1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG NGA TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

83 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Luận văn Câu phủ định tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt của chúng tôi được thực hiện vì những lý do sau đây: Như chúng ta đều biết, việc nghiên cứu v

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

Nguyễn Thị Thanh Hiền

CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG NGA TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Thị Thanh Hiền

CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG NGA TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN HỮU HOÀNH

Hà Nội, năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Hữu Hoành, người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ và định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học – Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện, giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình tôi, những người đã theo sát tôi trong suốt thời gian qua, giúp tôi có thêm động lực và cố gắng để hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận 9

1.1 Một số vấn đề về câu phủ định 9

1.2 Ngôn ngữ học đối chiếu 17

1.3 Tiểu kết 20

CHƯƠNG 2 Câu phủ định chứa các phương tiện phủ định chính danh ở tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt 22

2.1 Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ phủ định trong tiếng Nga 22

2.2 Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ phủ định trong tiếng Việt 36

2.3 Phân tích đối chiếu câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ phủ định 50

2.4 Tiểu kết 55

CHƯƠNG 3 Câu phủ định không chứa các phương tiện phủ định chính danh ở tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt 57

3.2 Câu phủ định không chứa các phương tiện phủ định chính danh trong tiếng Việt 63

3.3 Phân tích đối chiếu câu phủ định không chứa phương tiện phủ định chính danh 70

3.4 Tiểu kết 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luận văn Câu phủ định tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt của chúng tôi được thực hiện vì những lý do sau đây:

Như chúng ta đều biết, việc nghiên cứu về câu là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu ngữ pháp dù theo quan điểm ngữ pháp truyền thống hay ngữ pháp hiện đại Trong số các kiểu câu phân theo mục đích giao tiếp thì câu phủ định nằm trong

số các hiện tượng mang tính phổ quát của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Vì vậy, như một lẽ tự nhiên, từ lâu nó đã là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu đối chiếu các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong câu đặc biệt là đối chiếu những ngôn ngữ không cùng loại hình như tiếng Nga và tiếng Việt vẫn chưa nhiều Cho nên nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn những nét tương đồng và dị biệt của các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong hai ngôn ngữ, từ đó có thể hiểu thêm về hai nền văn hóa, về cách tư duy của hai dân tộc

Tiếng Nga du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ trước và đã ghi dấu ấn đậm nét trong tất cả các lĩnh vực của đời sống từ khoa học, kỹ thuật đến văn hóa, nghệ thuật… Đến nay, vị thế của tiếng Nga ở Việt Nam không còn như trước, nhưng không thể phủ nhận tầm ảnh hưởng của tiếng Nga đến một số mặt của đời sống xã hội Tiếng Nga vẫn có một chỗ đứng riêng cho mình trong số các ngoại ngữ được coi là phổ biến ở Việt Nam Thêm vào đó, dòng chảy tiếng Nga dù không ồn ào nhưng vẫn là mạch ngầm được một số người Việt yêu thích và gìn giữ Hàng năm, vẫn có một số lượng không nhỏ người Việt đến nước Nga với mục đích học tập và nghiên cứu bên cạnh số lượng người học tiếng Nga trong nước Những khó khăn khi nắm bắt tiếng Nga và áp dụng vào thực tế trong giao tiếp đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục có những nghiên cứu cụ thể hơn, sâu sắc hơn về tiếng Nga trong sự so sánh, đối chiếu với tiếng Việt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt học tiếng Nga

Trang 6

Một lý do không kém phần quan trọng trong việc lựa chọn đề tài này là trong thực tế giảng dạy chúng tôi chưa thấy có một công trình nghiên cứu đối chiếu nhằm vào các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định một cách hệ thống Với tư cách là một giảng viên tiếng Nga chúng tôi muốn đóng góp những ý kiến mang tính thực tế góp phần giải quyết những khó khăn của người học tiếng gặp phải

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Đôi nét về sự nghiên cứu phủ định trong triết học và lô-gích học

Trong triết học, bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong Sự vật cũ mất đi được thay bằng sự vật mới

Sự thay thế đó là tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của sự vật Nếu không có quá trình đó, thì sự vật không thể phát triển được Sự thay thế đó được triết học gọi là sự phủ định Sự phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất, sự đấu tranh thường xuyên của các mặt đối lập làm cho mâu thuẫn được giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi, sự vật mới

ra đời Sự thay thế diễn ra liên tục tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của sự vật Sự vật mới ra đời là kết quả của phủ định sự vật cũ Điều đó cũng có nghĩa sự phủ định là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Đó là phủ định biện chứng Triết học Mác - Lênin cho rằng, phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ

Phủ định là một thao tác lô-gích, nhờ đó mà một phán đoán này tạo ra được một phán đoán mới (gọi là phủ định cái xuất phát) sao cho nếu phán đoán xuất phát là chân lý thì sự phủ định phán đoán ấy là sai, còn nếu phán đoán xuất phát là sai thì cái phủ định nó là chân lý Phán đoán là một hình thức cơ bản của tư duy, dưới dạng khẳng định hoặc phủ định, thể hiện nhận thức của con người về đối tượng trong thế giới khách quan Một phán đoán sẽ có một và chỉ một trong hai giá trị đúng hoặc

Trang 7

sai Sự phủ định phán đoán được xác định một cách duy nhất bởi quy tắc: Nếu phán đoán P (1a) sau đây là đúng thì phán đoán ~P (1b) sai còn nếu phán đoán (1a) sai thì phán đoán (1b) đúng:

Ví dụ: dẫn lại ví dụ của Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tr.17)

(1a) P = Bức tranh này đẹp

2.2 Đôi nét về sự nghiên cứu phủ định trong ngôn ngữ học

Nghiên cứu về câu phủ định được tiến hành trong rất nhiều các công trình của các nhà ngôn ngữ học với các hướng tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau Trên thế giới, tác giả O Jespersen đã tiếp thu quan điểm lô-gích và tâm lý học của những nhà nghiên cứu vấn đề phủ định trong các ngôn ngữ Ấn Âu như J.Van Ginneken, B Delbruk… Năm 1917 ông viết tác phẩm Phủ định trong tiếng Anh và các ngôn ngữ

khác (Negation in English and other languages) Tác phẩm này được đánh giá là

công trình nghiên cứu câu phủ định một cách hệ thống theo quan điểm ngôn ngữ học so sánh lịch đại Tác giả đã liệt kê các cách thức biểu hiện ý nghĩa phủ định như phủ định gián tiếp, phủ định trực tiếp, phủ định đặc biệt… và một số khuôn phủ định thành ngữ Sau Jespersen (1917), Horn (1989) với tác phẩm Lịch sử phát triển

tự nhiên của sự phủ định (A natural history of negation) đã phân tích toàn bộ lịch sử

nghiên cứu sự phủ định từ phương Đông sang phương Tây; từ Aristotel cổ đại với quan điểm lô-gích hình thức, các quan điểm triết học, tôn giáo về sự phủ định, quan điểm tâm lý ngôn ngữ học; đến quan điểm xem phủ định là hành vi ngôn ngữ hiện nay Horn đã đề xuất thêm một loại phủ định khác, đó là phủ định siêu ngôn ngữ Trên bình diện thụ đắc ngôn ngữ, các nhà tâm lý học như Bellugi, Klima đã xác định ba giai đoạn trẻ con thụ đắc câu phủ định Còn các nhà ngữ pháp hiện đại như Downing, Locke… có khuynh hướng dung hòa, vừa mô tả đặc điểm cấu trúc ngữ pháp vừa nêu ra những đặc điểm ngữ dụng học của câu phủ định thông qua việc phân tích tầm phủ định, vai trò của các từ định lượng và các từ chỉ mức độ, sự thể hiện ý nghĩa phủ định thông qua các kiểu câu khác nhau như câu khẳng định, câu

Trang 8

Ở Nga có rất nhiều các công trình nghiên cứu về câu phủ định từ các góc độ khác nhau Đại diện cho trường phái nghiên cứu câu phủ định từ quan điểm ngữ dụng học là tác giả U.D Apresyan Ông cho rằng đối với cách tiếp cận theo quan điểm ngữ dụng học, đặc trưng của các cách phân chia, giải thích các hiện tượng ngôn ngữ xuất phát từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Bởi vậy, hiện tượng phủ định cũng được nghiên cứu như là một hiện tượng bên trong ngôn ngữ: nó có cơ chế giao tiếp bác bỏ hay thay đổi ý kiến của người phát ngôn Ông đưa ra kết luận phủ định đơn thuần là một phạm trù ngôn ngữ học, nó không hề phản ánh tình trạng của

sự vật trong thực tế, mà chỉ thể hiện thái độ của người nói đối với nhận định đã được nêu ra về tình trạng của sự vật đó, đánh giá nhận định đó là sai

