đó, nổi bật nhất là những nội dung KTQT liên quan đến thiết lập thông tin để hoạch định, kiểm soát tài chính, thông tin để giảm những tổn thất nguồn lực kinh tế trong hoạt động SXKD và thông tin để sử dụng hiệu quả nguồn lực kinh tế trong quy trình tạo ra giá trị [6]
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm, phải biết tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn Để có được điều đó, một trong những biện pháp là mỗi doanh nghiệp đều không ngừng hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm [6]
Trong suốt quá trình thực tập tại công ty em cũng đã đọc nhiều đề tài như “Kế toán xác định kết quả kinh doanh và phân phối lợi nhuận”, “Công tác quản lý và sử dụng tài sản cố định”… Trong đó cũng có một số đề tài tìm hiểu về chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm như: “Hoàn thiện quy trình kế toán chi phí nguyên vật liệu”, “Hoàn
thiện kế toán chi phí và tính giá thành”… Các đề tài này đã nêu ra được một số vấn đề còn vướng mắc về chi phí cấu thành nên sản phẩm, nhưng vẫn chưa tìm ra được biện pháp phù hợp để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm,… Khi thực hiện đề tài em sẽ tìm hiểu, làm rõ các yếu tố tạo nên sự biến động về giá thành sản phẩm, chỉ ra được những chi phí bỏ ra không phù hợp trong quá trình sản xuất, từ đó sẽ đề xuất một số biện pháp giúp giảm thiểu những chi phí không phù hợp trong công tác quản lý của doanh nghiệp
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Quan sát quá trình sản xuất sản phẩm tại phân xưởng sản xuất
- Thu thập số liệu từ phòng kế toán, tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp xử lý số liệu:
+ Phương pháp tổng hợp (thu thập, tổng hợp số liệu)
Trang 3+ Phương pháp so sánh (đối chiếu, so sánh số liệu qua từng năm)
4 Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là vận dụng lý luận về kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm, kết hợp với phương pháp phân tích giá thành đã học ở trường và nghiên cứu thực tiễn từ đó phân tích, nhận xét, đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành của sản phẩm để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Đối tượng nghiên cứu: các sản phẩm gốm sứ
- Phạm vi nghiên cứu là các số liệu, tài liệu của 6 tháng cuối năm 2008 và 6 tháng đầu năm 2009
5 Điểm mới của đề tài:
Là những đề xuất quản lý và biện pháp tiết kiệm chi phí một cách hợp lý, từ đó giúp doanh nghiệp có thể giảm giá thành sản phẩm, nhằm tăng lợi nhuận kinh doanh tại công ty TNHH Tân Thiên Phú
6 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về chi phí kinh doanh và giá thành của sản phẩm
trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi phí và giá thành của sản phẩm tại
công ty TNHH Tân Thiên Phú
Chương 3: Phương hướng và biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giá thành
của sản phẩm tại công ty TNHH Tân Thiên Phú
Trang 4
Chương I
Lý luận chung về Chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1.1 Chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.1, Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1, Khái niệm và đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1.1, Khái niệm
Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của một doanh nghiệp là tạo ra những
sản phẩm nhất định và tiêu thụ những sản phẩm đó trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận Nhưng bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh thì cũng đều phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định [11]
Các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước hết là các chi phí cho việc sản
xuất sản phẩm Trong khi tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp phải tiêu hao các vật tư như: Nguyên vật liệu, hao mòn máy móc, thiết bị, các công cụ dụng cụ, các khoản chi
phí về tiền lương hay tiền công cho người lao động
Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên gọi là chi phí sản xuất của doanh nghiệp [11]
Doanh nghiệp ngoài việc sản xuất, chế biến còn phải tổ chức tiêu thụ sản
phẩm Trong quá trình này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí nhất
Trang 5định như: Chi phí về bao bì đóng gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bảo quản Ngoài
ra để giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho người tiêu dùng, cũng như để hướng dẫn người tiêu dùng hoặc thăm dò khảo sát thị trường nhằm đề ra những quyết định có tính chất tối ưu đối với việc sản xuất thì doanh nghiệp cũng phải bỏ ra các chi phí về nghiên
cứu, tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu hay bảo hành sản phẩm
Ngoài những chi phí sản xuất và chi phí sinh hoạt, trong quá trình hoạt động
của doanh nghiệp còn bỏ ra những khoản chi phí phục vụ cho những hoạt động của bộ
máy quản lý doanh nghiệp có liên quan đến quá trình kinh doanh [11]
Như vậy, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có thể thấy chi phí sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định [11]
Để đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh tốt đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bù đắp, trang trải được toàn bộ chi phí kinh doanh và thu được lợi nhuận cao Điều này cho thấy không phải khoản mục chi phí nào cũng được đưa vào chi phí hoạt động mà chúng ta phải xét đến tính chất, đặc điểm
của nó
Chi phí kinh doanh là một chỉ tiêu quan trọng Qua xem xét chỉ tiêu này có thể
đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp Chi phí kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà lợi nhuận
là mục tiêu kinh doanh, mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí, bởi lẽ mỗi đồng chi phí không hợp lý đều làm tăng giá thành sản phẩm, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Do đó, hạ thấp chi phí kinh doanh là một điều kiện để doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình
và đảm bảo cho sự tồn tại và đi lên của doanh nghiệp [11]
1.1.1.1.2, Đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 6Mỗi doanh nghiệp kinh doanh khác nhau thì đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất là khác nhau Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà chi phí cần tập
hợp nhằm phục vụ cho việc thông tin kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần thiết cho công tác
hạch toán kế toán chi phí sản xuất sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất, đặc điểm quy trình sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí của doanh nghiệp Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và mở
sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng kế toán chi phí đã xác định
