Trong Luật này cũng đã quy định: phân loại đơn vị hành chính phải dựa trên các tiêu chí về dân số, diện tích tự nhiên, số đơn vị hành chính trực thuộc, trình độ phát triển kinh tế - xã h
Tổng quan hiện trạng đô thị Việt Nam
Phân tích các chỉ số
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh cả về số lượng đô thị và dân số đô thị Trước đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 19,51%), đến năm 1999 là 604 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 23,61%), năm 2009 là 731 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 29,6%) Tới thời điểm tháng 12 năm 2015, cả nước có 787 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 35,2%), có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 63 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 thị xã và 615 thị trấn Trong đó có 2 vùng đô thị lớn đầu tàu phát triển Quốc gia là Vùng Hà Nội và vùng Thành phố Hồ Chí Minh
Biểu1: số lượng đô thị và tỷ lệ đô thị hoá Năm Số lượng đô thị Tỷ lệ đô thị hoá
(Nguồn: Phạm Thị Nhâm, Viện quy hoạch đô thị nông thôn Quốc gia, BXD)
Bảng 1: Số lượng đô thị phân bố theo 6 vùng kinh tế xã hội
Miền núi và trung du Bắc bộ 167 Đồng bằng sông Hồng 147
Bắc Trung bộ/Duyên hải miền Trung 183
Tây Nguyên 63 Đông Nam bộ 55 Đồng Bằng sông Cửu Long 166
(Nguồn: UDA) Hộp 1 Phân vùng kinh tế xã hội ở Việt Nam
Việt Nam đ đưa ra các hệ thống vùng inh tế hác nhau như: hệ thống 7 vùng nông lâm nghiệp cuối những năm 1975-
1977, sau đó là hệ thống 8 vùng giai đoạn 1978-1980; hệ thống 4 vùng lớn và 7 tiểu vùng thời ỳ 1981-1985; hệ thống 8 vùng và 3 vùng inh tế trọng điểm từ năm 1986 Theo Nghị định 92/2006/NĐ/ P của hính phủ nước ộng hòa X hội hủ nghĩa Việt Nam ban hành ngà 7/9/2006 Việt Nam được phân làm 6 vùng inh tế lớn:
(1) Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc), gồm các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Hoà Bình;
(2) Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh;
(3) Vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, gồm các tỉnh, thành phố: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận;
(4) Vùng Tây Nguyên gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng;
(5) Vùng Đông Nam Bộ, gồm các tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang;
(6) Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau
Cùng với đó còn có bốn vùng kinh tế trọng điểm gồm: (1) Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm 8 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh; (2) Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 8 tỉnh, thành phố: Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang; (3) Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định; (4) Vùng Kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, gồm 4 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Cà Mau và Kiên Giang
Hình 1 Sơ đồ phân bố hệ thống đô thị Việt Nam theo các phân vùng kinh tế
Cấu trúc hệ thống đô thị Việt Nam có hai cực Bắc Nam đang diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh Khu vực Bắc Bộ có vùng KTTĐBB gồm các đô thị lớn quan trọng như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long Khu vực Nam Bộ có vùng KTTĐ phía Nam gồm TP Hồ Chí Minh và các thành phố lân cận như Bình Dương, Biên Hoà, Vũng Tàu
Vùng KTTĐ miền Trung có Thành phố Đà Nẵng đang phát triển mạnh tạo động lực cho Trung Bộ phát triển kết hợp với các đô thị lớn chạy dọc ven biển miền Trung như Thanh Hóa, Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Nha Trang và tạo chuỗi liên kết Bắc – Nam làm điểm tựa liên kết vùng duyên hải với Tây Nguyên
