Do vậy để đứng vững trên thương trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện mình bằng một bộ máy tổ chức hoạt động nhanh nhạy, hiệu quả, và đặc biệt là xây dựng một hệ thống kiểm
Trang 1Tôi muốn dành lời cảm ơn chân thành đến tất cả các Thầy cô giáo, gia đình và đồng nghiệp của tôi vì tôi không thể hoàn thành bài báo cáo của mình nếu không có sự giúp đỡ và ủng hộ đặc biệt của mọi người
Trước hết tôi muốn nhắc đến ba mẹ yêu quý của tôi, người suốt cả đời lam lũ vì chúng tôi, ba mẹ luôn là điểm sáng hướng dẫn chúng tôi biết cách vượt qua những khó khăn thử thách của cuộc sống Ba mẹ tôi năm nay đã xế chiều nhưng trông ông bà như chưa bao giờ mệt mõi, ông bà đã cho tôi nhiều nghị lực để có thể thi vào Đại học Mỗi ngày tôi càng nhận thấy rõ hơn sự may mắn của mình khi có một người cha, người mẹ như thế và tôi mong ước được hoàn thành tốt đẹp chương trình đại học để mang lại niềm vui cho ba mẹ tôi
Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS Phan Đức Dũng, người thầy luôn tận tụy và hướng dẫn tôi một cách chân thành, kể cả thời gian tôi còn theo học Thầy cho đến khi Thầy nhận hướng dẫn tôi làm báo cáo Tôi biết có lúc Thầy đã bỏ cả những ngày nghỉ cuối tuần để giành thời gian sửa bài cho tôi, Thầy nói: “đó là nghĩa
vụ của Thầy” nhưng tôi biết Thầy đã làm vượt trên những nghĩa vụ đó
Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến người sếp của tôi, anh Trần Minh Hiền (Giám đốc tài chính Công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam), anh luôn là người bạn đồng hành của tôi trong suốt thời gian làm báo cáo, anh cho tôi nhiều kinh nghiệm bổ ích cũng như những lời nhận xét chân thành để giúp tôi hoàn thành tốt bài làm của mình
Một điều tôi không thể không nhắc đến là chồng tôi, anh ấy thật sự là niềm vui trong cuộc sống của tôi, anh ấy đã tiếp sức cho tôi ở mỗi chặng đường, có lúc tưởng chừng tôi đã ngã quỵ vì không thể kham nỗi công việc, gia đình và học tập, nhưng chính anh ấy đã động viên và vựt tôi dậy để hôm nay tôi đã bước đến những bậc thang cuối cùng của giảng đường Đại học, với tôi anh ấy là người chồng lý tưởng và là người bạn hết sức quý giá
Sinh viên báo cáo Nguyễn Thu Thảo
Trang 2Ngày nay, toàn cầu hóa đang là một trong những xu thế phát triển tất yếu của
quan hệ quốc tế hiện đại, mở ra nhiều vận hội mới cho nền kinh tế nước nhà Tuy
nhiên nó cũng mang đến vô vàn những khó khăn thử thách bởi quy luật cạnh tranh tất
yếu Do vậy để đứng vững trên thương trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự hoàn
thiện mình bằng một bộ máy tổ chức hoạt động nhanh nhạy, hiệu quả, và đặc biệt là
xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, có khả năng hạn chế những rủi ro,
bảo vệ tài sản, con người của doanh nghiệp, dự đoán và tránh được những ảnh hưởng
tiềm tàng cả bên trong và bên ngoài có thể xảy ra cho doanh nghiệp Do đó, kiểm soát
nội bộ đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp cho các nhà quản lý có thể kiểm soát và sử
dụng hữu hiệu các nguồn lực nội tại và xây dựng hệ thống quản lý vững chắc trong
tương lai nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Nhận thức được vai trò đó cùng với yêu cầu thực tiễn của công việc nên em
quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong quy trình kế
toán tại Công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam”
Mục đích và những đóng góp của đề tài:
- Đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong quy trình kế toán tại Công ty
TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam
- Phân tích những ưu điểm và những hạn chế của hệ thống, đề ra các giải pháp để hoàn
chỉnh quy trình kiểm soát nội bộ trong công tác kế toán tại công ty một cách tổng thể,
để nó không chỉ áp dụng tại Công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam mà
còn có thể áp dụng được cho các doanh nghiệp có quy mô tương ứng khác
- Giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro đến mức thấp nhất nhằm mang lại hiệu
quả trong hoạt động kinh doanh
- Đảm bảo các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được phản ánh một cách đáng tin cậy
Trang 3Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu: tháng 07 đến tháng 11 năm 2010
Không gian nghiên cứu: tại công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam
Tuy thời gian có hạn nhưng để đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý, đề tài cũng tập trung
nghiên cứu những khoản mục được xem là trọng yếu nhất của doanh nghiệp đó là:
- Công tác bán hàng và các khoản công nợ phải thu
- Công tác mua hàng và các khoản công nợ phải trả
- Công tác quản lý vốn bằng tiền
- Công tác quản lý tài sản cố định hữu hình
Ngoài ra để bổ trợ cho các công tác trên đề tài còn đề cập thêm những vấn đề kiểm
soát khác xoay quanh phần mềm xử lý thông tin MFG (Manufacturing software) và
công việc của nhân viên kế toán
Bố cục của đề tài:
Đề tài bao gồm các chương như sau:
- Chương I: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 4- Chương II: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong quy trình kế toán tại Công Ty
TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam
- Chương III: Các giải pháp hoàn thiện Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ trong quy trình kế
toán tại Công Ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam
Qua thời gian hơn bốn tháng xây dựng nội dung đề tài, tuy đã cố gắng hết sức để hoàn
thành nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót nên em rất mong nhận được sự thông cảm
và đóng góp ý kiến của Thầy cô cùng các bạn để đề tài của em ngày một hoàn thiện
hơn
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Khái niệm và các thành phần của kiểm soát nội bộ
1.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ
Có nhiều định nghĩa về kiểm soát nội bộ:
- Theo Coso (Committee of Sponsoring Organization), khung thống nhất về kiểm
soát nội bộ được sử dụng phổ biến tại Hoa kỳ, “kiểm soát nội bộ là một hệ thống
đặt ra nhằm đảm bảo đảm:
Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và đi đúng hướng
Doanh nghiệp cung cấp các báo cáo tài chính đáng tin cậy
Doanh nghiệp tuân thủ đúng các quy định và luật pháp”.[12]
- Theo viện kiểm toán độc lập Hoa kỳ: “kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ
chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh
nghiệp để đảm bảo an toàn tài sản của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ
liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực
hiện các chính sách quản lý lâu dài”
Tóm lại: kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp bao gồm hai phần chính:
Thứ nhất: là phần cơ chế kiểm soát bao gồm các quy trình, cơ chế nghiệp vụ, cơ
cấu tổ chức phân công trách nhiệm…nhằm giúp hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp được hiệu quả và an toàn
Thứ hai: là các bộ phận kiểm tra giám sát chuyên trách, giám sát cách thực hiện các
cơ chế, quy trình đã đặt ra nhằm đảm bảo các quy trình được thực hiện nghiêm túc
[09]
Trang 61.1.2 Các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ [04]
Tuỳ vào từng loại hình hoạt động, mục tiêu và quy mô của từng tổ chức mà hệ
thống kiểm soát nội bộ được vận dụng khác nhau, nhưng để đạt được hiệu quả thì
hệ thống này cần có đủ năm thành phần:
1.1.2.1 Môi trường kiểm soát
- Là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống kiểm
soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong đó toàn bộ thành viên
của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội bộ
hay không Ví dụ, nhận thức của ban giám đốc thế nào về tầm quan trọng của
liêm chính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần tổ chức bộ máy hợp lý, về việc
phải phân công, ủy nhiệm, giao việc rõ ràng, về việc phải ban hành bằng văn
bản các nội quy, quy chế, quy trình sản xuất kinh doanh Một môi trường
kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt động hiệu quả của hệ thống
kiểm soát nội bộ.[03]
- Môi trường kiểm soát chịu ảnh hưởng của văn hoá và lịch sử của tổ chức và
ngược lại nó chịu ảnh hưởng đến ý thức của nhân viên của tổ chức đó Các
đơn vị có hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu thường có các nhân viên đủ năng
lực, được huấn luyện quan điểm về tính trung thực và ý thức về việc kiểm
