1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đào tạo điều tra điền dã. Thực tiễn, mạng lưới và chiến lược trong hoạt động trồng rau tại vùng ven đô

26 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 690,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viên sẽ được giới thiệu các kỹ thuật và phương pháp điều tra điền dã, sau đó sẽ sử dụng các kỹ thuật và phương pháp đó vào thực hiện một nghiên cứu thực địa ngắn với các bước và quy

Trang 1

2.4 Đào tạo điều tra điền dã

Thực tiễn, mạng lưới và chiến

lược trong hoạt động trồng rau

tại vùng ven đô

Pierre-Yves Le Meur – VIện Nghiên cứu Phát triển IRD,

Emmanuel Pannier – Trung tâm Nghiên cứu khoa học

quốc gia Pháp CNRS, Olivier Tessier – Viện Viễn đông Bác Cổ ÉFEO,

Trương Hoàng Trương – Đại học Thủ Dầu Một

Lớp chuyên đề này nhằm giúp học viên làm

quen với các phương pháp và công cụ sử

dụng trong nghiên cứu định tính của các

ngành khoa học xã hội Học viên sẽ được giới

thiệu các kỹ thuật và phương pháp điều tra

điền dã, sau đó sẽ sử dụng các kỹ thuật và

phương pháp đó vào thực hiện một nghiên

cứu thực địa ngắn với các bước và quy trình

nghiên cứu khoa học cụ thể bao gồm từ

bước xây dựng đối tượng nghiên cứu cho tới

bước xử lý và phân tích các dữ liệu thu thập

được từ thực địa

Bài tập điều tra điền dã được thực hiện ở hai

địa điểm: xã Liên Nghĩa thuộc huyện Đức

Trọng và thôn Quảng Hiệp của xã Hiệp Thạnh

Học viên sẽ nghiên cứu so sánh hai hệ thống

trồng rau: hệ thống thâm canh ở sáu trang

trại trồng rau quy mô lớn, sử dụng kỹ thuật

trồng trên giàn và hệ thống trồng rau chuyên canh, bán thâm canh ở các hộ gia đình có quy mô nhỏ hơn

Các nội dung nghiên cứu được xác định ban đầu như sau:

• thực trạng của hai hệ thống trồng rau

• xác định các mối liên hệ giữa hai hệ thống:

đó có phải là hai hệ thống không liên quan

gì hoặc có liên hệ với nhau hoặc phụ thuộc lẫn nhau? Các mạng lưới cung cấp vật tư và tiêu thụ riêng rẽ với nhau hay chồng chéo giữa hai hệ thống?

• xác định các yếu tố hạn chế hoặc cạnh tranh trong tiêu thụ, tiếp cận thị trường, quản lý nước, vật tư nông nghiệp, nhân lực,

Học viên được chia thành ba nhóm Mỗi nhóm có bốn cặp, một giảng viên hướng dẫn

Trang 2

và một phiên dịch hỗ trợ trong vòng 3 ngày

thực hiện điều tra thực địa

Lớp học được tổ chức như sau:

- một nhóm thực hiện điều tra tại xã Liên

Nghĩa, chủ đề chính bao gồm: sản xuất rau

thâm canh tại sáu trang trại của xã – điều tra

ban lãnh đạo, công nhân, cửa hàng cung

cấp vật tư nông nghiệp, thành viên hợp tác

xã; hệ thống tiêu thụ – hoạt động của chợ

đầu mối tại huyện: loại rau, giá thu mua của

nông dân, dán nhãn, cơ sở thu gom và phân

loại, mạng lưới phân phối, khách hàng; vai

trò và sự can thiệp của chính quyền (hỗ trợ,

quản lý, giám sát) – điều tra cán bộ huyện,

phòng nông nghiệp, hội nông dân, hội phụ

nữ, v.v ;

- hai nhóm còn lại thực hiện điều tra tại thôn

Quảng Hiệp Mỗi nhóm điều tra một bên

đường quốc lộ: điều tra kinh tế hộ gia đình

chuyên trồng rau kinh doanh – hộ trồng

rau (lịch sử gia đình và các hoạt động kinh

tế), cửa hàng vật tư nông nghiệp, vựa thu

mua, hộ gia đình bỏ làm nông và chuyển

một phần hoặc hoàn toàn sang làm dịch vụ

hoặc các hoạt động khác; điều tra về vai trò

và sự can thiệp của chính quyền xã thôn

Trong ngày đầu tiên, các giảng viên sẽ giới

thiệu một vài khái niệm cơ bản, cách thức xây

dựng “chiến lược” điều tra – lựa chọn công cụ,

kỹ thuật và phương pháp điều tra Trọng tâm

của ngày học đầu tiên này sẽ dành cho việc

xây dựng phương pháp luận, thủ tục điều tra

và bảng gợi ý nội dung điều tra; ngoài ra các

giảng viên cũng sẽ giới thiệu chung về hoàn

cảnh kinh tế xã hội của địa bàn thực hiện

nghiên cứu (xem thêm các bài đọc tham khảo

đã được cung cấp tại lớp học)

Ngày học thứ năm sẽ dành cho việc tổng hợp

và sắp xếp dữ liệu thu thập được để làm bài

báo cáo thu hoạch lớp học vào thứ Ba, ngày

29/7, phần này sẽ làm:

- theo cặp: i) thống kê dữ liệu; ii) sắp xếp dữ

liệu theo khung chung của nhóm;

- theo nhóm: i) tổng hợp dữ liệu; ii) phân loại

dữ liệu theo chủ đề của nhóm

Công việc của các giảng viên bao gồm:1) trước khi thực hiện điều tra tại thực địa: xác định khái niệm, khung phân tích và các lý thuyết-tranh luận có liên quan đến nghiên cứu của lớp;

2) trong ba ngày điền dã: quan sát và hỗ trợ các nhóm thực hiện điều tra (lựa chọn và nắm vững các kỹ thuật điều tra, tương tác với đối tượng phỏng vấn, v.v ) Việc đi cùng với các cặp học viên trong quá trình phỏng vấn và họp nhóm vào cuối ngày sẽ giúp dần xây dựng và xem xét lại đối tượng nghiên cứu đã xác định trên cơ sở các phỏng vấn