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có Thành phố Cần Thơ đang đô thị hóa nhanh và trở thành trung tâm lớn vùng và quốc gia
Bộ khung hệ thống đô thị Quốc gia tương đối cân bằng, tuy nhiên vùng trung du miền núi Bắc Bộ hiện nay vẫn đô thị hóa yếu nhất; vì thế để có đô thị động lực cho vùng núi biên giới phía Bắc thì cũng có thể phải khơi dậy các đô thị đang có tiềm năng phát triển gắn với chính sách biên mậu và hành lang xuyên Á là Lao Cai và Lạng Sơn; các đô thị liền kề với vùng KTTĐ Bắc Bộ như Thái Nguyên và Việt Trì b) Phân cấp và phân loại đô thị
Hộp 2: Phân cấp và phân loại đô thị
Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành quyết định số 132/HĐBT ngày 05/5/1990 về phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị Trong đó xác định để phân loại đô thị căn cứ 5 yếu tố và đô thị được chia thành 5 loại (loại 1 đến loại 5) Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý, đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do tỉnh quản lý và đô thị loại 5 chủ yếu do huyện quản lý
Năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 72/2001/NĐ-Cp ngày 05/10/2001 về phân loại đô thị, phân loại đô thị theo 5 tiêu chí với 6 loại đô thị: đặc biệt và loại 1 đến loại 5
Năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 05/01/2009 về phân loại đô thị Trong đó xác định đô thị gồm 6 loại: đặc biệt, loại I, II, III, IV, V với 6 tiêu chí để xét phân loại So với Nghị định 72/2001 có bổ sung tiêu chí về kiến trúc cảnh quan
Luật Quy hoạch đô thị có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định đô thị phân thành 6 loại: đặc biệt, loại I đến loại V theo các tiêu chí cơ bản:
Vị trí, chức năng, trình độ phát triển; Quy mô dân số; Mật độ dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng Việc phân cấp quản lý hành chính đô thị được xác định:
- Thành phố trực thuộc Trung ương là đô thị đặc biệt hoặc đô thị loại I
- Thành phố thuộc tỉnh là đô thị loại I, hoặc II, III
- Thị xã là đô thị loại III, IV
- Thị trấn là đô thị loại IV, V
Luật Tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội thông qua tháng 6/2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 tại điều 140 đã có sửa đổi, bổ sung quy định trong Luật Quy hoạch đô thị Theo đó, đô thị được phân làm 6 loại là: Đặc biệt, loại I, II, III, IV, V theo 5 tiêu chí xác định đơn vị hành chính gồm:
- Tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (đây là quy định mới)
- Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt
Đánh giá
a) Một số vấn đề hung
Việt Nam đang trong tiến trình đô thị hóa và phát triển kinh tế năm 2014 khoảng
33,1% dân số Việt Nam sống ở khu vực đô thị và đóng góp khoảng 70 % cho GDP quốc gia Dân số đô thị tăng 3,26%/ năm Việt Nam đã thu được nhiều lợi ích từ đô thị hóa trong vài thập kỷ qua, nhưng cần phải đánh giá lại tình hình phát triển đô thị và các yếu tố chi phối đô thị hóa ở Việt Nam như: thị trường; các yếu tố sản xuất (đất đai, lao động và nguồn nhân lực); tài chính công; điều chỉnh chiến lược, phương thức phát triển đô thị và cung cấp dịch vụ để có sự tương thích với nhu cầu của một nền kinh tế thị trường đang phát triển Sự chuyển đổi cấu trúc nền kinh tế của Việt Nam từ một nước nông nghiệp trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại sau năm 2020 không thể thiếu việc xây dựng chiến lược, kế hoạch cho quá trình đô thị hóa Quá trình này sẽ là một phần quan trọng trong tương lai của Việt Nam để đảm bảo có thành phố dễ sống, sống tốt và có khả năng cạnh tranh trong khu vực cũng như trên toàn cầu Đây cũng sẽ trở thành một phần cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam b) Tố độ v hất ượng đô thị h a