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong ngành sản xuất nói chung và trong sản xuất gốm – thiếc nói riêng thường căn cứ vào:
- Đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sản xuất sản phẩm là giản đơn hay phức tạp, liên tục hay song song)
- Loại hình sản xuất sản phẩm (sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt)
- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Đặc điểm tổ chưc bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý)
- Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần
thiết và quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất Có xác định đúng đối tượng hạch toán, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù hợp với đặc điểm tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt công tác chi
phí
1.1.1.2, Phân loại chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí phải trả trong năm tài chính bao gồm nhiều khoản chi phí Các chi phí
này khác nhau về nội dung kinh doanh, tính chất của chi phí, vai trò của nó trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ Để tạo điều kiện cho công tác quản lý và hạch toán chi phí tính giá thành sản phẩm từ đó tính đúng kết quả từng loại hoạt động kinh doanh thì
việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo các tiêu thức là rất cần thiết [11]
Trang 7Để phân loại chi phí sản xuất người ta có rất nhiều tiêu thức khác nhau nhưng về mặt cơ bản người ta dùng ba tiêu thức chủ yếu:
Một là, phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung, tính chất kinh tế
[11]
Theo cách phân loại này chi phí chia thành các yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố
chi phí chỉ bao gồm những chi phí cùng một nội dung kính tế không phân biệt chi phí
đó phát sinh từ lĩnh vực nào Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp được chia thành 5 loại:
n Chi phí vật tư mua ngoài là toàn bộ giá trị vật tư mua ngoài dùng vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu
phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế…
o Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương là toàn bộ các khoản tiền
lương, tiền công doanh nghiệp phải trả cho những người tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phí BHXH, BHYT,
KPCĐ mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ
p Chi phí khấu hao tài sản cố định là toàn bộ số tiền khấu hao các loại tài sản
cố định trích trong kỳ
q Chi phí dịch vụ mua ngoài là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả cho các
dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị khác ở
bên ngoài cung cấp như: dịch vụ điện, nước…
r Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí bằng tiền ngoài các khoản đã nêu trên
Phân loại các chi phí của doanh nghiệp thành các yếu tố chi phí như trên có ý
nghĩa lớn trong quản lý chi phí Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố ở Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu vốn đầu tư
cho kỳ sau
Trang 8Hai là, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí [11]
Cách phân loại này dựa vào mục đích công dụng của chi phí nơi phát sinh chi
phí và nơi gánh chịu chi phí để phân chia chi phí sản xuất thành các khoản mục khác
nhau Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, dụng cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóa dịch vụ Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công, các
khoản phụ cấp có tính chất lương, các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân công
trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí được sử dụng ở các phân
xưởng, bộ phận kinh doanh như: Tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc, nhân viên phân xưởng, chi phí tài sản cố định thuộc phạm vi phân xưởng, chi phí vât liệu, công
cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh ỏ phạm vi phân
xưởng, bộ phận sản xuất
Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí tiền lương, phụ cấp trả lương cho công nhân bán hàng, tiếp thị, vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, các chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác (như: Bảo
hành sản phẩm, quảng cáo)
Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cho bộ máy quản lý doanh
nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như: Khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lý, chi phí công cụ dụng cụ, các chi phí khác phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp (như: Tiền lương và các khoản phụ cấp lương trả cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên các phòng ban quản lý), chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp Các khoản chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn
kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, công tác phí, các chi phí giao dịch, đối ngoại…
Trang 9Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính giá
thành cho từng loại sản phẩm, quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai thác khả
năng hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
Ba là, phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất
kinh doanh [11]
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai loại: Chi phí cố định (Định phí) và chi phí biến đổi (Biến phí)
) Chi phí cố định (Định phí): Là các chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi
không đáng kể) theo sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí thuộc loại này bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định (theo thời gian); chi phí tiền lương trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả, chi phí
cho thuê tài chính, văn phòng [11]
) Chi phí biến đổi (Biến phí): Là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay
đổi của quy mô sản xuất, chi phí thuộc loại này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương công nhân trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ được
cung cấp (như: Tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…) [11]
Do đặc điểm của từng loại chi phí nêu trên khi quy mô sản xuất kinh doanh
càng tăng thì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ càng giảm Riêng đối với chi phí biến đổi, việc tăng hoặc giảm hay không thay đổi khi tính chi phí này cho một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tương quan biến đổi giữa quy
mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổi của doanh nghiệp
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi của
từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác định được
sản lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lý để đạt được hiệu quả cao nhất 1.1.2, Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.2.1, Khái niệm và ý nghĩa của giá thành sản phẩm