soát Quan điểm này do cấp quản lý cao nhất thiết lập thông qua xây dựng và
ban hành các chính sách như bản Quy tắc ứng xử, trong đó đưa ra các giá trị
đạo đức mà các thành viên phải tuân thủ để đạt được mục tiêu chung của đơn
vị
- Các nhân tố của môi trường kiểm soát bao gồm:
Tính trung thực và giá trị đạo đức: Điều này được xem là văn hoá của một tổ
chức, nó bao gồm các chuẩn mực về cách ứng xử và các giá trị đạo đức, cách
thức thực hiện và truyền đạt trong thực tiễn của toàn thể nhân viên của tổ chức
đó Do danh tiếng của doanh nghiệp là tài sản vô giá, nên các chuẩn mực ứng
xử về đạo đức cần đề cao hơn việc đơn thuần tuân thủ pháp luật Do đó các
nhà quản lý cấp cao đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết lập và
Trang 7xây dựng một nền tảng văn hoá, đạo đức của tổ chức mình, đề ra mục tiêu và
xây dựng cách thức đạt được mục tiêu theo phong cách quản lý của chính tổ
chức mình dựa trên những nguyên tắc trung thực và thích hợp, dần dần những
quan điểm về giá trị này sẽ được chuyển tải thành các chuẩn mực ứng xử, phản
ánh sự trung thực của người quản lý và cam kết của họ về các giá trị đạo
đức.Tính trung thực và giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trường
kiểm soát, nó tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố
khác của kiểm soát nội bộ
Cam kết về năng lực: Năng lực phản ánh kiến thức và kỹ năng để hoàn thành
một nhiệm vụ nhất định Nhà quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho
một công việc nhất định và cụ thể hoá nó thành các yêu cầu về kiến thức và kỹ
năng, để từ đó có kế hoạch tuyển chọn nhân viên có năng lực phù hợp với yêu
cầu công việc
Hội đồng quản trị và uỷ ban kiểm toán: Tính hữu hiệu của nhân tố này phụ
thuộc vào sự độc lập của nó với Ban điều hành tổ chức Do Hội đồng quản trị
là chủ thể trực tiếp hướng dẫn và giám sát việc thực hiện của người quản lý, là
chủ thể trực tiếp phải chất vấn, giám sát các hoạt động và đưa ra các quan
điểm phản biện những hành vi sai trái nghiêm trọng của nhà quản lý, cho nên
để việc thanh kiểm tra mang tính độc lập, khách quan và đáng tin cậy hơn thì
cần một chủ thể nằm ngoài ban điều hành để thực hiện, từ đó trong mỗi tổ
chức cần thiết phải có Uỷ ban kiểm toán, Uỷ ban kiểm toán đó có thể là kiểm
toán nội bộ, kiểm toán độc lập, thực hiện ý chí của nhà quản trị để thanh kiểm
tra sự hoạt động và mức độ tuân thủ của của tổ chức đó
Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: Triết lý quản lý và
phong cách điều hành thể hiện cách thức nhà quản lý điều hành tổ chức Một
số doanh nghiệp có thể thực hiện kiểm soát chủ yếu bằng các cuộc gặp gỡ trực
tiếp với những người quản lý chủ chốt trong đơn vị, một số doanh nghiệp khác
lại dựa vào việc ban hành các chính sách, văn bản, các chi tiết hoạt động và
yêu cầu có các báo cáo khi phát sinh các trường hợp bất thường Ngoài ra triết
lý quản lý và phong cách điều hành còn thể hiện thông qua thái độ, quan điểm
Trang 8của người quản lý về việc lập và trình bày báo cáo tài chính, việc lựa chọn các
chính sách kế toán, các ước tính kế toán và việc phân nhiệm các kế toán viên
Cơ cấu tổ chức: Thực chất là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn trong đơn
vị và mỗi doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức phù hợp với nhu cầu riêng của mình
nên không có khuôn mẫu chung duy nhất, chẳng hạn một số doanh nghiệp tổ
chức theo kiểu tập trung, số khác theo kiểu phân tán Một số doanh nghiệp tổ
chức theo ngành nghề hay dòng sản phẩm, theo khu vực địa lý hay mạng lưới
phân phối,…
Để thiết lập cơ cấu tổ chức thích hợp, cần chú ý các nội dung như: xác định rõ
quyền hạn và trách nhiệm chủ yếu đối với từng hoạt động, xác định cấp bậc
cần báo cáo thích hợp Nhìn chung, cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô và
bản chất hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên nó phải giúp doanh nghiệp
thực hiện những chiến lược đã hoạch định để đạt được mục tiêu đề ra
Phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền hạn và trách nhiệm là
việc xác định mức độ tự chủ, quyền hạn của từng cá nhân hay từng nhóm
trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, trách nhiệm báo cáo đối với các cấp có
liên quan Việc phân định thường thể hiện qua chính sách sách trong đó mô tả
kiến thức và kinh nghiệm của những nhân viên chủ chốt, nguồn lực để thực
hiện các nhiệm vụ liên quan đến các hoạt động kinh doanh
Phân định quyền hạn và trách nhiệm giúp cho mỗi cá nhân trong tổ chức ý
thức về trách nhiệm và quyền hạn của mình Trước tiên, đó là giám đốc điều
hành, người chịu trách nhiệm cuối cùng về mọi hoạt động của đơn vị, kế đến
là các nhân viên Cần làm cho các nhân viên hiểu rõ về mục tiêu của tổ chức,
để họ biết rằng hành động và mức đóng góp của họ có ảnh hưởng đến việc
thực hiện mục tiêu chung của toàn đơn vị
Chính sách nhân sự và việc áp dụng vào thực tế: Chính sách nhân sự là thông
điệp của nhà quản lý về yêu cầu đối với tính chính trực, hành vi đạo đức và
năng lực mà doanh nghiệp mong đợi từ nhân viên Biểu hiện thực tế thông qua
Trang 9việc tuyển dụng, hướng nghiệp, đào tạo, đánh giá, tư vấn, động viên, khen
thưởng và kỷ luật, cụ thể là:
Nếu tổ chức mong muốn đội ngũ nhân viên đủ năng lực và trung thực thì tiêu
chuẩn sẽ nhấn mạnh về đạo đức, kinh nghiệm công việc và những thành quả
công việc đã đạt được
Cần phải làm rõ về lịch sử, văn hóa và phong cách điều hành của công ty khi
phỏng vấn các ứng viên để họ hiểu rõ quan điểm của tổ chức
Việc đào tạo nhân viên bao gồm các hoạt động như tổ chức lớp học, hội thảo,
nghiên cứu tình huống phản ánh chính sách về quan điểm đào tạo nhân viên
Thực hiện luân chuyển công việc và đề bạt dựa trên kết quả đánh giá định kỳ,
cho thấy cam kết của doanh nghiệp đối với việc phát triển cá nhân nhằm phát
triển các nhân viên có năng lực lên vị trí cao hơn
Có các chính sách tiền lương, tiền thưởng để động viên và duy trì thành tích
của cán bộ công nhân viên nhằm giữ chân các nhân viên giỏi
Thực hiện các biện pháp kỷ luật để cho thấy quan điểm của công ty về các
hành vi vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm minh
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát
Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hoạt động, bất kỳ tổ chức nào
khi hoạt động kinh doanh cũng phải đối mặt với các rủi ro, những rủi ro này có
thể phát sinh do bản thân của tổ chức (các yếu tố bên trong) hay từ môi trường
kinh tế, chính trị, xã hội (các yếu tố bên ngoài)
Để hoạt động của tổ chức đạt được hiệu quả cao thì tổ chức đó phải nhận
diện, đánh giá mức độ rủi ro ở nhiều khía cạnh khác nhau thông qua các yếu
tố tác động đến rủi ro
- Các yếu tố bên trong: Sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo
đức nghề nghiệp, chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy
tính, của trang thiết bị, hạ tầng cơ sở, tổ chức và cở sở hạ tầng không thay đổi
kịp với sự thay đổi, mở rộng của sản xuất, chi phí cho quản lý và trả lương
Trang 10cao, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát thích hợp hoặc do xa công ty mẹ hoặc do
thiếu quan tâm
- Các yếu tố bên ngoài: Thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vận
hành Thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm và dịch vụ
hiện hành bị lỗi thời Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động
đến giá cả và thị phần Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh
hưởng đến hoạt động của tổ chức
Rủi ro ảnh hưởng đến sự tồn tại, thành công và hình ảnh của mỗi đơn vị trên
thương trường, đến sự duy trì chất lượng sản phẩm, dịch vụ và đến cả con
người Trên thực tế không có cách nào để triệt tiêu các rủi ro mà các nhà quản
lý phải làm cách nào để hạn chế và chấp nhận rủi ro ở mức thấp nhất Để làm
được điều đó các nhà quản lý phải xác định được mục tiêu của đơn vị, nhận
dạng và phân tích rủi ro, quản trị sự sự thay đổi của rủi ro một cách thường
xuyên, liên tục
- Xác định mục tiêu của đơn vị: Việc xác định mục tiêu là điều kiện tiên
quyết để đánh giá rủi ro, bởi vì một sự kiện có trở thành rủi ro nghiêm trọng
đối với tổ chức hay không sẽ tùy thuộc vào mức độ tác động tiêu cực của nó
đến mục tiêu của tổ chức đó Xác định mục tiêu có thể là một quy trình chính
thức hay không chính thức, chính thức là có thể xây dựng mục tiêu thông qua