Một số nhà qui hoạch đô thị cho rằng:
- Giai đoạn bùng phát đô thị hóa thứ nhất tại Việt Nam (1986 – 1997) kéo dài từ thời kỳ đầu đổi mới năm 1986 cho đến khi bắt đầu cuộc khủng hoảng kinh tế
- Giai đoạn bùng phát đô thị hóa thứ hai (2000 – 2010) bắt đầu từ 2000 đến cuối
2010 Năm 2011 đánh dấu sự suy thoái của giai đoạn bùng phát đô thị hóa lần hai và thị trường bất động sản đi vào đóng băng
Hiện nay là thời điểm tốt nhất để đánh giá một cách tổng quan tốc độ và chất lượng đô thị hóa, các vấn đề có liên quan đến phát triển đô thị…để chuẩn bị cho giai đoạn bùng phát đô thị lần thứ 3 kế tiếp được thành công tốt hơn Trong đó cũng cần thiết phải nghiên cứu bảo tồn và phát triển các mô hình định cư đô thị và nông thôn ở Việt
Nam trong điều kiện đô thị hóa, biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững nhằm góp phần phát triển hệ thống đô thị Việt Nam hiện đại giàu bản sắc
Bảng 5: Thống kê gia tăng số lượng đô thị và mở rộng không gian đô thị giai đoạn 1990-2004 Loại đô thị Năm
Số lượng đô thị được nâng loại 1999-2009
Số lượng đô thị được nâng loại 2009-2014 Đô thị đặc biệt 0 2 2 2 0
Tỷ lệ đô thị hoá 19,51 23,61 29,6 33,1
Theo thống kê ở bảng 5, giai đoạn bùng phát đô thị hóa thứ nhất, Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn khởi động, tốc độ đô thị hóa chưa nhanh Giai đoạn 1990-1999 tăng thêm
104 đô thị Ở giai đoạn bùng phát đô thị hóa thứ hai Việt Nam có tốc độ đô thị hóa nhanh hơn Giai đoạn 1999-2009 tăng thêm 200 đô thị Nhiều đô thị được mở rộng, các thành phố đang trở nên đông đúc hơn Báo cáo của Ngân hàng thế giới cho biết, trong giai đoạn 2000 - 2010, Việt Nam từ vị trí có diện tích đất đô thị lớn thứ 7 trong năm 2000 (2.200 km2) lên vị trí thứ năm trong năm 2010 (2.900 km2) trong hệ thống phân cấp đô thị vượt qua cả Thái Lan và Hàn Quốc Về không gian, các khu đô thị của Việt Nam tăng 2,8% hàng năm, nằm trong số các nước có tỷ lệ tăng nhanh nhất khu vực Việt Nam có dân số đô thị lớn thứ sáu trong khu vực Đông Á Trong giai đoạn 2000 - 2010, dân số đô thị tăng 7,5 triệu người Trong giai đoạn này, dân số đô thị của Việt Nam thay đổi từ 19% lên 26% Việt Nam không có các thành phố cực lớn với 10 triệu người hoặc hơn nhưng Thành phố Hồ Chí Minh (7,8 triệu người) và Hà Nội (5,6 triệu người) nằm trong số các thành phố lớn nhất trong khu vực Hai thành phố này chi phối sự hấp dẫn, lan tỏa tới các đô thị lân cận tạo lên hai vùng đô thị hóa lớn, là các vùng đô thị động lực chủ đạo của Việt Nam, có ảnh hưởng tới vùng Đông Bắc Á và Đông Nam Á trong khu vực
Chất ượng đô thị hóa hưa theo ịp trình độ phát triển kinh t - xã hội
Sự tiến bộ của khoa học công nghệ trong lĩnh vực xây dựng đã tạo nên nhiều cầu nhịp lớn, các đường hầm vượt qua núi cao, sông sâu, cửa biển lớn để kết nối các đô thị trước đây từng bị thiên nhiên chia cắt Một loạt các đô thị lớn như Hà Nội, TPHCM, Cần Thơ, Hạ Long, Đà Nẵng… đang mở rộng dần không gian đô thị hình thành các đại thị, siêu đại thị Tại các đô thị lớn, tỷ lệ tăng dân số và phương tiện giao thông cơ giới lớn hơn nhiều lần tỷ lệ tăng không gian xanh và không gian giao thông Trên các đại lộ, cao tốc xuất hiện nhiều khu đô thị quy mô lớn có nguy cơ phá vỡ không gian đô thị Hiện nay các toà cao ốc, cao lộ, xe hơi, các xa lộ thông tin… đang được xem là biểu trưng của đô thị hiện đại, tuy nhiên mặt trái của chúng tạo nên các hiệu ứng tiêu cực làm tổn hại đến sự phát triển của đô thị
Phát triển nhanh về quy mô và số lượng nhưng chất lượng các đô thị Việt Nam còn đạt thấp Đặc biệt, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chưa đồng bộ; trình độ và năng lực quản lý và phát triển đô thị còn thấp so với yêu cầu; Tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng ở phần lớn đô thị Việt Nam đều chậm so với phát triển kinh tế xã hội Tình trạng phát triển đô thị hiện nay chưa đáp ứng đúng với qui luật, nhận thức, tư duy về đô thị hóa trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững và tăng trưởng xanh Đô thị hóa Việt Nam chưa thể hiện rõ bản sắc địa phương và đặc điểm khí hậu vùng, miền, tạo sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn Bộ mặt kiến trúc cảnh quan đô thị còn lộn xộn, thiếu thẩm mỹ Tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, diện tích cây xanh và mặt nước bị thu hẹp, nhu cầu sản xuất, dịch vụ ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước Hệ thống hạ tầng xã hội, kĩ thuật đô thị chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, thường bị quá tải gây nên các hiện tượng tắc nghẽn giao thông, úng ngập và vệ sinh môi trường Nhà ở tại các đô thị lớn còn nhiều bất cập, nhất là nhà ở cho công nhân, sinh viên, người có thu nhập thấp, nhà ở xã hội…Nhiều đô thị thiếu cây xanh, công viên,mặt nước, thiếu trường học, trạm y tế, sân chơi cho trẻ con, người già và các đối tượng khác Việc mở rộng đô thị không theo nhu cầu phát triển dẫn đến lãng phí, chiếm dụng đất nông nghiệp ảnh hưởng đến an toàn lương thực quốc gia và sinh kế của người dân Năng lực thu gom xử lý rác thải rắn đặc biệt là các chất thải rắn nguy hại chưa được thực hiện đúng quy định Quản trị đô thị yếu và còn nhiều vấn đề bất cập c) Bi n đổi ấu trú đô thị v á hình thái đô thị ơ ản
Nhận diện quá trình bi n đổi cấu trú đô thị
Nhiều nghiên cứu cho rằng về hình thái học, đô thị Việt Nam như là một sự chu ển tiếp éo dài từ làng sang đô thị theo hái niệm phổ biến Về bản chất chúng là phố thị gồm những dãy phố với những ngôi nhà ở kiểu ống, vừa là nơi sống, vừa là nơi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Các khu phố cổ hoặc cũ ở Hà Nội, Hội An và Huế phản ánh khá đầy đủ những đặc điểm xã hội và hình thái học kiến trúc của cấu trúc đô thị Việt cổ truyền
Xu hướng chung của các đô thị Việt Nam hiện nay là phát triển nhanh, mở rộng cả về qui mô diện tích đất đai lẫn qui mô dân số với các hình thức:
- Một là, khu vực nội đô phát triển mạnh ra các vùng ngoại vi dẫn đến việc phải điều chỉnh ranh giới của đô thị (Thị xã, thành phố) Phương thức mở rộng này thường tập trung vào các đô thị loại IV khi phát triển nâng cấp lên đô thị loại III và tiếp tục lên loại II như các thành phố Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Móng Cái, Lạng Sơn, Lào Cai
- Hai là, phát triển mở rộng đô thị trên cơ sở sáp nhập các đơn vị hành chính trong phạm vi ranh giới của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hoặc có liên quan đến 2, 3 tỉnh như thị xã Đồ Sơn, Kiến An sáp nhập vào nội đô Hải Phòng; Ngũ Hành Sơn, Hòa Vang vào nội đô Đã Nẵng; sáp nhập toàn bộ ranh giới tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc), 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung (thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình) vào Thủ đô Hà Nội (với diện tích tự nhiên trên 3328 km2)
Phương thức hay xu hướng này đang diễn ra ở bình diện rộng trên phạm vi cả nước, thậm chí đang là cái cách để nghiên cứu phát triển đô thị dưới dạng hợp nhất một số đô thị nhỏ vào một đô thị lớn có sức hút, mang tính trung tâm hơn để trở thành một vùng đô thị với danh nghĩa là một đô thị, có ranh giới, tính chất, chức năng và qui mô rõ ràng Đề án xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, mở rộng ranh giới thành phố Đà Lạt hay xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố/đô thị toàn tỉnh (theo mô hình “Tập hợp hoặc chùm đô thị”) là những ví dụ điển hình Cấu trúc và hình thái học đô thị Việt Nam theo đó cũng có những thay đổi về không gian và các bộ phận cấu thành
Cá hình thái đô thị ơ ản trong quá trình chuyển đổi
Ngày nay, ngoài yếu tố hành chính các đô thị Việt Nam phần lớn đã trở thành các đô thị có chức năng tổng hợp về kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học công nghệ Trong đó, nhiều đô thị đã trở thành trung tâm kinh tế lớn của quốc gia, của vùng như
TP Hồ Chí Minh, Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng Đô thị hướng tới cấu trúc đa trung tâm, linh hoạt hơn, có sức sống và có sự cạnh tranh cao Trong đó, nền kinh tế đô thị đã góp nhiều cho tăng trưởng chung của quốc gia Những cơ hội kinh tế ở các đô thị đã và đang tạo ra sức hút đô thị, thu hút các luồng di cư, nhập cư và thúc đẩy sự tăng trưởng dân số đô thị Ngược lại, quá trình đô thị hóa kích thích tăng trưởng kinh tế Đây là hai mặt tương hỗ và liên quan chặt chẽ của quá trình phát triển d) Phương thứ phát triển đô thị
Phân tích các chỉ số
(1) Dân số to n đô thị
Theo điều tra dân số giữa kỳ năm 2014, dân số Việt Nam năm 2014 đã vượt ngưỡng
90 triệu người (90.493.000 người) trong đó dân thành thị 29.939 người
Theo niên giám thống kê toàn quốc năm 2014, dân số Việt Nam là 90.728.900 người, trong đó dân số đô thị 30.035.400 người
Về vị trí, Việt Nam trong bảng xếp hạng các nước đông dân trên thế giới và trong khu vực vẫn không thay đổi so với năm 2009 (thứ 13 trên thế giới 13/206 và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á) Mật độ dân số của Việt Nam đạt 274 người/km 4 , vượt xa trung bình thế giới (53 người/km 2 ) và gấp 2 lần so với Đông Nam Á (chỉ có 136 người/km 2 )
Trong giai đoạn này, Việt Nam đang bước vào “thời kỳ cơ cấu dân số vàng” Cứ một người trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 tuổi hoặc trên 60 tuổi) thì có hai người hoặc hơn trong độ tuổi lao động (từ 15-60 tuổi) Thời kỳ đặc biệt này chỉ xảy ra một lần trong lịch sử phát triển của bất kỳ một quốc gia nào Rõ ràng Việt Nam đang có một cơ hội “vàng” khi sử dụng một lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế 2010-2020
Biểu 1: Biểu đồ dân số Việt nam và một số nước trong khu vực
Nguồn: World Bank, cập nhật tháng 1/2016
4 Niên giám thống kê toàn quốc năm 2014
Biểu 2: Tốc độ gia tăng dân số của Việt Nam và một số ước trong khu vực
Nguồn: World Bank, cập nhật tháng 1/2016
Theo cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở vào 1/4/2014, tổng dân số 41 đô thị khảo sát đạt 22,8 triệu, chiếm 76,0% dân thành thị cả nước Như vậy, những đặc tính của 41 đô thị sẽ phản ánh rõ nét tình hình đô thị Việt Nam Hơn nữa, các đô thị khảo sát đều là đô thị cấp thành phố, thị xã, chiếm 78% về số lượng các đô thị tham gia khảo sát và đều có sự hiện diện của các thành phố lớn
Qui mô dân số: Nếu chia theo ngưỡng dân số để phân loại đô thị theo Nghị định 42 về việc phân loại đô thị thì có các nhóm:
- Trên 5.000.000 người: Tiêu chuẩn của đô thị đặc biệt;
- Trên 1.000.000 người (TPTW) hoặc trên 500.000 người (thành phố khác): Tiêu chuẩn của đô thị loại I;
- Trên 800.000 người (TPTW) hoặc trên 300.000 người (thành phố khác): Tiêu chuẩn của đô thị loại II;
- Trên 150.000 người: Tiêu chuẩn của đô thị loại III;
- Trên 50.000 người: Tiêu chuẩn của đô thị loại IV;
- Ngưỡng dưới 50.000 người là các đô thị loại V, không có đô thị nào khảo sát thuộc loại V Đến năm 2014, các đô thị chính của Việt Nam, xét về dân số, tính cả nội và ngoại thành/ thị thì có 5 thành phố trên 1 triệu dân và 5 thành phố này đều là thành phố trực thuộc Trung ương (TPTW): Thành phố Hà Nội mở rộng, cả nội và ngoại thành có khoảng 7.095.900 người; Thành phố Hồ Chí Minh 7.981.900người; Đà Nẵng 1.007.700 người Hải Phòng 1.946.000 người và Cần Thơ 1 238.300 người 5 TPTW
1.000.000 người đều là các thành phố trực thuộc Trung ương và loại I đến đặc biệt Năm 2014 tổng dân số của bốn thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng và Cần Thơ chiếm 19% dân số toàn quốc
Trong tổng số 41 đô thị được xét đa phần các đô thị không đảm bảo được quy mô dân số toàn đô thị theo nghị định 42 Cụ thể: Đối với các đô thị loại I, ngoại trừ 5 đô thị trực thuộc trung ương, thì 8 đô thị còn lại đều có mức dân số từ 196.008 người (Thành phố Việt Trì) tới 349.681 người (thành phố Thanh Hóa)
10 đô thị loại II cũng có mức dân số đô thị thấp hơn so với chuẩn, cá biệt TP Đồng Hới và TP Bà Rịa có mức dân số lần lượt là 116.903 người và 100.698 người, chỉ đạt
~39% và 33% so với tiêu chí của đô thị loại II TP Cà Mau (222.425 người) và TP Rạch Giá (236.068 người) là 2 đô thị có quy mô dân số gần nhất so với chuẩn đô thị loại II
10 đô thị loại III cũng ở trong tình trạng như vậy, quy mô dân số giao động từ 31.605 người (TT Lập Võ) tới 75.017 người Duy nhất có TP Tây Ninh (130.044 người) có dân số sát nhất với mức tiêu chuẩn
Có tới 4/8 đô thị loại IV được xét có dân số vượt so với tiêu chuẩn phân loại đô thị
Cá biệt có TX Thuận An (453.389 người), là trung tâm công nghiệp cấp vùng, có dân số vượt tiêu chuẩn 9 lần, hay TT Mỹ Hào (152.605 người) có dân số vượt tiêu chuẩn
3 lần, hai đô thị này đều vượt ngưỡng điểm tối đa so với tiêu chuẩn dân số đô thị loại
IV 4 đô thị loại IV còn lại đều có dân số đô thị thấp hơn so với tiêu chuẩn
Biểu 3a: Biểu đồ dân số toàn đô thị và khu vực nội thành/ nội thị 39 đô thị (không có Hà Nội và TP HCM) năm 2014
Biểu đồ 3b: Dân số 4 thành phố trực thuộc TW
TP Hà Nội TP HCM Đà Nẵng Cần Thơ
Dân số toàn đô thị (người)
Các đô thị có qui mô dân số từ 300.000 đến 500.000 người là các thành phố thuộc Trung Bộ, như là Thanh Hóa, Huế, thuộc Đông Nam Bộ là TP Vũng Tàu đều là đô thị loại I và thị xã Thuận An đô thị loại IV (đặc thù là đô thị nghiệp), các đô thị loại I là trung tâm quan trọng của các vùng Từ 150.000 người đến 300.000 người có 12 thành phố tỉnh lỵ và thị xã phân bố rộng khắp cả nước; có đến 12/41 đô thị thuộc nhóm dân số 50.000 đến 150.000 người, có mặt khắp các vùng trong cả nước; các đô thị trong hai nhóm này đều là đô thị động lực quan trọng cho các tỉnh Chỉ có 8 đô thị dưới 50.000 người, là các thị trấn thuộc tỉnh
Nhìn chung, các đô thị vùng Trung du miền núi Bắc Bộ có qui mô dân số thấp so với các vùng khác, bởi vì chỉ có Việt Trì và Thái Nguyên thuộc nhóm 200.000 -300.000 người, còn lại dưới 150.000 người, thậm chí nhiều đô thị dưới 50.000 người Vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng Sông Hồng là nơi tập trung nhiều đô thị lớn, không có đô thị dưới 50.000 người.
(2) Dân số trong hu vự nội th nh/nội thị Để đánh giá mức độ đô thị hóa và so sánh kích thước các đô thị theo quy mô dân số đô thị thì người ta thường dùng dân nội thành nội thị
Theo tiêu chí này thì Việt Nam có hai thành phố trên 1 triệu dân nằm ở hai đầu đất nước và là hai đô thị loại đặc biệt: Thành phố Hà Nội thành phố trung tâm, khu vực nội thành thành phố Hà Nội có 2.733.900 người (tính cả thị trấn, thị xã ngoại thành thì có 3.035.400 người); Thành phố Hồ Chí Minh có 6.524.266 người; Quy mô hai thành phố không tương đương nhau, bởi vì dân số TP Hồ Chí Minh gấp khoảng 2,2 lần TP Hà Nội; tuy nhiên, theo xu hướng từ hơn 10 năm nay thì độ chênh giữa hai thành phố này đang giảm đi (3,17 lần năm 1992; 3,16 lần năm 1994; 2,2 lần như hiện nay)
Qui mô dân số nội thị: Nếu chia theo ngưỡng dân số nội thị để phân loại đô thị theo Nghị định 42 về việc phân loại đô thị thì có các nhóm:
- Trên 2.000.000 người: Tiêu chuẩn của đô thị đặc biệt;
- Trên 400.000 người (TPTW) hoặc trên 200.000 người (thành phố khác): Tiêu chuẩn của đô thị loại I;
- Trên 320.000 người (TPTW) hoặc trên 120.000 người (thành phố khác): Tiêu chuẩn của đô thị loại II;
- Trên 60.000 người: Tiêu chuẩn của đô thị loại III;
- Trên 26.000 người: Tiêu chuẩn của đô thị loại IV;
- Ngưỡng dưới 16.000 người là các đô thị loại V, không có đô thị nào khảo sát thuộc loại V
Đánh giá
Theo chương trình Điều tra dân số giữa kỳ 2014, số người di cư giai đoạn 2009-2014 giảm so với giai đoạn 2004-2009 ở các loại hình di cư trong huyện, di cư giữa các huyện, giữa các tỉnh và giữa các vùng (Bảng tình trạng di cư)
Biểu 8: Số người di cư từ 5 tuổi trở lên chia theo tình trạng di cư giai đoạn 1999, 2009 và
Vùng Đông Nam Bộ ti p tụ nơi thu hút nhập ư
Năm 2009 chỉ có 2 vùng nhập cư là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (số người nhập cư lớn hơn số người xuất cư), 4 vùng còn lại là xuất cư Đến năm 2014, ngoài 2 vùng nhập cư giống năm 2009, thì vùng ĐBSH trở thành vùng nhập cư tỷ lệ khá thấp Sau
5 năm, Đông Nam Bộ tiếp tục là nơi thu hút dân cư, trong đó TPHCM là đầu tàu kinh tế vẫn là nơi đến hấp dẫn của lao động cả nước Trong luồng di cư đến Đông Nam
Bộ, có thể có 1 lượng người không nhỏ đến đây để học, đào tạo nâng cao tay nghề, chủ yếu là TPHCM
Biểu 9: Tỷ suất di cư trong 5 năm trước điều tra chia theo 6 vùng kinh tế xã hội, 2009-2014
Năm 2014, có 14/63 tỉnh có tỷ suất di cư thuần (+), số còn lại có tỷ suất di cư thuần (-) Các tỉnh Đông Nam Bộ có 4/6 tỉnh đạt (+) trừ Bình Phước và Tây Ninh, trong đó Bình Dương cao nhất (+52 người di cư/1000 dân) Tây Nguyên có Đắk Nông (+36), các tỉnh này cần có chính sách phù hợp cho dân nhập cư đảm bảo điều kiện sống như nhà ở, việc làm, trường học… Các tỉnh có tỷ suất di cư thuần (-) thuộc vùng ĐBSCL là Bạc Liêu, Cà Mau, Hậu Giang (-14), Sóc Trăng (-9), An Giang (-8); các tỉnh thuộc vùng TDMNBB đều (-) trừ Điện Biên
) T ng trưởng đô thị hoá
Ti p tụ xu hướng gia t ng nhanh ân số đô thị
Năm 1/4/2014, Việt Nam có khoảng 33,1% dân số sống ở khu vực thành thị, tăng 3,5% so với năm 2009 Trong thời kỳ 2009-2014, dân số thành thị đã tăng khá nhanh với tỷ lệ trung bình là 3,26%/năm Tỷ lệ dân số thành thị ở Việt Nam thấp hơn so với các nước khu vực Đông Nam Á, như Brunei (76%), Malaysia (71%), Philippines (63%), Indonesia (50%), Thái Lan (47%), Lào (34%), Campuchia (20%), Đồn Timo (30%) và Myanmar (31%) Quá trình đô thị hoá không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số đô thị, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về sản xuất mà còn biểu hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hoá Quá trình đô thị hoá trên thế giới có 2 hình thức ngược nhau; đối với các nước phát triển có dạng thức là đô thị hoá khuyết tán, tức là người dân đô thị có xu hướng quay về sống ở vùng ngoại vi; đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, dân cư nông thôn kéo về đô thị tìm việc làm và sinh sống
Biểu 10: Các luồng di cư giữa thành thị và nông thôn, 2014
Tỷ lệ đô thị hoá ở Việt Nam tăng liên tục từ 19,2% năm 1979, 19,4% năm 1989, 23,61% năm 1999, 29,6% năm 2009, 33,1% năm 2014, nếu giữ tốc độ này đến năm
2020 đạt 40% thì mỗi năm Việt Nam tiếp tục có thêm 1 triệu người đến sinh sống ở các vùng đô thị Tăng trưởng dân số đô thị có 3 lý do chính là: (1) phân chia lại địa giới hành chính (chuyển huyện thành quận và chuyển xã thành phường), (2) do nhập cư, (3) do tăng tự nhiên dân số đô thị; hiện nay chưa có điều tra thống kê để xác định mỗi lý do đã nêu chiếm tỷ trọng bao nhiêu % Điều này đã cho thấy luồng dịch cư lớn từ nông thôn đến thành thị tham gia vào quá trình đô thị hoá và thay đổi ranh giới hành chính dẫn đến nhiều khu vực nông thôn đã trở thành đô thị
Sự phân bố ân ư đô thị tương đối đ ng đều tỷ lệ thuận với quy mô dân số của từng vùng trong cả nước
Giai đoạn 1999-2009: khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên tỷ lệ đô thị hoá không thay đổi; nhưng khu vực ĐBSH, miền Trung và ĐBSCL có tỷ lệ đô thị hoá tăng thêm cao hơn Giai đoạn 2009-2014, cả 6 vùng kinh tế xã hội có tỷ lệ đô thị hoá tăng thêm tương đối đồng đều.Vùng Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ đô thị hoá cao nhất 62,3%, gần gấp 2 lần vùng ĐBSH
Biểu 11: Số lượng dân số năm 2014, tỷ lệ đô thị hoá chia theo vùng kinh tế - xã hội
(1999-2009-2014) Vùng kinh tế - xã hội
Tỷ lệ đô thị hoá (%)
Nguồn: Phạm Thị Nhâm – Viện quy hoạch đô thị - nông thôn Quốc gia, BXD
Xu hướng di dân từ nông thôn ra đô thị chuyển từ cự ly nhỏ sang cự ly lớn
Sự tăng trưởng đô thị diễn ra ở tất cả các vùng miền theo tỷ lệ tương ứng với quy mô của các đô thị Sự tăng trưởng này không làm mất cân bằng mà ngược lại củng cố thêm sự phân bố dân số đô thị cân bằng theo các vùng kinh tế - xã hội
Năm 1990, đô thị Việt Nam chiếm khoảng 5% diện tích và 1 triệu dân, Hà Nội thuộc ngưỡng từ 50 vạn-1 triệu dân, có 18 đô thị có dân số từ 10-50 vạn dân, 42 đô thị còn lại có dân số
Năm 2009 (sau 20 năm), dân số đô thị Việt Nam ước tính chiếm