Trong sản xuất kinh doanh chí phí mới là mặt thứ nhất thể hiện sự hao phí đã chi
ra Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chi phí phải được xem
Trang 10xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản trong quá trình sản xuất Đó là, kết quả sản xuất thu được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, quan hệ so sánh
đó đã hình thành nên chỉ tiêu “Giá thành sản phẩm” [11]
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp đã
bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay một khối lượng
sản phẩm nhất định [11]
Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhưng do trình độ quản lý
khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau Chính vì vậy mà giá thành sản phẩm
mang tính cá biệt đối với từng doanh nghiệp
Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm có một ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
¾ Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ
để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh Muốn lựa chọn sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu thị trường, gía cả thị trường và mức hao phí sản xuất loại sản phẩm đó Trên cơ sở như vậy mới xác định được hiệu quả sản xuất loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết định khối lượng sản xuất tối ưu
[11]
¾ Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức, kỹ thuật Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản phẩm, phát hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến
phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ [11]
¾ Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính sách
giá cả đối với từng loại sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh trên thị
trường [11]
1.1.2.2, Các loại giá thành sản phẩm [5]
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành sản xuất sản phẩm và giá thành toàn bộ
Trang 11Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ bao gồm:
# Chi phí vật tư trực tiếp
# Chi phí nhân công trực tiếp
# Chi phí sản xuất chung
Giá thành toàn bộ sản phẩm đã tiêu thụ gồm toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định gồm:
# Giá thành sản xuất của sản phẩm
# Chi phí bán hàng
# Chi phí quản lý doanh nghiệp
Đứng trên góc độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp còn được chia thành:
¾ Giá thành kế hoạch: Việc xác định giá thành kế hoạch được xây dựng trước
khi bước vào chu kỳ sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch được tính trên cơ
sở chi phí sản xuất kế hoạch và được xem là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là
cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá
thành của doanh nghiệp [5]
¾ Giá thành định mức: Được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất chế tạo
sản phẩm Giá thành định mức được tính trên cơ sở các chi phí hiện hành và chi phí đơn vị sản phẩm Nó là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất giúp cho việc đánh gía đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong
quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh [5]
¾ Giá thành thực tế: Được xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm
đã hoàn thành và được xác định trên cơ sở lượng chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh trong kỳ Giá thực tế phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Nó là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản
Trang 12xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn cứ để xây dựng giá thành kế hoạch cho kỳ sau, đảm bảo cho giá thành kế hoạch ngày càng sát thực và hợp lý [5]
1.1.3, Phương pháp phân tích giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp [8] 1.1.3.1, Phân tích chung tình hình thực hiện giá thành
- Phân tích chung tình hình giá thành là xem xét đánh giá sự biến động về giá
thành đơn vị và sự biến động về tổng giá thành nhằm thấy được khái quát tình hình giá
thành của doanh nghiệp [8]
1.1.3.1.1, Phân tích chung tình hình biến động giá thành đơn vị [8]
Mục đích phân tích là đánh giá được kết quả thực hiện giá thành đơn vị của
từng loại sản phẩm sản xuất
Phương pháp phân tích: dung phương pháp so sánh để xác định chênh lệch về mức độ và tỷ lệ của giá thành đơn vị từng loại sản phẩm giữa thực tế năm nay với kế hoạch năm nay hoặc với năm trước
Khi phân tích biến động của giá thành cần loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khách quan tác động đến gía thành như: Sự thay đổi giá cả nguyên vật liệu sản xuất, thay đổi tỷ lệ khấu hao tài sản, đánh giá lại tài sản cố định….Những nhân tố này làm cho giá thành thực tế thay đổi so với kế hoạch một cách khách quan
1.1.3.1.2, Phân tích chung tình hình biến động tổng giá thành [8]
Trong các doanh nghiệp sản xuất, để tiện cho việc hạch toán, lập kế hoạch và phân tích, căn cứ vào phương pháp quản lý, toàn bộ sản phẩm được chia thành 2 loại: ¾ Sản phẩm so sánh được là sản phẩm đã chính thức sản xuất ở nhiều kỳ và quá trình sản xuất ổn định, có tài liệu giá thành thực tế cũng như kế hoạch tương đối chính xác, đáng tin cậy, là căn cứ để so sánh khi dung làm tài liệu phân tích
¾ Sản phẩm không so sánh được là những sản phẩm mới đưa vào sản xuất hoặc mới sản xuất thử, quá trình sản xuất chưa ổn định, do đó tài liệu giá thành kế hoạch đôi khi thiếu chính xác, giá thành thực tế còn nhiều biến động, vì vậy chưa đủ căn cứ so sánh khi sử dụng làm tài liệu phân tích
Trang 13Mục tiêu phân tích của phần này nhằm đánh giá chung tình hình biến động tổng giá thành của toàn bộ sản phẩm theo từng loại sản phẩm để nhận định một cách tổng quát khả năng tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do tác động của giá thành sản phẩm nào? Cần nghiên cứu giảm giá thành loại sản phẩm nào?
Phương pháp phân tích: dùng phương pháp so sánh
+ So sánh tổng giá thành thực tế với tổng giá thành kế hoạch tính theo sản
lượng thực tế
Tổng giá thành thực tế = ∑ (sản lượng thực tế x giá thành đơn vị thực tế) Tổng giá thành kế hoạch = ∑ (sản lượng thực tế x giá thành đơn vị kế
hoạch)
+ So sánh tổng giá thành thực tế với tổng giá thành năm trước tính theo sản
lượng thực tế = ∑ (sản lượng thực tế x giá thành đơn vị năm trước)
1.1.3.2, Phân tích tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ thấp giá thành sản phẩm
Trang 14+ Sản phẩm i: MKi = qKi (ZKi – ZNTi)
+ Doanh nghiệp: MK = ∑qKi (ZKi – ZNTi)
- Mức hạ kỳ thực tế của:
+ Sản phẩm i: MTi = qTi (ZTi – ZNTi)
+ Doanh nghiệp: MT = ∑qTi (ZTi – ZNTi)
b, Tỷ lệ hạ thấp (ký hiệu là T): là tỉ lệ % của mức giảm giá thành so với giá thành năm trước [8]