việc ban hành các văn bản cụ thể, hoặc không chính thức được ngầm hiểu mục
tiêu là tiếp tục thực hiện mức hiệu quả bằng với quá khứ, mục tiêu có thể được
xây dựng trên hai mức độ:
Ở mức độ toàn đơn vị, mục tiêu được trình bày thông qua sứ mệnh của tổ chức
và các cam kết về giá trị của tổ chức đối với xã hội Thông qua việc đánh giá
những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức mà tổ chức có thể
xây dựng cho mình một chiến lược tổng thể hơn, đó là cơ sở để ưu tiên phân
chia và xác định nguồn lực cần thiết cho đơn vị
Ở mức độ từng bộ phận, những mục tiêu của bộ phận phải xuất phát từ mục
tiêu chung của đơn vị, phải nhất quán và gắn kết chặt chẽ với mục tiêu chung,
Trang 11thông qua đó đơn vị có thể nhận dạng được những nhân tố đưa đến thành
công Muốn đạt được mục tiêu thì những nhân tố chủ chốt này phải được thực
hiện, các nhân tố đó có thể là cá nhân, bộ phận hay hoạt động của toàn doanh
nghiệp.Dựa trên mục tiêu đã thiết lập nhà quản lý cần nhận dạng và phân tích
rủi ro để có thể đưa ra những biện pháp quản trị chúng
- Nhận dạng rủi ro: là một quá trình được lặp đi lặp lại và thường nằm
trong quá trình lập kế hoạch của một đơn vị Rủi ro được nhận dạng ở các
mức độ sau:
Rủi ro ở mức độ toàn đơn vị, rủi ro có thể phát sinh do các nhân tố bên trong
như sự gián đoạn về tiến trình xử lý thông tin làm ảnh hưởng bất lợi cho hoạt
động của đơn vị, năng lực của nhân viên không đủ đáp ứng yêu cầu công việc,
hội đồng quản trị hay ban kiểm toán hoạt động không hiệu quả tạo điều kiện
cho nhà quản lý quyết định bất cẩn hay mạo hiểm trong kinh doanh Ngoài ra
rủi ro cũng phát sinh do các nhân tố bên ngoài như sự thay đổi về khoa học kỹ
thuật buộc đơn vị phải thay đổi chương trình nghiên cứu và phát triển, nhu cầu
khách hàng thay đổi ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm, quy trình sản
xuất, dịch vụ khách hàng và giá cả Sự thay đổi về chiến lược tiếp thị, cung
cấp dịch vụ của đối thủ cạnh tranh, cá quy định mới có thể buộc doanh nghiệp
phải thay đổi chiến lược hoạt động, sự thay đổi về kinh tế có thể tác động đến
những quyết định có liên quan đến tài chính, đầu tư và mở rộng sản xuất kinh
doanh của đơn vị
Rủi ro ở mức độ hoạt động, cùng với việc nhận diện rủi ro ở mức độ chung
cho toàn đơn vị, rủi ro nên được nhận dạng ở mức độ từng hoạt động, từng bộ
phận hay từng chức năng kinh doanh chính trong đơn vị như: rủi ro ở bộ phận
bán hàng, bộ phận sản xuất hay nghiên cứu và phát triển Đánh giá đúng đắn
rủi ro ở mức độ hoạt động sẽ góp phần duy trì rủi ro ở mức độ toàn đơn vị một
cách hợp lý
- Phân tích rủi ro: Có nhiều phương pháp để phân tích rủi ro, tuy nhiên
nhìn chung bao gồm các bước sau:
Trang 12Đánh giá tầm quan trọng của rủi ro
Đánh giá xác xuất có thể xảy ra rủi ro
Xem xét phương pháp quản trị rủi ro
Khi đã đánh giá tầm quan trọng và khả năng xảy ra rủi ro, nhà quản lý cần lựa
chọn phương pháp có thể quản trị chúng một cách thích hợp Biện pháp chọn
lựa có thể làm giảm thiểu rủi ro, có thể chia sẻ rủi ro, và cũng có thể là chấp
nhận rủi ro Điều này bao gồm việc xem xét những giả định về rủi ro, và sự
phân tích hợp lý về những chi phí phải bỏ ra để giảm rủi ro
Cùng với những biện pháp chung để quản trị rủi ro nêu trên, nhà quản lý cần
thiết lập những thủ tục để xem xét sự đầy đủ và nâng cao tính hữu hiệu của
những biện pháp đối phó Trước khi thiết lập hay bổ sung thủ tục kiểm soát, nhà
quản lý nên xem xét một cách cẩn thận liệu thủ tục hiện hành có thích hợp cho
việc nhận dạng rủi ro hay không Bởi vì một thủ tục có thể thỏa mãn đồng thời
nhiều mục tiêu, liệu có nên đưa ra những biện pháp khác hay là những thủ tục
hiện hữu đã có thể đủ hoặc chỉ cần thực hiện tốt hơn
- Quản trị sự thay đổi: Ngành nghề kinh doanh, môi trường pháp lý, và
những hoạt động của đơn vị luôn thay đổi và phát triển, do đó hệ thống kiểm
soát nội bộ ở từng giai đoạn phải khác nhau để kịp thời khắc phục những rủi ro
mới, do vậy việc nhận dạng rủi ro cần phải được tiến hành một cách liên tục, đó
chính là quản trị sự thay đổi
1.1.2.3 Hoạt động kiểm soát
Là các biện pháp, quy trình, thủ tục đảm bảo chỉ thị của ban lãnh đạo trong việc
giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện cho tổ chức đạt được mục tiêu đặt ra được
thực thi nghiêm túc trong toàn tổ chức
Để nâng cao tính hữu hiệu của hoạt động kiểm soát, cần theo dõi và đánh giá
chất lượng thực hiện việc kiểm soát nội bộ để đảm bảo nó được triển khai, được
điều chỉnh khi môi trường thay đổi, được cải thiện khi có khiếm khuyết Ví dụ
thường xuyên rà soát, kiểm tra và báo cáo về chất lượng, hiệu quả hoạt động
của hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá và theo dõi việc ban lãnh đạo cũng như
Trang 13tất cả nhân viên có tuân thủ các chuẩn mực ứng xử của tổ chức sau khi ký cam
kết hay không
Xét về mục đích, người ta có thể chia hoạt động kiểm soát thành ba loại: Kiểm
soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù đắp
- Kiểm soát phòng ngừa là hoạt động kiểm soát nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu
khả năng xảy ra sai sót và gian lận, ảnh hưởng đến việc đạt mục tiêu của đơn vị
- Kiểm soát phát hiện là hoạt động kiểm soát nhằm phát hiện kịp thời hành vi
sai sót hoặc gian lận nào đó đã được thực hiện
- Sau khi phát hiện những sai sót và gian lận đó, doanh nghiệp phải thay thế
những hoạt động kiểm soát đã có kẻ hở này bằng những hoạt động kiểm soát
khác hữu hiệu hơn, người ta gọi đó là kiểm soát bù đắp
Xét về chức năng, các loại hoạt động kiểm soát phổ biến trong doanh
nghiệp bao gồm:
- Soát xét của nhà quản lý cấp cao: Là việc các nhà quản lý cấp cao trong đơn
vị so sánh kết quả thực tế đạt được của đơn vị mình với dự toán, dự báo, với kỳ
trước hay với các đối thủ khác Việc phân tích và theo dõi kết quả này được
xem là một hoạt động kiểm soát của đơn vị
- Quản trị hoạt động: Đây là hoạt động kiểm soát của các cấp quản lý trung
gian, thường họ cũng rà soát lại các báo cáo về hiệu quả của bộ phận mình để
soát xét kết quả hoạt động mà mình phụ trách, nhằm đảm bảo đi đúng hướng và
đạt được các mục tiêu đề ra
- Phân chia trách nhiệm: Việc phân chia trách nhiệm hợp lý giữa các chức năng
trong doanh nghiệp cần phải được xem xét một cách nghiêm túc và được coi
như một loại kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện hiệu quả Bởi lẽ
chính việc phân chia công việc hợp lý sẽ giảm thiểu các cơ hội dẫn đến sai sót
và gian lận cũng như giúp phát hiện các gian lận và sai sót này trong quá trình
tác nghiệp
Trang 14- Việc phân chia trách nhiệm yêu cầu không để cho một cá nhân nắm tất cả các
khâu của một quy trình nghiệp vụ từ khi phát sinh cho đến khi kết thúc
Ví dụ: không để một người vừa xét duyệt mua hàng lại vừa trực tiếp mua hàng,
rồi cũng chính người này bảo quản hàng hóa Sự kiêm nhiệm như vậy sẽ tạo
điều kiện cho sai sót và gian lận dễ xảy ra và khó phát hiện Việc phân chia
trách nhiệm phải tách biệt giữa các chức năng sau:
- Chức năng xét duyệt nghiệp vụ và chức năng bảo quản tài sản:
Tức là người có thẩm quyền xét duyệt cho phép thực hiện các nghiệp vụ không
được đồng thời là người nắm giữ các tài sản có liên quan để tránh khả năng gian
lận
- Chức năng kế toán và chức năng bảo quản tài sản:
Tức là người ghi chép sổ sách kế toán không được kiêm luôn việc bảo quản tài
sản có liên quan Ví dụ phải tách biệt giữa thủ kho và kế toán hàng tồn kho hay
tách biệt giữa thủ quỹ và kế toán tiền mặt
- Chức năng xét duyệt nghiệp vụ và chức năng kế toán: Tức là không để người
có thẩm quyền xét duyệt cho phép thực hiện nghiệp vụ kiêm luôn việc ghi sổ kế
toán Thí dụ không nên để một cá nhân vừa có quyền xóa sổ nợ phải thu lại vừa
ghi sổ kế toán nợ phải thu Điều này dễ dẫn đến hành vi gian lận, gây tổn thất
cho doanh nghiệp
- Kiểm soát quá trình xử lý thông tin: Các hệ thống thông tin ngày nay được xử
lý phần lớn trên hệ thống máy vi tính kết hợp với một số thủ tục xử lý thủ công
bởi con người, người ta chia kiểm soát quá trình xử lý thông tin làm hai loại:
Kiểm soát chung: Là hoạt động kiểm soát đảm bảo cho các hệ thống máy hoạt
động liên tục và ổn định, bao gồm kiểm soát hoạt động của trung tâm dữ liệu,
các phần mềm hệ thống, kiểm soát truy cập và kiểm soát các hệ thống ứng
dụng
Kiểm soát hoạt động của trung tâm dữ liệu: bao gồm việc lên kế hoạch, sắp xếp