Nhiều nhà ngôn ngữ học xem xét vấn đề phủ định như một phạm trù ngôn ngữ độc lập mà trong đó có bốn hướng nghiên cứu chính: đó là coi phủ định như một phạm trù ngữ pháp, phạm trù cú pháp, phạm trù cú pháp ngữ nghĩa và phạm trù ngữ nghĩa Khi thừa nhận vai trò của hiện thực khách quan, đa số các nhà nghiên cứu đã coi mối liên kết khách quan, hay chính xác hơn là sự phủ định trong chính hiện thực

là đối tượng phủ định trong ngôn ngữ

Xuất phát từ quan điểm trên, tác giả E.I Shendels đã đưa ra định nghĩa về phủ định trong ngôn ngữ như sau “Phủ định như một phạm trù ngôn ngữ là cách thể hiện mối quan hệ phủ định giữa các khái niệm nhờ vào các phương tiện ngôn ngữ đặc biệt” [Trích theo V.N Bondarenko, Phủ định như một phạm trù lô-gích ngữ pháp, 1983, tr 78] V.N Bondarenko đánh giá định nghĩa trên chưa thỏa đáng bởi

vì, theo ông, từ quan điểm ngôn ngữ khi nói đến sự phủ định chúng ta không bàn đến các khái niệm vốn là đối tượng nghiên cứu của lô-gích học, mà việc cần làm là nghiên cứu các thành phần của câu và ý nghĩa ngữ pháp của nó E.I Shendels viết tiếp “Nội dung cơ bản của phạm trù ngữ pháp khẳng định và phủ định là cách thể hiện nhận định khẳng định và phủ định, mà đến lượt mình chúng biểu thị mối quan

hệ khẳng định và phủ định của hiện thực khách quan” Điều này được hiểu là phạm trù phủ định diễn tả không phải ý nghĩa nào đó trong ngôn ngữ mà đó là hình thức biểu hiện các nhận định phủ định thể hiện mối quan hệ phủ định trong hiện thực

Trang 9

Một số tác giả khác đã tiếp thu những nghiên cứu của E.I Shendels nhận xét phủ định trong ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện của phủ định lô-gích, một

số tác giả khác cho đó là một thành tố ý nghĩa của câu N.G Ozerova đưa ra định nghĩa về phạm trù phủ định “Phạm trù ngữ pháp phủ định thể hiện sự phủ định lô- gích, mà sự phủ định này diễn tả sự vắng mặt mối liên hệ giữa những hiện tượng thực tế” [N.G Ozerova, Các phương tiện phủ định trong tiếng Nga và tiếng Ucraine, 1978, tr 6] Tác giả E.V Padutreva cho rằng “Phủ định là một thành tố ngữ nghĩa của câu chỉ ra sự thiếu vắng mối quan hệ giữa các hiện tượng được nói

đến trong câu” Ví dụ trong câu Ребенок не спит (Đứa bé không ngủ), quan hệ giữa “đứa bé” và “giấc ngủ” bị phủ định [E.V Padutreva, Các từ phủ định, 1979,

tr 86]

Phủ định còn được coi như là cái biểu hiện của sự tách rời khách quan Quan điểm này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu của S.A Vasileva, N.A Bulakh và H.G Ozerova Theo cách nhìn của S.A Vasileva, câu khẳng định và câu phủ định là bản chất của hình thức biểu hiện các nhận định khẳng định và phủ định biểu thị mối liên kết hay tách rời tương ứng Bà cho rằng “nếu trong các nhận định khẳng định đặc tính, mối quan hệ mà sự vật có trong thời điểm xác định nào đó được thể hiện, thì trong nhận định phủ định đặc tính, hay mối quan hệ đã được xác định đó không xuất hiện” Và còn “nhận định khẳng định thể hiện những dấu hiệu, đặc điểm vốn có của sự vật trong một thời điểm nhất định mà nhận định đó đề cập đến… Nhận định phủ định biểu hiện sự vắng mặt của những dấu hiệu, đặc điểm cũng trong một thời điểm xác định” [S.A Vasileva, Đối với vấn đề phủ định, 1958a, tr 149-150]

Câu phủ định cũng được các nhà ngữ pháp và ngôn ngữ học Việt Nam nghiên cứu từ nhiều quan điểm khác nhau nhưng tựu trung là quan điểm ngữ pháp truyền thống hoặc cấu trúc có kết hợp với cách lý giải lô-gích học của Trần Trọng Kim (1939), Lê Văn Lý (1948), Bùi Đức Tịnh (1953), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963); quan điểm cú pháp-ngữ nghĩa của Nguyễn Kim Thản (1964,1972),

Trang 10

Diệp Quang Ban (1984, 1989, 1992, 1998), Nguyễn Minh Thuyết 1994); quan điểm lô-gích ngữ nghĩa Nguyễn Đức Dân (1977, 1983, 1985), Hoàng Phê (1989) và gần đây là quan điểm ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học, lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Nguyễn Đức Dân (1987, 1996), Cao Xuân Hạo (1991)…

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu câu phủ định tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt nhằm mục đích làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về câu phủ định trong hai ngôn ngữ, từ đó giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về đặc trưng loại hình ngôn ngữ thông qua phạm trù câu phủ định

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Khái quát hóa một số thành tựu nghiên cứu về câu phủ định nói chung, câu phủ định trong tiếng Nga và tiếng Việt nói riêng và các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài luận văn;

- Trình bày các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong câu phủ định tiếng Nga và tiếng Việt;

- So sánh đối chiếu các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong tiếng Nga

và tiếng Việt để chỉ ra sự khác biệt và tương đồng về câu phủ định giữa hai ngôn

ngữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là câu phủ định của hai ngôn ngữ: tiếng Nga hiện đại và tiếng Việt hiện đại

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là các phương tiện biểu thị ý nghĩa phủ định trong câu phủ định tiếng Nga và tiếng Việt được dẫn từ một số tác phẩm văn học của Nga và Việt Nam và một số tư liệu từ các nghiên cứu khác

Trang 11

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện ngiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: Được sử dụng để miêu tả các đặc điểm của các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong tiếng Nga và tiếng Việt trên cơ sở phân tích các

ví dụ đươc dẫn từ các tác phẩm văn học của Nga và Việt Nam

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Được sử dụng để so sánh đối chiếu các phương tiện được dùng để thể hiện ý nghĩa phủ định giữa tiếng Nga và tiếng Việt nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn đặc điểm của các câu phủ định trong tiếng Nga và tiếng Việt

Về mặt thực tiễn, kết quả đạt được của luận văn sẽ góp phần giúp cho những người học tiếng Nga hay tiếng Việt có thêm sự hiểu biết về câu phủ định và có thể

sử dụng hiệu quả hơn trong học tập và làm việc

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1 – Cơ sở lý luận: Nội dung của chương này giới thiệu khái quát một

số vấn đề về câu phủ định; đồng thời trình bày cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu

Chương 2 – Câu phủ định chứa các phương tiện phủ định chính danh ở tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt: Nội dung của chương này tập trung

vào việc xác định đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa của các phương tiện thể hiện ý phủ định chứa các từ phủ định đặc trưng trong tiếng Nga và tiếng Việt; phân tích, đối chiếu các phương tiện này để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ

Chương 3 – Câu phủ định không chứa các phương tiện phủ định chính danh ở tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt: Nội dung của chương này

Trang 12

hiện ý phủ định mà chứa các từ phủ định đặc trưng trong tiếng Nga và tiếng Việt đồng thời phân tích, đối chiếu các phương tiện này để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số vấn đề về câu phủ định

1.1.1 Khái niệm câu phủ định

Để đưa ra một định nghĩa thống nhất, được đa số các nhà khoa học chấp nhận

về câu phủ định là công việc không hề dễ dàng Trong tiếng Nga, theo tác giả D.E Rozental, “câu có thể được gọi là câu phủ định nếu mối quan hệ giữa đối tượng của lời nói và điều được nói đến trong câu bị phủ định.” [Tiếng Nga hiện đại, D.E Ro-zental chủ biên, phần 2 – cú pháp, 1979, tr.21]

Từ điển Bách khoa thư khoa học xã hội của Nga đưa ra định nghĩa chung nhất

về câu phủ định “câu phủ định là câu có chứa các dấu hiệu phủ định” Đây cũng là quan niệm về câu phủ định của tác giả E Pudatreva [Российский гуманитарный энциклопедический словарь - http://dic.academic.ru]

Theo cuốn Tiếng Nga hiện đại (1986), “câu phủ định là câu mà trong đó mối liên hệ giữa đơn vị lời nói và tín hiệu của lời nói bị phủ định, phủ định sự có mặt của tín hiệu độc lập hay phủ định sự có mặt của đơn vị lời nói.”

Trong số những công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt sớm nhất - Việt Nam văn phạm (1949), tác giả Trần Trọng Kim đã đưa ra một khái niệm thuần túy dựa vào hình thức biểu hiện về câu phủ định “…là một câu có một tiếng phủ định

trạng từ như không, chẳng, chớ, đừng, chưa… đặt trước tiếng động từ hay tiếng tĩnh

từ” Nhận định này đánh dấu sự quan tâm cần thiết của các nhà nghiên cứu đối với một loại câu mang tính phổ quát cho tất cả các ngôn ngữ như câu phủ định Tuy nhiên, định nghĩa nêu trên chưa phản ánh được bản chất của câu phủ định và cũng như không thấy được sự phong phú, đa dạng về các hình thức biểu đạt ý nghĩa phủ định

Trong Văn phạm Việt Nam – Giản dị và thực dụng (1972), Bùi Đức Tịnh nhận định “Ta dùng câu phủ định để phủ nhận một điều gì hay một việc xảy ra Thường

Trang 14

câu phủ định là những câu có trạng từ phủ định hạn định một động từ, một trạng từ, một tính từ hay cả mệnh đề.”

Sau này, tác giả Diệp Quang Ban đưa ra định nghĩa đầy đủ hơn về câu phủ định như sau: “Câu phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của vật, hiện tượng hay sự kiện, sự vắng mặt của đối tượng hay của đặc trưng đối tượng trong hiện thực hoặc trong tưởng tượng, bằng những phương tiện hình thức xác định” [Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2, 1989, tr 261]

Nguyễn Thị Lương trong Câu tiếng Việt (2006) bày tỏ quan niệm của mình về câu phủ định “… là câu sử dụng những từ ngữ phủ định để xác nhận rằng không có

sự vật, sự việc hay đặc trưng, tính chất, quan hệ nào đó, hoặc để phản bác một ý kiến, một nhận định của ai đó hay của chính mình” Khái niệm cho thấy câu phủ định không chỉ có nhiệm vụ miêu tả như trong định nghĩa của Diệp Quang Ban mà

nó còn có vai trò quan trọng trong việc bác bỏ một nhận định nào đó

Như vậy, qua quan sát các khái niệm nêu trên chúng ta có thể khái quát hóa các đặc trưng của câu phủ định như sau:

- có chứa các dấu hiệu phủ định;

- được sử dụng để miêu tả sự vắng mặt của vật, hiện tượng hay sự kiện, sự vắng mặt của đối tượng hay của đặc trưng đối tượng; hoặc để bác bỏ một nhận định

1.1.2 Đôi nét về các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong các công trình nghiên cứu ở Nga và Việt Nam

Trong tiếng Nga có một số lượng đáng kể các nghiên cứu về dấu hiệu nhận biết

đặc trưng của câu phủ định Sách Ngữ pháp tiếng Nga (Русская грамматика)

(1980) đã tổng kết 6 phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong câu đơn gồm có:

Trang 15

- từ нет tương đương với một câu phủ định hay một thành phần chính trong

Trong chuyên khảo “Phủ định như một phạm trù lô-gích ngữ pháp”

(Отрицание как логико-грамматическая категория), V.N Bondarenko (1983)

đã miêu tả chi tiết về các phương tiện thể hiện ý phủ định Nhìn chung, quan điểm của ông về vấn đề này thống nhất với các nhà nghiên cứu khác Tuy nhiên, cũng

như tác giả D.E Rozetal, ông phủ nhận vai trò phủ định của tiểu từ ни mà chỉ công

nhận chức năng nhấn mạnh ý nghĩa phủ định của nó mà thôi

Câu phủ định trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ khác có các dấu hiệu đặc trưng của mình Các dấu hiệu này được biểu hiện khá phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau Chúng có thể là từ, tổ hợp từ, cấu trúc cú pháp…

Tác giả Nguyễn Thị Lương đã liệt kê các phương tiện thường gặp ở câu phủ định tiếng Việt như sau:

- các phụ từ phủ định: không, chưa, chả, chẳng;

- các kết hợp: chẳng… đâu, có… đâu, chưa… đâu, đã… đâu, chẳng… gì, dễ…

chắc;

- các tình thái từ phủ định: mà, đâu, gì, bao giờ, sao;

- các tổ hợp: không hề, làm gì có, làm gì, đời nào, không đời nào, chẳng đời

nào, việc gì, nỗi gì, cái nỗi gì, thèm vào, dám thèm vào, mặc kệ, mặc, kệ;

- các từ ngữ thông tục: đếch, đéo, khỉ, con khỉ, làm cóc gì, cóc khô gì, quái gì,

mẹ gì, con mẹ gì, cái con khẹc, làm chó gì;

- các tình thái từ phủ định: tịnh, khối, mốc, sất, ứ

Theo Nguyễn Kim Thản việc bày tỏ ý nghĩa phủ định có thể dựa vào các

Trang 16

- từ phủ định (phương thức dùng hư từ) như không, chẳng (chả), chưa (chửa),

đừng, chớ, không hề, chẳng hề (chả hề), chưa hề (chửa hề), chưa từng;

- câu hỏi bộ phận với một giọng điệu đặc biệt;

- một số lối nói đặc biệt cộng với một giọng điệu đặc biệt

Bên cạnh đó, tác giả cũng tổng kết các quy tắc chung về việc dùng từ phủ định đồng thời nhấn mạnh việc thực hiện các quy tắc đó còn phụ thuộc vào một số nhân

tố khác như tính chất lời nói, đặc điểm về tổ chức câu, ý nghĩa của lời nói…

Nguyễn Đức Dân dành sự quan tâm đặc biệt cho câu phủ định bác bỏ Ông tập trung phân tích các dấu hiệu đặc trưng của loại câu này như việc sử dụng các từ

phiếm định nào, gì, đâu, bao giờ… hoặc dùng từ mà để tạo thành các tác tử bác bỏ

Qua việc khảo sát các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định ở cả hai ngôn ngữ, chúng ta thấy rằng các phương tiện này tập trung ở ba nhóm như sau:

- các phụ tố cấu tạo từ;

- các từ phủ định đặc trưng;

- các kết hợp, cấu trúc cú pháp không xuất hiện các từ phủ định đặc trưng Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung miêu tả các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định dựa trên việc phân chia các nhóm phương tiện phủ định như trên đã trình bày

1.1.3 Phân loại hiện tượng phủ định

Dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có các cách phân loại khác nhau và cho các kết quả khác nhau Thông thường người ta thường đề cập đến ba cặp câu phủ định sau: câu phủ định toàn bộ và câu phủ định bộ phận; câu phủ định chung và phủ định riêng; câu phủ định miêu tả và câu phủ định bác bỏ

a) Phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận

Phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận là kết quả của cách phân loại dựa trên vị trí của từ phủ định trong câu, với quan niệm trong câu, chỉ có vị ngữ được coi là thành phần chính, các thành phần còn lại (kể cả chủ ngữ) đều coi là thành phần thứ yếu Đây là cách tiếp cận của ngữ pháp truyền thống theo quan điểm cú pháp ngữ

Trang 17

nghĩa của các nhà Việt ngữ học mà điển hình là Diệp Quang Ban, Nguyễn Kim Thản

Theo Diệp Quang Ban “căn cứ vào cách biểu hiện ý phủ định mà người ta phân biệt câu phủ định toàn bộ và câu phủ định bộ phận Câu phủ định toàn bộ là câu chứa phụ từ chỉ ý phủ định đứng trước vị ngữ và trước nòng cốt câu; còn trong câu phủ định bộ phận thì vị ngữ không bị đánh dấu phủ định, mà một bộ phận nào đó khác trong câu mang phụ từ phủ định” [Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2, 1989, tr 262]

Nguyễn Kim Thản thì cho rằng “phạm vi phủ định bày tỏ trong câu có thể chia

ra làm hai: phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận” Cũng đồng quan điểm với tác giả Diệp Quang Ban, ông đưa ra nhận xét về câu phủ định toàn bộ “…vị ngữ của câu là phần nói lên nội dung chính cần thông báo Do đó, phủ định ý nói ở phần này

có nghĩa là phủ định toàn bộ hiện thực nói đến trong câu”; và “để bày tỏ ý phủ định

bộ phận, có thể dùng từ phủ định ở phụ ngữ của câu hay ở phụ ngữ của các cụm từ trong câu” [Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2, 1989, tr 262] Như vậy, cốt lõi của vấn đề phân loại câu phủ định toàn bộ và câu phủ định bộ phận là vị trí của từ hay yếu tố phủ định Căn cứ vào vị trí của nó so với các thành phần chính hay phụ trong câu mà người ta xác lập ý nghĩa của phủ định

Trong bài Vài nhận xét về cách bày tỏ ý phủ định trong tiếng Việt, Tạp chí ngôn ngữ số 2 (1972) ,tác giả Nguyễn Kim Thản phân định rõ ràng hai dạng thức điển hình của câu phủ định toàn bộ “Cách thứ nhất là đặt từ kèm phủ định trước bộ phận

vị ngữ của câu đơn hai phần hoặc trước phần nòng cốt của câu đơn một phần”

Ví dụ: dẫn lại ví dụ của Nguyễn Kim Thản

1 Mặt trời lên → Mặt trời chưa lên

2 Tôi là thợ → Tôi không phải là thợ

3 Nắng → Không nắng

4 Hải Phòng → Chưa phải Hải Phòng

“Cách thứ hai dùng để bày tỏ ý phủ định toàn bộ là biến bộ phận chủ ngữ thành

Trang 18

Không học sinh nào đến.); hoặc không/ chưa + từ trỏ rộng (đại từ phiếm chỉ) (Ai

cũng nói → Không ai nói; Không đâu đáng yêu hơn Tổ quốc)

Còn để bày tỏ ý phủ định bộ phận, “có thể dùng từ phủ định ở phụ ngữ của câu hay ở phụ ngữ của các cụm từ trong câu Thường thấy nhất là:

 Ở phụ ngữ của câu:

Ví dụ:

5 Không vội vàng, anh đi lại phía tôi

 Ở phụ ngữ của vị từ (phủ định kết quả, trạng thái… của hoạt động, tính chất…):

Ví dụ:

6 Tôi xem không hiểu

7 Nó nghĩ không ra

8 Anh viết không gọn

 Ở phụ ngữ của danh từ (thường phủ định sự tồn tại của sự vật sở thuộc):

Ví dụ:

9 Những đứa trẻ không nơi nương tựa đã được Nhà nước nuôi nấng

1) Phần chêm xen:

Ví dụ:

10 Tất cả mọi người – không kể đàn ông hay đàn bà – đều phải là những chiến sĩ

kiên cường chống Mỹ, cứu nước

Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Kim Thản, tác giả Diệp Quang Ban cũng cho rằng hiện tượng phủ định được phân loại thành câu có vị ngữ bị phủ định, câu

có chủ ngữ bị phủ định, câu có thành phần phụ của từ và thành phần phụ của câu bị phủ định Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến câu có thành phần phụ phủ định nòng cốt câu Trong kiểu câu này, một số phương tiện phủ định đóng vai trò phụ ngữ của câu

và có tác dụng phủ định toàn bộ nòng cốt câu câu hoặc vị ngữ của câu

Ví dụ:

11 Không phải mẹ bảo con đến đây [mà là con đi học về ghé qua thôi]

Trang 19

Chính tác giả cũng phải công nhận “nếu không tính đến ngữ điệu thì khó có thể phân biệt kiểu câu đang bàn ở đây với kiểu câu có chủ ngữ bị phủ định” [Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2, 1989, tr 267] Sự mơ hồ này phần nào chứng tỏ việc phân loại câu phủ định thành câu phủ định toàn bộ và câu phủ định bộ phận ở một mức độ nào đó là hợp lý nhưng chưa mang tính khái quát được hết tất cả các hiện tượng phủ định vốn vô cùng đa dạng trong ngôn ngữ Nó thuần túy mới chỉ dựa trên các hiện tượng bề mặt mà chưa đi vào các khía cạnh tiềm

ẩn bên trong vỏ ngôn ngữ Như đối với dạng các câu hỏi tu từ mang ý nghĩa phủ định thì khó có thể sử dụng các tiêu chí phân loại phủ định toàn bộ hay phủ định bộ phận theo quan điểm nêu trên

b) Phủ định chung và phủ định riêng

Việc phân loại câu phủ định thành câu phủ định chung và câu phủ định riêng căn cứ vào lượng của các phần tử trong tập hợp tham gia vào phán đoán phủ định Đây là hướng tiếp cận câu phủ định dựa trên mối quan hệ giữa lô-gích và ngôn ngữ

cụ thể là mối quan hệ chặt chẽ giữa phán đoán phủ định và câu phủ định Đại diện tiêu biểu của trường phái này trong giới Việt ngữ học là tác giả Nguyễn Đức Dân Khi nói về câu phủ định chung và câu phủ định riêng, ông cho rằng đó là “câu phủ định miêu tả sự kiện mọi phần tử của một tập hợp không có một thuộc tính nào đó

là câu phủ định chung” [Nguyễn Đức Dân, Lô-gích - Ngữ nghĩa - Cú pháp, 1987, tr 242], còn câu phủ định riêng là câu phủ định chỉ có một hoặc một số phần tử của tập hợp không có một thuộc tính nào đó

Ví dụ:

12 Mọi người đều không biết tường tận việc đó

13 Không ai biết tường tận việc đó

Các câu trong ví dụ 12, 13 là các câu phủ định chung So sánh với các ví dụ

trên, các câu “Ông Ba không biết việc đó”, “Một số người không biết việc đó” được coi là câu phủ định riêng, bởi vì một phần từ của tập hợp “ông Ba” hay “một số

người” không có một thuộc tính “biết việc đó” Trong khi đó, căn cứ vào vị trí của

Trang 20

từ phủ định không, tất cả các câu trong các ví dụ nêu trên đều được xếp loại câu phủ định toàn bộ bởi vì từ không đứng ngay trước các vị từ trong câu

Chúng ta nhận thấy có sự mâu thuẫn rõ rệt giữa hai cách phân loại câu phủ

định Chẳng hạn, câu “Mọi người đều nói không rõ” có thể được coi là câu phủ định

chung xét theo tiêu chí về số lượng phần tử mang yếu tố phủ định, lại vừa là câu phủ định bộ phận theo tiêu chí vị trí của từ phủ định trong câu

c) Phủ định miêu tả và phủ định bác bỏ

Sự ra đời của lý thuyết hành động ngôn từ đã giải quyết được mâu thuẫn trong hai cách phân loại câu phủ định nêu trên Căn cứ vào mục đích hay ý nghĩa của sự phủ định, câu phủ định được chia thành hai loại: câu phủ định miêu tả và câu phủ định bác bỏ

Khi tư duy về các sự vật và hiện tượng, người ta xây dựng các phán đoán về các thuộc tính và mối quan hệ giữa chúng Nguyễn Đức Dân (1987) đã đưa ra ví dụ như sau Quan sát các ngôi nhà trong một khu phố, người ta nói “Ngôi nhà này cao, ngôi nhà kia thấp” Các phán đoán này được biểu hiện bằng những câu khẳng định Thay cho câu trên, ta có thể nói “Ngôi nhà này cao, ngôi nhà kia không cao” Thế là để miêu tả chúng ta có thể dùng một câu khẳng định “ngôi nhà kia thấp” và một câu phủ định “ngôi nhà kia không cao” để diễn tả cùng một nội dung có ý nghĩa tương đương Vì thế, có loại câu dùng để miêu tả gọi là câu phủ định miêu tả Diệp Quang Ban đã nêu ra định nghĩa về câu phủ định miêu tả “…phủ định miêu tả được thực hiện trong quá trình miêu tả, nhìn nhận sự vắng mặt (tính âm) của vật, hiện tượng hoặc đặc trưng, quan hệ của vật, việc, hiện tượng” [Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2, 1989, tr 267] Bên cạnh đó, cũng có những câu phủ định không dùng để miêu tả, nó được dùng để đối đáp, bác bỏ ý kiến của những người khác, thậm chí ý kiến, ý nghĩ của chính mình trước đó Loại câu này được gọi

là câu phủ định bác bỏ Câu phủ định bác bỏ là câu phủ định dùng để phản bác một

ý kiến, một nhận định của ai đó hay của chính mình

Khác với các kiểu phân loại câu phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận hay phủ định chung và phủ định riêng, trọng tâm của phủ định không phải là vị trí của các

Trang 21

tín hiệu phủ định hay số phần tử của một tập hợp không có thuộc tính nào đó mà chính là ý nghĩa thực sự của phát ngôn trong hoàn cảnh giao tiếp hiện thực, là “lực ngôn trung” của ngôn ngữ

Thuật ngữ câu phủ định bác bỏ mang ý nghĩa khái quát Nó đại diện cho hàng loạt các hành vi khác mà kết quả cuối cùng của chúng mới là sự bác bỏ Chúng ta thấy rõ điều đó trong các tình huống thực tế thông qua các ví dụ sau:

Ví dụ:

Nhận thấy, để thể hiện việc không chấp nhận lời đề nghị của A, B có thể hoặc

từ chối trực tiếp, hoặc đưa ra một câu chất vấn về khả năng thực hiện công việc Dù bằng cách một hay cách hai, ngầm ý của người được đề nghị nhắm đến việc bác bỏ lời đề nghị

Hay khi bị phê phán “Cậu lại trốn học rồi”, người ta có thể đáp lời “Nào tớ có muốn vậy đâu!” Có thể hiểu câu trả lời này không phủ định thực tế có “”trốn học” nhưng có phần thanh minh về nguyên nhân dẫn tới việc đã làm cũng nhằm mục đích bác bỏ lời phê phán đó

Một ví dụ khác cũng để chứng tỏ rằng ý phủ định bác bỏ được thể hiện qua vô vàn các hành vi khác nhau như sau: nếu không đồng thuận với nhận định “Bạn Hoa học giỏi nhất lớp” chúng ta cũng có thể dùng một phán đoán đối lập của nó “Bạn Lan còn học giỏi hơn” Hai phán đoán đối lập nhau mang nghĩa phủ định lẫn nhau nhưng không nhất thiết phải có một câu ở dạng phủ định

1.2 Ngôn ngữ học đối chiếu

1.2.1 Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu

Ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học miêu tả và ngôn ngữ học so sánh là ba phân ngành cơ bản của ngôn ngữ học hiện đại Căn cứ vào đối tượng, mục đích và cách thức so sánh, ngôn ngữ học so sánh thường được phân chia thành những ngành

Trang 22

sau: ngôn ngữ học so sánh lịch sử, ngôn ngữ học so sánh loại hình hay loại hình học

và ngôn ngữ học đối chiếu

Theo định nghĩa của tác giả Bùi Mạnh Hùng, ngôn ngữ học đối chiếu là một phân ngành ngôn ngữ học nghiên cứu so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất

kỳ để xác định những điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó, không tính đến vấn đề các ngôn ngữ được so sánh có quan hệ cội nguồn hay thuộc cùng một loại hình hay không Việc lựa chọn ngôn ngữ để đối chiếu hoàn toàn phụ thuộc vào những yêu cầu lý luận và thực tiễn nghiên cứu Về căn bản ngôn ngữ học đối chiếu đứng trên quan điểm đồng đại khác với quan điểm lịch đại của ngôn ngữ học

so sánh lịch sử

1.2.2 Các nguyên tắc đối chiếu ngôn ngữ

Trong quá trình nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ có các nguyên tắc cơ bản

mà chúng ta cần tuân thủ như sau:

a) Đảm bảo các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đối chiếu để tìm ra điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng Bước miêu tả này tuy chỉ là sự chuẩn bị nhưng là một công đoạn quan trọng của quá trình đối chiếu vì nó cung cấp đầu vào cho sự đối chiếu Kết quả đối chiếu trước hết phụ thuộc vào kết quả của sự miêu tả này

b) Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống

c) Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ

mà còn trong hoạt động giao tiếp Nguyên tắc này đã giải quyết thỏa đáng mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và lời nói trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung, đưa ngôn ngữ gần gũi hơn với hoạt động giao tiếp, nơi ngôn ngữ thực hiện chức năng cơ bản của nó và nhờ vậy mới bộc lộ được hết đặc điểm của mình

d) Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái niệm và mô hình

lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu Nguyên tắc này đòi hỏi các phương tiện của hai ngôn ngữ được miêu tả theo cùng một mô hình Thành công

Trang 23

của việc đối chiếu không chỉ phụ thuộc vào các khái niệm và lý thuyết mà chúng ta lựa chọn để miêu tả mà còn được quyết định bởi tính nhất quán của việc vận dụng các khái niệm và lý thuyết đó

e) Phải tính đến mức độ gần gũi về loại hình giữa các ngôn ngữ cần đối chiếu vì

nó cho phép người nghiên cứu có thể lựa chọn được cách tiếp cận thích hợp nhất đối với quá trình đối chiếu

1.2.3 Phạm vi đối chiếu

Về mặt lý thuyết, căn cứ vào phạm vi đối chiếu người ta phân biệt đối chiếu hệ thống và đối chiếu bộ phận Đối chiếu hệ thống là đối chiếu tổng thể hai ngôn ngữ với nhau Còn đối chiếu bộ phận là đối chiếu các đơn vị, phạm trù, hiện tượng cụ thể của hai ngôn ngữ Tuy nhiên, trên thực tế không có công trình nào có thể đối chiếu một cách đầy đủ ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác như những tổng thể Cách tiếp cận thích hợp nhất là đối chiếu các phương tiện của hai ngôn ngữ trên từng phạm trù, bình diện riêng biệt, đó chính là phạm vi đối chiếu bộ phận

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân biệt phạm vi đối chiếu bộ phận Ví

dụ, tác giả T Krzeszowski phân biệt 3 lĩnh vực đối chiếu:

- Đối chiếu những hệ thống tương đương trong hai ngôn ngữ như đại từ, quán

từ, động từ, hệ thống nguyên âm, phụ âm…

- Đối chiếu những kết cấu tương đương như kết cấu nghi vấn, kết cấu phủ định, kết cấu bị động, kết cấu danh ngữ…

- Đối chiếu các quy tắc tương đương như quy tắc bị động, đảo trật tự trong kết cấu nghi vấn, đồng hóa và dị hóa ngữ âm…

Lê Quang Thiêm (1989) phân biệt phạm vi đối chiếu theo phạm trù, cấu trúc hệ thống, chức năng và hoạt động, phong cách, lịch sử - phát triển

Theo Bùi Mạnh Hùng, sự phân biệt các phạm vi đối chiếu cần xác định trên cơ

sở phân biệt các bình diện phân tích ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng

1.2.4 Những cách tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ

Trang 24

Một công trình nghiên cứu đối chiếu có thể chọn một trong hai cách tiếp cận chủ yếu sau: đối chiếu hai (hay nhiều) chiều và đối chiếu một chiều

a) Nghiên cứu đối chiếu hai (hay nhiều) chiều xem xét các hiện tượng được so sánh của hai hay nhiều ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại trên một cơ sở đối chiếu, dựa trên một cơ sở so sánh (TC - tertium comparationis) nhất định Cách này được tiến hành theo thủ tục như sau: chọn TC và xác định các phương tiện ngôn ngữ biểu thị/ thuộc về phạm trù này trong các ngôn ngữ đối chiếu Cách tiếp cận này gọi là đối chiếu hai chiều không phải vì việc đối chiếu các ngôn ngữ theo cả hai chiều từ ngôn ngữ A đến ngôn ngữ B và sau đó, ngược lại, từ ngôn ngữ B đến ngôn ngữ A, mà là nghiên cứu các hình thức thể hiện TC trong hai ngôn ngữ, sau đó phân tích những hình thức thể hiện này có những điểm nào giống nhau và khác nhau, không có ngôn ngữ nào là ngôn ngữ xuất phát và ngôn ngữ nào là ngôn ngữ đích b) Nghiên cứu đối chiếu một chiều xem xét ý nghĩa của một phương tiện nào đó trong ngôn ngữ này và xác định những phương tiện biểu hiện ý nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác Bắt đầu từ việc miêu tả các hình thức trong ngôn ngữ thứ nhất rồi đối chiếu với những cái tương đương trong ngôn ngữ thứ hai Cũng có thể ngược lại, bắt đầu từ việc miêu tả các hình thức trong ngôn ngữ thứ hai rồi đối chiếu với những cái tương đương trong ngôn ngữ thứ nhất Sở dĩ gọi là một chiều vì khi đối chiếu, người nghiên cứu chọn một ngôn ngữ làm điểm xuất phát và một ngôn ngữ làm đích Việc chọn ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ xuất phát và ngôn ngữ nào làm ngôn ngữ đích phụ thuộc vào nhiệm vụ và mục đích của việc nghiên cứu đối chiếu chứ không bị quy định bởi đặc điểm của cấu trúc ngôn ngữ

Đề tài nghiên cứu đối chiếu của luận văn là nghiên cứu một chiều với việc chọn tiếng Nga làm ngôn ngữ cơ sở, ngôn ngữ xuất phát, còn tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu, ngôn ngữ đích

1.3 Tiểu kết

Chương 1 đã giới thiệu những cơ sở lý luận của luận văn Câu phủ định đã được nghiên cứu về mặt triết học, mặt lô-gích học và mặt ngôn ngữ trên nhiều bình diện khác nhau Luận văn giới thiệu một số nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề câu phủ định

Trang 25

ở trong và ngoài nước, tổng kết các nét cơ bản như khái niệm câu phủ định, các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định cũng như phân loại câu phủ định Ngoài ra, nội dung lý thuyết cơ bản về vấn đề câu và ngôn ngữ học đối chiếu cũng được trình bày trong luận văn Mặc dù có nhiều bình diện nghiên cứu về câu phủ định, trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chủ yếu đề cập đến các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định cấu trúc câu đơn tiếng Nga, tập trung vào việc xác định, miêu tả và

phân tích ý nghĩa cơ bản của chúng trong hai ngôn ngữ

Trang 26

CHƯƠNG 2

CÂU PHỦ ĐỊNH CHỨA CÁC PHƯƠNG TIỆN PHỦ ĐỊNH CHÍNH DANH

Ở TIẾNG NGA TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

Trong chương này, nhiệm vụ được đặt ra là xem xét các câu phủ định chứa các phương tiện phủ định chính danh trong tiếng Nga cũng như tiếng Việt; phân tích, làm rõ chức năng và ý nghĩa của các phương tiện này Trên cơ sở đó có thể tiến hành việc so sánh đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, hai nền văn hóa

2.1 Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ phủ định trong tiếng Nga

2.1.1 Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các tiểu từ phủ định

Trong nhiều ngôn ngữ, sử dụng từ phủ định là cách thức phổ biến nhất khi bày

tỏ ý phủ định xét về mặt ngữ pháp Trong tiếng Nga các từ kiểu này thường được

gọi tên là tiểu từ phủ định (отрицательная частица) Nhiều nhà Nga ngữ học cho rằng các tiểu từ phủ định đó là не và ни Theo quan điểm của chúng tôi, ни không

được coi là tiểu từ phủ định Lý do giải thích cho điều này chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau

a) Tiểu từ не (không)

Có thể nói rằng từ не đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thể hiện ý phủ

định không phải chỉ bởi tần số xuất hiện của nó trong giao tiếp mà còn do khả năng

kết hợp với mọi thành phần trong các loại câu khác nhau Tiểu từ phủ định не có thể

đem lại ý phủ định cho bất kỳ thành phần câu nào mà nó đứng trước Do đó người

ta cho rằng не thực hiện chức năng quan trọng, chức năng phủ định tùy chọn

(факультативное отрицание)

Trong câu hai thành phần chính, tiểu từ phủ định не có thể đứng trước bất cứ

thành phần chính nào của câu, nhưng thường gặp nhất là vị trí trước vị ngữ Còn

Trang 27

trong câu không có cấu trúc chủ-vị, nó đứng trước động từ chính hay vị từ trong câu Khi đó nó có ý nghĩa phủ định cho vị từ

Ví dụ:

(Nhưng có lần trọn một tháng tôi không cầm đến súng.)

Trong câu một thành phần, tiểu từ phủ định не đứng trước động từ đã chia hoặc

Trang 28

Trong các câu сó các thành phần mở rộng, tiểu từ phủ định не có thể được lựa

chọn đứng trước bất kỳ thành phần mở rộng nào của câu

Ví dụ:

38 Они занимаются в библиотеке не вуза

(Họ học trong thư viện không phải của trường.)

Trang 29

Khi tiểu từ phủ định đứng ở ngay đầu câu thì có thể hiểu ý nghĩa phủ định liên

quan đến từ đứng ngay sau nó hoặc liên quan đến toàn bộ câu Như vậy câu “Не поезд гудит” (Không phải đoàn tàu rúс lên) có thể hiểu theo nghĩa “Не поезд - гудит” hoặc “Не - поезд гудит” Trong trường hợp thứ nhất, không phải hành động

được phủ định mà là “đoàn tàu” Khi đó chúng ta sẽ hiểu câu trên là “không phải đoàn tàu rú còi, mà là một vật khác” Từ phủ định bao giờ cũng ở vị trí trước từ nó

cần phủ định Chẳng hạn như: “Не поезд гудит”, “Гудит не поезд” hoặc “Не

телефон звонит”, “Звонит не телефон” Trong trường hợp thứ hai “Не - поезд

гудит” ý nghĩa phủ định bao trùm lên toàn bộ câu và nó có thể đối lập với một câu

khác: “Не поезд гудит, а гром гремит” (Không phải đoàn tàu rúc lên mà là tiếng

sấm rền vang), vị trí của tiểu từ phủ định luôn ở đầu câu

(Ngày hôm qua anh trai đi đến không phải thư viện.)

Trong ví dụ 44a tiểu từ phủ định не đứng trước động từ chính có chức năng làm

vị ngữ của câu Theo ngữ pháp truyền thống, kiểu câu này được gọi là câu phủ định

toàn bộ “Đó là những câu mà sự phủ định tác động vào vị ngữ hoặc vào thành

phần chính biểu hiện vị ngữ” [Sách Ngữ pháp tiếng Nga, 1980, tr 408].Ví dụ 44b

Trang 30

chính hành động (không phải “anh trai” mà là người nào đó đã đi đến thư viện); câu

44c, d cũng có mối liên quan tương tự như vâỵ về mặt thời gian và địa điểm của hành động (anh trai đi đến thư viện không phải vào hôm qua mà vào thời gian khác

và ngày hôm qua anh trai đi đến không phải thư viện mà đên một nơi nào đó) Sự phủ định trong các ví dụ 44b, c, d không tác động lên toàn bộ hành động trong tình huống nói chung mà chỉ tác động lên một phần của tình huống đó, như vậy sự phủ định chỉ giới hạn trong một phần nào đó Những câu như vậy được gọi là câu phủ định từng phần Phủ định bộ phận liên quan chặt chẽ với sự phân chia đề - thuyết trong câu, “phần câu chứa phủ định bộ phận luôn được coi là phần thuyết - Sách Ngữ pháp tiếng Nga, 1980, tr 408)

Ví dụ:

45 Не убить тебя я пришла, а мириться, бросай нож! (М Горький – Макар Чудра)

(Tôi đến không phải để giết anh mà là để giảng hòa Hãy bỏ dao xuống!)

Phủ định bộ phận vẫn có thể xảy ra trong trường hợp tiểu từ phủ định не đứng ở

vị trí trước động từ chính hay vị ngữ trong câu: Он не ходил в библиотеку, а ездил

(Không phải anh ta đi bộ đến thư viện, mà đi bằng xe) Trong trường hợp này không phải toàn bộ tình huống mà chỉ có hành vi thực hiện hành động bị phủ định Động

từ vị ngữ thực hiện chức năng của phần thuyết – đưa ra một thông báo mới: “…не

ходил, а ездил” (Không phải đi bộ mà đi bằng xe)

Trong các câu phủ định bộ phận, phần phủ định bao giờ cũng đối lập với một

phần nào đó được khẳng định Chẳng hạn như: Не брат ходил вчера в

библиотеку, а отец (Không phải anh trai đi đến thư viện hôm qua, mà là bố); Брат ходил не вчера в библиотеку, а сегодня утром (Anh trai đi đến thư viện

không phải vào ngày hôm qua, mà vào sang hôm nay); Брат ходил вчера не в

библиотеку, а в кино (Ngày hôm qua anh trai đi đến không phải thư viện, mà là

rạp chiếu phim)

Ngược lại, sự đối lập đó là không cần thiết trong câu phủ định toàn bộ Chúng

ta không cần thêm một phần nào đó được khẳng định đi đôi với phần bị phủ định

Trang 31

Người nghe dường như không chờ đợi thêm thông tin kèm theo trong các câu phủ

định dạng như: Брат не ходил вчера в библиотеку (Ngày hôm qua anh trai không

đi đến thư viện); Он давно не получал писем (Đã lâu rồi anh ta chẳng nhận được

thư)

 Phủ định bắt buộc (обязательное отрицание) và phủ định tùy chọn (факультативное отрицание)

Tiểu từ phủ định не có thể tham gia vào hai cấu trúc: phủ định lựa chọn và phủ định bắt buộc Tiểu từ не biểu hiện sự phủ định bắt buộc trong các câu phủ định tự thân (собственно отрицательное предложение)

Ví dụ:

Trong tất cả các trường hợp này các sự việc, sự tồn tại hay phát hiện đã bị loại trừ bởi yếu tố phủ định So sánh các câu kiểu trên với các câu phủ định lựa chọn

như “Трудности не встречаются”, “Письмо не получено” chúng ta thấy rằng cấu

trúc ngữ nghĩa của hai loại câu trên tương đồng với nhau Tuy nhiên chúng vẫn có một số điểm khác biệt Thứ nhất là câu phủ định bắt buộc thường thông báo một

chủ thể không xác định: Без потерь войны не бывает (Không có cuộc chiến nào

mà không có mất mát); câu phủ định lựa chọn nói về chủ thể được xác định, đã biết:

Он знал, что его лучшая картина еще не написана (Anh ta biết rằng bức tranh

đẹp nhất của anh ta còn chưa được vẽ xong) Thứ hai là, câu phủ định bắt buộc thường thông báo về việc không tồn tại của chủ thể, trong khi đó trong câu phủ định lựa chọn việc không tồn tại của chủ thể lại bị phủ định Chúng ta so sánh hai câu

sau: “Не было написано ни строки” (Chưa viết được dòng nào), “Не было

сказано ни слова” (Không nói một lời nào) và “Стихотворение не сохранилось,

и я не помню ни одной строчки из него” (Bài thơ không được giữ lại và tôi không nhớ một dòng nào của bài đó), “Статья его не появилась в печати” (Bài báo của

anh ta còn chưa được in)

Trang 32

b) Tiểu từ ни

Bên cạnh tiểu từ phủ định не, tiểu từ ни сũng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu tiếng Nga Một số nhà nghiên cứu cho rằng tiểu từ ни có vai trò độc lập, nghĩa là nó có thể biểu thị ý phủ định mà không cần phải đi cùng не trong một số dạng câu nhất định chẳng hạn như trong câu cầu khiến (kiểu câu Ни

шагу дальше), câu chỉ số lượng (kiểu câu Ни на волос любви) hoặc câu vô nhân

xưng sử dụng dạng thức danh từ ở cách hai (kiểu câu В кармане ни гроша) Đại

diện tiêu biểu cho quan điểm này là các tác giả Vinogradov (1960, 1987), Gabutran (1972)

Tuy nhiên, bản thân tiểu từ ни không phải là tiểu từ phủ định, mà chỉ là tiểu từ

dùng để nhấn mạnh Nó có thể có thực hiện chức năng nhấn mạnh cho hoặc là ý khẳng định, hoặc là ý phủ định Xét về ý nghĩa biểu hiện nó có sự tương đồng với

các tiểu từ như и (và, cả), даже (thậm chí) Chúng ta cùng xem xét các ví dụ dưới

đây:

Ví dụ:

50 Кто ни придет, всем будем рады (Dù người nào đến, chúng tôi đều mừng.)

Trong câu 46 và câu 47, tiểu từ не và нет biểu thị phủ định hành động và phủ định sự có mặt Ở đây, tiểu từ ни được sử dụng trong cấu trúc phủ định với chức

năng nhấn mạnh Câu 48 là một câu khẳng định cả về mặt hình thức và nội dung

Cấu trúc câu sử dụng cả hai yếu tố ни và не khá phổ biến trong tiếng Nga hiện đại Trong kiểu câu này từ ни có thể được lặp lại nhiều lần nhằm biểu thị ý nhấn mạnh hay liệt kê, còn việc thực hiện nhiệm vụ phủ định vẫn thuộc về tiểu từ не

Trang 33

Cũng có trường hợp khi tiểu từ ни không lặp lại và danh từ đi cùng với nó ở

dạng thức cách hai, khi đó một phần của hiện tượng hay sự vật được phủ định

(Đi chơi nhà khác thì cũng tốt, nhưng ở nhà còn tốt hơn.)

Trong các cấu trúc cố định dạng như ни жив ни метрв (sống dở chết dở), ни

свет ни заря (tranh tối tranh sáng), tiểu từ ни được lặp lại để nhấn mạnh hoặc là ý

nghĩa không xác định, hoặc đơn giản là sự khẳng định Các cấu trúc này có thể được

thay thế bởi các cấu trúc tương đương về ý nghĩa cũng như về hình thức Ví dụ: ни

Trang 34

Akhmanova đã đưa ra cách nhận biết đại từ và trạng từ phủ định “là các từ mà trong thành phần của nó có chứa tiếp đầu tố có nhiệm vụ phủ định cho phần nội dung được biểu hiện trong hình vị gốc” [O.S Akhmanova, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, 1969, tr 608] Trong nhiều sách ngữ pháp của Nga các từ này được giải thích

là các từ chỉ ra sự vắng mặt hoàn toàn của đối tượng là chủ thể hay khách thể của hành động

Các đại từ phủ định và trạng từ phủ định trong tiếng Nga gồm có: ничто,

никто, ничей, никакой, нечего, некого, никой và никуда, нигде, никогда, ниоткуда, ничуть, никак, негде, нисколько, некуда, некогда, незачем, неоткуда

Như vậy, đại từ никто được hiểu là vắng mặt hay không tồn tại một người nào

đó, ничей – không thuộc về ai đó, некого – sự vắng mặt của chủ thể hành động được biểu hiện ở dạng động từ nguyên thể, нечего – sự vắng mặt của khách thể…

Chúng ta có cách hiểu tương tự đối với những đại từ và trạng từ phủ định khác

Riêng trạng từ некогда có hai cách hiểu: một là biểu hiện việc không có thời gian,

hai là không xác định được về thời gian (lúc nào đó, đã lâu rồi, trong quá khứ) Từ

никой là từ cổ và hiện nay chỉ còn xuất hiện trong những tập hợp từ cố định như ни

tập hợp không gian, địa điểm Bên cạnh đó, các đại từ và trạng từ phủ định cũng chỉ

ra sự vắng mặt của một cái nào đó Như vậy trạng từ никогда không chỉ biểu hiện

một thời điểm nói chung mà còn đồng thời chỉ ra sự vắng mặt của một thời điểm

trong một sự việc cụ thể nào đó Ví dụ trong câu Некого спросить (Chẳng có ai để hỏi), đại từ некого bao gồm trong nó ý nghĩa chỉ người nói chung và thông tin về sự

vắng mặt của khách thể của hành động

Trang 35

Đại từ và trạng từ phủ định với tiếp đầu tố ни- thường xuất hiện trong câu có

động từ phủ định tức có nghĩa là các từ kiểu này không bao giờ được sử dụng mà

thiếu tiểu từ phủ định не; chúng đóng vai trò là các từ tăng cường sự phủ định

chung Vì thế một số nhà nghiên cứu có quan điểm cho rằng chỉ những đại từ hoặc

trạng từ với tiếp đầu tố не- mới biểu hiện ý phủ định Cùng với động từ nguyên

dạng “khẳng định” những đại từ và trạng từ kiểu này tạo thành chỉnh thể cú pháp hoàn chỉnh

Ví dụ:

56 Я нигде не был вчера (Ngày hôm qua tôi chẳng ở đâu.)

57 Мне негде быть вчера (Ngày hôm qua tôi chẳng có chỗ nào để ở cả.)