*** Phân tích chung tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ thấp giá thành sản
phẩm so sánh được là xem xét đánh giá sự biến động về mức hạ và tỷ lệ hạ của từng loại sản phẩm và của toàn bộ doanh nghiệp
) Xét từng loại sản phẩm
+ U Mi = MTi - MKi
+ U Ti = TTi - TKi
Trang 15) Xét toàn bộ doanh nghiệp
Phương pháp phân tích: dùng phương pháp thay thế liên hoàn
Dùng phương pháp này để xác định lần lượt mức độ ảnh hưởng của 3 nhân tố trên đến chỉ tiêu mức hạ và tỷ lệ hạ giá thành
a, Nhân tố sản lượng sản phẩm
Theo nguyên tắc của thay thế liên hoàn, để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố sản lượng ta phải xét trong điều kiện giả định các nhân tố khác không đổi Khi
đó sản lượng các sản phẩm tăng hoặc giảm ở một tỷ lệ nhất định sẽ tác động đến mức
hạ giá thành tăng hoặc giảm cùng một tỷ lệ tương ứng Điều này có nghĩa là tỷ lệ hạ giá thành không đổi khi sản lượng thay đổi, chỉ có mức hạ giá thành thay đổi
b, Nhân tố kết cấu mặt hàng
Do mỗi mặt hàng đều có mức hạ và tỷ lệ hạ khác nhau nên khi kết cấu mặt hàng thay đổi sẽ ảnh hưởng đến mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành thay đổi theo Kết cấu mặt hàng thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng loại sản phẩm có mức hạ
và tỷ lệ hạ cao, giảm tỷ trọng loại sản phẩm có mức hạ và tỷ lệ hạ thấp, điều này sẽ làm cho mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ thành chung hạ thêm và ngược lại
c, Nhân tố giá thành đơn vị
Trang 16Giá thành đơn vị sản phẩm thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức hạ và tỷ lệ
hạ giá thành chung
1.1.3.3, Phân tích các khoản mục giá thành
1.1.3.3.1, Phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp [8]
Thường khoản mục chi phí NVLTT chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành
Phân tích khoản mục CP này sẽ giúp DN thấy rõ ưu – nhược điểm của mình trong công tác quản lý và sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm Sử dụng tiết kiệm
và có hiệu quả nguyên vật liệu là nội dung cơ bản của hạch toán kinh tế, là biện pháp chủ yếu để hạ giá thành sản phẩm
Nội dung phân tích sẽ đi sâu vào các trường hợp mà doanh nghiệp sản xuất một loại sản phẩm cần nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau Các nguyên vật liệu này không thể thay thế được
Phương pháp phân tích: dùng phương pháp so sánh và thay thế liên hoàn
So sánh tổng chi phí NVLTT kế hoạch tính theo sản lượng sản phẩm thực tế Do vậy, các nhân tố ảnh hưởng đến khoản mục chi phí NVLTT là:
- Mức tiêu hao NVL/ sản phẩm (biến động lượng)
- Đơn giá NVL (biến động giá)
Biến động lượng ảnh hưởng đến chi phí NVL thường do các nguyên nhân: thay đổi phương pháp chế biến, chất lượng sản phẩm thay đổi, quy cách vật liệu không bảo đảm, do kết cấu và thiết kế thay đổi, do công tác quản lý và sử dụng vật liệu Biến động giá ảnh hưởng đến chi phí NVL thường do các nguyên nhân: giá vật liệu thay đổi, gồm giá mua tại nơi cung cấp và chi phí phát sinh trong quá trình thu mua
1.1.3.3.2, Phân tích khoản mục chi phí nhân công trực tiếp [8]
Chi phí NCTT là các khoản tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất tính trong giá thành sản phẩm, thường có quan
hệ tỷ lệ trực tiếp với số lượng sản phẩm sản xuất
Trang 17Phương pháp phân tích là so sánh tổng chi phí NCTT thực tế so với kỳ gốc (hay kỳ kế hoạch) tính theo sản lượng thực tế để thấy tình hình biến động chung, sau
đó dùng phương pháp thay thế liên hoàn xác định mức ảnh hưởng của các nhân tố sau đến tình hình biến động chung:
+ Số giờ lao động trực tiếp sản xuất/sản phẩm (biến động năng suất) + Đơn giá tiền lương bình quân (biến động giá)
1.1.3.3.3, Phân tích khoản mục chi phí sản xuất chung [8]
Chi phí SXC là những chi phí gián tiếp có các đặc điểm sau:
+ Gồm nhiều nội dung kinh tế do sự phát sinh của nhiều hoạt động khác nhau
+ Do nhiều bộ phận quản lý khác nhau trong doanh nghiệp đảm nhận + Cùng liên quan đến nhiều loại sản phẩm sản xuất nên trong quá trình tính giá thành phải thông qua phương pháp phân bổ để xác định chi phí SXC cho từng loại sản phẩm
+ Bao gồm cả định phí và biến phí, mà chủ yếu là định phí
¬ Đối với biến phí sản xuất chung các bước phân tích cũng xác định nguyên nhân biến động về lượng, giá
¬ Đối với định phí sản xuất chung so sánh số chi phí thực tế với số chi phí kế hoạch để xác định mức biến động
Như vậy, trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, việc tiết kiệm chi phí hạ giá thành
sản phẩm của các ngành nghề sẽ mang lại sự tiết kiệm lao động xã hội Nó sẽ làm tăng tổng số lợi nhuận của các doanh nghiệp đồng thời cũng làm tăng ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp Chính vì vậy tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà sản
xuất mà nó còn là mối quan tâm của từng ngành và toàn xã hội
1.2 Chi phí quản lý kinh doanh và giá thành sản phẩm [11]
Trang 181.2.1, Sự cần thiết phải quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp [11]
Trong công tác quản trị doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai
chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm vì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp [11]
Thông qua những thông tin về chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh do bộ phận kế
toán cung cấp, những người quản lý doanh nghiệp nắm được chi phí sản xuất của từng
bộ phận, từng khoản mục, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như toàn bộ hoạt động kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp Qua đó để đánh giá phân tích tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm
để có quyết định quản lý phù hợp [11]
Còn về chỉ tiêu giá thành, đây là thước đo hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là
căn cứ xác định hiệu quả kinh doanh Để quyết định sản xuất một loại sản phẩm nào
đó, doanh nghiệp cần nắm được nhu cầu thị trường, giá cả và mức hao phí sản xuất tiêu thụ sản phẩm đó [11] Trên cơ sở như vậy mới xác định được hiệu quả của sản phẩm đó và quyết định khối lượng sản xuất để đạt được lợi nhuận tối đa Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất
và chi phí bỏ vào sản xuất, tác động đến hiệu quả thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất Phát hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến các chi phí phát sinh không hợp lý
để có biện pháp loại trừ Giá thành là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng và
thực hiện chính sách giá cả đối với từng sản phẩm
1.2.2, Nội dung công tác quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm [11]