lịch trình, sao lưu và phục hồi dữ liệu để phòng ngừa sự cố xảy ra
Trang 15Kiểm soát phần mềm hệ thống: Bao gồm kiểm soát việc mua sắm, bảo trì phần
mềm hệ thống, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, phần mềm truyền thông, phần mềm
tiện ích ,…Các phần mềm này vận hành hệ thống và cho phép các ứng dụng
hoạt động
Kiểm soát truy cập: là hoạt động kiểm soát nhằm bảo vệ hệ thống, ngăn ngừa
việc truy cập và sử dụng trái phép các thông tin trên hệ thống Kiểm soát truy
cập chỉ cho phép người dùng tiếp cận với những ứng dụng cần thiết cho công
việc của họ mà thôi thông qua việc sử dụng tên đăng nhập và mật khẩu của từng
cá nhân
Kiểm soát ứng dụng: Việc ứng dụng máy vi tính ngày càng sâu rộng như hiện
nay thì có nhiều kỹ thuật kiểm tra dữ liệu một cách tự động, ít tốn thời gian và
chi phí so với cách thức kiểm tra thủ công truyền thống trước đây.Thí dụ như
các chương trình ứng dụng có thể kiểm tra tính hợp lý của dữ liệu nhập hay các
nghiệp vụ bán hàng chịu vượt quá số hạn mức đã cài sẵn, lúc đó hệ thống sẽ
yêu cầu phải có sự xét duyệt của nhà quản lý trước khi bán
Thông thường tại doanh nghiệp các hóa đơn bán hàng, phiếu đề nghị mua hàng
hay đơn đặt hàng, phiếu nhập xuất kho đều được đánh số trước để kiểm soát
Việc trùng lắp chứng từ hay các quan hệ đối ứng tài khoản bất thường cũng sẽ
được hệ thống ứng dụng kiểm tra tự động và nhanh chóng.Bất cứ hành động
nào truy cập hệ thống, sửa đổi hay truy xuất dữ liệu đều được hệ thống ghi lại
trên nhật ký tự động để đảm bảo xác minh nguồn gốc sự việc khi có sự cố xảy
ra
Để kiểm soát một cách hiệu quả, có thể kết hợp kiểm soát bằng máy vi tính và
kiểm soát thủ công Ví dụ các báo cáo in ra từ hệ thống ứng dụng sẽ được một
nhân viên độc lập trong phạm vi quyền hạn của mình sẽ kiểm tra lại với các
chứng từ gốc và ký tên xác nhận lên báo cáo đó
Kiểm soát vật chất: Đây là hoạt động kiểm soát “cứng”, cụ thể kiểm soát vật
chất là các hoạt động kiểm soát nhằm đảm bảo cho tài sản của doanh nghiệp
Trang 16như máy móc thiết bị, nhà xưởng, hàng hóa,…và các tài sản khác được bảo vệ
một cách chặt chẽ
Ví dụ: doanh nghiệp thường dùng két sắt để bảo vệ tiền, vàng hay séc, sử dụng
nhà kho, camera theo dõi hệ thống tường rào để bảo vệ hàng hóa, tài sản cố
định
Ngoài ra kiểm soát vật chất còn bao gồm việc định kỳ tiến hành kiểm kê tài sản
và đối chiếu với số liệu trên sổ sách, bất kỳ sự chênh lệch nào đều phải được
giải trình và xử lý thỏa đáng
- Phân tích rà soát: Đây là việc so sánh giữa các kết quả đạt được và số liệu dự
toán nhằm phát hiện ra các biến động bất thường.Thông qua điều tra các
khuynh hướng bất thường này mà nhà quản lý có thể nhận diện các trường hợp
nào không đạt được mục tiêu để từ đó có các biện pháp chấn chỉnh kịp thời
1.1.2.4 Hoạt động thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là hệ thống tiếp nhận và truyền tải thông tin cả bên
trong lẫn bên ngoài đơn vị Hệ thống thông tin cung cấp những thông tin thích
hợp để người thực hiện có thể thực hiện các chức năng tài chính, kinh doanh và
tuân thủ Truyền thông là một thuộc tính của thông tin, làm nhiệm vụ trao đổi
và truyền đạt thông tin cần thiết tới các bên liên quan
Bản thân của mỗi thông tin đều có chức năng truyền thông, bởi có như vậy thì
những thông tin đã được thu thập mới có thể đến được với các đối tượng có nhu
cầu Một hệ thống thông tin tốt cần có những đặc điểm sau:
- Hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh: Hệ thống thông tin không chỉ thu thập
những thông tin cần thiết trong việc đưa ra quyết định cho kiểm soát mà còn
giúp đưa ra các chiến lược kinh doanh
- Hỗ trợ cho sáng kiến mang tính chiến lược: Chiến lược kinh doanh và chiến
lược thông tin có ý nghĩa quyết định sự thành công của nhiều tổ chức Thực tế
cho thấy nhiều công ty đã sử dụng hệ thống thông tin để giúp cho sản phẩm của
họ tiếp cận với người tiêu dùng một cách dễ dàng
Trang 17- Tích hợp với hoạt động kinh doanh: Việc sử dụng thông tin ngày nay đã dịch
chuyển từ hệ thống thông tin đơn thuần là tài chính sang hội nhập với hệ thống
thông tin chung của toàn công ty Hệ thống thông tin này giúp kiểm soát toàn
bộ quá trình hoạt động kinh doanh từ khâu đầu vào đến khâu sản xuất và khâu
đầu ra của toàn doanh nghiệp Khi ấy thông tin tài chính và kế toán sẽ được cập
nhật một cách tự động khi hệ thống chung thực hiện các nghiệp vụ
- Phối hợp hệ thống thông tin cũ và mới: Hệ thống thông tin mới sẽ có nhiều
tính năng hoạt động mới, có thể hiện đại hơn nhiều so với hệ thống thông tin cũ
nhưng hệ thống này có thể chưa được kiểm nghiệm thực tế tại đơn vị nên chắc
chắn rằng sẽ còn nhiều thiếu sót chưa thể đáp ứng được, cho nên trước khi thay
đổi mới hệ thông thông tin, các doanh nghiệp cần duy trì song song cả hệ thống
thông tin cũ để kiểm tra, đối chiếu và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định
có nên thay đổi hay không
- Chất lượng thông tin: Chỉ có những thông tin chất lượng mới hữu ích cho nhà
quản lý trong việc kiểm soát doanh nghiệp, do đó yêu cầu khi thu thập thông tin
cần đảm bảo thông tin phải thích hợp, phải được cập nhật chính xác và kịp thời
nhằm đáp ứng yêu cầu ra quyết định của nhà quản lý
Thông qua chức năng truyền thông mà thông tin được truyền đạt đến các đối
tượng có nhu cầu như:
- Đối tượng bên trong doanh nghiệp: Là tất cả những nhân viên, đặc biệt
là những người có trách nhiệm quan trọng về quản trị tài chính và kinh doanh
cần nắm bắt được những thông báo từ những người quản lý cấp cao để thực
hiện công việc, và ngược lại người quản lý cấp cao cũng cần nhận được những
ý kiến phản hồi của cấp dưới để kịp thời điều chỉnh những chỉ dẫn cần thiết,
đây còn gọi là vấn đề truyền đạt thông tin theo chiều dọc Ngoài ra việc trao đổi
thông tin theo chiều ngang giữa các cá nhân hay bộ phận cũng cần được thông
suốt để giúp cho mỗi cá nhân trong doanh nghiệp hiểu rõ công việc của mình
cũng như ảnh hưởng của nó đến các cá nhân, bộ phận khác để từ đó có những
biện pháp khắc phục
Trang 18- Đối tượng bên ngoài doanh nghiệp: Là vấn đề truyền đạt thông tin đến
cho nhà cung cấp, ngân hàng, cơ quan nhà nước, khách hàng , cổ đông, …
những thông tin phù hợp với nhu cầu, từ đó giúp họ hiểu được tình hình của
công ty Ngược lại thông tin từ các đối tượng bên ngoài này cũng cần được thu
thập, xử lý và báo cáo cho các cấp thích hợp để giúp cho doanh nghiệp có cách
ứng xử kịp thời
Xuất phát từ mối quan hệ không thể tách rời giữa thông tin và truyền thông nên
hai khái niệm này chính là một bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ Thông
tin và truyền thông phải đảm bảo “phủ sóng” tới mọi bộ phận, phòng ban và cá
nhân trong từng doanh nghiệp cũng như các đối tượng bên ngoài có liên quan
1.1.2.5 Giám sát
Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ theo
thời gian, bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ
- Giám sát thường xuyên: Việc giám sát thường xuyên được thực hiện
đồng thời trong các hoạt động hàng ngày của đơn vị, bao gồm các hoạt động
giám sát, quản lý thường nhật và các hoạt động khác mà các nhân viên tiến
hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hàng ngày
- Giám sát định kỳ: Phạm vi và mức độ của giám sát định kỳ phụ thuộc
chủ yếu vào việc đánh giá rủi ro và sự hữu hiệu của các hoạt động giám sát
thường xuyên, nếu hoạt động giám sát thường xuyên càng hữu hiệu thì giám sát
định kỳ sẽ giảm đi
Mục tiêu chính của việc giám sát là nhằm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ
luôn hoạt động hữu hiệu, do vậy cần giám sát tất cả các hoạt động trong đơn vị
và đôi khi còn áp dụng cả cho các đối tượng bên ngoài như nhà cung cấp, khách
hàng v.v.Thông thường cần kết hợp cả giám sát thường xuyên và giám sát định
kỳ mới đảm bảo tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
1.2 Sự cần thiết và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ [04]
1.2.1 Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 19Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung, quyền lợi
riêng của người sử dụng lao động với người lao động luôn tồn tại song hành
Nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ, làm thế nào để người lao động không
vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của
toàn tổ chức, của người sử đụng lao động? Làm sao quản lý được các rủi ro?