đã thực hiện cũng như đối chiếu kết quả thực hiện trong ngày của mỗi cặp Cách làm này giúp học viên hình dung được là giai đoạn điều tra thực địa cũng đồng thời

là giai đoạn thực hiện song song việc xử lý thông tin thu được, kết hợp luôn việc rút ra thông tin và đọc thông tin đó Dữ liệu thu được và báo cáo tại buổi họp cuối ngày sẽ giúp phát triển đối tượng nghiên cứu ngay

mà không cần phải đợi đến giai đoạn sau thực địa: phần đánh giá mỗi buổi làm việc

sẽ giúp xác định được mức độ xác đáng của các giả thiết cũng như hướng điều tra đặt ra ban đầu Đối tượng nghiên cứu sẽ được xây dựng dần dần qua quá trình tích lũy năng động như vậy;

3) sử dụng kết quả điều tra: đây là bước khai thác các kết quả thu được từ thực địa, các cặp học viên trong nhóm sẽ cùng thảo luận, cách làm này sẽ giúp học viên quen với việc tích lũy và tổng hợp kết quả.Một trong những đặc thù của lớp điền dã là các giảng viên tham gia vào nhóm với tư cách

là thành viên tích cực chứ không phải là người

Trang 3

quan sát đơn thuần Việc tương tác giữa các

nhóm không phải là ưu tiên ở giai đoạn thực

địa, nhưng đây sẽ là nội dung chính trong

ngày làm việc chung của cả ba nhóm để

chuẩn bị bài báo cáo tổng kết – các nhóm sẽ

cùng làm việc để tìm ra mối liên hệ giữa các

dữ liệu và kết quả phân tích của mỗi nhóm

Nội dung báo cáo kết quả của từng nhóm sẽ

phải theo đúng các bước đã trình bày ở trên

Kết quả chung của cả lớp sẽ được tổng kết

tại chỗ trên cơ sở ý kiến đánh giá của học

viên, học viên cũng tự nhận xét về quá trình

thực hiện của bản thân và những gì thu được

trong ba ngày thực địa: tự phê bình và nhận

xét mình đã hiểu và nắm được các phương

pháp và kỹ thuật điều tra ở mức độ nào

(Phần gỡ băng)

Ngày thứ nhất, thứ Năm ngày 24/7

[Olivier Tessier]

Năm nay là năm thứ bảy lớp điền dã được tổ

chức trong khuôn khổ Khóa học mùa hè Lớp

chuyên đề của chúng ta sẽ do bốn giảng viên

phụ trách Tôi sẽ giới thiệu ngắn gọn tổ chức

lớp học sau đó từng người trong lớp sẽ lần

lượt giới thiệu bản thân

Thách thức của lớp chúng ta là làm sao trong

vài ngày thực địa có thể bóc tách và nắm

được các bước của một nghiên cứu điền

dã; vì thời gian ngắn như vậy nên chúng ta

sẽ chủ yếu làm quen được với một bài tập

nghiên cứu điền dã vốn bình thường đòi hỏi

phải được thực hiện trong vài tháng

Buổi sáng ngày hôm nay chúng ta sẽ nghe ba

bài dẫn nhập và thảo luận do Emmanuel Pannier,

Pierre-Yves Le Meur và Trương Hoàng Trương

trình bày xoay quanh các vấn đề liên quan đến

đào tạo kỹ thuật và phương pháp điều tra điền

dã cũng như các thông tin cơ bản về địa bàn mà chúng ta sẽ thực hiện nghiên cứu

Chúng ta sẽ thảo luận về nội dung của các bài dẫn nhập đó và nhấn mạnh vào các đặc thù trong quan hệ giữa người nghiên cứu với thực địa Sau đó lớp sẽ chia thành ba nhóm, mỗi nhóm gồm 4-6 học viên, các nhóm sẽ chuẩn

bị khung điều tra và nội dung nghiên cứu mà chúng ta sẽ thực hiện trong tuần này Các nhóm nhỏ sẽ chia thành cặp, chúng ta sẽ thực hiện điều tra thực địa ngay từ sáng mai Phần thực địa sẽ kéo dài ba ngày, cuối mỗi ngày các nhóm sẽ họp sơ kết để tập hợp dữ liệu thu được; tùy theo thông tin thu được trong ngày, chúng ta sẽ điều chỉnh các giả thiết đặt ra ban đầu và xác định các hướng nghiên cứu mới

Ở giai đoạn này, chúng ta chưa so sánh kết quả thu được của mỗi nhóm, phần việc này sẽ được thực hiện khi lớp quay về Đà Lạt Như vậy, khi quay về Đà Lạt, cả lớp sẽ tổng hợp toàn bộ

dữ liệu thu được của ba nhóm; đánh giá xem

dữ liệu nào vẫn còn là giả thiết, dữ liệu nào là thông tin đã được khẳng định; so sánh kết quả của ba nhóm; xếp loại các dữ liệu chính đóng góp cho vấn đề nghiên cứu mà chúng ta đã xác định từ đầu

Mục đích chính của chúng ta là học cách xây dựng và điều chỉnh đối tượng nghiên cứu dần dần theo diễn tiến của điều tra thực địa, tạo được một mức độ tự chủ, độc lập nhất định đối với đối tượng nghiên cứu của mình: không ngại thay đổi, điều chỉnh hoặc bổ sung cho đối tượng nghiên cứu của mình nếu dữ liệu thu được từ thực địa cho phép ta làm điều đó

Giới thiệu giảng viên và học viên (xem thêm thông tin giảng viên và danh sách học viên ở cuối chương)

Trang 4

2.4.1 Các bước thực hiện một

nghiên cứu định tính trên cơ sở

điều tra thực địa

[Emmanuel Pannier]

Quy trình nghiên cứu

Trong phần trình bày này, tôi sẽ giới thiệu các

bước cụ thể của quy trình nghiên cứu và tập

trung vào một số nguyên tắc chủ chốt cả về

lý thuyết và thực hành

Các bước chính trong nghiên cứu nhân

học-xã hội?