Để quản lý tốt chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm thì công tác hạch toán kế
toán phải được đặt lên hàng đầu Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế [12] Để đảm bảo phát huy tác dụng của công cụ kế toán đối với doanh nghiệp cần thiết phải có sự tính đúng, tính đủ
Trang 19chi phí sản xuất vào giá thành Đây cũng là điều kiện cho việc phân tích đánh giá, tổ chức quản lý và sản xuất hợp lý nâng cao hiệu quả quản trị đảm bảo cho sự tồn tại lâu
dài của doanh nghiệp [11]
Riêng đối với ngành thủ công mỹ nghệ việc hạch toán đúng chi phí sản xuất và tính
đủ giá thành càng trở nên quan trọng và có tính quyết định bởi sự tác động của những đặc điểm như giá cả biến động trong những thời điểm khác nhau, nhu cầu công nhân khác nhau Thông qua chỉ tiêu giá thành ta có thể xác định được kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự sáng tạo, tìm tòi phương án giải quyết công việc có
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật liệu, lao động sử dụng
máy, kiểm tra dự toán chi phí gián tiếp, phát hiện kịp thời các khoản mục chi phí chênh lệch ngoài định mức, ngoài kế hoạch, đề ra các biện pháp ngăn ngừa kịp thời
[11]
- Kiểm tra việc thực hiện giá thành theo từng khoản mục chi phí, theo từng hạng mục, vạch ra các khả năng tiềm tàng và đề ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm
- Thông qua ghi chép, phản ánh tính toán để đánh giá có hiệu quả sản xuất kinh
doanh của từng doanh nghiệp Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí và lập giá thành
theo quy định của cơ quan chủ quản cấp trên
1.2.3, Các chỉ tiêu đánh giá tình hình chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm
Với các yêu cầu trên, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao gồm các chỉ tiêu sau:
Trang 20- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và phân bổ chi phí sản xuất thích hợp
- Xác định đúng đối tượng tính giá thành và lựa chọn phương pháp tính giá thành thích hợp
- Xây dựng quy tắc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp Quy định trình tự công việc, phân bổ chi phí cho từng đối tượng, từng sản
phẩm chi tiết
1.3 Tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm
1.3.1, Ý nghĩa của việc giảm chi phí kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường [11]
Cơ chế thị trường hình thành và phát triển ở Việt Nam đã đẩy các doanh nghiệp
từ chỗ được bao cấp hoàn toàn sang việc hạch toán độc lập lời ăn lỗ chịu theo đúng quy luật của thị trường [11] Từ chỗ chỉ lo làm kế hoạch không phải lo đầu vào, đầu ra cũng không phải trả lời câu hỏi sản xuất kinh doanh cái gì? Như thế nào? Cho ai? các doanh nghiệp hiện nay đã phải trả lời câu hỏi này và phải xem xét, phận tích đánh giá vấn đề này một cách kỹ lưỡng [11] Muốn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh quyết liệt thì doanh nghiệp phải tự khẳng định mình Cơ chế thị trường khó bán hơn mua thì sự cạnh tranh quyết liệt để bán được hàng là điều tất yếu [11] Để có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường doanh ngiệp cần đổi mới, cải tiến sản xuất kinh doanh, mở rộng nâng cấp trang thiết bị cũ, tổ chức lại bộ máy quản lý cũ và điều quan trọng hơn là doanh nghiệp cần có hạch toán thu chi một cách chính xác và
có các quyết định đúng đắn kịp thời Để đạt được các điều kiện trên doanh nghiệp cần
phải có các thông tin kinh tế cần thiết Thông tin kinh tế này có hai loại:
+ Thông tin phục vụ bên ngoài
+ Thông tin phục vụ bên trong
Các thông tin phục vụ bên ngoài chủ yếu phục vụ các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước, cơ quan chủ quản do đó mang tính bắt buộc thống nhất kiểm tra được [4], Ngoài ra, các thông tin kinh tế phuc vụ cho nhiều đối tượng khác nhau: bạn hàng,
Trang 21khách hàng… Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng phải hiểu biết hết sức rõ ràng về bản thân mình thì mới có các quyết định đúng đắn [4] Về bản chất thì hoạt động quản trị chi phí kinh doanh là quá trình chuẩn bị và ra các quyết định quản trị do vậy bộ máy quản trị cần nắm rõ các thông tin hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới các quyết
định quản trị [4]
Như vậy, có thể nói thông tin bên trong đặc biệt quan trọng hay quản trị chi phí
kinh doanh là công cụ chủ yếu cung cấp thông tin kinh tế bên trong bộ máy quản trị doanh nghiệp làm cơ sở cho việc ra quyết định quản trị nên nó trở thành một công cụ chủ yếu không thể thiếu của quản trị doanh nghiệp [4] Quản trị là quan trọng do vậy khi ra quyết định mà quản trị phải đảm bảo tính chính xác và có hiệu quả của quyết
định đề ra [4]
Muốn làm được điều đó cần phải tính đến các vấn đề chi phí kinh doanh mà bản chất nó là mô tả các quá trình có ý nghĩa kinh tế diễn ra trong kinh doanh
Trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh vực thì
doanh nghiệp ngoài việc cạnh tranh với nhau bằng chất lượng còn cạnh tranh cả về giá
cả, mẫu mã,… Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải giảm tối đa các khoản chi phí để hạ giá thành mà vẫn đảm bảo được chất lượng để có thể cạnh tranh, tồn tại và
đứng vững trên thị trường
Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, một vấn đề quan trọng mà bất cứ doanh
nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào cũng phải quan tâm là giảm chi phí sản xuất Hạ thấp chi phí không những chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn là nguồn tích luỹ chủ yếu cho nền kinh tế [11] Con đường duy nhất để doanh nghiệp đứng vững trong nền kinh tế thị trường là phải thường xuyên cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ được giá thành Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hạ giá thành là con đường cơ bản để tăng doanh lợi, nó cũng là tiền đề để tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường kể cả trong và ngoài nước, góp phần cải thiện đời sống vật chất cho người lao động Ta có
thể thấy ý nghĩa cụ thể của việc hạ giá thành là:
Trang 22* Hạ giá thành sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận, nếu giá thành sản phẩm thấp so
với giá bán trên thị trường thì doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm càng cao Mặt khác, giá thành sản phẩm thấp thì doanh nghiệp có thể hạ
được giá bán nhờ đó mà tăng khối lượng tiêu thụ, thu được nhiều lợi nhuận
* Hạ giá thành là cơ sở cho doanh nghiệp giảm bớt lượng vốn lưu động đã sử dụng vào sản xuất, khi hạ giá thành sản phẩm tức là doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí về nguyên vật liệu, chi phí tiền lương, chi phí quản lý Nghĩa là với khối lượng sản xuất như cũ doanh nghiệp chỉ cần một lượng vốn ít hơn Trong điều kiện đó doanh nghiệp có thể rút bớt vốn lưu động trong sản xuất hoặc mở rộng tăng thêm khối lượng