Làm thế nào có thể phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dưới một cách
chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tưởng cảm tính? Một hệ
thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại cho tổ chức các lợi ích như:
- Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh (sai sót vô tình gây
thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng sản
phẩm )
- Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm
cắp
- Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính
- Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt của tổ chức
cũng như các quy định của luật pháp
- Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt
được mục tiêu đặt ra
- Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ
1.2.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Mỗi một đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được, đó có thể là
mục tiêu chung cho toàn đơn vị, cũng có thể là mục tiêu riêng cho từng bộ phận
thường được chia làm các nhóm mục tiêu sau:
- Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của
việc sử dụng các nguồn lực
- Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: Nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng
tin cậy của báo cáo tài chính mà đơn vị cung cấp
Trang 20- Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các
quy định
Để đạt được các mục tiêu này cần dựa trên cơ sở các chuẩn mực đã được thiết
lập Kết quả đạt được phụ thuộc vào môi trường kiểm soát, cách thức đánh giá
rủi ro, các hoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin truyền thông và
vấn đề giám sát
Riêng mục tiêu hoạt động, kiểm soát nội bộ không thể ngăn ngừa các quyết
định sai lầm hay các sự kiện bên ngoài có thể làm ảnh hưởng đến mục tiêu của
đơn vị Với mục tiêu này kiểm soát nội bộ chỉ cung cấp sự bảo đảm hợp lý rằng
các nhà quản lý với vai trò giám sát, với hành động kịp thời sẽ giúp tổ chức có
thể đạt được các mục tiêu
1.3 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ [04]
1.3.1 Lợi ích đối với các đối tượng bên trong doanh nghiệp
- Đối với nhà quản trị: cung cấp các thông tin hữu ích và kịp thời về tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
Ví dụ: cung cấp các báo cáo nội bộ định kỳ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận,
tình hình sản xuất, các báo cáo mang tính chất quản trị như phân tích sự biến
động về mối quan hệ giữa doanh thu-chi phí-lợi nhuận, các báo cáo về dòng
tiền, các khoản phải thu, các khoản phải trả để từ đó giúp nhà quản trị điều
chỉnh kịp thời các chính sách phù hợp nhằm kiểm soát chi phí, kiểm soát việc
sử dụng đồng vốn tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời đáp ứng cho việc lập kế
hoạch lâu dài của doanh nghiệp
- Đối với các cổ đông: điều mà họ quan tâm nhất đó là đơn vị mình có làm
nên ăn ra hay không? họ luôn mong đợi các nhà quản trị doanh nghiệp là những
người tài giỏi, quản lý và kiểm soát chặt chẽ để mang lại kết quả kinh doanh
thật tốt, chính vì thế điều mà họ cần là con số báo cáo tài chính trung thực và
hợp lý Để có được điều đó chỉ khi đơn vị có một hệ thống kiểm soát nội bộ
chặt chẽ
Trang 21- Đối với những người làm công tác kế toán: Trong quy trình kế toán nếu
được thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt sẽ giúp ích cho các nhân viên
kế toán giảm được các sai sót bởi vì mức độ tuân thủ trong nghiệp vụ cao hơn,
từ đó số liệu kế toán được trình bày rõ ràng và đáng tin cậy hơn
Ngoài ra việc thực hiện theo một quy trình sẽ phân định rõ ràng công việc cụ
thể của từng nhân viên, thực hiện kiểm tra chéo lẫn nhau sẽ giúp cho các nhân
viên dễ phát hiện ra những sai sót và điều chỉnh kịp thời, từ đó giúp cho kế toán
trưởng có thể an tâm hơn mà không phải mất thời gian nhiều cho việc kiểm soát
và cho phép họ tập trung vào những công việc tạo ra giá trị cao hơn
1.3.2 Lợi ích đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp [10]
- Các nhà đầu tư tiềm năng: Rõ ràng với một hệ thống kiểm soát nội bộ
chặt chẽ sẽ mang đến cho công ty một báo cáo tài chính trung thực và hợp lý,
điều đó dần dần sẽ trở thành một danh tiếng của một công ty cổ phần, các nhà
đầu tư sẵn sàng trả giá cao hơn cho những cổ phần này vì họ tin tưởng vào vị
thế tài chính của công ty
- Các nhà cho vay: đại diên cho đối tượng này là các ngân hàng, bởi vì
trước khi quyết định có nên cho vay hay không? ngân hàng thường làm rất
nhiều thủ tục đánh giá và thẩm định, ngoài việc xem báo cáo tài chính, họ còn
đi giám sát thực tế đơn vị, thực chất của những cuộc giám sát này là xem xét
quy mô và đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó Ngân hàng sẽ
mạnh dạn cho vay khi họ có độ tin cậy cao về báo cáo tài chính thông qua giám
sát thực tế
- Cơ quan thuế: Hệ thống kiểm soát nội bộ tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp
hạn chế được những rủi ro vi phạm pháp luật về thuế như: những hành vi gian
lận thuế, tránh thuế, chậm nộp báo cáo cũng như chậm nộp thuế,…
1.4 Những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ [04]
1.4.1 Về chủ quan: Khả năng vượt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội
bộ do có sự thông đồng của một người trong Ban giám đốc hay một nhân viên
Trang 22với người khác ở trong hay ngoài đơn vị; những người chịu trách nhiệm thực
hiện kiểm soát nội bộ lạm dụng đặc quyền cho mình
1.4.2 Về khách quan: Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến
những nghiệp vụ lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất
thường; sai sót bởi con người thiếu chú ý, đãng chí, sai sót về xét đoán hoặc do
không hiểu rõ yêu cầu công việc; do có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm
soát bị lạc hậu hoặc bị vi phạm
Nắm được những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ giúp người quản lý
giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của những hạn chế đó bằng những chính
sách, thủ tục kiểm toán bổ sung, đặc biệt là cần thường xuyên đánh giá và điều
chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ kịp thời
1.5 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quy trình kế toán [03]
1.5.1 Chức năng của quy trình
- Thu thập các thông tin, chứng từ liên quan hoạt động sản xuất kinh doanh của
đơn vị từ các bộ phận bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để xử lý thành số
liệu kế toán
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của các chứng từ, nghiệp vụ phát sinh để xem nó
có phù hợp với quy định hay không?