- Xác định đề tài nghiên cứu và vấn đề

nghiên cứu ban đầu – hai yếu tố này sẽ

phát triển dần trong quá trình nghiên cứu;

- Xây dựng đối tượng nghiên cứu: tiền thực

địa, đọc các nghiên cứu và lý thuyết có liên

quan, đánh giá tính khoa học và tính khả thi

của đối tượng nghiên cứu, hướng nghiên

cứu và các giả thiết có thể đặt ra;

- Lựa chọn phương pháp;

- Điều tra thực địa: sử dụng các công cụ và kỹ

thuật thu thập dữ liệu;

- Xử lý và phân tích dữ liệu: đọc dữ liệu và

khái quát thành lý thuyết;

- Tổng hợp kết quả và viết báo cáo khoa học

Mặc dù bao gồm các bước cụ thể như vậy

nhưng trong quá trình thực hiện, người

nghiên cứu không phải thực hiện theo thứ tự

lần lượt: điều tra trên thực địa sẽ làm phát triển

đối tượng nghiên cứu, các giả thiết và vấn đề

nghiên cứu đặt ra ban đầu, v.v Nghiên cứu

định tính đòi hỏi phải có sự trở đi trở lại giữa

thực tiễn, lý thuyết, đối tượng nghiên cứu,

các hướng nghiên cứu đã đặt ra, các phương

pháp nghiên cứu đã lựa chọn và các kết quả

nghiên cứu đọc được qua mỗi bước

Ở đây chúng ta phải nắm rõ ngay từ đầu bốn

thuật ngữ quen thuộc trong nghiên cứu khoa

học nhưng đôi khi gây nhầm lẫn: phương pháp, phương pháp (cách) tiếp cận, kỹ thuật

và phương pháp luận

Phương pháp Là quy trình lô-gic của một ngành khoa học được đưa ra để làm sáng tỏ một thực tiễn và lý thuyết Phương pháp là tập hợp các nguyên tắc và hoạt động được

tổ chức để xác lập các bước cụ thể của một nghiên cứu khoa học nhằm tìm câu trả lời cho các giả thiết được đặt ra trong một vấn

đề nghiên cứu và một đối tượng nghiên cứu Nói một cách cụ thể, phương pháp là một tập hợp các hoạt động và chiến lược

mà một người làm nghiên cứu đưa ra để thu thập được thông tin, xây dựng dữ liệu, chứng minh, kiểm chứng và đưa ra các kết quả.Lấy hai ví dụ cụ thể:

- phương pháp diễn dịch, xuất phát từ các quy luật chung để hướng tới cái riêng, cụ thể;

- phương pháp quy nạp, đi theo con đường ngược lại: trên cơ sở các nghiên cứu trường hợp cụ thể để xây dựng nên một nội dung mang tính chất khái quát

Hai phương pháp này không bắt buộc phải

áp dụng riêng rẽ mà có thể kết hợp trong một nghiên cứu có sự qua lại giữa nghiên cứu trường hợp và khái quát hóa thành khái niệm.Phương pháp tiếp cận là một cách tư duy trí tuệ không đòi hỏi phải có các bước cụ thể hay một con đường đi riêng biệt: một trường phái tư tưởng, một cách riêng để tiếp cận thực tế quan sát được – phương pháp tiếp cận theo mạng lưới là một ví dụ, phương

pháp tiếp cận này phân biệt với Rational

Actor  Theory: phương pháp tiếp cận theo

mạng lưới đặt các mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân vào trọng tâm của tư duy khoa học trong khi Rational Actor Theory tập trung

Trang 5

vào các cá nhân và những tính toán duy lý

của mỗi cá nhân

Kỹ thuật (công cụ) là một phương tiện cụ thể

được sử dụng để đạt được kết quả cho từng

phần; nhiều kỹ thuật được phát triển để phục

vụ cho phương pháp, nhằm mục đích đạt

được kết quả tổng thể về đối tượng nghiên

cứu – xây dựng dữ liệu hoặc thu thập thông

tin bằng phỏng vấn, bảng hỏi, quan sát,

thống kê Có thể gọi bằng một cách khác là

phương pháp xây dựng dữ liệu

Việc phân biệt phương pháp và công cụ

phương pháp luận (hay phương thức xây

dựng dữ liệu) là rất quan trọng Phương pháp

là cách tiến hành để đạt đến mục đích và tìm

trả lời cho các câu hỏi đặt ra; công cụ là các kỹ

thuật được đưa ra sử dụng, kết hợp với nhau

để áp dụng phương pháp – bảng gợi ý phỏng

vấn mở là một ví dụ về công cụ sử dụng phục

vụ cho việc áp dụng phương pháp

Phương pháp luận là việc nghiên cứu để áp

dụng đúng các phương pháp và kỹ thuật đưa

ra: suy nghĩ, chiêm nghiệm, đánh giá riêng

của người nghiên cứu trên tinh thần phản

biện và điều chỉnh

Xây dựng vấn đề nghiên cứu chung

Vấn đề nghiên cứu được cấu thành từ chủ đề

nghiên cứu, bối cảnh chung, các câu hỏi và

giả thiết chủ yếu được đặt ra Vấn đề nghiên

cứu trả lời cho câu hỏi kép: ta biết gì và không

biết gì về chủ đề nghiên cứu Các câu hỏi này

cần thiết cho việc xây dựng vấn đề nghiên

cứu chung

- «Ta biết gì»

Bối cảnh chung của nghiên cứu:

• môi trường xã hội, chính trị, kinh tế và văn

hóa có liên quan tới đối tượng nghiên cứu;

• hoàn cảnh các nghiên cứu trong nước và

quốc tế có liên quan tới chủ đề nghiên cứu;

• cơ sở lý luận: văn liệu có thể tiếp cận, gặp

gỡ chuyên gia, các điều tra đã được thực hiện trước đó, các lý thuyết đã được xác lập, v.v

Trên cơ sở đó, việc làm sáng rõ «ta biết gì» luôn hữu ích: viết, tổ chức hệ thống lại những

dữ liệu ta có thể khai thác được từ những nghiên cứu trước đó theo chủ đề và tiểu chủ đề; lập sơ đồ và dàn ý những gì đã biết (việc này sẽ giúp xác định được những gì chưa biết hoặc chưa được đề cập)