sản phẩm tiêu thụ [11]
1.3.2, Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
Để quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, các nhà quản lý không chỉ cần phải nắm
vững nội dung, bản chất và kết cấu của các khoản mục trong chi phí sản xuất kinh doanh mà còn phải thấy được các nhân tố tác động đến chi phí sản xuất kinh doanh
Có nhiều nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến chi phí, song có thể quy lại
một số nhân tố chủ yếu sau:
1.3.2.1, Nhân tố tiến bộ khoa học và công nghệ
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật
và công nghệ sản xuất, các máy móc thiết bị, phương pháp công nghệ hiện đại được sử dụng ngày càng nhiều tạo nên khả năng lớn cho việc tiết kiệm chi phí lao động sống và lao động vật hoá trong quá trình sản xuất [11] Vì vậy, các doanh nghiệp nào nắm bắt
và ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuât sẽ có được nhiều lợi thế trong cạnh tranh, tiết kiệm được chi phí sản xuất, hạ gía thành và nâng
cao chất lượng sản phẩm
1.3.2.2, Nhân tố tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính của doanh nghiệp
Trang 23Nếu trình độ trang bị kỹ thuật hiện đại mà quản lý lại không tốt thì chi phí
không có xu hướng giảm mà còn có xu hướng tăng lên Do vậy, phải tổ chức quản lý chi phí sản xuất sao cho hợp lý, bố trí các khâu sản xuất ăn khớp với nhau sẽ hạn chế
sự lãng phí nguyên vật liệu, năng lượng điện lực [11] Mặt khác, tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, thúc đẩy việc nâng cao năng suất lao động dẫn đến giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm Đặc biệt bộ máy quản lý phải là những người có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, năng lực sáng tạo sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được phương án sản xuất tối ưu làm cho lượng chi phí bỏ ra hợp lý nhất; phân công bố trí lao động đúng ngành, đúng năng lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế góp phần tích cực vào việc hạ giá thành sản phẩm
[11]
Việc phát huy đầy đủ vai trò của quản lý tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn tới
khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm Việc tổ chức đầy đủ vốn, đảm bảo kịp thời với chi phí sử dụng vốn thấp nhất sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh có hiệu quả Việc phân phối, sử dụng hợp lý, tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn sẽ tạo điều kiện sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả cao, bảo toàn và phát triển được vốn kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó có tác động đến việc tiết kiệm chi phí sản xuất góp phần tích cực hạ giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.3.2.3, Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nhiều trường hợp, điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của
từng doanh nghiệp khó khăn hay thuận lợi cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết
kiệm chi phí và hạ giá thành
Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng như
điều kiện khai thác có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành Nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận lợi thì chi phí khai thác
sẽ thấp và ngược lại
Trang 241.3.2.4, Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng nhiều đến chi phí kinh doanh Do đặc điểm
của các sản phẩm gốm là mang tính mẫu mã, nghệ thuật do đó đòi hỏi những người tiến hành sản xuất phải nâng cao tính độc đáo, chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Để làm tốt việc này đòi hỏi những nhà quản lý không ngừng cải tiến, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng cường công tác quản lý con người nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của khách hàng Như vậy, có thể thấy chất lượng sản phẩm ảnh hưởng không nhỏ đến việc hạ thấp
chi phí và giảm giá thành sản phẩm
1.3.2.5, Nhân tố giá cả
Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán mà nó còn thể
hiện quan hệ hàng hoá và tiền tệ Do thị trường được coi là môi trường kinh doanh Nó
là nơi tập trung đầy đủ nhất những gì mà con người đã và sẽ cần đáp ứng cung cầu về hàng hoá và thị trường còn là yếu tố quan trọng nhất trực tiếp quyết định đến giá cả
Mà đặc biệt là giá cả thị trường nó lại có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí kinh doanh
và giá thành sản phẩm Khi giá cả thị trường tăng lên làm chi phí kinh doanh cũng tăng theo dẫn đến giá thành sản phẩm cũng tăng Ngược lại, khi giá cả thị trường giảm xuống sẽ là điều kiện hạ thấp chi phí kinh doanh do đó giá thành sản phẩm cũng giảm Trong điều kiện thị trường luôn biến động, giá cả hàng hoá tiêu thụ cũng biến động theo Sự thay đổi của giá cả hàng hoá sẽ làn ảnh hưởng đến chỉ tiêu tỷ suất chi phí vì
nó ảnh hưởng đến doanh số bán Sự ảnh hưởng của giá cả hàng hoá tiêu thụ đến tỉ suất chi phí là một nhân tố khách quan do sự điều tiết của thị trường Việc xác định mức độ ảnh hưởng của giá đến tổng mức phí và tỉ suất phí được thực hiện trên cơ sở tính toán
chi tiết
Tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý chi phí sản xuất và hạ
giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Mỗi nhân tố có phạm vi và mức độ tác động khác nhau, làm sao hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tích cực nhằm có biện pháp tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm
Trang 25Tóm tắt chương: Thông qua chương 1, người đọc phần nào có thể nắm được lý
thuyết về chi phí và giá thành, đồng thời biết được cách phân tích chi phí và giá thành sản phẩm Mặt khác, thấy được tầm quan trọng của việc tiết kiệm chi phí và giá thành của sản phẩm trong mỗi doanh nghiệp
Trang 26Chương II
Thực trạng công tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty
TNHH Tân Thiên Phú
2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Tân Thiên Phú
2.1.1, Quá trình hình thành và phát triển
Tên công ty: Công ty TNHH Tân Thiên Phú
Trụ sở chính: 171B, tỉnh lộ 16, xã Tân Hạnh, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Công ty TNHH Tân Thiên Phú được khởi công xây dựng từ tháng 01 năm 2002,
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 4702000271 cấp ngày 17/12/2001 tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đồng Nai Công ty được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X kỳ họp thứ V
thông qua ngày 10/ 02/ 1999
Diện tích: 7.000m2 (nhà xưởng 4.600m2)
Vốn điều lệ: 2.000.000.000 đồng
Tăng vốn lần một: 1.000.000.000 đồng
Thời gian hoạt động: 30 năm
2.1.2, Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động của công ty
