Hiện tại bộ môn chúng tôi có 5 giảng viên đang học tập tiến sĩ nước ngoài và 3 giảng viên chuẩn bị thi nghiên cứu sinh trong nước.Việc mở ngành đào tạo bậc đại học về công nghệ vật liệu
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Tiền thân của khoa là Bộ môn Mác-Lênin, được thành lập từ năm 1976 đến 1994 trực thuộc phòng
Công tác chính trị - trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Từ năm 1994 đến 1999, Bộ môn Mác-Lênin trực thuộc Ban Giám hiệu trường
Từ năm 2000 đến 2003, Bộ môn Mác-Lênin trực thuộc khoa Khoa học cơ bản, và có nhiệm vụ giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, khoa học xã hội – nhân văn và giáo dục thể chất
Từ tháng 7/2003 đến tháng 12/2006, Khoa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định số 115/QĐTC ngày 25/7/2003, với 2 bộ môn: Bộ môn Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
bô môn Giáo dục thể chất
Từ tháng 8.2007, Bộ môn Kinh tế chính trị được tách ra khỏi khoa để thành lập khoa Kinh tế.Tháng 10.2008, với sự đổi mới về nội dung chương trình giảng dạy, khoa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được đổi tên thành khoa Lý luận chính trị
Cùng với chặng đường 37/50 năm xây dựng và phát triển của nhà trường, từ bộ môn Mác-Lênin được thành lập ban đầu đến khoa Lý luận chính trị hiện nay, đội ngũ cán bộ giảng viên của khoa đã không ngừng nêu cao tinh thần truyền thống của trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Khoa lý luận chính trị giảng dạy các môn học sau đậy: Chuyên đề Triết
học Sau đại học; Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin; Tư
tưởng Hồ Chí MinH; Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam;
Lôgic học; Xã hội học; Pháp luật đại cương; Tiếng Việt thực hành; Cơ sở
văn hóa Việt Nam; Lịch sử văn minh thế giới; Giáo dục thể chất 1; Giáo
dục thể chất 2; Giáo dục thể chất 3
PGS.TS Đoàn Đức Hiếu
Trang 2
CÁC THỜI KỲ
1) TS.GVC Trần Đăng Thịnh (trưởng khoa từ 7-2003 đến 12-2006): Nay là trường khoa Kinh tế
2) ThS.GVC Hoàng Công Minh (Bí thư chi bộ khoa đến năm 2010): nghỉ hưu năm 2010
3) ThS.GVC Tạ Minh (quyền trưởng khoa từ 1-2007 đến 8-2008;
phó trưởng khoa từ 1-2000 đến 12- 2006): nghỉ hưu năm 2011
4) ThS.GV Lê Văn Dũng (phó trưởng khoa từ 10-2008 đến 4-2010): đã chuyển công tác
5) TS.GVCC Phạm Thăng (GV kinh tế chính trị): hiện là Trưởng phòng CTCT – ĐH Kinh tế TP.HCM6) ThS.GVC Nguyển Hữu Chí (GV Lịch sử Đảng): hiện công tác tại ĐH Kỹ thuật công nghệ Tp.HCM7) CN Lê Thị An (GV Triết): hiện công tác tại Học viện Biên phòng
8) CN Lê Thị Oanh Oanh (GV GDTC): nghỉ hưu năm 2009
Tính đến hiện nay, cán bộ giảng viên các thế hệ của khoa đã thực hiện 11 đề tài khoa học cấp bộ,
25 đề tài cấp trường, xuất bản 20 cuốn sách, 100 bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí và tham gia nhiều hội thảo khoa học các cấp Một số giảng viên đã tham gia công tác đào tạo Sau đại học, hướng dẫn thành công 1 Luận án tiến sĩ, 46 luận văn Thạc sỹ
Không ngừng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên có chất lượng ngày càng cao Giảng dạy có chất lượng các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các môn khoa học xã hội – nhân văn và giáo dục thể chất Phấn đấu đến năm 2015 sẽ đào tạo cử nhân chuyên ngành giáo dục chính trị và thạc sỹ triết học
THÀNH TỰU TIÊU BIỂU
• Đơn vị liên tục đạt danh hiệu Lao động tiên tiến tất cả năm học.
• Chi bộ khoa liên tục đạt danh hiệu: chi bộ trong sạch vững mạnh, phát huy tác dụng tốt.
• Các tổ chức công đoàn,đoàn thanh niên đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.
• Tập thể và nhiều cá nhân đã được tặng Bằng khen, giấy khen của Bộ GD và ĐT, của trường
o Bộ môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin
o Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
o Bộ môn Đường lối Cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam
Trang 310) CN Phan Văn Lân (GV GDTC): nghỉ hưu năm 2007
11) TS.GV Nguyễn Đức Thành (GV GDTC): hiện công tác tại ĐH Tôn Đức Thắng
12) CN Phi Hải (GV GDTC): nghỉ hưu năm 2005
13) CN Phùng Ngọc Nguyên (GV GDTC): đã chuyển công tác
14) CN Nguyễn Văn Lân (GV GDTC): đã chuyển công tác
15) CN Hồ Ngọc Vinh (GV GDTC): đã chuyển công tác
16) Nguyễn Nhâm: mất năm 1993
17) Nguyễn Phước Trọng: mất năm 1999
DANH SÁCH CBGV HIỆN ĐANG CÔNG TÁC TẠI KHOA
1) PGS.TS Đoàn Đức Hiếu: Trưởng khoa từ 9-2008; Bí thư chi bộ từ 2010
2) TS.GVC Nguyễn Đình Cả: Phó trưởng khoa từ 11.2010
3) TS.GVC Thái Ngọc Tăng: Trưởng BM Tư Tưởng Hồ Chí Minh
4) ThS.GVC Nguyễn Vinh Thắng: Trưởng BM Đường lối; phó Bí thư chi bộ 2010
5) ThS.GVC Đinh Huy Nhân: Trưởng BM Nguyên lý
6) ThS.GV Nguyễn Văn Quận: Trưởng BM Giáo dục thể chất
7) ThS.GV Phùng Thế Anh: GV BM Đường lối; Chủ tịch công đoàn khoa
8) ThS.GVC Trần Tuấn Phát: GV BM Nguyên lý
9) ThS.GV Đặng Thị Minh Tuấn: GV BM Nguyên lý
10) CN.GV Trần Ngọc Chung: GV BM Nguyên lý
11) ThS.GVTHCC Trương Thị Mỹ Châu: GV BM Tư tưởng HCM
12) CN.GV Nguyễn Thị Tuyết Nga: GV BM Tư tưởng HCM; thường vụ Đoàn trường
13) CN.GV Trần Minh Toàn: GV BM Tư tưởng HCM
14) CN.GV Nguyễn Thị Phượng: GV BM Tư tưởng HCM
21) Ths Nguyễn Thị Thủy: Thư ký khoa
9) CN Trần Đình Luật (GV GDTC): đã chuyển công tác
Trang 4Khoa Khoa Học Cơ Bản(KHCB) được hình thành từ năm 1980 với tên gọi ban đầu là ban Khoa Học
Cơ Bản bao gồm sáu bộ môn: Toán, Lý, Hóa, Ngoại Ngữ, Mác – Lê Nin và Thể Dục Thể Thao do thầy Đinh Xuân Lộc làm trưởng ban Đến năm 1990 ban Khoa Học Cơ Bản đổi tên thành khoa Khoa Học