- «Ta không biết gì»

Bao gồm tất cả các câu hỏi mà các nghiên cứu trước đó chưa cung cấp được câu trả lời thỏa đáng (trong khoa học, gọi là «vùng xám») hoặc ta chưa tìm được câu trả lời từ các điều tra và nghiên cứu thực địa mình đã thực hiện

Nhìn chung, công việc này sẽ giúp chứng minh được tính xác đáng và cần thiết của đề tài nghiên cứu Lập luận đưa ra phải chứng minh được: đề tài nghiên cứu là đề tài mới

vì đề tài đó chưa được đề cập tới dưới góc

độ nghiên cứu đề xuất; chủ đề nghiên cứu

đã được đề cập nhưng chưa thỏa đáng; các nghiên cứu trước đó đã quá lâu và thực tiễn

có nhiều thay đổi, cần phải nghiên cứu bổ sung; tiếp cận được với một số nguồn tư liệu chưa từng được công bố, chẳng hạn một số nguồn tư liệu lưu trữ, v.v

Việc trình bày bối cảnh chung về khoa học và

lý luận phải làm sao xác định được khung lý thuyết, các khái niệm hoặc xu hướng nghiên cứu hiện có, và những gì mà tác giả thực hiện

đề tài muốn sử dụng cho nghiên cứu của mình (kể cả sau này có thể phải bỏ không áp dụng, tùy thuộc vào kết quả thu được trên thực địa) Phương pháp tiếp cận khoa học của đề tài dù mới nhưng một phần cũng phải

là kết quả của các nghiên cứu và khám phá

Trang 6

của các tác giả trước, đây sẽ là nền tảng để

triển khai một nghiên cứu, chẳng hạn một

đề tài luận án tiến sĩ Vì thế, điều cốt yếu phải

làm là thống kê danh mục các nghiên cứu đã

thực hiện trước đó trong lĩnh vực nghiên cứu

của mình trước khi thực sự bắt tay vào thực

hiện đề tài

Bước ban đầu cần thiết này sẽ giúp có được

cách tiếp cận tích lũy, tức là giúp cho người

nghiên cứu có thể tìm hiểu và đánh giá được

các công trình và kết quả nghiên cứu hiện có

Việc thống kê danh mục các nghiên cứu đã

có cũng mở ra cho người nghiên cứu một

cái nhìn, một vị thế mang tính đạo đức trong

khoa học – nó sẽ là barie ngăn cản những

đánh giá chủ quan nếu có về tính độc đáo,

mới của các kết quả nghiên cứu đã thu được

– và nâng các bước của quy trình nghiên cứu trên nền tảng của những kiến thức và thành tựu khoa học lên tầm các định đề đã được khẳng định và không cần thiết phải chứng minh lại một lần nữa Bước này cũng giúp người nghiên cứu đặt đề tài và bước nghiên cứu của mình vào trong mối quan hệ với các dòng tư tưởng và phương pháp tiếp cận khoa học hiện có

Công việc cuối cùng là trình bày vấn đề nghiên cứu chung, đây sẽ là tổng hợp của hai vấn đề đã phân tích ở trên Vấn đề nghiên cứu chung sẽ được đi kèm với các giả thiết được xây dựng dưới dạng câu hỏi, mức độ xác đáng của các câu hỏi này sẽ được kiểm chứng ở bước thực địa đầu tiên

Trình bày vấn đề nghiên cứu chung

• Câu hỏi Cụ thể hóa vấn đề nghiên cứu bằng các câu hỏi rõ ràng và chính xác Một vấn

đề nghiên cứu có thể được cụ thể hóa bằng nhiều câu hỏi nghiên cứu; một nghiên cứu được xây dựng cẩn thận là một nghiên cứu chỉ đề cập trực tiếp đến một câu hỏi nghiên cứu.

• Các giả thiết nghiên cứu – là các câu trả lời giả định cho các câu hỏi nghiên cứu đã đặt

ra

• Phương pháp Trong phần đặt vấn đề, giới thiệu vấn đề nghiên cứu, cần chỉ rõ phương pháp, các bước tiến hành cũng như cách thức kiểm chứng các giả thiết đã đặt ra.

Nguồn: tác giả; Tremblay và Perrier (2006).

17 Khung

Trang 7

Xây dựng đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là khía cạnh cụ thể sẽ

được nghiên cứu, đánh giá, điều tra sẽ tập

trung vào đối tượng này và cung cấp thông

tin cần thiết để trả lời cho các câu hỏi nghiên

cứu đặt ra ban đầu – điều này đòi hỏi phải

điều tra những gì diễn ra trong thực tế, thông

lệ, tình huống, nơi chốn, con người, v.v

Đối tượng nghiên cứu trả lời cho câu hỏi

chung “ta tìm gì?” (Giordano và Jolibert, 2012);

“Nếu chủ đề nghiên cứu xác định một phạm vi

nghiên cứu chung (phụ nữ và thể thao, truyền

thông và thể thao, tiền bạc và thể thao, v.v ),

đối tượng nghiên cứu lại đưa ra một giới hạn

chính xác hơn, hẹp hơn về đề tài dự định nghiên

cứu, với một vấn đề nghiên cứu cụ thể được

xây  dựng.” – xem thêm tại

http://staps.univ-lille2.fr/ Nguyên tắc nền tảng ở đây là quan

điểm của người nghiên cứu tạo ra đối tượng

nghiên cứu chứ không phải theo con đường

ngược lại: đối tượng nghiên cứu là kết quả

tìm tòi về mặt tri thức của người nghiên cứu

nhằm tổng hợp được bối cảnh văn hóa, khoa

học của chủ đề nghiên cứu, vấn đề nghiên

cứu chung, các giả thiết, các nguồn tư liệu

khả dụng, v.v

Việc đầu tiên cần làm là đánh giá được mức

độ khả thi và xác đáng của đề tài nghiên cứu

tùy theo thực tế quan sát được trên thực địa;

việc này sẽ được thực hiện ở giai đoạn tiền

thực địa

Giai đoạn tiền thực địa được thực hiện để

đánh giá tính xác đáng của đề tài nghiên

cứu trên cơ sở quan sát thực tiễn Người

nghiên cứu phải có thái độ cởi mở, tránh có

cái nhìn bảo thủ và đóng khung về tư tưởng

và phương pháp luận ngay từ khi bắt tay vào

thực hiện đề tài Sau bước tiền thực địa, người

nghiên cứu phải có khả năng đánh giá, lật lại

những giả thiết đã đặt ra ban đầu, thậm chí cả

đề tài nghiên cứu tổng thể của mình

Bước tiền thực địa sẽ cho thấy một số câu hỏi

và giả thiết ban đầu không xác đáng hoặc không hữu ích đối với đề tài nghiên cứu, và một số câu hỏi mới sẽ xuất hiện Không có nguyên tắc cụ thể trong việc đánh giá mức