Là một doanh nghiệp mới được thành lập và không lớn, nhưng công ty luôn luôn
đổi mới phương pháp kinh doanh, phong cách phục vụ khách hàng, nghiên cứu khai thác triệt để khả năng và tiềm lực sẵn có để mở rộng thị trường, tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ hợp tác lâu dài với các bạn hàng trong và ngoài nước Với phương
Trang 27châm “Đơn vị giỏi một nghề, Công ty đa ngành nghề”, Công ty TNHH Tân Thiên Phú
luôn đổi mới đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng
2.1.2.1, Chức năng
Công ty hoạt động kinh doanh lĩnh vực chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ:
gốm sứ, thủy tinh, sơn mài, mua bán vật liệu xây dựng, đồ gỗ, thiếc phục vụ cho thị trường xuất khẩu 90% và thị trường nội địa 10% Chủ yếu xuất sang các nước: Hà
Lan, Đan Mạch, Đức, Hồng Kong, Thủy Điển………
2.1.2.2, Nhiệm vụ
Xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng về chậu gốm, chậu thiếc khai thác thị trường nước ngoài, nhận ủy thác cho các đơn vị ngành về các mặt hàng xuất khẩu của công ty Giải quyết công ăn việc làm cho hơn 150 lao động trong tỉnh tạo sự ổn định về mặt xã hội
Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước Thực hiện kinh doanh theo
đúng chức năng sản xuất thủ công mỹ nghệ, hưởng ứng và thực hiện đầy đủ những
trách nhiệm và nghĩa vụ của công ty đối với xã hội
2.1.2.3, Đặc điểm
Công ty căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà
nước và căn cứ vào nhu cầu thị trường để chủ động đề ra kế hoạch sản xuất kinh doanh
và triển khai thực hiện kế hoạch có hiệu quả
Tổ chức quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tiền vốn, vật tư trang thiết bị, lực lượng lao động… đạt hiệu quả tốt nhất
2.1.3, Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và tổ chức công tác quản lý kế toán
2.1.3.1, Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh [3]
Trang 28Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Nguồn: Phòng HC-NS [3]
Chức năng nhiệm vụ các phòng ban [3]
¬ Ban giám đốc: chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty Trực tiếp đàm phán, ký kết các hợp đồng với khách hàng Trực tiếp quản lý và điều hành các phòng ban, phân xưởng thực hiện các mục tiêu của công ty Đề ra những chính sách, đường lối, chiến lược cho công ty giúp công ty hoạt
động có hiệu quả
¬ Phòng kế toán: tổ chức và hướng dẫn thực hiện các chế độ ghi chép, lập và luân chuyển các chứng từ của phòng ban trong công ty
PHÒNG KINH DOANH
TỔ ĐÓNG GÓI
TỔ HOÀN TẤT
TỔ THỢ LỬA
TỔ XỐI MEN PHƠI
ĐỒ MỘC
TỔ
IN RÓT
TỔ CÁN ĐẤT
Trang 29Theo dõi, hạch toán toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, tính toán kết quả
kinh doanh, quản lý toàn bộ nguồn tài chính của công ty, cân đối giữa vốn và nguồn
vốn
Theo dõi báo cáo kịp thời cho Ban Giám Đốc về tình hình tài chính sản xuất kinh
doanh và các khoản nộp ngân sách theo quy định đối với nhà nước, phân tích tính toán các hiệu quả kinh tế giúp lãnh đạo thấy rõ tình hình hoạt động kinh doanh theo các nghiệp vụ, từ đó tính ra các giải pháp giải quyết và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty
Trích lập đầy đủ theo đúng quy định, thực hiện công tác quan hệ tín dụng với các ngân hàng và các công tác thanh toán với KH
Quyết toán quý, năm lập báo cáo gửi cho công ty và các cơ quan chức năng có liên quan
¬ Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ theo dõi các đơn đặc hành qua mạng, thỏa thuận với khách hàng về giá cả, phương thức thanh toán phương thức vận chuyển Thực hiện việc giao tiếp với KH trực tiếp đến công ty
Đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường, quản lý điều hành việc phân phối, tiêu thụ sản phẩm
Dựa trên những đơn đặt hàng, bộ phận kinh doanh sẽ đưa ra những packing list, tính trọng lượng, số lượng, quy cách trên pallet
¬ Phòng HC – Nhân Sự: đảm nhận công việc như tuyển dụng, đào tạo chấm
công, phân bố cán bộ nhân viên lao động phù hợp với năng lực của từng người vào
những vị trí thích hợp nhằm phát triển những khả năng của mỗi người
Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám Đốc Cty, tham mưu cho ban giám đốc về các
mặc như xây dựng nội quy công tác chế độ làm việc cho phù hợp với quy định của nhà
nước
¬Phòng kế hoạch sản xuất: lập kế hoạch sản xuất khi phòng kinh doanh nhận được hợp đồng đặc hàng, xem xét tình hình vật tư chuẩn bị cho sản xuất
Trang 30¬Phân xưởng sản xuất: Cty sản xuất kinh doanh hai mặt hàng gốm và thiếc nên phân xưởng sản xuất gồm có tổ thiếc và tổ gốm:
¾Tổ thiếc: đảm nhận công việc nhúng màu và lau khô những bán thành phẩm của thiếc được mua ngoài
¾Tổ gốm: thực hiên và chịu trách nhiệm về toàn bộ các công đoạn sản xuất
SP gồm các loại
2.1.3.2, Tổ chức công tác quản lý kế toán [3]
Bộ phận kế toán tại công ty rất đơn giản: Gồm 1 kế toán và 1 thủ quỹ
Kế toán có chức năng như một kế toán trưởng Chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành toàn bộ công tác kế toán tại công ty theo chế độ kế toán Nhà nước quy định Thủ quỹ có trách nhiệm quản lý tiền mặt của công ty, theo dõi tình hình thu chi tiền mặt và ghi chép vào sổ quỹ tiền mặt để chuyển lên kế toán
Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng tại Công ty [3]
Chế độ kế toán áp dụng: theo quyết định số 15/2006 /QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của bộ trưởng Bộ Tài Chính
Hình thức kế toán áp dụng là sổ nhật ký chung
Các loại sổ kế toán đang áo dụng tại Cty gồm có: Sổ nhật ký chung, Sổ cái tổng hợp, Sổ cái chi tiết, Các sổ - thẻ kết toán chi tiết
Công việc ghi chép các số liệu vào sổ sách kế toán tại Cty được thực hiện trên
phần mềm máy vi tính, sử dụng phần mềm kết toán ACSoft (phiên bản cũ) để ghi sổ
Vì vậy việc kiểm tra đối chiếu trở nên đơn giản hơn, kế toán chỉ cần đối chiếu
với các chứng từ gốc, nếu có sai sót sẽ được chỉnh sử trên máy
Trang 31Sơ đồ 2.2: Trình tự ghi sổ kế toán
Nguồn: Phòng Kế Toán [3]
Chú thích:
Ghi hằng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Trình tự ghi sổ [3]: Hằng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được làm
căn cứ ghi sổ, trước hết kế toán phát định nghiệp vụ phát sinh thuộc phần kế toán nào:
kế toán chi tiết, (kế toán tiền, thành phẩm…) hay kế toán tổng hợp (kế toán khấu hao TSCĐ, lương, phân bổ chi phí bán hàng, tính giá thành), tiến hành cập nhật nội dung chứng từ và định khoản vào phần hành kế toán đó Chương trình phần mềm kế toán ACSoft sẽ tự động chuyển các bút toán được định khoản vào sổ nhật ký chung, các sổ cái, các sổ, thẻ kế toán chi tiết có liên quan
Bản tổng hợp chi tiết
Trang 32Cuối tháng, cuối quý, cuối năm kế toán tiến hành cập nhật vào mục thao tác phân
bổ, kết chuyển, phần mềm sẽ tự động phân bổ, định khoản và kết chuyển đưa vào các
sổ kế toán có liên quan Việc lập bảng cân đối số phát sinh và các báo cáo tài chính được lập trình sẵn tự động cho từng quý, tháng, năm
Sau khi việc lâp báo cáo tài chính hoàn tất, kế toán tiến hành kết xuất các loại sổ
và các báo cáo ra chương trình ứng dụng Microsoft Excel để format, chỉnh sửa cho đúng quy định về sổ sách kế toán hiện nay Sau đó kế toán tiến hành in các loại sổ, các báo cáo tài chính ra giấy và đóng thành quyển nộp lên cấp trên và lưu giữ
## #Hệ thống báo cáo tài chính gồm có:
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh
Bảng thuyết minh báo cáo tài chính
Bảng lưu chuyển tiền tệ
## #Hệ thống báo cáo quản trị: báo cáo được lập theo yêu cầu của ban giám
đốc cũng như các phòng ban có mối liên hệ cần sử dụng thông tin
## #Các chính sách áp dụng tại công ty
Niên độ kế toán bắt đầu từ 01/01 và kết thúc 31/12
Đơn vị tiền tệ sử dụng: Đồng Việt Nam
Nguyên tắc và phương pháp chuyển đổi các đồng tiền khác ra đồng tiền sử dụng quy đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng tại thời điểm hiện hành
Nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
Phương pháp khấu hao TSCĐ theo phương pháp khấu hao đường thẳng
Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho theo phương pháp bình quân gia quyền Phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
2.1.4, Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm [7]
2.1.4.1,Quy trình sản xuất gốm [7]
Trang 33Do đặc thù của sản phẩm gốm sứ là mặt hàng thủ công mỹ nghệ nên không hoàn toàn sử dụng máy móc hết được, chúng được sản xuất bằng thủ công kết hợp máy móc Phân xưởng được trang bị những lò nung gốm bằng gaz thuộc loại mới nhất tiết kiệm được nhiều thời gian so với nung bằng củi
Sơ đồ 2.3: Quy trình cơ bản sản xuất gốm
Nguồn: Phòng ISO [7]
Các bước công việc [7]:
- Đất và cao lanh sau khi được ngâm nước cho mềm, nhão sẽ chuyển qua tổ cán đất xử lý kỹ thuật, đưa lên máy cán đất Nhiệm vụ của máy cán đất là làm cho đất có
độ dẻo, mịn và đàn hồi Lương của tổ cán đất được khoán theo sản phẩm
- Kế tiếp đất và cao lanh sẽ được chuyển đến tổ in, rót tạo hình Sau khi qua máy
in Kalip các mẫu mã đồ gốm được tạo hình và thu được những bán thành phẩm theo ý
muốn Lương của tổ in, rót cũng được khoán theo sản phẩm
- Đem bán thành phẩm đi phơi sống, tiếp tục chuyển đến tổ xối men Tại đây, các bán thành phẩm được tráng men màu và các hoa văn chi tiết Lương của tổ xối men là
lương công nhật
- Các bán thành phẩm này lại được chuyển đến tổ thợ lửa đưa vào lò nung bằng
gaz, thời gian nung là 1 ngày
NGUYÊN LIỆU
(Đất + Cao lanh)
XỬ LÝ KỸ THUẬT (Nghiền + Trộn)
TẠO HÌNH (In, Rót)
TRÁNG MEM (Xối, chấm men)
NUNG (Lò Gaz)
KIỂM TRA KCS
(Hoàn tất)
Trang 34- Sau khi lấy sản phẩm ra khỏi lò nung, các sản phẩm được đưa đến cho tổ hoàn
tất (KCS) để kiểm tra chất lượng sản phẩm
- Hoàn tất các công đoạn trên sẽ có được những thành phẩm đồ gốm, đưa vào
nhập kho Lương của tổ hoàn tất là lương công nhật
- Nếu xuất bán thì tổ đóng gói sẽ lo việc đóng gói vào thùng gỗ, pallet
2.1.4.2, Quy trình sản xuất thiếc [7]
Sơ đồ 2.4: Quy trình cơ bản của sản phẩm thiếc
Nguồn: Phòng ISO [7]
Các bước công việc [7]:
- Công ty không sản xuất trực tiếp sản phẩm thiếc mà mua bán thành phẩm thiếc (chậu tôn trắng chưa có màu) của công ty Thịnh Phát (Hố Nai – Đồng Nai) về và làm tiếp những công đoạn sau mới thành sản phẩm thiếc hoàn chỉnh
- Các bán thành phẩm thiếc sẽ đưa cho tổ nhúng màu, sau đó chuyển đến tổ lau khô, tiếp đến là chuyển đến KCS, tổ này sẽ kiểm tra chất lượng của sản phẩm Hoàn tất các công đoạn trên sẽ có những thành phẩm thiếc, đưa vào nhập kho Nếu xuất bán thì tổ đóng gói sẽ lo việc đóng gói sản phẩm vào thùng gỗ, pallet
2.2 Khái quát tình hình tài chính của Công ty
2.2.1, Tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của công ty
Vốn là linh hồn của doanh nghiệp Một công ty muốn chớp được cơ hội trong kinh doanh thì cần phải đảm bảo về vốn Vì vậy, đòi hỏi công ty phải biết cách sử dụng sao cho hợp lý để một đồng vốn bỏ ra thu được lợi nhuận tối đa
THÀNH PHẨM ĐÓNG GÓI
XUẤT KHẨU
Trang 35Bảng 2.1: Tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của công ty
Đơn vị tính: đồng
Nguồn: Phòng Kế Toán [2] Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy tổng nguồn vốn kinh doanh 6 tháng cuối năm
2008 của công ty là 16,403,205,067đ đến 6 tháng đầu năm 2009 thì tổng vốn kinh doanh của Công ty là 11,558,580,035đ Như vậy, 6 tháng đầu năm 2009 tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty đã giảm 4,844,625,032đ tương ứng với giảm 29.53% đi sâu phân tích từng khoản mục ta thấy:
6 tháng cuối 2008 6 tháng đầu 2009 Chênh lệch
STT Chỉ tiêu
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ lệ
(%)
Tỷ trọng (%)
Trang 36- Tổng Vốn lưu động giảm 4,343,364,269đ tương ứng với -46.81% trong đó:
- Vốn bằng tiền của Công ty 6 tháng đầu năm 2009 so với cuối năm 2008 tăng 1,001,789,302đ tương ứng với 482.56% Điều này cho thấy khả năng thanh toán của Công ty 6 tháng đầu năm 2009 tốt
- Giá trị các khoản phải thu đầu năm 2009 so với cuối năm 2008 giảm 578,408,347đ tương ứng với -30.89% Điều này cho thấy các khoản vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp đã giảm rất nhiều và tỷ trọng các khoản phải thu giảm đi khá nhiều trên tổng vốn lưu động
- Giá trị hàng tồn kho của Công ty đến đầu năm 2009 là 1,294,156,479đ so với cuối năm 2008 đã giảm 3,626,991,713đ
- Tài sản lưu động khác, số cuối năm 2008 giảm 1,139,753,511đ so với đầu năm
2009, tương ứng với tỷ lệ giảm là 76.92%
- Giá trị Vốn cố định của Công ty đầu năm 2009 là 6,622,357,657đ, giảm 501,260,763đ so với cuối năm 2008, tương ứng giảm 7.04%
Qua bảng trên ta thấy tổng nguồn vốn của Công ty đã giảm 4,844,625,032đ tương ứng với giảm 29.53% so với cuối năm 2008
- Tổng nợ phải trả giảm đi 5,619,338,853đ tương -82.77% trong đó:
- Nợ ngắn hạn đã được công ty thanh toán một phần nên đến đầu năm 2009 giảm 5,604,058,853đ, tương ứng giảm 82.88%
- Các khoản nợ dài hạn của công ty cũng giảm 55.59%, với số nợ giảm
15,280,000đ, Nguồn vốn chủ sở hữu đã tăng 774,713,821đ ứng với 8.06% cho thấy
dấu hiêu phát triển của Công ty khá tốt, đầu năm 2009 bắt đầu đầu tư bằng tiền thêm
để mở rộng sản xuất kinh doanh cho cuối năm
Ngoài ra các khoản khác không biến động nên không có ảnh hưởng gì
2.2.2, Kết quả kinh doanh của công ty trong thời gian qua
Sau những năm kể từ ngày thành lập, Công ty đã đạt được một số thành tựu khả quan chứng tỏ con đường mà công ty lựa chọn là đúng đắn