- Cung cấp các thông tin hữu ích cho nhà quản trị để làm cơ sở định hướng
chiến lược sản xuất kinh doanh và ra quyết định đúng đắn
- Cung cấp các thông tin phù hợp cho Ngân hàng, Nhà đầu tư hoặc nhà đầu tư
tiềm năng, cơ quan thuế, …
1.5.2 Mục tiêu của quy trình
Việc kiểm soát tốt kiểm soát nội bộ trong quy trình kế toán sẽ giúp cho đơn vị
đạt được ba mục tiêu đó là:
- Sự hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động: Đó là lợi ích kinh tế đạt được
từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nó không chỉ đơn thuần là lợi nhuận
mà còn thể hiện sự ổn định lâu dài trong hoạt động của đơn vị
Trang 23- Báo cáo tài chính đáng tin cậy: Nghĩa là số liệu trên báo cáo tài chính
được trình bày rõ ràng, trung thực và hợp lý Điều này xuất phát từ việc tổ chức
hệ thống sổ sách, chứng từ, báo cáo đầy đủ, ghi chép đúng đắn và phản ánh chặt
chẽ, chính xác và kịp thời các nghiệp vụ phát sinh của người làm công tác kế
toán tại đơn vị
- Tuân thủ pháp luật và các quy định khác: Việc tuân thủ các quy định của
pháp luật trong kinh doanh là điều tất yếu, trong chu trình kế toán mục tiêu này
cần được đề cao đểnắm bắt kịp thời yêu cầu của pháp luật và các quy định liên
quan đến hoạt động của đơn vị, từ đó có biện pháp xây dựng và thực hiện các
quy tắc trong hoạt động kinh doanh của đơn vị mình
1.6 Rủi ro, sai phạm thường gặp và cơ chế kiểm soát trong quy trình kế toán.[04]
1.6.1 Rủi ro và sai phạm thường gặp
1.6.1.1 Rủi ro và sai phạm trong quy trình bán hàng và kiểm soát công
nợ phải thu
- Đơn hàng có thể được chấp nhận nhưng không được phê duyệt
- Đồng ý bán hàng nhưng không có khả năng cung ứng
- Hợp đồng bán hàng ghi sai về chủng loại, số lượng, đơn giá hay một số
điều khoản bán hàng, hoặc nhầm lẫn đơn đặt hàng của khách hàng này với
khách hàng khác
- Bán chịu cho những khách hàng không đủ điều kiện theo chính sách bán
chịu dẫn đến mất hàng, không thu được tiền
- Nhân viên bán hàng có thể cấp quá nhiều hạn mức bán chịu để đẩy mạnh
doanh thu bán hàng nên làm cho đơn vị phải gánh chịu rủi ro tín dụng quá
mức
- Giao hàng khi chưa được xét duyệt
- Giao hàng không đúng chủng loại, số lượng hoặc khách hàng
- Hàng hóa có thể bị thất thoát trong quá trình giao hàng mà không xác
định được người chịu trách nhiệm
Trang 24- Bán hàng nhưng không lập hóa đơn
- Lập hóa đơn sai về giá trị, tên, mã số thuế, địa chỉ của khách hàng
- Không bán hàng nhưng vẫn lập hóa đơn
- Ghi nhận sai thời hạn thanh toán
- Ghi nhận sai niên độ về doanh thu và nợ phải thu khách hàng
- Ghi sai số tiền, ghi trùng hay ghi sót hóa đơn
- Quản lý nợ phải thu khách hàng kém, thu hồi nợ chậm hoặc không thu
hồi được nợ, v.v
- Khoản tiền thanh toán của khách hàng bị chiếm đoạt
- Xóa sổ nợ phải thu của khách hàng nhưng không được xét duyệt
- Nợ phải thu bị thất thoát do không theo dõi chặt chẽ
- Không lập hoặc lập dự phòng phải thu khó đòi không đúng
- Không đánh giá lại nợ phải thu khách hàng có gốc ngoại tệ vào cuối kỳ
1.6.1.2 Rủi ro trong quy trình mua hàng và kiểm soát công nợ phải trả
- Đặt mua hàng không cần thiết hoặc không phù hợp với mục đích sử
dụng hoặc đặt hàng trùng lắp dẫn đến lãng phí, ứ đọng vốn, tốn kém chi phí
lưu kho, lưu bãi
- Đặt mua hàng không đúng tiến độ: mua quá trễ dẫn đến thiếu hụt nguyên
vật liệu cho sản xuất hoặc thiếu hàng hóa để bán, nếu mua quá sớm dẫn đến
gây lãng phí chi phí lưu kho hoặc nghiêm trọng hơn có thể làm giảm phẩm
chất hàng hóa
- Đặt mua hàng kém phẩm chất hoặc mua với giá quá cao so với thực tế sẽ
gây thiệt hại nghiêm trọng nếu kéo dài
- Nhân viên mua hàng gian lận trong việc chọn lựa nhà cung cấp để chọn
nhà cung cấp theo ý mình mặt dù hàng hóa, giá cả của họ không phù hợp
Trang 25- Nhân viên bộ phận xử lý báo giá thông đồng với nhà cung cấp nên giấu
bớt hồ sơ báo giá của các nhà cung cấp có giá hợp lý hơn giá của nhà cung
cấp được nhân viên này ủng hộ
- Phản ánh số nợ phải trả không chính xác
- Không phân biệt đúng nợ ngắn hạn và dài hạn
1.6.1.3 Rủi ro trong quy trình kiểm soát vốn bằng tiền
- Thu tiền trục tiếp từ khách hàng nhưng bị nhân viên bán hàng hoặc thu
ngân chiếm dụng, biển thủ
- Tiền thu không đúng với giá trị hàng bán do tính toán sai
- Nhân viên thu nợ biển thủ số tiền thu được hoặc không nộp về doanh
nghiệp kịp thời
- Xóa sổ nợ phải thu để chiếm dụng tiền thu được
- Ghi chép các khoản thu tiền sai niên độ, sai số tiền, sai đối tượng, ghi
chép thiếu sót hoặc trùng lắp các nghiệp vụ thu tiền
- Ghi chép các khoản chi tiền sai niên độ, sai số tiền, sai đối tượng theo
dõi, ghi chép thiếu sót hoặc trùng lắp các nghiệp vụ chi tiền
- Chi trả sai nhà cung cấp, sai lô hàng hoặc sai giá đã thỏa thuận
- Chi trả cho các khoản chi phí, các khoản mua hàng hoặc dịch vụ không
có thực, không được phê duyệt, không phù hợp với chính sách của đơn vị
- Chi không đúng với mục đích, chi vượt quá mức cần thiết, lạm dụng để
chi cho cá nhân
- Chi không kịp thời dẫn đến không được hưởng các khoản chiết khấu
thanh toán hay phải trả thêm lãi suất quá hạn
- Thực hiện việc chuyển khoản hoặc rút tiền ngân hàng không được phép
- Số tiền tồn quỹ thực tế sai lệch so với sổ sách và báo cáo
- Tiền tồn quỹ bị mất cắp, bị thủ quỹ chiếm dụng hoặc tham ô
Trang 26- Tiền tồn quỹ quá ít dẫn đến thiếu hụt tiền khi cần hoặc tồn quỹ quá nhiều
làm giảm khả năng sinh lời
1.6.1.4 Rủi ro trong quy trình kiểm soát tài sản cố định:
- Quyết định đầu tư tài sản cố định không đúng dẫn đến lãng phí hoặc mất
cân đối về tài chính
- Mua tài sản cố định với giá cao
- Sử dụng tài sản cố định không đúng mục đích, sử dụng lãng phí làm
giảm hiệu quả
- Sử dụng tài sản cố định không đúng công suất
- Ghi chép tài sản cố định không chính xác và kịp thời, ghi nhận những tài
sản không đáp ứng đủ điều kiện trở thành tài sản cố định, ghi nhận sai thông
tin về nguyên giá và thời hạn sử dụng
- Tài sản cố định đã đưa vào sử dụng nhưng chưa được cập nhật trên sổ
sách
- Chọn phương pháp khấu hao không phù hợp, thời gian khấu hao không
đúng theo quy định
- Không ghi chép kịp thời các khoản chi phí bảo trì, sửa chữa dẫn đến việc
hạch toán sai chi phí
- Không ước tính rủi ro xảy ra, không mua bảo hiểm cho các tài sản cố
định có giá trị lớn
- Thất thoát tài sản cố định do không làm công tác kiểm kê định kỳ
- Không xóa sổ tài sản cố định đã thanh lý
1.6.1.5 Rủi ro trong kiểm soát thông tin kế toán thông qua phần mềm
xử lý thông tin
- Sử dụng các phần mềm xử lý thông tin không có bản quyền
- Phần mềm xử lý thông tin hoạt động không ổn định dẫn đến mất dữ liệu
Trang 27- Không có hệ thống lưu trữ dữ liệu dự phòng khi có các sự cố mất dữ liệu
cần phục hồi
- Hệ thống không đủ mạnh hoặc không đủ điều kiện để chống sự xâm
nhập của virus, của những đối tượng khai thác dữ liệu thông tin trái phép
- Không quản lý được việc thất thoát dữ liệu mật của công ty thông qua
các thiết bị lưu trữ dự liệu (USB) hoặc truyền tải qua mail, sự bảo mật nghề
nghiệp cần thiết của bộ phận công nghệ thông tin
1.6.1.6 Rủi ro và sai phạm trong kiểm soát công việc của nhân viên kế
toán
- Đây là những rủi ro, sai phạm phát sinh bởi ý thức chủ quan của người
làm công tác kế toán: Thanh toán sai mục đích, sai đối tượng, hạch toán chi
tiền khi không có chứng từ, không ghi sổ các khoản thu nhằm mục đích
chiếm dụng, không tuân thủ đúng quy trình, ghi chép những nghiệp vụ
không có thực,…
1.6.2 Cơ chế kiểm soát của quy trình [03]
Cơ chế kiểm soát là quy trình được thiết lập để ngăn chặn và phát hiện những
rủi ro có thể xảy ra, một cơ chế kiểm soát chặt chẽ thường bao gồm các bước
sau:
- Phê duyệt: là việc cho phép một nghiệp vụ kinh tế được phát sinh Người
được phép phê duyệt là người có thẩm quyền, thường được bổ nhiệm theo chức
năng nhiệm vụ phù hợp Khi phê duyệt phải có cơ sở và tuân thủ theo các quy
định của công ty, phê duyệt phải xem xét kỹ lưỡng về mặt nội dung nghiệp vụ,
không đặt nặng về mặt hình thức, nếu không cơ chế kiểm soát sẽ không hiệu
quả
- Định dạng trước: Là quy trình xử lý nghiệp vụ tự động trên hệ thống của máy