độ xác đáng của mỗi câu hỏi nghiên cứu, điều này tùy thuộc vào “kỹ năng, kinh nghiệm” của người nghiên cứu và sự tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu trong giai đoạn xây dựng vấn đề nghiên cứu chung cũng như trong giai đoạn tiền thực địa Tuy nhiên, tính xác đáng về khoa học của đối tượng nghiên cứu lại gắn với một

số yêu cầu đòi hỏi trong thực tiễn nghiên cứu nhân học-xã hội:

- xác định bối cảnh chung cho các nhóm xã hội và thực tiễn xã hội đang có: mỗi một sự việc, một hành vi phải có chỗ đứng trong thời đại của nó cũng như trong khuôn khổ

xã hội được xác định để thực hiện nghiên cứu Do vậy, trong cách tiếp cận đã lựa chọn, người nghiên cứu cũng đọc hành

vi cá nhân trong mối quan hệ với các điều kiện xã hội và lịch sử có liên quan;

- công việc xây dựng đối tượng nghiên cứu đòi hỏi phải xác định và tính tới các loại hình tư tưởng Cần phải dự phòng để tránh mọi sự chệch choạc theo hướng vị chủng (dérives ethnocentristes), theo đó, phải luôn ý thức được rằng, loại hình tư tưởng của nhóm xã hội được nghiên cứu (emic)

có khả năng sẽ khác với loại hình tư tưởng của người nghiên cứu (etic)

Ngoài ra, cũng phải đánh giá tính khả thi của

đề tài nghiên cứu Ở đây là đánh giá mức độ khả thi cụ thể của nghiên cứu Việc đánh giá này tùy thuộc vào điều kiện ràng buộc đối với nghiên cứu, về thời gian, tài chính, số lượng điều tra viên tham gia, các điều kiện tiếp cận với thực địa và các nguồn thông tin dữ liệu

Trang 8

khả dụng Ta sẽ xem xét hai điều kiện cuối

cùng này

Để xác định được đối tượng nghiên cứu cần

phải thống kê lại các nguồn thông tin và kết

quả nghiên cứu đã có Bất kỳ một nghiên cứu

hay báo cáo khoa học nào cũng phải được

dựa trên việc khai thác các chất liệu thô, dữ

liệu sơ cấp hoặc thứ cấp, các nguồn tài liệu

thành văn hoặc truyền miệng Về bản chất,

các nguồn thông tin, dữ liệu cũng như thực

địa nghiên cứu có thể sử dụng được là vô

cùng đa dạng, phong phú, tùy thuộc vào

ngành nghiên cứu nói chung và đề tài nghiên

cứu cụ thể nói riêng Ở đây có thể phân biệt

hai nguồn

- Đối với các nguồn đã có từ trước (thường là

các nguồn tư liệu viết hoặc cố định – phim,

ảnh, bản ghi âm), cần phải xem xét về mức

độ khả dụng, khả năng tiếp cận, số lượng

có thể sử dụng Chẳng hạn, đối với nguồn

tư liệu lưu trữ của các làng có từ thời thực

dân ở Việt Nam, nguồn này vô cùng lớn, sẽ

là không tưởng nếu muốn khai thác toàn

bộ: vì vậy, việc lựa chọn một phần từ nguồn

này là cần thiết và có thể dựa trên các tiêu

chí về địa lý, thời gian, hoặc chủ đề, v.v

- Đối với các nguồn tư liệu gốc – do các nhà

nghiên cứu thu thập được qua phỏng vấn,

quan sát, điều tra có hệ thống, tổng hợp các

dữ liệu thống kê đơn lẻ, ảnh, bản đồ, v.v –

cần phải xem xét các điều kiện và khả năng

có thể xây dựng được các tư liệu đó Giới

hạn này là do năng lực của chính chúng ta

đặt ra, nhưng cũng do một không gian tự

do xác định có liên quan tới môi trường xã

hội, chính trị, thể chế và vật chất đặt ra – đối

với một nhà nhân học muốn nghiên cứu

đến các tập tục thường có trước mỗi vụ cấy

chẳng hạn, khả năng quan sát trực tiếp của

người nghiên cứu sẽ bị giới hạn bởi số vụ

lúa mỗi năm

Làm chủ được yếu tố thời gian là một điểm quan trọng khác

Lập tiến độ nghiên cứu tức là đặt ra các mốc thời gian cho các công việc cụ thể Việc này không dễ thực hiện vì thường xác định mốc thời gian cho những việc đã làm thì dễ hơn xác định mốc thời gian cho những việc sẽ phải làm Ngoài ra còn phải tính đến nhiều yếu tố khác nhau:

- tổng thời gian có cho đề tài do người nghiên cứu tự đặt ra hoặc theo yêu cầu;

- tần suất và thời gian của các đợt thực địa;

- các sự kiện quan trọng liên quan tới chương trình nghiên cứu tổng thể - đặc biệt là các hội thảo, hội thảo khoa học, các đợt tham gia giảng dạy, v.v ;

- thời gian của người phụ trách chương trình nghiên cứu;

- các khoảng thời gian ít hoạt động của các trường đại học và viện nghiên cứu;

- các vấn đề cá nhân/gia đình của bản thân người nghiên cứu

Tóm lại, cần phải xây dựng đối tượng nghiên cứu trên cơ sở xem xét tính xác đáng và khả thi của đề tài, điều này sẽ giúp tránh được tình trạng bực mình khi rơi vào:

- một đối tượng nghiên cứu quá rộng và khó xác định giới hạn;

- một đối tượng nghiên cứu quá hẹp hoặc phiến diện

Khi xác định các trục nghiên cứu và xây dựng giả thiết, điều quan trọng nữa cần làm là chú

ý đến hai nguy cơ lớn: cố gắng nghiên cứu triệt để, điều này là ảo tưởng và còn làm cho

dự án không khả thi; đưa ra các trục nghiên cứu quá tản mát, không thực sự liên quan với nhau: quan hệ phụ thuộc và logic giữa các trục nghiên cứu sẽ tạo ra độ kết dính

và giá trị của đề tài Để tránh rơi vào hai tình huống này, người nghiên cứu phải gắn mỗi

Trang 9

trục nghiên cứu mà mình đưa ra với một hay

nhiều giả thiết nghiên cứu sẽ được khẳng

định hoặc bác bỏ trong quá trình nghiên cứu

Sử dụng cách nói ẩn dụ «đường mòn nghiên

cứu» trong tiếng Pháp (piste de recherche) là

rất đúng Ta thăm dò con «đường mòn» và

trong suốt quá trình thực hiện, người nghiên

cứu bị đặt trước nhiều lựa chọn Và cuối cùng,

ta có thể bỏ con đường đã đi đó (vì có những

trở ngại không vượt qua được, vì quá xa so với

hướng đi mong muốn ban đầu) và mở ra một

con đường mới

Cuối cùng, đối tượng nghiên cứu và những

phân tích sẽ có được dần dần qua quá trình

nghiên cứu, thông qua việc phản hồi theo

kiểu feed-back trở đi trở lại, người nghiên cứu

sẽ tự quan sát mình trong quá trình tư duy, lật

đi lật lại vấn đề, đặt ra khoảng cách giữa bản

thân mình và đối tượng nghiên cứu nhằm

quan sát thật khách quan, và luôn có cái nhìn

phản biện đối với các giả thiết mình đã đặt

ra hoặc các kết quả mình đọc được Đây quả

thực là một thách thức lớn cho những người

nghiên cứu trẻ và các sinh viên! Trong thực

tiễn, xây dựng đối tượng nghiên cứu đòi hỏi

phải có sự trở đi trở lại thường xuyên, liên

tục giữa việc nghiên cứu lý thuyết và quan

sát thực tiễn Theo P Bourdieu (1972), cần

phải phê bình việc phân chia và phân biệt lý

thuyết/thực hành như hiện nay vẫn làm trong

các nghiên cứu khoa học: phân chia và phân

biệt như vậy là do hiểu sai về mối quan hệ

giữa «lý thuyết» vốn có được từ việc tổng hợp

các kiến thức sách vở và phương pháp tiếp

cận thực địa vốn được tư duy ngoài quá trình

xây dựng đối tượng nghiên cứu Nói một cách

cụ thể, giai đoạn điều tra thực địa đã bao hàm luôn việc xử lý đồng thời và đọc các thông tin thu được, công việc này đòi hỏi phải nắm được khung lý thuyết và các khái niệm cốt yếu: «thực địa quan sát được và kết quả đọc được chồng lên nhau, trộn vào nhau và trả lời cho nhau» (Olivier de Sardan, 2008) Ngay

cả ở giai đoạn lấy dữ liệu, người nghiên cứu cũng đã phải thường xuyên cố gắng phân tích, phải ý thức được để tránh sai lệch trong việc đọc kết quả (Olivier de Sardan, 1996) Sau

đó, khi quay về «văn phòng» để xử lý dữ liệu thu được qua điều tra (gỡ băng ghi âm), các yếu tố thu thập được (dữ liệu và kết quả đọc

dữ liệu) sẽ được đối chiếu, so sánh, kết nối với nhau, sau đó đối chiếu với khung lý thuyết

và khái niệm Đây là cấp độ phân tích thứ hai, cho phép người nghiên cứu đặt ra một khoảng cách xa hơn với thực địa nghiên cứu Quy trình làm việc như thế có sự hòa trộn nhưng không lẫn lộn giữa lý thuyết và thực địa sẽ giúp phát triển đối tượng nghiên cứu

mà không cần phải đợi đến bước xử lý cuối cùng và bước phân tích hậu thực địa: theo

đó, tính xác đáng của các giả thiết ban đầu, của khung điều tra và của các phân tích đã thực hiện sẽ được đánh giá ngay, và nếu cần

có thể phải xác định lại ngay trong quá trình thực hiện các công việc theo tiến độ Chính vì

thế, chúng tôi cho rằng «giai đoạn lấy dữ liệu

có thể được coi là quá trính tái cấu trúc không ngừng vấn đề nghiên cứu chung của đề tài, đặt trong sự tiếp xúc với chính bản thân các dữ liệu

đó, và cũng có thể coi là việc liên tục sắp xếp lại khung phân tích trên cơ sở tích lũy các yếu tố từ thực địa» (Olivier de Sardan, 1995).

Trang 10

Từ xây dựng vấn đề nghiên cứu đến thực địa

i u tra

Các ph ng pháp

i u tra

Các công

c i u tra

Các công c nghiên c u Các công c nghiên c u

Các công c nghiên c u

Tr c 1

Tr c 2 Tr c3

Đối tượng nghiên cứu

Phản hồi

Nguồn: Culas và Tessier (2008).