Cơ Bản với trưởng khoa là TS.Dương Tôn Đảm
Năm 2001, trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật được tách ra khỏi Đại Học Quốc Gia và khoa Khoa Học Cơ Bản được tái thành lập vào tháng 01/2001 Trong giai đoạn 2001 – 2008, các bộ môn phát triển tốt về hoạt động chuyên môn và một số ngành đào tạo bậc đại học được mở: kinh tế, công nghệ thực phẩm, ngoại ngữ,… và một số bộ môn phát triển thành các khoa quản ngành Lần lượt các khoa Mác – Lê Nin, khoa Kinh tế, khoa Hóa và Công nghệ Thực phẩm và khoa Ngoại ngữ được thành lập mới từ khoa Khoa học Cơ bản
Hiện tại khoa Khoa Học Cơ Bản gồm có hai bộ môn Toán và Vật Lý với tổng số giảng viên là 38, trong đó 7 giảng viên đang học tập tại nước ngoài (đến tháng 5/2012) Ngoài việc đảm nhiệm một khối lượng giảng dạy rất lớn, các thầy cô khoa Khoa học Cơ bản vẫn thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học có giá trị
Dự kiến trong vài năm tới, một số ngành đào tạo mới sẽ được mở thêm từ khoa Khoa học Cơ bản
TS Võ Th anh Tân
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Khoa KHCB hiện tại bao gồm hai bộ môn Toán và Vật Lý được quản lý về hành chính và chuyên môn bởi Ban Chủ nhiệm khoa và các trưởng bộ môn
CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ NHIỆM VỤ
Bộ Môn Toán
Bộ môn toán hiện tại có 19 giảng viên Trưởng bộ môn là ThS Trương Vĩnh An, phó trưởng bộ môn Ngô Hữu Tâm và 17 giảng viên (hình 1) Bộ môn Toán đảm nhiệm giảng dạy các môn toán cao cấp Tập thể khoa Khoa Học Cơ Bản năm 2006
Trang 5tâm của các cán bộ giảng dạy trong bộ môn Các
đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường và cấp
bộ hàng năm tăng về số lượng và chất lượng thể
hiện trình độ chuyên môn của cán bộ giảng dạy
Các cán bộ giảng dạy luôn chủ động đổi mới
phương pháp giảng dạy theo hướng từng bước
nâng cao khả năng tự học và ý thức chủ động
trong học tập của sinh viên, giúp sinh viên có tư
duy độc lập cũng như phát triển kỹ năng làm việc
theo nhóm Ngoài ra bộ môn còn có nhiều họat
động chuyên môn khác như tuyển chọn và huấn
luyện đội Olympic toán sinh viên toàn quốc đạt
một số giải cao, sinh hoạt học thuật với hai nội
dung chủ yếu: trao đổi kinh nghiệm giảng dạy và
hướng nghiên cứu toán học
Các giáo trình thường xuyên được hiệu chỉnh và cập nhật.Tất cả các môn học đều có đề cương chi
tiết và ngân hàng câu hỏi thi
Bộ môn Vật Lý
Bộ môn Vật Lý hiện tại có 18 giảng viên.Trưởng bộ môn TS Võ Thanh Tân, phó bộ môn ThS Phạm
Ngọc Sơn và 16 giảng viên (hình 2) Bộ môn đang đảm nhận giảng dạy: Vật lý Đại Cương A1, Vật lý Đại
Cương A2, Vật lý Đại Cương A3, và Thí Nghiệm Vật lý Đây
là các môn cơ bản bắt buộc đối với các sinh viên chuyên ngành khoa học và kỹ thuật
Bốn phòng thí nghiệm (hình 3) đang hoạt động tối đa phục vụ nhu cầu học tập của sinh viên, các dụng cụ thí nghiệm luôn được bảo trì và nâng cấp liên tục Hiện tại phòng thí nghiệm vật lý đang được đầu tư mới theo hướng hiện đại với các bộ thí nghiệm mới đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu bản chất các hiện tượng vật lý cho sinh viên
Các giảng viên trong bộ môn luôn quan tâm đến việc học tập và nâng cao trình độ chuyên môn cũng như không ngừng hoàn thiện các kỹ năng nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy Hiện tại bộ môn chúng tôi có 5 giảng viên đang học tập tiến sĩ nước ngoài và 3 giảng viên chuẩn bị thi nghiên cứu sinh trong nước.Việc mở ngành đào tạo bậc đại học về công nghệ vật liệu sẽ được thực
hiện trong vài năm tới.Nghiên cứu khoa học là một công việc không thể thiếu trong hoạt động của
bộ môn Trong vòng năm năm gần đây khoảng hơn 50 bài báo khoa học được đăng trên các tạp chí
và tham dự các hội nghị khoa học
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
Bộ môn Toán
Bộ môn sẽ tăng cường đội ngũ về cả số lượng lẫn chất lượng Dự kiến số lượng CBGD đến năm
2017 sẽ là 30 cán bộ giảng dạy với 80% có trình độ từ thạc sỹ trở lên Trong tương lai, với kinh nghiệm
giảng dạy, biên sọan giáo trình và một số nghiên cứu sinh trở thành tiến sĩ, bộ môn toán sẽ đẩy mạnh
nghiên cứu toán học, đặc biệt trong việc áp dụng vào các bài toán ngành kỹ thuật Trên cơ sở đó bộ
môn sẽ chuẩn bị các điều kiện cần thiết về nhân lực, cơ sở vật chất để mở một số ngành học mới khi
Trang 6Bộ môn Vật Lý
Mặc dù các giảng viên trong bộ môn có chuyên ngành hẹp khác nhau, tuy nhiên các giảng viên đang học tiến sĩ có cùng chuyên ngành hẹp về công nghệ vật liệu mới Sự định hướng và hình thành ngành học mới bậc đại học đang được thảo luận và khả năng hiện thực trong vòng vài năm tới
Nguồn nhân lực hiện tại: Toàn bộ khoa gồm có 37 giảng viên và 1 thư ký, trong đó
tiến sĩ 03, thạc sĩ 25, cử nhân 09, và số giảng viên đang làm nghiên cứu sinh là 07
Trưởng khoa: TS Võ Thanh Tân
Phó Trưởng khoa: Th.S Trương Vĩnh An
Thư ký: Lê Thị Diễn
Bộ Môn Toán:
Trưởng Bộ Môn: Th.S Trương Vĩnh An
Phó Trưởng Bộ Môn: Thầy Ngô Hữu Tâm
Các Giảng viên: TS Nguyễn Văn Toản, Th.S Nguyễn Thị Phương Đông, Th.S Lê
Thị Thanh Hải, Th.S Phạm Văn Hiển, Th.S Hoàng Nguyên Lý, Th.S Nguyễn Hồng
Nhung,, Th.S Hoàng Thị Minh Thảo, Th.S Nguyễn Khắc Tín, Th.S Nguyễn Ngọc
Tứ, Th.S Phan Tự Vượng, Th.S Đỗ Đức Duy (NCS), Th.S Nguyễn Thị Thùy Dương
(NCS), CN Võ Thị Vân Anh, CN Phan Phương Dung, CN Nguyễn Quang Huy, CN
Phạm Phú Mai, CN Lê Thị Mai Trang
Bộ Môn Vật lý.