Như trên chúng ta đã đề cập đến, đại từ với tiếp đầu tố ни- trong câu phủ định

có đặc tính loại trừ, có nghĩa là nó chỉ ra tất cả đại diện của một nhóm nào đó được tách khỏi tập hợp hay một mối quan hệ nào đó Đó chính là cơ sở để đối chiếu các

từ này với các từ tương ứng mang nghĩa сhung khái quát Chúng ta cùng so sánh các từ sau:

никакой (không thế nào) - всякий/ любой/ каждый (mọi/ bất cứ/ mỗi)

Cách sử dụng các từ mang nghĩa chung khái quát dạng như все, всякий, всегда

trong câu phủ định vị từ không phải là cách dùng mang tính tiêu chuẩn trong tiếng

Nga Vì vậy thay vì nói “Все они не были красавицы” (Tất cả bọn họ đều không phải là người đẹp), chúng ta nên nói như sau: “Среди них не было красавиц,

Никто из них не был кравсив, Все они были некрасивы, Ни одни из них не

была красавицей” (Trong số họ không có ai đẹp cả, Chẳng ai trong số họ là người đẹp, Không một ai trong số họ đẹp) Tuy nhiên, người ta cũng có thể sử dụng các từ kiểu này trong các khẩu ngữ Chẳng hạn trong các trường hợp: 1) khi trả lời câu hỏi

có nội dung phủ định vị từ dạng như: “- Кто не спит? - Все не спят.” (- Ai không

Trang 36

không yêu ai? - Không yêu tất cả; 2) trong lời đối đáp nhắc lại phủ định vị từ: “- Я

этого не люблю - Все не любят” (- Tôi không yêu thích điều này - Tất cả đều không yêu); “- Он не хочет это делать - Все не хотят” (Anh ta không thích làm

điều này - Tất cả đều không muốn) Cách sử dụng này tạo ra các cấu trúc đồng

nghĩa trong ngôn ngữ nói như: “Никто не спит - Все не спят” (Không ai ngủ - Mọi người không ngủ); “Я никогда не любил этого человека - Я всегда не

любил этого человека” (Tôi không bao giờ yêu người này – Tôi luôn không yêu

người này); “Он давно не разговаривает ни с кем - Он давно не разговаривает

со всеми” (Từ lâu anh ta không nói chuyện với ai – Từ lâu anh ta không nói chuyện với mọi người) Cả hai kiểu câu trên đều là các câu phủ định, nhưng các câu thuộc nhóm một nhấn mạnh vào ý nghĩa loại trừ, còn các câu thuộc nhóm hai mang ý nghĩa chung khái quát

2.1.3 Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các giới từ phủ định

Ý phủ định trong tiếng Nga cũng có thể được truyền tải nhờ các giới từ phủ

định Giới từ cơ bản nhất có khả năng biểu thị ý phủ định là giới từ без Ý nghĩa của

nó chỉ được sáng tỏ thông qua việc kết hợp với danh từ ở cách hai Trong các trường hợp đó nó có các sắc thái ý nghĩa khác nhau liên quan đến sự phủ định như: thiếu, vắng mặt, phủ định, đối lập…

Một điểm cần lưu ý là một số tác giả cho rằng ngoài giới từ без còn có một số giới từ khác cũng có thể biểu thị ý phủ định như вне, кроме, за исключением

Ví dụ:

58 Находиться вне школы – находиться не в школе, за пределам школы

(Nằm ngoài trường – nằm không ở trong trường, ngoài phạm vi của trường)

59 Все за исключением Паши получили высокие оценки – Все, кроме Паши получили высокие оценки – Все получили высокие оценки, а Паша не

получил

(Tất cả, trừ Pasa, đều nhận được điểm tốt – Tất cả, ngoài Pasa, đều nhận được điểm tốt – Tất cả đều nhận được điểm tốt, còn Pasa thì không.)

Trang 37

Quay trở lại với giới từ без chúng ta nhận thấy trong một số cấu trúc giới từ без

và tiểu từ не có nghĩa tương đương

Ví dụ:

60 Писать без воодушевления – писать не с воодушевлением

(Viết không có sự hào hứng – viết không với sự hào hứng)

61 Лежать без пользы – лежать не с пользой

(Nằm không có lợi – nằm không với ích lợi gì)

Cũng cần phải nói thêm rằng tuy hai cấu trúc trên đều diễn tả ý phủ định nhưng

giữa chúng vẫn có sự khác biệt Nếu giới từ без biểu thị sự phủ định chung đối với một đối tượng nào đó thì cấu trúc với не chứa đựng sự đối lập ngầm ẩn Chúng ta

cùng xem xét các câu sau:

Ví dụ:

62 Она пошла на выставку без подруги

(Cô ấy đi xem triển lãm không có bạn gái.)

63 Она пошла на выставку не с подругой

(Cô ấy đi xem triển lãm không cùng với bạn gái.)

Сâu 62 được hiểu là “Cô ấy đi đến buổi triển lãm mà không có bạn (đi cùng)” Câu này có thể nói đã trọn vẹn về ý Nhưng câu 63 lại không như vậy Câu “Cô ấy

đi đến buổi triển lãm không phải với người bạn gái” làm cho người nghe cảm thấy cần có thêm thông tin về người đi cùng: “không đi với người bạn gái, có lẽ đi cùng với bạn trai hay mẹ”

Người ta thường sử dụng giới từ без với nghĩa phủ định trong hai trường hợp

Trang 38

b) Trong vai trò làm định ngữ không phù hợp, без có chức năng xác định đặc điểm cho một sự vật, sự việc nào đó

Ví dụ:

65 Сегодня к вам приходил пожилой человек без бороды и усов

(Hôm nay có một người đàn ông trung niên chẳng có râu và ria đã đến chỗ anh)

2.1.4 Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ нет, нельзя/ невозможно/ немыслимо

Trong tiếng Nga còn có các cách nói phủ định bằng cách sử dụng các từ như

нет, нельзя Các từ này được gọi là các từ mang tính vị từ (предикативы) có đặc

trưng là các từ biểu thị cảm giác, trạng thái và có chức năng làm vị ngữ trong câu vô nhân xưng

a) Từ phủ định нет

Từ phủ định нет được sử dụng trong các câu phủ định tự thân với mục đích

biểu thị phủ định sự có mặt hay tồn tại của sự vật hay hiện tượng nào đó Theo sách Ngữ pháp tiếng Nga (1980), cấu trúc phủ định này thể hiện bốn ý nghĩa cơ bản sau:

 Sự vắng mặt của điều kiện bên ngoài

Trang 39

72 Нет урока (Không có giờ học.)

Trong các trường hợp b, c, d, tình huống phủ định có thể liên quan đến một đối

tượng nào đó Ví dụ tình huống vắng mặt một sự vật (Нет книги (Không có sách))

có thể liên quan đến một người (У меня нет книги (Tôi không có sách)); hay tình

huống vắng mặt tình trạng bên trong của con người có thể liên quan đến người có

tình trạng đó: Нет счастья (Không hạnh phúc) và В семье нет счастья (Gia

đình không có hạnh phúc)

Từ phủ định нет có thể tương đương với một câu hay thành phần chính của câu trong hội thoại hay trong các cấu trúc đối lập Trong hội thoại нет được sử dụng

khi trả lời các câu hỏi hoặc có chứa yếu tố phủ định hoặc không có yếu tố đó Nếu

trong câu hỏi không có yếu tố phủ định, thì từ нет trong câu trả lời sẽ là yếu tố phủ

định Khi đó câu trả lời cũng có thể nhắc lại một phần câu hỏi

Trong thành phần của cấu trúc đối lập, từ нет chứa toàn bộ nội dung phủ định

đối lập với phần khẳng định

Ví dụ:

b) Từ phủ định нельзя/ невозможнo/ немыслимо

Các từ phủ định нельзя, невозможно, немыслимо có vai trò như các từ mang

Trang 40

(Không thể đi qua), “Немыслимо забыть” (Không thể quên), “Невозможно

разговаривать” (Không thể nói chuyện)

Câu phủ định với нельзя và động từ nguyên dạng thể hoàn thành diễn tả việc không thể thực hiện được hành động

Ví dụ:

80 Нельзя было и подумать о продолжении пути (А.С Пушкин –

Капитанская дочка)

(Không thể nghĩ về việc tiếp tục cuộc hành trình.)

Nếu kết hợp với động từ nguyên dạng thể chưa hoàn thành kiểu câu này biểu thị việc ngăn cấm thực hiện hành động

Câu phủ định với невозможно, немыслимо kết hợp với động từ thể hoàn thành

hay chưa hoàn thành đều diễn tả việc không thể hoàn thành được hành động

(Sau buổi gặp gỡ, anh ta có cảm giác không thể nào quên được cô ấy.)

2.2 Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ phủ định trong tiếng Việt

Sử dụng các từ phủ định là phương tiện phổ biến nhất khi bày tỏ ý phủ định trong đa số các ngôn ngữ hiện nay Trong Việt Nam văn phạm tác giả Trần Trọng Kim cho rằng câu phủ định “…là một câu có một tiếng phủ định trạng từ như

không, chẳng, chớ, đừng, chưa…đặt trước tiếng động từ hay tiếng tĩnh từ” Như

Ngày đăng: 23/05/2021, 01:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w