36

Sơ đồ

Lựa chọn và «tự tạo» phương pháp cho

bản thân

Như đã nói ở trên, phương pháp nghiên cứu

là quy trình lên kế hoạch điều tra chi tiết để

tìm câu trả lời cho các giả thiết đặt ra ban đầu

trong khuôn khổ một vấn đề nghiên cứu và

một đối tượng nghiên cứu được xác định rõ

ràng Phương pháp nghiên cứu bao gồm cả các phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu

Trong mọi trường hợp, không có một công thức chung về phương pháp luận: không có phương pháp định sẵn cho một nghiên cứu

cụ thể mà nhà nghiên cứu có thể áp dụng

Trang 11

ngay không cần điều chỉnh gì thêm Vì vậy,

cần phải lựa chọn và điều chỉnh phương

pháp nghiên cứu theo đề tài đã chọn, các câu

hỏi đã đặt ra và cần tìm câu trả lời, theo loại

dữ liệu cần thu thập và loại dữ liệu có thể tiếp

cận được Cuối cùng, người nghiên cứu cũng

phải giải trình được lý do tại sao mình lại lựa

chọn phương pháp nghiên cứu đó, trên cơ

sở đề tài nghiên cứu của mình và những gì

quan sát được trong thực tiễn Tuy nhiên, nếu

như mỗi phương pháp chỉ áp dụng được với

một đề tài cụ thể, nhìn chung vẫn có các quy

tắc có thể áp dụng chung Xin liệt kê ra đây

sáu phương pháp có thể sử dụng trong các

ngành khoa học xã hội

- Phương pháp quy nạp và phương pháp

diễn dịch đã giới thiệu ở trên Hai phương

pháp này có thể kết hợp được trong một

hệ thống nghiên cứu có sự trở đi trở lại giữa

nghiên cứu trường hợp và nghiên cứu khái

quát

- Phương pháp phân tích: phương pháp này

bóc tách đối tượng nghiên cứu từ mức độ

phức tạp nhất đến mức độ đơn giản nhất

Hình ảnh minh họa hùng hồn nhất cho

phương pháp này là hình ảnh một nhà hóa

học cầm một vật trên tay, sau đó bóc tách

vật đó tới từng nguyên tử, rồi tới từng hạt

nhân rồi tới từng hạt cơ bản để cuối cùng

chạm tới tinh chất của vật đó

- Phương pháp lâm sàng: phương pháp này

nhìn chung được sử dụng trong nghiên cứu

xã hội học và nhân học Phương pháp này

giúp quan sát trực tiếp đối tượng nghiên

cứu trong quá trình phát triển và biến đổi

của nó Đây là sự quan sát trực tiếp, không

có giao diện, không có trung gian, người

nghiên cứu ở trong tư thế đối diện với đối

tượng nghiên cứu Phương pháp này dựa

trên việc sử dụng phối hợp các nguyên tắc

của hai phương pháp quy nạp và diễn dịch

- Phương pháp thử nghiệm: phương pháp này ít được sử dụng trong nghiên cứu nhân học và xã hội học vì khó đưa mẫu nghiên cứu vào tình huống « phòng thí nghiệm» Phương pháp này được sử dụng trong ngành tâm lý nhi và tâm lý nói chung

- Phương pháp thống kê: được sử dụng nhiều hơn trong xã hội học định tính và nhân khẩu học

Các phương pháp tiếp cận chung này có thể được xem xét và áp dụng rất đa dạng, có thể kể đến phương pháp điều tra thực địa và phương pháp định tính, hai cách tiếp cận này

«( ) liên quan đến một phương pháp nghiên cứu quan tâm đến ý nghĩa và quan sát một hiện tượng xã hội trong môi trường tự nhiên của nó Hai cách tiếp cận này được sử dụng để xử lý các

dữ liệu khó định lượng Tất nhiên, hai cách tiếp cận này không bỏ qua các con số hoặc thống

kê, nhưng không dành cho các yếu tố này vị trí hàng đầu» (Beaud và Weber, 2010).

Ở lớp chuyên đề này, chúng ta sẽ thực hiện một điều tra ngắn tại chỗ với một đối tượng nghiên cứu cụ thể – hoạt động sản xuất và kinh doanh rau quả ở hai địa phương – đối tượng nghiên cứu này được đặt trong một bối cảnh rộng hơn – ngành trồng rau của Đà Lạt

- thông qua tìm hiểu hai hệ thống sản xuất

Trước tiên, chúng ta sẽ bàn việc thu thập dữ liệu: nguồn và thực địa

«Điều tra thực địa hay còn gọi là điều tra nhân học-xã hội luôn dựa trên việc kết hợp bốn hình thức thu thập dữ liệu: quan sát tham gia (người điều tra tham gia vào cuộc sống của địa bàn điều tra trong thời gian dài), phỏng vấn sâu (trò chuyện tương tác với người được phỏng vấn

do người nghiên cứu gợi ra), rà soát (sử dụng các công cụ điều tra hệ thống), và thu thập các nguồn tư liệu viết» (Olivier De Sardan, 1995).

Trang 12

- Quan sát tham gia.

«Qua thời gian dài sống tại địa bàn nghiên

cứu (và thường đi cùng với việc học tiếng địa

phương), nhà nhân học «cọ sát» với chính

thực tế mình muốn nghiên cứu (…) Có thể

tách tình huống chung này thành hai tình

huống khác biệt: tình huống thứ nhất, người

nghiên cứu trong vị thế quan sát (người

nghiên cứu chỉ là người chứng kiến); tình

huống thứ hai là tình huống tương tác (người

nghiên cứu là bạn cùng diễn) Thông thường,

các tình huống xảy ra trong thực tế đều có sự

kết hợp ở các mức độ khác nhau của hai tình

huống này»

Người nghiên cứu sẽ «ghi chép, tại chỗ hoặc

sau này, và sẽ tìm cách lưu các dữ liệu thu được

dưới dạng bản viết hoặc bản ghi (ghi âm, ghi

hình) – các ghi chép này sẽ thành bộ tư liệu

và được tìm tòi, xử lý về sau này, hoặc sử dụng một phần để làm các mô tả trong báo cáo kết quả nghiên cứu cuối cùng Bộ tư liệu thô này không phải là tư liệu lưu trữ như trong nghiên cứu của các nhà sử học, nó sẽ bao gồm các sổ nhật ký điền dã, trong đó, người nghiên cứu ghi rõ, cụ thể và có hệ thống những gì mình thấy và những gì mình nghe được».