Trưởng Bộ Môn: TS Võ Thanh Tân
Phó Trưởng Bộ Môn: Th.S Phạm Ngọc Sơn
Giảng viên: TS Đỗ Quang Bình, Th.S Đỗ Huy Bình (NCS), Th.S Trần Thị Khánh
Chi, Th.S Huỳnh Quang Chiến, Th.S Lê Sơn Hải, Th.S Huỳnh Sa Hoàng (NCS),
Th.S Lục Quảng Hồ (NCS), Th.S Trần Thiện Huân, Th.S Tạ Thị Huỳnh Như, Th.S
Phạm Ngọc Sơn, Th.S., Nguyễn Lê Vân Thanh, Th.S Hồ Thị Duyên Thùy (NCS),
Th.S Huỳnh Hoàng Trung, Th.S Phạm Thành Trung (NCS), CN Trương Thị Trân
Châu, KS Hoàng Thị Minh Hà, CN Trần Ngọc Lam
Các giảng viên đã nghỉ hưu, chuyển công tác
Nguyễn Ngọc Thích, Đào Ngọc Minh, Phan Thị An Ninh, Nguyễn Ngọc Thái, Phan
Thị Kim Tuyền, Trần Thị Thiên Hương, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Trần Hữu Lịch, Huỳnh
Thị Lành, Trương Thị Tây Hà, Trương Quốc Dũng, Trần Thị Bích Thủy, Nguyễn Thị
Ngoạn , Bùi Huy Quỳnh, Cao Thị Thanh Hà, Đinh Xuân Lộc, Dương Tôn Đảm ,
Dương Ngọc Hảo , Phạm Duy Khánh , Lê Xuân Trường, Nguyễn Hùng Cường,
Trang 7KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Tiền thân của khoa Sư phạm kỹ thuật là ban Sư
phạm - Sinh ngữ được thành lập từ năm 1976
cùng với sự ra đời của trường Đại học Sư phạm
kỹ thuật Ban Sư phạm - Sinh ngữ gồm có hai bộ
môn: Sư phạm và Sinh ngữ, với tổng số cán bộ là
12 người, đảm trách việc giảng dạy, rèn luyện kỹ
năng sư phạm và ngoại ngữ cho sinh viên toàn
trường
Năm 1985, bộ môn Sinh ngữ được chuyển sang
khoa Khoa học cơ bản, bộ môn Sư phạm chuyển
thành Ban Sư phạm trực thuộc Ban Giám hiệu,
gồm hai bộ môn: Tâm lý giáo dục và Phương
pháp giảng dạy với tổng số 12 cán bộ Ngoài
việc giảng dạy cho sinh viên của trường, Khoa
còn thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
cho giáo viên của các cơ sở đào tạo nghề theo
chương trình sư phạm căn bản
Từ năm 1993, Ban Sư phạm được nâng lên
thành Khoa Sư phạm kỹ thuật Tổng số cán bộ
giảng dạy là 14 người
Năm 1994, Khoa bắt đầu thực hiện chương
trình bồi dưỡng sư phạm bậc 1 và bậc 2 do Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành Đến nay đã có
hàng trăm khóa bồi dưỡng với khoảng 500 lượt
học viên và hơn 4000 giáo viên các trường dạy
nghề tham dự và được cấp chứng chỉ từ các khóa
học do khoa đảm trách
Ngoài ra, Khoa còn quan tâm giúp đỡ các cơ sở
đào tạo nghề trong công tác nâng cao nghiệp
vụ thông qua các hoạt động như: giúp đỡ các
địa phương tổ chức các hội thi giáo viên dạy giỏi; huấn luyện đội tuyển giáo viên dạy giỏi cho các địa phương, tham gia ban giám khảo hội thi giáo viên giỏi ngành dạy nghề các cấp
Từ năm 1994, các cán bộ giảng dạy của khoa bắt đầu tham gia giảng dạy, hướng dẫn và phản biện luận văn cho bậc Cao học ngành Sư phạm
kỹ thuật, nay là ngành Giáo dục học và ngành Lý luận & phương pháp dạy kỹ thuật
Từ năm 2004, nhà trường chính thực giao nhiệm vụ cho khoa quản lý chuyên môn đào tạo Cao học ngành Giáo dục học và ngành Lý luận & phương pháp dạy kỹ thuật Hàng năm khoa đào tạo số lượng khoảng 50 học viên
Từ năm 2008 đến 2010, khoa chính thức quản
lý sinh viên khối sư phạm kỹ thuật Toàn bộ cán
bộ viên cức của khoa đã nỗ lực thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý và hỗ trợ sinh viên trong học thuật và các hoạt động của sinh viên
Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo, khoa còn là nơi cung cấp tài liệu, tư vấn và bồi dưỡng về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp cho giáo viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp;
Hiện nay, tổng số cán bộ viên chức của Khoa là
17 người, trong đó có 1 thư ký và 16 cán bộ giảng dạy gồm: 5 tiến sĩ, 11 thạc sĩ Khoa gồm hai bộ môn: Bộ môn Tâm lý Giáo dục, bộ môn phương pháp giảng dạy Các giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy lĩnh vực khoa học giáo dục, tâm
lý và lý luận về phương pháp dạy học kỹ thuật và
TS Nguyễn Văn Tuấn
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
Trang 8có trình độ chuyên môn, năng lực nghề nghiệp
đáp ứng yêu cầu phát triển của khoa trong thời
gian tới
Mục tiêu của khoa là tiếp tục là phấn đấu trở
thành một cơ sở đào tạo những nhà giáo dục
chất lượng cao đạt trình độ khu vực và quốc tế,
với các nhiệm vụ: (1) Đào tạo đại học, sau đại học
ở trình độ cử nhân, thạc sĩ đội ngũ giảng viên các
trường thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp
và giáo viên dạy kỹ thuật trong các trường phổ
thông bậc trung học; cán bộ đào tạo phát triển
trong các doanh nghiệp, cán bộ quản lý giáo dục;
cán bộ giáo dục và nghiên cứu khoa học giáo
dục nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng
đạt chuẩn khu vực (2) Nghiên cứu các lĩnh vực
về khoa học giáo dục, quản lý giáo dục, lý luận
và phương pháp dạy học Kết hợp chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học và dịch vụ chuyển giao khoa học – công nghệ về lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp (3) Hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học; trao đổi khoa học và chuyển giao công nghệ
Sự nỗ lực của tập thể cán bộ viên chức của khoa trong mọi lĩnh vực hoạt động đã được ghi nhận qua bằng khen của bộ Giáo dục và Đào tạo năm
1996 -1997, Giấy chứng nhận tập thể lao động giỏi của Đại học Quốc Gia TP.HCM năm 1997 -1998, nhiều năm được Trường công nhận Tập thể lao đông giỏi cùng nhiều danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Giáo viên dạy giỏi cho tập thể và cán bộ của khoa
DANH SÁCH CÁN BỘ CỦA KHOA
1976-1982: TS Nguyễn Th ụy Ái – Trưởng ban, KS Hà Quang Minh – Kiêm nhiệm trưởng ban
1982-1985: KS Đỗ Hữu Hào – Trưởng ban
1986-1992: Th S Châu Kim Lang – Trưởng ban, KS Phan Long – Trưởng bộ môn, CN Nguyễn Th ị Lan – Phó trưởng ban
1993-2001: Th S Nguyễn Th ị Việt Th ảo – Trưởng khoa, Th S Phan Long – Phó trưởng khoa, Th S Nguyễn Văn Tuấn – Chủ tịch Công đoàn khoa, Th S Nguyễn Th ị Lan – Trưởng bộ môn
2001-2003: Th S Nguyễn Th ị Lan – Trưởng khoa, Th S Đỗ Mạnh Cường – Phó trưởng khoa, Th S Hoàng Th ị Th u Hiền – Trưởng bộ môn, Th S Phan Long – Trưởng bộ môn, Th s Lê Th ị Hoàng – Phó trưởng bộ môn, Th S Nguyễn
Th ị Phương Hoa – Chủ tịch Công Đoàn khoa, Th S Nguyễn Th ị Việt Th ảo – Bí thư chi bộ, CN Nguyễn Th ị Th úy – Phó Chủ tịch Công đoàn khoa
2003-2006: Th S Nguyễn Th ị Lan – Trưởng khoa, Th S Phan Long – Phó trưởng khoa, TS Nguyễn Văn Tuấn – Trưởng bộ môn, Th S Hoàng Th ị Th u Hiền – Trưởng bộ môn, Th S Lê Th ị Hoàng – Phó trưởng bộ môn, Th S Nguyễn Th ị Phương Hoa – Chủ tịch Công đoàn khoa, CN Nguyễn Th ị Th úy – Phó chủ tịch Công đoàn khoa, Th S Nguyễn Th ị Việt Th ảo – Bí thư chi bộ
Danh sách CBVC hiện nay ( nhiệm kỳ 2008 – 2013):
Trưởng khoa: GVC TS Nguyễn Văn Tuấn
Phó trưởng khoa: GVC TS Phan Long
Phó trưởng khoa: GVC ThS Nguyễn Thị Phương Hoa
Trưởng bộ môn Tâm lý – Giáo dục: GVC ThS Hoàng Thị Thu Hiền
Trưởng bộ môn Phương pháp – GD: GVC TS Võ Thị Xuân
Bí Thư Chi bộ: GVC ThS Nguyễn Thị Phương Hoa
Chủ tịch Công đoàn: GVC ThS Đặng Thị Diệu Hiền
Danh sách CBVC đã công tác:
ThS Đỗ Mạnh Cường, KS Nguyễn Lê Trung, KS Nguyễn Văn Thi, ThS Châu Kim Lang, KS Đỗ Hữu Hào, KS Nguyễn Ngọc Hùng, KS Lê Hoàng Nghĩa, TS Nguyễn Thụy Ái, ThS Lê Đình Viện, ThS Ngô Đình Duyên, KS Văn Văn Đây,
TS Đỗ Thành Long, KS Hà Quang Minh
Cán bộ viên chức: TS Nguyễn Văn Tuấn, TS Phan Long, Th S Nguyễn Th ị
Phương Hoa, TS Võ Th ị Xuân, Th S Hoàng Th ị Th u Hiền, TS Võ Th ị Ngọc Lan,
Th S Đặng Th ị Diệu Hiền, Th S Bùi Th ị Bích, Th S Hoàng Anh, Th S Nguyễn Như
Khương, Th S Nguyễn Th anh Th ủy, Th S Nguyễn Minh Khánh, Th S Võ Đình
Dương, Th S Đỗ Th ị Mỹ Trang, Th S Diệp Phương Chi, TS Dương Th ị Kim Oanh,
Trang 9KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC
Th S Nguyễn Tấn Quốc
Mục tiêu phát triển của Khoa Cơ khí Động lực là:
Trở thành khoa hàng đầu về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ ô tô, nhiệt-điện lạnh ở Việt Nam và từng bước vươn đến tầm khu vực
Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chế tạo đồ dùng dạy học và chuyển giao công nghệ
Tăng cường hợp tác khoa học với các trường bạn trong nước và quốc tế Quan hệ tốt với các công ty và doanh nghiệp trong lĩnh vực Ô tô-máy động lực và Nhiệt-Điện lạnh trong nước và nước ngoài
Khoa Cơ khí Động lực áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 từ những năm 2003 Qua quá trình phát triển, đến nay khoa CKĐ có 4 bộ môn: Bộ môn Động cơ, Bộ môn Khung Gầm, Bộ môn Điện Ô tô và Bộ môn Công nghệ Nhiệt-Điện lạnh Đội ngũ giảng viên của khoa gồm 38 cán bộ giảng dạy, 03 nhân viên phục vụ giảng dạy và 02 nhân viên văn phòng Trong đó có 01 Phó Giáo sư, 04 Tiến sĩ, 17 giảng viên chính, 18 thạc sĩ và 07 đang làm nghiên cứu sinh, 06 đang học thạc sĩ
Khoa Cơ khí Động lực (CKĐ) được thành lập năm 1962, tiền thân là ban Cơ khí ô tô, là một trong những
khoa được thành lập từ ngày đầu thành lập trường Năm 1972 đổi tên thành khoa Cơ khí ô tô thuộc Đại học Giáo dục Đến năm 1987 được mang tên khoa Cơ khí Động lực thuộc trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp HCM Trong 50 năm qua, Khoa Cơ khí Động lực không ngừng phát triển, lớn mạnh và tự hào là một trong các Khoa có quy mô lớn, có bề dày truyền thống, có đội ngũ đông đảo các nhà giáo, các nhà khoa học nhiều kinh nghiệm, đi đầu nhiều lãnh vực đặc biệt là trong lãnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Trang 10Hiện nay khoa Cơ khí Động lực đang đào tạo cho hơn 3000 sinh viên các hệ với các trình độ đào
tạo cao đẳng, đại học và sau đại học Các chương trình đào tạo được đổi mới theo định hướng tiếp cận CDIO và thường xuyên được cập nhật để bắt kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới “Sản phẩm đào tạo” của khoa là các kỹ sư¬ công nghệ ngành Công nghệ Kỹ thuật Ô tô và Công nghệ Kỹ thuật Nhiệt năng động, sáng tạo; có tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng và tác phong công nghiệp; có tư duy khoa học, trình độ lý thuyết, kỹ năng thực hành; có khả năng tự đào tạo nâng cao trình độ để làm việc trong các lĩnh vực chuyên ngành
Kỹ sư tốt nghiệp từ khoa Cơ khí Động lực nằm trong đối tượng ưu tiên tuyển chọn và được đánh giá cao của các nhà tuyển dụng trong và ngoài nước, đã và đang giữ nhiều chức vụ quan trọng (chiếm đến 80% là cán bộ chủ chốt của ngành Cơ khí Động lực ở khu vực phía nam) trong các viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, đặc biệt là trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp
Khoa còn là trung tâm kỹ thuật hàng đầu trong cả nước trong việc thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo lại và đào tạo nâng cao về kỹ thuật, công nghệ mới cho người lao động tại các cơ quan xí nghiệp; giáo viên, học sinh – sinh viên của các trường
kỹ thuật
Các chương trình đào tạo tại khoa Cơ khí Động lực:
• Sau đại học: Kỹ thuật cơ khí động lực
• Đại học: Công nghệ kỹ thuật ô tô, Công nghệ kỹ
thuật nhiệt, Sư phạm kỹ thuật ô tô, Sư phạm kỹ thuật
• Cao đẳng: Công nghệ kỹ thuật ô tô
Hoạt động nghiên cứu khoa học của khoa trong những năm qua đã gặt hái được nhiều thành tựu
đáng kể, tạo được uy tín với các đơn vị trong và nước ngoài Hoạt động nghiên cứu khoa học và các bài báo quốc tế góp phần nâng cao vị thế của khoa nói riêng và toàn trường nói chung Khoa đã thực hiện 160 đề tài NCKH Trong đó có 16 đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp thành phố và 140
đề tài cấp trường Đa số các đề tài đạt loại khá và xuất sắc Giảng viên trong khoa hướng dẫn 104 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên Đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên đã đạt được nhiều giải thưởng: 2 giải ba và 1 giải khuyến khích VIFOTEC…
Khoa CKĐ thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo toàn quốc, hội thảo trong trường, báo cáo khoa học trong nước và ngoài nước
Nhiều năm liền tham gia thi đấu ROBOCON Trong cuộc thi Robocon năm 2007, năm 2008 khoa có
2 đội vào vòng chung kết toàn quốc (đội ARES)
Năm 2011, Đội CKD-103 của khoa đã xuất sắc
đạt giải ba trong cuộc thi thiết kế xe HONDA ECO
sinh thái tiết kiệm nhiên liệu do công ty HONDA
tổ chức với thành tích 326,464 Km/1 lít nhiên liệu
Khoa Cơ khí Động lực tổ chức các buổi báo cáo
ngoài trường: báo cáo của các chuyên gia ngoài
trường Công ty BOSCH, OPEL Germany, công
ty Mitsubishi, Ford và GS nước ngoài (Đại học
Tasmania, Úc), chuyên gia của Đức, Công ty Kỹ
Nghệ Lạnh Searifi co, Công ty Guntner, Công ty R.E,
Công ty Bitzer
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đội tuyển CKD - 103 của Trường đoạt giải Ba cuộc thi Lái xe sinh thái tiết kiệm nhiên liệu năm 2011 tại Việt Nam
Giờ học thực hành của SV khoa Cơ khí động lực.
Trang 11Nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo để cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao, trong
những năm qua khoa Cơ khí Động lực đã được nhà trường cùng với các đơn vị tài trợ trong và ngoài
nước đầu tư nhiều phòng thí nghiệm, xưởng thực tập tiên tiến với những công nghệ hiện đại đã và
đang phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên và đội ngũ giảng viên
Hiện nay khoa CKĐ có các xưởng phục vụ học tập: Xưởng Động cơ, Xưởng Khung gầm, Xưởng
Đồng-Sơn, Xưởng Động cơ diesel, Xưởng Điện ô tô, Xưởng Nhiệt, Trung tâm TTEP Toyota GJ và Trung
tâm Đồng sơn (BP) Các phòng thí nghiệm: phòng thí nghiệm động cơ, phòng thí nghiệm điện tử ô
tô, phòng thí nghiệm ô tô, phòng thử công suất động cơ, phòng thí nghiệm nhiệt và phòng máy tính
mô phỏng hệ thống nhiên liệu phun xăng trên đường nạp
1980-1991 GVC.KS Võ Văn Nhuận GVC.KS Nguyễn Tố Quyên
1991-1995 NGƯT.GVC ThS Phan Văn Đáo GVC.ThS Nguyễn Quốc Đạt
1995-2000 NGƯT.GVC ThS Phan Văn Đáo GVC.TS Lâm Mai Long
GVC.ThS Nguyễn Quốc Đạt
2000-2003 NGƯT.PGS.TS Đỗ Văn Dũng GVC.ThS Nguyễn Tấn Quốc
GVC.ThS Nguyễn Kim Kha
GVC.ThS Nguyễn Quốc Đạt2003-2008 NGƯT.PGS.TS Đỗ Văn Dũng GVC.ThS Nguyễn Quốc Đạt
GVC.ThS Trần Đình QuíGV.ThS Nguyễn Văn Long Giang2008-2011 GVC.ThS Nguyễn Tấn Quốc GVC.ThS Nguyễn Quốc Đạt
GV.ThS Hoàng An Quốc2011-2013 GVC.ThS Nguyễn Tấn Quốc TS Đặng Thành Trung
GVC.ThS Nguyễn Quốc Đạt
THÀNH TÍCH NỔI BẬT: Năm 2008, khoa Cơ khí Động lực đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động
hạng Ba Bên cạnh đó, khoa được Th ủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và UBND TP.Hồ Chí
Minh tặng nhiều bằng khen
Khoa Cơ khí Động lực chú trọng việc đa
phương hóa nguồn lực, tăng cường giao lưu
với các trường đại học, các công ty trên thế giới
Hợp tác quốc tế giữ vai trò quan trọng trong các
giải pháp ưu tiên để thực hiện những định hướng
nêu trên Nhiều dự án, chương trình hợp tác với
các tổ chức nước ngoài đang tiến hành với những
nội dung đa dạng và qui mô khác nhau -Đã vận
dụng chương trình giáo dục đại học ngành công
nghệ ô tô và nhiệt-điện lạnh tại các nước tiên tiến
như: công nghệ ô tô trình độ đại học và sau đại
học của Đại học Kookmin Hàn Quốc, Sư phạm
Kỹ thuật ô tô trình độ đại học của Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Thiên Tân Trung Quốc, công nghệ
ô tô trình độ đại học của Học viện Công nghệ
Hoàng gia Luân Đôn (London Roal Institute of Technology), chương trình đào tạo của NTUT Đài Loan (National Taipei University of Technology;
Division of Vehicle Engineering)
Khoa Cơ khí Động lực có quan hệ hợp tác song phương với các sở khoa học và công nghệ các tỉnh, thành phố cùng với nhiều trường đại học trong và ngoài nước như Đại học Bách khoa (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp.HCM), chương trình HEEAP với Arizona State University (USA)
Khoa Cơ khí Động lực kết hợp với Toyota Việt Nam thành lập 2 chương trình đào tạo trong chương trình T-TEP “Toyota Technical Education Program”
về sửa chữa chung, sửa chữa thân vỏ và sơn xe
Khoa Cơ khí Động lực chú trọng việc đa
phương hóa nguồn lực, tăng cường giao lưu
với các trường đại học, các công ty trên thế giới
Hợp tác quốc tế giữ vai trò quan trọng trong các
giải pháp ưu tiên để thực hiện những định hướng
nêu trên Nhiều dự án, chương trình hợp tác với
các tổ chức nước ngoài đang tiến hành với những
nội dung đa dạng và qui mô khác nhau -Đã vận
dụng chương trình giáo dục đại học ngành công
nghệ ô tô và nhiệt-điện lạnh tại các nước tiên tiến
như: công nghệ ô tô trình độ đại học và sau đại
học của Đại học Kookmin Hàn Quốc, Sư phạm
Kỹ thuật ô tô trình độ đại học của Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Thiên Tân Trung Quốc, công nghệ
ô tô trình độ đại học của Học viện Công nghệ
Hoàng gia Luân Đôn (London Roal Institute of Technology), chương trình đào tạo của NTUT Đài Loan (National Taipei University of Technology;
Division of Vehicle Engineering)
Khoa Cơ khí Động lực có quan hệ hợp tác song phương với các sở khoa học và công nghệ các tỉnh, thành phố cùng với nhiều trường đại học trong và ngoài nước như Đại học Bách khoa (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp.HCM), chương trình HEEAP với Arizona State University (USA)
Khoa Cơ khí Động lực kết hợp với Toyota Việt Nam thành lập 2 chương trình đào tạo trong chương trình T-TEP “Toyota Technical Education Program”
về sửa chữa chung, sửa chữa thân vỏ và sơn xe
QUAN HỆ HỢP TÁC
CƠ SỞ VẬT CHẤT
BAN CHỦ NHIỆM KHOA QUA TỪNG THỜI KỲ
Tập thể khoa CKD nhận huân chương lao động hạng ba của Chủ tịch nước.
Trang 12KHOA CƠ KHÍ CHẾ TẠO MÁY
chuyên ngành cơ khí Qua hơn 35 năm hình thành và phát triển, hiện nay khoa CKM đã trở thành một khoa lớn mạnh hàng đầu của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM với đội ngũ gồm 99 giảng viên giàu kinh nghiêm được tu nghiệp từ trong và ngoài nước Năm 2007 khoa CKM được Chủ tịch nước trao tặng huân chương Lao động (hạng Ba) Năm 2012, khoa CKM có 1 phó giáo sư, 10 tiến sĩ, 9 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài và trên 50 thạc sĩ
Khoa Cơ khí chế tạo máy áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Khoa có 7 bộ môn: Công nghệ chế tạo máy, Công nghệ Kim loại, Cơ điện tử, Công nghệ tự động, Thiết kế máy, Thực hành nghề và Kỹ nghệ Gỗ
Ngày 20/11/2009, khoa CKM chính thức đưa trung tâm Công nghệ cao vào hoạt động và trở thành một trong ba trung tâm đào tạo hàng đầu trong cả nước về CAD/CAM và CNC
CƠ SỞ VẬT CHẤT
Nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo, năng lực thực tiễn và nghiên cứu khoa học, khoa Cơ khí chế tạo máy đã được nhà trường cùng với các đơn vị tài trợ đầu tư nhiều phòng thí nghiệm, xưởng thực tập tiên tiến, cập nhật được những công nghệ hiện đại, phục vụ tốt nhu cầu học tập, nghiên cứu và đào tạo của chuyên ngành Sự ra đời của Trung tâm Công nghệ cao với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại vào bậc nhất khu vực phía Nam, khoa CKM đã có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực tự động hóa, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, liên kết nghiên cứu sản xuất và gia công cơ khí chính xác
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
Hiện nay khoa Cơ khí chế tạo máy đang đào tạo cho hơn 5000 sinh viên và học viên trong cả nước
ở các hệ đào tạo: sau đại học, đại học/cao đẳng chính quy và hệ vừa làm vừa học Các chương trình đào tạo được biên soạn theo hướng tiếp cận CDIO và thường xuyên được cập nhật để theo kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ trong khu vực Ngoài ra khoa CKM còn cung cấp các dịch vụ đào tạo ngắn hạn và kiểm tra tay nghề trực tiếp tại các đơn vị
Th S Phạm Bạch Dương
Trang 13Các chương trình đào tạo tại khoa Cơ khí chế tạo máy:
• Sau đại học: Công nghệ chế tạo máy
• Đại học: Công nghệ chế tạo máy, Công nghệ kỹ thuật Cơ điện tử, Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Kỹ
thuật công nghiệp, Sư phạm kỹ thuật cơ khí, Sư phạm kỹ thuật Cơ điện tử, Sư phạm kỹ thuật công
nghiệp, Công nghệ chế tạo máy (K)
• Cao đẳng: Công nghệ chế tạo máy
Hoạt động đổi mới phương pháp đào tạo ở khoa CKM được thực hiện thường xuyên và nghiêm
túc Với sự hỗ trợ từ chương trình HEEAP, sinh viên của khoa CKM được trang bị sớm các kỹ năng học
tập và kỹ năng mềm như làm việc nhóm, thuyết trình, tìm kiếm tài liệu để phục vụ tốt hơn cho hoạt
động học tại trường
Sinh viên tốt nghiệp của khoa CKM được các đơn vị tuyển dụng đánh giá cao về năng lực chuyên
môn cũng như khả năng hoà nhập tốt với môi trường làm việc Theo thống kê của khoa, trên 90%
sinh viên tốt nghiệp từ khoa Cơ khí chế tạo máy có được việc làm phù hợp với năng lực sau khi tốt
nghiệp từ 1-3 tháng
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên của khoa CKM luôn
được quan tâm và đầu tư hàng đầu Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của khoa
CKM có tính ứng dụng thực tiễn cao và đã đạt được nhiều giải thưởng lớn trong các
cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật của trường, thành phố và bộ GD-ĐT
Năm 2009, đội tuyển SPK Knight của khoa CKM đã xuất sắc đoạt chức vô địch cuộc
thi Robocon toàn quốc và giải Ba khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại Nhật Bản
Năm 2011, Đội Nano.1 khoa CKM đã xuất sắc đạt giải vô địch trong cuộc thi thiết
kế xe chạy bằng năng lượng mặt
trời do Sở khoa học và công nghệ
TpHCM phát động
Số lượng đề tài nghiên cứu khoa
học đăng ký hàng năm đều tăng cả
về chất và lượng Khoa CKM cũng tổ
chức nhiều buổi hội thảo, báo cáo
về các công nghệ tiên tiến, phương
pháp giảng dạy mới cho giảng viên
và sinh viên trong khoa và toàn
trường Ngoài ra, giảng viên và sinh
viên của khoa CKM còn tham dự các
hội thảo về công nghệ, lớp huấn
luyện ngắn hạn do các công ty hàng
đầu về công nghệ cơ khí, tự động hoá tổ chức
Trang 14QUAN HỆ HỢP TÁC
Khoa Cơ khí chế tạo máy có quan hệ hợp tác song phương với các sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố, các trường đại học trong và ngoài nước như Đại học Bách khoa (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp.HCM), chương trình HEEAP với Arizona State University (USA), chương trình trao đổi (giảng viên, sinh viên, nghiên cứu và giao lưu văn hoá) với các đại học ở Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, CHLB Đức, CH Áo
Đối với các doanh nghiệp, khoa CKM đã
thiết lập quan hệ hợp tác trong nghiên
cứu, kiểm tra tay nghề, đào tạo và tái
đào tạo, chuyển giao công nghệ, đổi mới
chương trình đào tạo, giao lưu và tuyển
dụng cho sinh viên tốt nghiệp cùng nhiều
công ty trong nước như FPT, Lilama,
Vyky-no, Nhựa Duy Tân, Kinh Đô và ngoài nước
như Intel Products Vietnam, Cocacola
Vi-etnam, Fujitsu ViVi-etnam, Bosch Vietnam
Ngoài ra khoa CKM còn có liên hệ với các
hiệp hội trong nước và quốc tế về Cơ khí,
Tự động hoá, Cơ điện tử, Công nghệ hàn
BAN CHỦ NHIỆM KHOA
Truởng khoa: PGS.TS Nguyễn Ngọc Phương
Các chủ nhiệm bộ môn, trung tâm:
Công nghệ chế tạo máy: GVC.TS Đặng Thiện Ngôn
Cơ điện tử: GV.TS Nguyễn Trường Thịnh
Công nghệ tự động: TS Lê Chí Cương
Công nghệ kim loại: GV.ThS Nguyễn Nhựt Phi Long
Công nghệ gỗ: GV.ThS Quách Văn Thiêm
Trung tâm công nghệ cao: GV.TS Huỳnh Nguyễn Hoàng
Trưởng khoa qua các thời kỳ
• 1976 - 1978: Thầy Nguyễn Văn Phụng
• 1979 - 1982: Thầy Võ Mại
• 1982 - 1985: Thầy Nguyễn Đức Năm
• 1986 - 1990: Thầy Nguyễn Văn Lẫm
Trang 15KHOA ĐIỆN-ĐIỆN TỬ
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
Trước năm 1976, bộ môn Điện thuộc khoa Công nghiệp, trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Năm
1976, Khoa Điện chính thức được thành lập, gồm 3 bộ môn chính: Điện Công Nghiệp, Kỹ Thuật
Điện và Điện Tử Ngày 13/01/2004, Khoa Điện được tách làm hai khoa: khoa Điện và khoa Điện Tử
Ngày 20/9/2008 Trường sáp nhập hai khoa Điện và khoa Điện tử thành Khoa Điện – Điện tử
Hiện nay, khoa Điện–Điện tử gồm có 6 bộ môn: Cơ sở Kỹ thuật điện, Cơ sở Kỹ thuật Điện tử, Điện
công nghiệp, Điện tử công nghiệp, Điện tử-Viễn thông, Điều khiển tự động và bao gồm 94 giảng
viên, 3 thư ký Trong đó, có 3 PGS, 9 tiến sĩ, 60 thạc sĩ, 12 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh ở
trong và ngoài nước Ngoài ra, Khoa Điện-Điện tử còn được sự hỗ trợ trong giảng dạy và nghiên cứu
khoa học của đội ngũ 40 giảng viên thỉnh giảng có trình độ tiến sĩ và thạc sĩ của các trường đại học,
các viện nghiên cứu Quản lý tại Khoa dựa trên hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001:2000
MỤC TIÊU ĐÀO TẠO
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ các chuẩn đầu ra của ngành đào tạo, có
khả năng không ngừng học tập nâng cao trình độ và phát huy tốt vai trò của của người Kỹ sư Công
nghệ trong các công ty, các viện nghiên cứu, các cơ sở sản xuất hay giảng viên Sư phạm Kỹ thuật tại
các cơ sở đào tạo như: các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề…
Ngày 20/9/2008 Trường sáp nhập hai khoa Điện và khoa Điện tử thành Khoa Điện – Điện tử
Hiện nay, khoa Điện–Điện tử gồm có 6 bộ môn: Cơ sở Kỹ thuật điện, Cơ sở Kỹ thuật Điện tử, Điện
công nghiệp, Điện tử công nghiệp, Điện tử-Viễn thông, Điều khiển tự động và bao gồm 94 giảng
viên, 3 thư ký Trong đó, có 3 PGS, 9 tiến sĩ, 60 thạc sĩ, 12 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh ở
trong và ngoài nước Ngoài ra, Khoa Điện-Điện tử còn được sự hỗ trợ trong giảng dạy và nghiên cứu
khoa học của đội ngũ 40 giảng viên thỉnh giảng có trình độ tiến sĩ và thạc sĩ của các trường đại học,
các viện nghiên cứu Quản lý tại Khoa dựa trên hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
PGS.TS Quyền Huy Ánh
Trang 16NHIỆM VỤ
• Đào tạo trình độ tiến sĩ ngành Kỹ thuật điện
• Đào tạo Thạc sĩ ngành Kỹ thuật Điện và Kỹ thuật Điện tử
• Đào tạo kỹ sư công nghệ hệ chính quy và tại chức các ngành: Công nghệ Kỹ thuật Điện-Điện tử; Công nghệ Kỹ thuật Điện tử, truyền thông; Công nghệ Kỹ thuật Máy tính; Công nghệ Kỹ thuật Điều khiển và Tự động
• Đào tạo Giáo viên Sư phạm Kỹ thuật ngành Công nghệ Kỹ thuật Điện-Điện tử và Công nghệ Kỹ thuật Điện tử-Truyền thông
• Tham gia nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lãnh vực quản lý, sản xuất và giảng dạy
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
Hiện nay, Khoa Điện-Điện tử quản lý hơn 4000 sinh viên hệ chính quy tại trường và khoảng 3000 sinh viên hệ tại chức tại các địa phương với 12 chương trình đào tạo; 250 học viên bậc cao học và bậc tiến sĩ Chương trình đào tạo bậc đại học được xây dựng theo hướng tiếp cận CDIO, tiệm cận với chương trình đào tạo tiên tiến trên thế giới và khu vực có xét đến điều kiện cụ thể, các nét đặc thù của Việt Nam
Khoảng 90% kỹ sư tốt nghiệp có việc làm phù hợp với chuyên môn sau 3 tháng Kỹ sư tốt nghiệp từ khoa Điện–Điện Tử nằm trong đối tượng ưu tiên tuyển chọn và được đánh giá cao của các nhà tuyển dụng trong và ngoài nước, đã và đang giữ nhiều chức vụ quan trong các viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, đặc biệt là trong các công ty, nhà máy, xí nghiệp
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Đặc trưng của khoa Điện-Điện tử là công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ được phát huy rất tốt, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đạt được giải thưởng cao
Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của giảng viên và sinh viên tăng lên mỗi năm Các bộ môn thường xuyên kết hợp với các viện, các công ty, các cơ sở đào tạo tổ chức các buổi sinh hoạt, học thuật, báo cáo chuyên đề về công nghệ mới, công nghệ dạy và học hiện đại cho giảng viên và sinh viên
Khoa Điện–Điện tử cũng nghiên cứu, thiết kế, chuyển giao công nghệ thiết bị thí nghiệm/thực hành và các hệ thống bài thực tập cho nhiều cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, TCCN trên phạm vi cả nước.Nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ, bồi dưỡng kỹ năng cho các kỹ thuật viên kỹ sư đang công tác tại các đơn vị tư vấn-thiết kế, sản xuất, bảo trì, các sinh viên, các học viên cao học, các giảng viên đang giảng dạy, nghiên cứu và học tập tại các cơ sở đào tạo, Khoa Điện-Điện tử đã tổ chức các lớp đào tạo nâng cao trình độ và bổi dưỡng kỹ năng nhằm đáp ứng các yêu cầu không ngừng nâng cao của các nhà tuyển dụng và thị trường lao động nhân lực cao hiện nay
Trung tâm đào tạo GE - UTE được khánh thành đưa vào sử dụng với trang thiế bị hiện đại.
Trang 17QUAN HỆ HỢP TÁC
Quan hệ hợp tác đối với các đơn vị trong và ngoài nước luôn được quan tâm, cụ thể:
• Liên kết đào tạo đại học 2 giai đoạn (giai đoạn 1 học tại Việt Nam và giai đoạn 2 học ở nước ngoài)
với Đại Học Griffi th của Úc, Đại Học Sunderland của Vương Quốc Anh, Đại Học National Central và Đại
Học Công Nghệ Chaoyang của Đài Loan
• Cộng tác với Đại Học Tây Úc đào tạo thạc sĩ ngành “Thiết bị, mạng và nhà máy điện”
• Hợp tác với các công ty quốc tế lớn để đào tạo công nghệ mới cho sinh viên và huấn luyện khách
hàng như: General Electric, Rockwell Automation, Panasonic Automation, Omron, Foxcon, Texas
Instrument, ABB, Intel, Cadence,…
• Hợp tác với sở KH&CN tỉnh Đồng Nai, Vũng Tầu, Bình Dương, Bình Phước, Tp Hồ Chí Minh,…và
các viện, các công ty trong nước như: Công ty liên doanh khai thác kinh doanh khu chế xuất Saigon
Linh Trung-SEPZONE, Công ty CP Kỹ thuật Điện Toàn Cầu, Viện Điện-Điện Tử - Tin học Tp Hồ Chí Minh,
Công ty TNHH Điện–Điện Tử Hoàng Ngô, Công ty TNHH Tư vấn Thiết kế Kỹ thuật Hiệp Hòa,…
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
Khoa Điện-Điện tử thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng giảng dạy người học là
trung tâm, áp dụng các thành tựu công nghệ dạy học tiên tiến (elearning, giáo trình điện tử, học theo
tình huống,…) nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Chất lượng các bài giảng lý thuyết cũng như thực hành ngày càng được nâng cao, thông qua việc
tham khảo nhiều tài liệu chuyên ngành trong và ngoài nước
Hầu hết các môn học đều có đề cương chi tiết, giáo trình, bài giảng, bộ đề thi,… tạo điều kiện cho
sinh viên có thể tự học, khai thác, sử dụng và xử lý thông tin một cách có hiệu quả
Kết quả học tập được đánh giá theo quá trình và cuối kỳ với các hình thức đa dạng khác nhau: tự
luận, trắc nghiệm, tiểu luận, vấn đáp, báo cáo khoa học,…
CƠ SỞ VẬT CHẤT
Với sự đầu tư lâu dài và có định hướng của nhà Trường, đến nay khoa Điện–Điện tử có 11 xưởng
thực hành và 14 phòng thí nghiệm từ cơ bản đến chuyên sâu Tiêu biểu là các phòng thí nghiệm/
xưởng thực hành: Đo lường điện và thiết bị đo, Điện cơ bản, Kỹ thuật số, Truyền động điện, Máy điện,
Vi điều khiển-Vi xử lý, Điều khiển lập trình, Mô hình hóa và mô phỏng, Cung cấp điện, Điện tử công
suất, Viễn thông, PLD, Kỹ thuật máy tính…
Khoa cũng được hỗ trợ về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm/thực hành mang tầm quốc tế và khu
vực như: Trung Tâm đào tạo GE – UTE của tập đoàn General trị giá 1,2 triệu USD; Phòng thực hành
PLC của Rockwell Automation trị giá 500 ngàn USD, của Panasonic Automation, của Omron
Automa-tion; Phòng thí nghiệm vi xử lý của Texas Instrument,…
Các trang thiết bị hiện đại đã phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập
của các giảng viên và học viên các cấp đào tạo của khoa Điện-Điện tử
Trang 18ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
• Trở thành khoa hàng đầu về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ điện, điện tử trong khối các trường Sư Phạm Kỹ thuật ở Việt Nam và từng bước vươn đến tầm khu vực và quốc tế
• Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
• Xây dựng môi trường làm việc thân thiện, năng động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập
Ban chủ nhiệm khoa
Truởng khoa: PGS.TS Quyền Huy Ánh
Phó Khoa: PGS.TS Phạm Hồng Liên
Phó Khoa: GV.TS Trương Việt Anh
Phó Khoa: GVC.ThS Hoàng Ngọc Văn
Các chủ nhiệm bộ môn:
Cơ sở kỹ thuật điện: GVC.TS Đặng Văn Thành
Cơ sở kỹ thuật điện tử: PGS.TS Trần Thu Hà
Điện công nghiệp: GV.ThS Nguyễn Ngọc Âu
Điện công nghiệp tử: GVC.ThS Nguyễn Đình Phú
Điều khiển tự động: GV.TS Nguyễn Minh Tâm
Điện tử viễn thông: GV.ThS Nguyễn Ngô Lâm
Nguyễn Dư XứngNguyễn Xuân KhaiNguyễn Xuân KhaiNguyễn Xuân PhúNgô Quang HàNguyễn Xuân PhúNguyễn Dư XứngHuỳnh Văn TrọngNguyễn Dư XứngHuỳnh Văn Trọng, Nguyễn Trọng ThắngTrần Sum
Huỳnh Văn Trọng, Trần Minh ChánhNguyễn Trọng Thắng
Quyền Huy Ánh, Trần Minh ChánhNguyễn Trọng Thắng
Quyền Huy Ánh, Quách Thanh HảiNguyễn Việt Hùng
Trần Minh Chánh, Hoàng Ngọc VănQuyền Huy Ánh
Phạm Hồng Liên, Hoàng Ngọc Văn, Trương Việt Anh
DANH SÁCH LÃNH ĐẠO KHOA ĐIỆN – ĐIỆN TỬ QUA CÁC THỜI KỲ
Trang 19KHOA XÂY DỰ NG VÀ CƠ HỌ C Ứ NG DỤ NG
PGS.TS Nguyễn Hoài Sơn
Được thà nh lập từ năm 1976 dướ i tên gọ i
Khoa Kỹ thuât cơ sở , đế n năm 2006 Khoa
được đổ i tên lạ i thà nh Khoa Xây dự ng và Cơ họ c
ứ ng dụ ng (XD&CHƯD) cho đế n ngày nay Trả i
qua gầ n 37 năm hì nh thà nh và phá t triể n, Khoa
XD&CHƯD đã tham gia đầ y đủ và o nhiệ m vụ
đà o tạ o và nghiên cứ u khoa họ c củ a Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, và đang dầ n trở
thà nh mộ t trung tâm đà o tạ o nhân lự c trì nh độ
cao củ a cả nướ c Khoa đảm bảo đà o tạ o kỹ sư
Cơ họ c kỹ thuậ t, Công nghệ kỹ thuậ t công trì nh
xây dựng với chất lượng cao theo đị nh hướng
công nghệ Hướng đà o tạ o thí ch ứ ng vớ i thị
trườ ng lao độ ng nà y giú p cho sinh viên có thể
hò a nhậ p mộ t cá ch nhanh chó ng vớ i công việ c
KHÁ I QUÁ T VỀ LỊ CH SỬ HÌ NH THÀ NH VÀ PHÁ T TRIỂ N
ngay khi ra trườ ng Thực tế cho thấy rằng 100%
sinh viên đề u có việ c là m ngay khi ra trường và
là m tố t công việ c
Bên cạ nh đó , đà o tạ o sau đạ i họ c ở trì nh độ thạ c sỹ và tiế n sỹ cũ ng đang là mộ t thế mạ nh củ a Khoa Mỗi năm Khoa có thêm khoả ng 400 sinh viên Cá c sinh viên đượ c đà o tạ o bở i mộ t độ i ngũ giá o viên có nhiề u kinh nghiệ m đượ c đà o tạ o bà i
bả n từ cá c nướ c phá t triể n cũ ng như trong nướ c, bao gồm 43 giả ng viên, 2 nhân viên hà nh chí nh
và cù ng với độ i ngũ giả ng viên nhiề u năm kinh nghiệ m từ cá c Khoa khá c trong Trườ ng Khoa
cũ ng liên kế t vớ i cá c giả ng viên có uy tí n từ cá c Trườ ng khá c
Độ i ngũ giả ng viên hiệ n tạ i củ a khoa bao gồ m :
• 44 Giả ng viên, 2 thư ký , trong đó có 1 Phó giá o sư, 15 tiế n sỹ (34%), 29 nghiên cứ u sinh, thạ c sỹ , kỹ
Trang 20CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
Chương trình đào tạo Đại học : Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng và Cơ học kỹ thuật
Các chương trình đào tạo 150 tín chỉ theo định hướng CDIO với thời gian đào tạo 4 năm
được phân bố trên 8 học kỳ bao gồm cả luận văn tốt nghiệp Sinh viên sẽ được trang bị trong
bốn năm học các kiến thức đại cương về Khoa học tự nhiên, xã hội và chính trị, các kiến thức
cơ sở và chuyên ngành Sau 4 năm học, sinh viên
có thể làm việc qua nhiều vai trò và vị trí khác
nhau khác nhau như: kỹ sư thiết kế kết cấu, kỹ sư
lập trình và tính toán, kỹ sư giám sát và thi công,
chuyên viên tư vấn, quản lý dự án, quản lý xây
dựng,…
Đào tạo sau Đại học: Cao học cơ kỹ thuật, Cao
học xây dựng, Tiến sỹ Cơ kỹ thuật
Đào tạo liên kết trong nước với 10 cơ sở liên
kết tại các tỉnh/thành:Vũng Tàu, Vĩnh Long, Sóc
Trăng, Kiên Giang, Quảng Trị, Gia Lai, Huế, Nha
Trang, An Giang, Bến Tre
Cơ sở vật chất của Khoa đang dần cải thiện nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo và nghiên cứu trình độ cao
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hoạt động nghiên cứu của Khoa tập trung chủ yếu vào các hướng nghiên cứu sau và gắn liền với nhóm nghiên cứu chiến lược GACES:
HỢP TÁC QUỐC TẾ
Khoa có mối quan hệ hợp tác về đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học
với công ty Uchiyama (Nhật Bản), công ty GES (Hoa kỳ), Ascent (Hoa kỳ),
IN-TOC, HOLCIM, Đại học Liège (Vương quốc Bỉ), Đại học Griffith ( Australia ), Đại
học Sejong (Hàn Quốc), Đại học NCU (Đài Loan)