vi tính, nghiệp vụ sẽ không thể thực hiện nếu thiếu một trong những bước thực
hiện của những người có trách nhiệm phê duyệt
Trang 28- Báo cáo bất thường: Trong quy trình kế toán những nghiệp vụ bất thường là
những nghiệp vụ chưa từng xảy ra, những nghiệp vụ ngoại lệ không đúng theo
quy trình hoặc các vấn đề xảy ra nhưng có nhiều ý kiến cần xem xét, …
Khi phát hiện những nghiệp vụ bất thường, nhân viên công ty có trách nhiệm
báo cáo lại cho người có thẩm quyền để họ xem xét giải quyết và đưa ra những
biện pháp kịp thời Việc báo cáo bất thường kịp thời sẽ giúp cho doanh nghiệp
tránh được những rủi ro có thể xảy ra và có thể khắc phục và xử lý nó một cách
hiệu quả
- Bảo vệ tài sản: Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp là tất cả những hoạt động
nhằm bảo vệ và hạn chế sự thất thoát, lãng phí, phá hoại tài sản Ví dụ thực hiện
các biện pháp kiểm kê kho định kỳ, kiểm kê tiền mặt tồn quỹ, kiểm kê tài sản
cố định,…
- Bất kiêm nhiệm: nghĩa là một người không được thực hiện cùng lúc hai hay
nhiều chức năng mà những chức năng này có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sai
phạm xảy ra
Ví dụ: một nhân viên vừa làm thủ quỹ vừa là kế toán thanh toán, ghi sổ các
khoản chi tiền Gian lận có thể xảy ra là nhân viên này có thể hạch toán chi
khống để chiếm dụng tiền trái phép
- Sử dụng chỉ tiêu: Chỉ tiêu ở đây thực chất là những con số kế hoạch,
những vấn đề được định mức trước nhằm phân định cho từng bộ phận, từng cá
nhân kiểm soát và thực hiện, từ đó có thể so sánh với mức đạt được ở thực tế để
đánh giá kết quả và có biện pháp chấn chỉnh kịp thời Ví dụ đề ra các chỉ tiêu về
lãi gộp, chỉ tiêu về lợi nhuận trên doanh thu, …
- Đối chiếu: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường rất đa dạng và xuất
phát từ nhiều nguồn khác nhau như: các cá nhân, các phòng ban trong doanh
nghiệp hay từ các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, do đó việc đối chiếu tổng
hợp giữa các đối tượng này với nhau là điều rất cần thiết để phát hiện và ngăn
ngừa các gian lận và sai sót
Trang 29- Kiểm tra và theo dõi: Thực hiện kiểm tra và theo dõi thường xuyên sẽ
giúp cho doanh nghiệp phát hiện kịp thời những sai sót và ngăn chặn những
hành vi gian lận
Hầu hết các công ty kinh doanh thành công đều có cơ chế kiểm tra hữu hiệu để
theo dõi các hoạt động đang tiến hành, và thực hiện kịp thời mọi điều chỉnh cần
thiết để đảm bảo hoàn thành mục tiêu đề ra theo kế hoạch
Tóm lại: Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị cần kiểm soát hoạt động
của mình một cách liên tục và thay đổi cách thức kiểm soát sao cho phù hợp ở
từng thời điểm, bởi vì kiểm soát nội bộ chính là một quá trình chứ không phải
là một sự kiện hay tình huống nhất định nào đó [04]Các đơn vị nên thiết lập
cho mình hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp với đặc điểm kinh doanh, quy mô
của đơn vị và phải đảm bảo có hiệu quả Điều mẫu chốt của hệ thống kiểm soát
nội bộ hữu hiệu là người lãnh đạo cao nhất của đơn vị phải có quan điểm đúng
đắn và coi trọng đúng mức công tác kiểm soát, đó là căn cứ quan trọng để thiết
lập và vận hành có hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ góp phần quan trọng để
duy trì công tác quản trị doanh nghiệp hiệu quả
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ TRONG QUY TRÌNH KẾ TOÁN TẠI
CÔNG TY TNHH AKZO NOBEL CHANG CHENG
VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam.[08]
2.1.1 Sơ lược về công ty
- Tên công ty: Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Akzo Nobel Chang Cheng
(Việt Nam)
- Tên giao dịch quốc tế: Akzo Nobel Chang Cheng (Vietnam) Limited
- Là doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư của nước ngoài, liên doanh giữa
Chang Cheng Securities (Hồng Kông) và tập đoàn Akzo Nobel (Hà Lan),
tập đoàn đứng đầu thế giới về sơn, hóa chất và dược phẩm
- Công ty được thành lập vào năm 2001 theo giấy phép đầu tư số
90/GP-KCN-ĐN ngày 22 tháng 08 năm 2001, cấp bởi: Ban Quản Lý Khu Công
Nghiệp Tỉnh Đồng Nai
- Mã số thuế: 3600505495
- Ngành nghề chính: Sản xuất sơn bột tĩnh điện
- Thương hiệu: Interpon
- Website: www Akzonobel.com
Trang 31- Tổng giám đốc: Ông Kuo Chien Te
- Trụ sở chính: Đường số 2, Khu công nghiệp Nhơn Trạch I, Tỉnh Đồng Nai
- Akzo Nobel là một công ty đa quốc gia, phục vụ khách hàng trên khắp thế
giới các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, hóa chất và lớp sơn phủ
- Akzo Nobel có một lịch sử phát triển lâu dài, bắt đầu từ năm 1777 tại Hà
Lan, tính đến nay Akzo Nobel đã hoạt động rộng khắp trên 85 quốc gia trên
thế giới
- Sự phát triển của Akzo Nobel là kết quả của một quá trình phát triển có hệ
thống bởi những kế hoạch mua và sáp nhập của các công ty con
- Những năm 1816 đến 1960: các sản phẩm đa dạng của Akzo Nobel đã
chiếm lĩnh toàn bộ thị trường Hà Lan, Anh Quốc, Akzo Nobel bắt đầu mua
lại toàn bộ cổ phần các đối tác Pinchin Paint và Johnson và đến năm 1975
nhà máy Interpon chính thức ra đời, tiếp tục tung ra thị trường những sản
phẩm công nghiệp về sơn trang trí, các sản phẩm sơn bao phủ cho các ứng
dụng công nghiệp về gỗ, ôtô, tàu biển và hàng không vũ trụ
- Năm 1976 đến 1981: Akzo Nobel đã xây dựng nhà máy ở Đức, Brazil và
Úc
Trang 32- Năm 1985, Akzo Nobel đã mở rộng quy mô sang thị trường Châu Á và
chính thức xây dựng nhà máy Sơn Interpont tại Hàn Quốc
- Năm 1988 đến năm 1990: Akzo Nobel tiếp tục xây dựng nhà máy ở
Malaysia, Indonesia, Trung Quốc
- Năm 2001, tập đoàn Akzo Nobel đã sang thăm dò thị trường Việt Nam và
ngày 22 tháng 08 năm 2001 Công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng (Việt
Nam) đã chính thức ra đời, với vốn góp ban đầu là liên doanh giữa Chang
Cheng Securities (Hồng Kông) và tập đoàn Akzo Nobel (Hà Lan) mà ông
Robert Morlaneer là chủ tịch Hội Đồng Quản Trị
- Đến tháng 09 năm 2010 Chang Cheng Securities (Hồng Kông) đã bán toàn
bộ cổ phần cho Akzo Nobel, vì vậy Công ty Công ty TNHH Akzo Nobel
Chang Cheng Việt Nam chính thức đổi tên thành Công ty TNHH Sơn Bột
Tĩnh Điện Akzo Nobel (Việt Nam)
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ
2.1.3.1 Chức năng
- Công ty trách nhiệm hữu hạn Akzo Nobel Chang Cheng (Việt Nam)
(Sau đây gọi là Akzo Nobel) chuyên sản xuất các loại sơn bao phủ dạng
bột phục vụ cho trang trí, bảo vệ cho các sản phẩm công nghiệp làm từ
gỗ, kim loại như máy móc thiết bị, đồ nội thất, ô tô và thị trường công
nghệ thông tin
- Giữ vững danh hiệu đầu ngành trong lĩnh vực sơn phủ dạng bột bằng
cách không ngừng cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm,
tăng hiệu quả cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị
trường
2.1.3.2 Nhiệm vụ
Akzo Nobel ngày nay đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc
sống hàng ngày thông qua việc sản xuất và cung cấp những sản phảm
Trang 33cần thiết cho xã hội hiện đại, những sản phẩm mà hàng triệu người sử
dụng như là một phần của thói quen hàng ngày của họ
Akzo Nobel ngoài việc phấn đấu để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
bằng những sản phẩm chất lượng, đưa ra một mức lời có tính cạnh tranh
cho vốn đầu tư của các cổ đông, tạo ra môi trường làm việc thoáng và
hấp dẫn cho các nhân viên, Akzo Nobel còn thể hiện ở giá trị cam kết
của mình đối với môi trường xung quanh và luôn tự hỏi rằng “chúng ta
đang làm gì để được một công ty có trách nhiệm hơn?” Chính vì thế mà
Akzo Nobel luôn có những cam kết về môi trường, an toàn, an ninh,
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe chung của cộng đồng, cũng như Akzo
Nobel luôn đề cao giá trị đạo đức trong nguyên tắc kinh doanh của mình
2.1.4 Quy mô của công ty
2.1.4.1 Quy mô về vốn
Tổng vốn đầu tư: 4.000.000 USD
Vốn pháp định: 2.500.000 USD
2.1.4.2 Quy mô về lao động
Công ty có quy mô khoảng 100 lao động, mức độ biến động lao động
qua các năm từ năm 2006 đến năm 2009 tương đối ổn định Cụ thể theo
số liệu báo cáo thống kê đến thời điểm cuối 31 tháng 12:
Số lượng lao động của công ty qua các năm:
Năm Số lao động (người)
Trang 34Lượng lao động năm 2007 tăng 11% so với năm 2006, chủ yếu là do quy
mô sản xuất tăng lên nên nhu cầu về lao động của công ty cũng tăng
Năm 2008 lao động có giảm nhẹ 4% so với năm 2007, và năm 2009 tăng
2% so với năm 2008 Nhìn chung lao động của công ty vẫn ở mức ổn
(Biểu đồ số 2.1: Biểu đồ tỷ lệ trình độ lao động năm 2009)
Biểu đồ cho thấy lao động có trình độ chuyên môn (Đại học, Cao đẳng,
Trung học chuyên nghiệp) chiếm tỷ lệ cũng khá cao (35% so với tổng
lao động) đây là một lợi thế góp phần mang đến thành công cho công ty
Trang 35Về cơ cấu lao động, lao động nam chiếm đa số (70% ) chủ yếu tập trung
ở bộ phận sản xuất, lao động nữ chiếm 30% tổng số lao động, phân bổ
đều ở các bộ phận kế toán, kinh doanh, bộ phận cung ứng
Ngoài ra lao động nước ngoài chiếm khoảng 3%, phân bổ ở bộ phận kinh
doanh, bộ phận quản lý doanh nghiệp, đây là lợi thế lớn để công ty khai
thác thị trường nước ngoài, là cơ hội cho các nhân viên Việt Nam học
tập, trao đổi kinh nghiệm, nhất là khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ
2.1.5 Lĩnh vực kinh doanh và thị trường tiêu thụ
2.1.5.1 Lĩnh vực kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh của công ty là chuyên sản xuất và phân phối các
sản phẩm sơn bột tĩnh điện
2.1.5.2 Thị trường tiêu thụ
- Từ năm 2006 đến năm 2008 thị trường tiêu thụ của Akzo Nobel
chủ yếu là thị trường nội địa, doanh thu nội địa chiếm khoảng 95% trên
tổng doanh thu, 5% còn lại là xuất khẩu tại chổ vào khu chế xuất Tân
Thuận, Linh Trung, và phần nhỏ sang thị trường Thái Lan
- Năm 2009 đến nay thị trường của Akzo Nobel đã được mở rộng
sang các nước Malaysia, Thái Lan, nâng tỷ lệ doanh thu xuất khẩu của
công ty lên 12%
Trang 36Doanh thu của công ty qua các năm 2006 đến 2009
Đơn vị tính: 1000 đồng
Nội địa Xuất
(Nguồn: Phòng kế toán, Công ty TNHH Akzo Nobel Chang Cheng Việt Nam) [01]
(Biểu đồ số 2.2: Doanh thu qua các năm 2006-2009)
Từ tài liệu trên, ta thấy doanh thu của năm 2007 tăng 16% so với doanh
thu của năm 2006, đây là thời kỳ làm ăn tương đối thịnh vượng của công
ty so với những năm trước đó, Akzo Nobel được biết đến nhiều hơn với
thị trường nội địa
Năm 2008, doanh thu bị sụt giảm 15% so với năm 2007, nguyên nhân
chính là do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, nhu cầu thị
trường sụt giảm đột ngột và cũng có nhiều trường hợp Akzo Nobel đã
Trang 37mất trắng các đơn đặt hàng lớn do khách hàng quá khó khăn phải đóng
cửa một phần hoặc toàn bộ cơ sở sản xuất
Năm 2009 đến nay, với tinh thần tương trợ lẫn nhau, cùng nhau vượt qua
khó khăn chung, Akzo Nobel đã không ngừng đưa ra các giải pháp để hỗ
trợ những khách hàng chủ lực của mình như các giải pháp hỗ trợ thích
hợp về giá bán, gia hạn công nợ, gia tăng thời hạn bán chịu,…
2.1.6 Thuận lợi, khó khăn và phương hướng hoạt động
2.1.6.1 Thuận lợi
- Thị trường của công ty ngày càng mở rộng bởi công ty sản xuất được
nhiều chủng loại sơn tĩnh điện khác nhau, phục vụ đa dạng cho các đối
tượng khách hàng, nhất là những khách hàng có quy trình sản xuất gỗ,
đồ dùng kim loại, đồ trang trí nội ngoại thất
- Với đội ngũ lãnh đạo trẻ, nhiệt tình, công nhân lao động lành nghề đã
mang đến cho công ty một tình hình hoạt động kinh doanh hiệu quả và
ổn định
- Akzo Nobel được nhiều khách hàng biết đến như một thương hiệu sơn
thân thiện với môi trường và con người bởi họ có các chính sách bảo vệ
môi trường, chính sách chăm sóc sức khỏe nhân viên và cộng đồng tốt
- Akzo Nobel luôn nhận được sự hỗ trợ của các chuyên gia cùng tập
đoàn về những kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm sản xuất và cả kinh
nghiệm trong kinh doanh
- Hệ thống máy móc thiết bị của công ty được trang bị ngày càng hiện
đại, đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng và giảm giá
thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận
2.1.6.2 Khó khăn
Ngoài những thuận lợi trên, những khó khăn mà Akzo Nobel gặp phải
cũng không ít
Trang 38- Do rào cản gia nhập ngành khá thấp nên nguy cơ cạnh tranh tăng cao là
rất lớn Công ty phải cạnh tranh với rất nhiều các đối thủ như: Tiger,
Jotun, Oxyplas,…
- Phần lớn nguyên liệu sản xuất sơn phải nhập khẩu từ nước ngoài, các
chi phí khác tăng theo như chi phí bảo hiểm hàng hóa, chi phí vận
chuyển,… làm cho chi phí đầu vào lớn, giá thành cao, khả năng cạnh
tranh thấp
- Tình hình tỷ giá biến động mạnh đã gây khó khăn cho Akzo Nobel,
một công ty có tỷ lệ hàng xuất khẩu tương đối thấp, nguồn thu ngoại tệ
hiếm lại phải chi trả cho khối lượng ngoại tệ lớn cho việc nhập khẩu
nguyên vật liệu nước ngoài, dẫn đến sức ép về tỷ giá cũng là một gánh
nặng thật sự gây khó khăn cho công ty
- Việc phân bổ lao động quản lý trong công ty chưa đồng đều dẫn đến có
nhiều bộ phận quản lý còn yếu kém, lỏng lẻo, kết quả là không đạt được
các mục bộ phận đề ra, kéo theo sự trì trệ cho mục tiêu chung của toàn
công ty
2.1.6.3 Định hướng thị trường trong những năm tới
Tiếp tục hỗ trợ khách hàng chủ lực của công ty bằng những chính sách
tài chính thích hợp nhằm giành lại thị phần trong nước và mở rộng thị
trường nước ngoài
Việc nâng cao tỷ lệ xuất khẩu từ mức 5% lên 12% của năm 2009 là biểu
hiện hết sức khả quan, công ty đang cố gắng duy trì mọi hoạt động
marketing, hoạt động chăm sóc hậu mãi khách hàng nhằm nâng cao và
giữ vững tỷ lệ xuất khẩu này bằng cách: xây dựng một đội ngũ chuyên
phục vụ khách hàng (CTS: Customer Services), hỗ trợ các vấn đề kỹ
thuật cho khách hàng mọi lúc mọi nơi, kể cả thị trường trong và ngoài
nước
2.2 Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty
2.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Trang 39(Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Công ty TNHH Akzo Nobel Chang
Cheng Việt Nam) [01]
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận.[10]
Hội đồng quản trị (Board of Management)
- Là cơ quan quản lý cao nhất, có toàn quyền quyết định chiến lược, kế
hoạch phát triển trung và dài hạn và kế hoạch hoạch định kinh doanh hàng
năm của công ty
Hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý và kiểm tra, giám sát hoạt
động của công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng Giám Đốc thực hiện
quyết định của Hội Đồng Quản Trị
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chấm dứt hợp đồng, cũng như quyết
định mức thù lao và lợi ích khác của Tổng giám đốc
Ban Kiểm soát nội bộ của tập đoàn (Internal Audit)
Trang 40- Thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của công ty theo chỉ thị của
Hội đồng quản trị, đặc biệt là kiểm tra việc tuân thủ của công ty đối với các
chính sách của tập đoàn, chính sách pháp luật hiện hành và kiểm tra tính hữu
hiệu trong các phương án, dự án mà công ty đã và đang thực hiện
- Ban kiểm soát có trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng quản trị về kết quả
kiểm tra và đề ra những kiến nghị cần thiết để Hội đồng quản trị hướng công
ty hoạt động đúng hướng và hữu hiệu hơn
Tổng giám đốc (General Manager)
- Tổng giám đốc điều hành toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động
kinh doanh đó
- Xác lập cơ cấu tổ chức quản lý, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ và đề
ra các chức năng nhiệm vụ của các phòng ban sao cho phù hợp với mục tiêu
hoạt động
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật hoặc khen thưởng các chức danh trong công
ty
- Đảm bảo cho các bộ phận, cá nhân trong Công ty thực hiện đúng chức năng
nhiệm vụ đạt hiệu quả trong công việc
- Là người đại diện theo pháp luật của công ty, chịu trách nhiệm trước pháp
luật về tất cả các hoạt động liên quan công ty
Phòng an toàn lao động, sức khỏe và môi trường (Health Safety
Environment)
- Phụ trách lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động cho toàn nhân viên công ty
- Phụ trách về an toàn và vệ sinh môi trường, tuân thủ và đảm bảo các yêu
cầu chung của pháp luật về môi trường
- Huấn luyện chung cho toàn bộ nhân viên nhà máy, nhà thầu bên ngoài về
việc tuân thủ những nguyên tắc an toàn vệ sinh lao động trong nhà máy