«Không chỉ là một người chứng kiến đơn thuần, người nghiên cứu còn ở trong một quan hệ thường trực với các quan hệ xã hội

có lời và không có lời ở thực địa nghiên cứu,

có những quan hệ đơn giản và những quan

hệ phức tạp: chuyện trò hai người, chuyện phiếm, trò chơi, v.v Trong quá trình trò chuyện bình thường, người nghiên cứu sẽ dần đưa các vấn đề mình cần tìm hiểu vào trong câu chuyện, «kết hợp các hình thức trò chuyện

Điều tra thực địa và phương pháp định tính:

mục tiêu, lợi ích và nguyên tắc

Nguồn: tác giả.

18 Khung

Mục tiêu

- Thu được các dữ liệu chính xác về thực tế và hành vi cụ thể của con người, hiểu được một hiện tượng từ biểu hiện thực tế, nắm bắt được các hành động, mối quan hệ và tương tác trong các tình huống riêng và thực;

- Hiểu được chi tiết các thái độ, hành vi, động lực, logic và trao đổi giữa các tác nhân trong một bối cảnh cụ thể;

- Thiết lập lại được quan điểm của những người được điều tra.

Lợi ích

- Phân tích sâu đối tượng nghiên cứu;

- Làm rõ được các cơ chế vận hành và sự đa dạng của các yếu tố có thể;

- Đề xuất một hành động phù hợp cho thực tế quan sát được, vì đó là hành động dựa trên thực tế.

Nguyên tắc

- Sống trong thực tế nghiên cứu;

- Trải nghiệm thời gian dài (điền dã);

- Tạo quan hệ gần gũi và tin cậy với những người được điều tra;

- Chia sẻ cuộc sống hàng ngày với những người được điều tra;

- Tham gia vào các hoạt động với những người được điều tra.

Trang 13

hàng ngày», gặp gỡ con người ở địa phương

trong cuộc sống hàng ngày của họ, trong thế

giới «hành vi ứng xử tự nhiên» của họ Rất

nhiều câu nói, cách nói trong câu chuyện bình

thường mà người nghiên cứu tham gia có thể

mang lại sự đóng góp cho sự tìm hiểu khoa

học của mình, tức là liên quan trực tiếp hoặc

gián tiếp tới đề tài nghiên cứu» (…) «Người

nghiên cứu sẽ cố gắng (…) chuyển những nội

dung tương tác mà mình thấy có giá trị thành

dữ liệu nghiên cứu, (…) sắp xếp phân loại và

mô tả các dữ liệu đó (…)».

- Phỏng vấn

«Việc thu thập dữ liệu trên cơ sở chuyện trò

với người địa phương là yếu tố trung tâm của

bất kỳ một nghiên cứu thực địa nào Phương

pháp quan sát tham gia không giúp tiếp cận

được với nhiều thông tin có ích: vì thế, cần

phải sử dụng đến sự hiểu biết hay ký ức của

người địa phương; hơn nữa, cảm nhận, suy

nghĩ của các tác nhân tại địa phương là một

yếu tố không thể thiếu trong việc tìm hiểu xã

hội Hiểu được “quan điểm” của mỗi tác nhân

xét về một mặt nào đó là một tham vọng lớn

của ngành nhân học Phỏng vấn sâu nhìn

chung vẫn là một phương pháp được ưu tiên,

thường ít tốn kém nhất, để thu được dữ liệu

cho phép ta tiếp cận được với cảm nhận và

suy nghĩ của người trong cuộc (emic), bản xứ,

địa phương Ghi chép từ các cuộc phỏng vấn

và nội dung ghi âm sẽ là phần cốt yếu của dữ

liệu nghiên cứu.»

Emmanuel Pannier giới thiệu một số kỹ

thuật phỏng vấn: xin ý kiến và kể chuyện;

phỏng vấn tương tác; phỏng vấn trò chuyện,

phỏng vấn và thời gian phỏng vấn.

Cần phân biệt rõ hai loại câu hỏi Câu hỏi của

người nghiên cứu – «câu hỏi văn phòng» – và

câu hỏi phỏng vấn, đặt cho người tham gia

phỏng vấn – câu hỏi thực địa; «( ) các câu hỏi

mà người nghiên cứu đặt ra cho mình thường liên quan đặc thù tới vấn đề nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và ngôn ngữ của bản thân Các câu hỏi này chỉ có giá trị trong phạm vi ý nghĩa của chúng và không có ý nghĩa tức thời đối với người được hỏi trong cuộc phỏng vấn Chính

vì vậy, cần phải chuyển các câu hỏi nghiên cứu

đó thành câu hỏi mang đến ý nghĩa cho người trả lời phỏng vấn ở thực địa Chính ở bước này, những kỹ năng “phi chính thức” có được qua việc quan sát tham gia (chẳng hạn qua những gì khó hiểu và chưa hiểu được ở những lần phỏng vấn đầu tiên) sẽ được sử dụng lại, thường là vô thức, để trò chuyện với người được phỏng vấn về chính cuộc sống của họ, theo mã ngôn ngữ của họ» (Olivier de Sardan 1995).

Thách thức ở đây là làm sao diễn dịch được

và chuyển hóa được từ những mục nội dung, chủ để và những câu hỏi mà người nghiên cứu đặt ra cho mình, ngoài hoàn cảnh giao tiếp thực tế với người được phỏng vấn thành những câu hỏi phỏng vấn phù hợp với thực

tế, kinh nghiệm và phạm trù ý nghĩa của người trả lời Công việc này đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức tối thiểu về thực địa nghiên cứu của mình

- Kỹ thuật rà soát, tập hợp dữ liệu

«Khi thực hiện các kỹ thuật quan sát hoặc phỏng vấn sâu, đôi khi người nghiên cứu phải

sử dụng một số kỹ thuật thu thập dữ liệu đặc biệt, các kỹ thuật này được gọi là « kỹ thuật rà soát, tập hợp dữ liệu »: xây dựng một cách có

hệ thống logic các dữ liệu sâu với số lượng xác định – thống kê, lập danh mục, bản đồ, cây phả hệ ».

Các kỹ thuật rà soát, tập hợp dữ liệu này cung cấp cho ta dữ liệu bằng số, và như vậy, cho ta thêm phương diện “định tính”: một lượng lớn các dữ liệu được tổng hợp trong các tập hợp dữ liệu con

Ngày đăng: 23/05/2021, 01:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm